$\color{BLUE}{\fbox{LỊCH SỬ}\bigstar\text{THÔNG TIN LỊCH SỬ-NGHIÊN CỨU SÂU VÀ CHI TIẾT}\bigstar}$

Thảo luận trong 'NHÂN VẬT & SỰ KIỆN' bắt đầu bởi scientists, 1 Tháng chín 2013.

Lượt xem: 17,798

  1. scientists

    scientists Guest

    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    10 người đàn bà độc ác nhất Trung Hoa (ai là nữ nhi hãy học hỏi)​


    Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá đã thống nhất lựa chọn ra “Top ten” “đại độc nữ” điển hình. Chính những người đàn bà ghê gớm này đã làm chao đảo bao triều chính, tan nát bao gia đình...Người Trung Quốc gọi những người đàn bà hiểm độc là “độc phụ”. Nghiên cứu lịch sử nước Trung Quốc phong kiến mấy ngàn năm, người ta thấy “độc phụ” có rất nhiều, hầu như triều đại nào cũng có.

    Lã Hậu: Người đàn bà độc ác nhất trong lịch sử

    [​IMG]

    (ảnh minh họa)​

    Hán Cao tổ Lưu Bang và Lã Trĩ quả là một cặp vợ chồng hoạn nạn có nhau, thế nhưng sự xuất hiện của Thích Phu nhân là một trở ngại nghiêm trọng cho cuộc sống hạnh phúc của cặp vợ chồng đế hậu này.

    Người Trung Quốc có câu “Nam nhi ái hậu phụ, nữ tử trọng tiền phu” (Đàn ông thì yêu vợ sau, đàn bà thường trọng người chồng trước). Thích Phu nhân mặt đẹp như hoa, thân hình gợi cảm, hát hay múa giỏi, lại sinh được cho Lưu Bang hoàng tử Như Ý.

    Như Ý thông minh khôi ngô, Lưu Bang rất yêu nên có ý muốn phế trưởng lập thứ. Lã Hậu rất hoảng, tưởng bị phế đến nơi, may nhờ có các đại thần ủng hộ nên bà ta mới giữ vững được ngôi hậu.

    Sau khi Hán Cao tổ qua đời, Lã Hậu chuyên quyền, bắt đầu tính đến chuyện trả thù những phi tần đã được Lưu Bang sủng ái khi trước. Thích Phu nhân là nạn nhân đầu tiên.

    Bà ta sai người chặt hết chân tay Thích Phu nhân, chọc mù mắt, đâm thủng tai, bắt uống thuốc độc cho câm, sau đó quẳng kẻ tình địch trong tình trạng sống dở chết dở như thế vào một căn hầm tối, gọi là “Người lợn”. Tình cảnh của Thích Phu nhân đáng sợ đến mức một lần con trai Lã Hậu là Hán Huệ Đế tình cờ nhìn thấy, sợ quá lâm bệnh, nằm liệt giường.

    Những thủ đoạn giết người tàn bạo không phải là hiếm ở Trung Quốc, nhưng thủ đoạn tàn ác như Lã Hậu thì quả là có một không hai. Không những hại Thích Phu nhân, Lã Hậu còn lừa Như Ý vào trong cung.

    Huệ Đế biết rõ tính mẹ, sợ đứa em cùng cha bị mẹ hãm hại nên ăn ngủ cùng nhau, không rời một bước. Nhưng dù được người anh tốt bụng che chở thì Như Ý cũng không thoát khỏi tay người đàn bà hiểm độc được mãi. Một lần, nhân lúc Huệ Đế đi săn ngoài cung, Lã Hậu đã sai người bóp chết con trai của kẻ tình địch.

    Chiêu Tín : Quái vật trong triều Hán

    [​IMG]

    Chiêu Tín là cơ thiếp của Quảng Xuyên Vương Lưu Khứ, cháu nội vua Hán Cảnh Đế. Chiêu Tín đẹp thế nào thì không thấy sử sách ghi, nhưng tính tình tàn nhẫn hiểm ác thì vào loại hàng đầu trong lịch sử Trung Quốc.

    Theo sử chép thì lúc đầu Lưu Khứ rất sủng ái hai nàng Vương Chiêu Bình, Vương Địa Dư, hứa hẹn lập họ làm hoàng hậu. Nhưng vốn là kẻ hoang dâm vô độ nên sau này ông ta lại quay ra sủng ái Chiêu Tín. Chiêu Bình, Địa Dư rất căm tức nên bàn mưu định hại Chiêu Tín.

    Chuyện bị bại lộ, Lưu Khứ bắt Chiêu Bình ra dùng khổ hình tra khảo. Đánh roi mây, Chiêu Bình nén chịu không khai, chuyển sang dùng dùi sắt đâm, Chiêu Bình đau quá phải khai. Thế là Lưu Khứ bèn triệu tập các phi tần đến, bắt họ dùng kiếm đâm chết Địa Dư, còn Chiêu Bình thì để Chiêu Tín đâm chết. Ông ta còn cho treo cổ 3 thị tỳ, sau đó đem đốt xác hai người đẹp ông ta hằng yêu dấu thành tro rồi đổ đi.

    Chưa hài lòng, Chiêu Tín còn vu cáo Vọng Ngưỡng, một ái thiếp khác được Lưu Khứ sủng ái. Nghe Chiêu Tín siểm tấu, Lưu Khứ cho gọi các phi tần cùng kéo đến nơi Vọng Ngưỡng ở, lột hết quần áo nàng, bắt các phi tần dùng dùi nung đỏ gí vào người nàng. Vọng Ngưỡng bỏ chạy, nhảy xuống giếng tự vẫn, Chiêu Tín lôi lên, dùng giáo đâm vào chỗ kín, xẻo mũi cắt miệng, cắt lưỡi nàng… đem nấu chín, bắt các phi tần khác xem.

    Chưa hết, Chiêu Tín còn vu cáo hãm hại một cung phi là Vinh Ái. Vinh Ái sợ quá nhảy xuống giếng nhưng không chết. Chiêu Tín lôi lên, trói lại, gí dao nung làm mù hai mắt, cắt hai tay, nung chì đổ vào miệng nàng. Vinh Ái chết, Chiêu Tín còn sai phân thây bắt chôn mỗi thứ một nơi. Có tới 14 cung phi từng được Lưu Khứ sủng ái bị Chiêu Tín hành hạ như vậy.

    Lệ Cơ: Kẻ giết người không dao

    [​IMG]

    Sự hiểm độc của Lệ Cơ khác với những người khác ở chỗ “giết người không dao”.

    Thời Xuân Thu, Tấn Hiến Công xuất binh đánh Lệ Nhung - một nhánh của Tây Nhung, nay thuộc huyện Lâm Đồng, tỉnh Thiểm Tây - giết vua Lệ Nhung, bắt Lệ Cơ công chúa là con gái ông ta mang về trung nguyên.

    Lệ Cơ đẹp nghiêng nước nghiêng thành nên Hiến Công rất thích. Bất chấp lời can ngăn của quan chiêm bốc (thầy bói), ông ta vẫn lấy làm thiếp, sau đó Lệ Cơ sinh được con trai, đặt tên là Khê Tề.

    Sinh được con trai rồi, Lệ Cơ tìm cách hành động để lo liệu cho tương lai của hai mẹ con. Trước hết, nàng dọn sạch mọi trở ngại trên con đường đưa Khê Tề đến ngai vàng, lập mưu trừ bỏ 3 công tử tài hoa là Thân Sinh, Trùng Nhĩ, Di Ngô. Nàng thẽ thọt bẩm với Hiến Công sai Thân Sinh mang quân đi đánh Nhung Địch rồi thừa cơ nắm lấy chỗ yếu, đẩy Thân Sinh đến chỗ chết, nhưng không thực hiện được.

    Tiếp đó, Lệ Cơ tìm cách vu cáo bỏ thuốc độc vào thức ăn dâng lên để giết hại vua cha, bức Thân Sinh phải thú nhận rồi ôm hận tự sát. Thân Sinh chết rồi, Lệ Cơ bèn vu cho Di Ngô đồng mưu khiến Công tử Trùng Nhĩ phải bỏ chạy về Bồ Thành, còn Di Ngô chạy đến Khuất Thành.

    Tấn Hiến Công nghe nói hai con trai bỏ trốn liền nổi giận lôi đình, càng tin rằng hai người đồng mưu với Thái tử Thân Sinh hại cha và Lệ Cơ nên ra lệnh điều binh đi đánh Bồ Thành. Viên quan coi Bồ Thành sợ quá khuyên Trùng Nhĩ tự sát để tạ tội, Trùng Nhĩ vội nhảy xuống dưới thành chạy trốn, người này chỉ kịp vung gươm cắt lấy tay áo của Trùng Nhĩ. Hiến Công sai người đánh Khuất Thành nhưng không được.

    Sau khi Hiến Công chết, các quan đại phu tập hợp dư đảng của các công tử làm loạn giết chết Khê Tề và Trác Tử, đón Di Ngô trở về lên ngôi vua, cơn sóng gió do Lệ Cơ gây nên bấy giờ mới yên.

    Triệu Phi Yến đời Hán: Cặp chị em ghê gớm

    [​IMG]

    Vẻ đẹp của Triệu Phi Yến có thể nói là “Đệ nhất thiên hạ”, không ai sánh bằng, nhưng sự hiểm độc của đại mỹ nhân này thì cũng không ai so được.

    Triệu Phi Yến và người em gái là Triệu Hợp Đức sau khi được Hán Thành Đế đưa vào cung làm phi đã cùng nhau lật đổ Hứa Hoàng hậu.

    Nói về tài múa hát và nghệ thuật phòng the của Phi Yến thì không ai sánh bằng, có giả thuyết nàng xuất thân gái lầu xanh. Chính vì là gái ca kỹ nên không còn khả năng sinh đẻ.

    Người em gái cũng vậy, “hoa không thể đẹp mãi”, nếu không sinh được con trai để củng cố địa vị thì chẳng chóng thì chầy sẽ bị gạt bỏ, hai chị em họ biết rõ mối nguy hiểm đó. Hai người bắt đầu chú ý đến các cung phi được Thành Đế sủng ái khác. Một số cung phi có mang đã chuốc họa vào thân vì điều đó.

    Một cung phi là Tào Cung sau khi “tiến ngự” sinh được con trai khiến Thành Đế tuổi đã 40 mà chưa có con trai mừng đến phát cuồng. Thế nhưng chị em Phi Yến hay tin đã ép vua xử tử cả hai mẹ con Tào Cung, gây nên vụ thảm án kinh hoàng. Một năm sau, tình cảnh tương tự lại xảy ra với Hứa mỹ nhân - một người cũng vừa sinh được con trai.

    Thành Đế không phải không biết đến sự hiểm độc của hai người đàn bà này, nhưng do quá chìm đắm trong sắc dục nên ông ta không cương quyết được. Tận mắt thấy cốt nhục của mình bị chị em Phi Yến hãm hại mà chỉ đành gạt nước mắt than vãn.

    Sử ký còn ghi “Vô số cung phi mang thai đều bị ép uống thuốc để phá bỏ”. Ông vua hoang dâm ấy gục ngã dưới váy chị em nhà họ Triệu, để mặc họ tàn hại cốt nhục của mình, bất chấp nguy cơ Hán triều bị tuyệt tự, như thế đủ biết sức quyến rũ của hai chị em nhà ấy ghê gớm đến thế nào.

    Giả Nam Phong đời Tấn: Vua sợ như cọp

    [​IMG]

    Nói về sự hiểm độc, xấu xa lẫn dâm đãng thì khó ai qua mặt được Giả Nam Phong, hoàng hậu của Tấn Huệ Đế.

    Là hoàng hậu nhưng bà ta sinh liền 4 công chúa, không có con trai thì các phi tần khác trong cung nếu ai may mắn được Huệ Đế lâm hạnh dĩ nhiên sẽ lãnh đủ. Giả Nam Phong hung tàn hơn hẳn Triệu Phi Yến. Sau khi biết tin một cung phi có thai, bà ta chạy ngay đến nơi người đó ở, giật lấy kích của thị vệ đâm cho cô ta một nhát vào ngực chết tươi. Tấn Huệ Đế sợ Giả Nam Phong như sợ cọp. Tuy luôn mồm nói mình tôn sùng “lễ pháp”, nhưng trước sự hoành hành bạo ngược của Giả Nam Phong, ông vua này cũng chỉ biết than thầm.

    Độc Cô hoàng hậu đời Tùy: Cậy công làm càn

    [​IMG]

    Hoàng hậu của Tuỳ Văn Đế họ Độc Cô thực ra có thể ăn no ngủ kỹ chẳng phải lo gì đến chuyện giết chóc những người thân thích vì bà ta sinh đến 5 con trai, hơn nữa cả 5 người đều đã trưởng thành, thì còn lo gì chuyện bị thất sủng? Thế nhưng tâm lý phòng bị đã khiến bà ta trở thành người hiểm độc.

    Tùy Văn Đế từng sủng ái một cung nữ ở cung Thượng Nhân Thọ, người này họ Úy Trì, rất xinh đẹp trẻ trung, có thể coi như một đóa hoa mới nở. Tùy Văn Đế bị trói buộc với Độc Cô hoàng hậu nhiều năm nay ít được những người đẹp khác chiều chuộng, gặp Úy Trì liền mê mẩn ngay.

    Độc Cô hoàng hậu nghe tin, lập tức sai người đi giết Úy Trì thị khiến Tùy Văn Đế uất quá phóng ngựa ra ngoài cung lang thang suốt ngày, đến chiều tối mới rầu rĩ về cung.

    Độc Cô hoàng hậu sở dĩ dám hung hãn đối kháng với chồng như thế vì bà ta luôn tự hào về việc mình đã góp công lớn cùng chồng đánh lấy thiên hạ, bà ta có làm thế thì Tùy Văn Đế cũng chả dám làm gì bà ta.

    (còn nữa)​

     
  2. scientists

    scientists Guest

    Võ Tắc Thiên thời Đường: Vì chính trị không từ điều gì

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    Người đàn bà độc ác nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa​

    Tự cổ chí kim, ở Trung Quốc chưa có ai sánh được với Võ Tắc Thiên cả về tài hoa lẫn sự độc ác. Nhưng sự độc ác của bà ta là vì mục đích chính trị, giết con giết cháu, không điều gì không dám làm để dọn đường cho việc bản thân buông rèm nhiếp chính.

    Một người phụ nữ đã được Đường Thái Tôn Lý Thế Dân ngự hạnh, sau đó lại được vị hoàng đế mới là Lý Trị đón vào cung, không phải bởi sức quyến rũ, mà bởi tình thế cuộc đấu đá tranh giành sự sủng ái trong cung đưa đẩy mà nên.

    Vương Hoàng hậu tuy là người có gương mặt rất đẹp nhưng thân hình lại mảnh mai. Ở vào thời đại nhà Đường, phụ nữ đẹp phải là người đầy đặn, béo tốt thì Tiêu Thục Phi bằng vóc người phốp pháp và vẻ yêu kiều nũng nịu đã chiếm được sự sủng ái của Cao Tông Hoàng đế, Hoàng hậu gửi gắm vào Mị Nương (tức là Võ Tắc Thiên) nên cho đón vào cung để dùng làm công cụ đối phó lại Tiêu Thục Phi.

    Lúc mới vào cung, Mị Nương hiền lành đáng yêu, rất được mọi người trong cung quý mến. Nhưng dần dần tình thế thay đổi, Mị Nương liên tiếp sinh hạ hai hoàng tử nên nhanh chóng trở thành thế lực mới trong cung. Từ chỗ là đồng minh, giờ đây Vương Hoàng hậu lại lo sợ, quay ra hợp mưu với Tiêu Thục Phi để đối phó lại Mị Nương.

    Sau đó xảy ra vụ công chúa Như Ý con của Mị Nương bị đột tử khiến hoàng đế rất đau xót. Giữa lúc đó có người trong cung báo, trước lúc xảy ra chuyện Vương hoàng hậu có đến thăm công chúa, cử chỉ có nhiều điểm đáng ngờ. Rồi một loạt tin đồn bất lợi với Vương hoàng hậu lan ra, dần dà bà sống trong nỗi lo bị phế bỏ và trị tội.

    Sau khi thanh lọc các thế lực đối địch trong triều, Mị Nương bắt đầu chĩa mũi nhọn vào các phụ nữ trong cung. Lúc đầu là việc các thuật phù thủy trừ tà của Vương hoàng hậu bị phát giác, sau đó đến chuyện bà cùng Tiêu Thục Phi bị phế làm dân thường với tội danh định dùng rượu độc làm hại Võ chiêu nghi. Hai người bị giam trong phòng tối cách biệt với bên ngoài.

    Có lần Cao Tông nghĩ lại tình ân ái khi trước, động lòng trắc ẩn, định tha cho họ ra ngoài thì tin lan đến tai Mị Nương. Thế là họ bị người của Mị Nương bám theo đánh, chặt chân tay, quẳng vào chum rượu... Sau mấy ngày trong chum rượu, cả hai người đều chết thảm. Trước khi chết, Tiêu Thục Phi nguyền rủa sau khi chết sẽ hoá thành mèo để bắt chuột là “Võ yêu tinh”. Tin truyền đến tai Võ Tắc Thiên (Mị Nương), bà ta lo sợ, từ đó cấm tiệt việc nuôi mèo trong cung. Và truyền thuyết Võ Tắc Thiên sợ mèo còn truyền đến tận ngày nay.

    Lý Hoàng hậu nhà Tống: Ghen tuông bệnh hoạn

    Một bà hoàng khác là Lý Hoàng hậu thời vua Nam Tống Quang Tôn cũng nổi tiếng về sự độc ác với những kẻ tình địch và những thủ đoạn ngăn chặn thói lăng nhăng của chồng.

    Một hôm khi Quang Tôn rửa tay chợt thấy bàn tay của thị nữ đang rửa tay cho mình trắng ngần gợi cảm, rất thích, bất giác nắm lấy ve vuốt, hôn hít và buông lời khen đẹp. Mấy hôm sau, Lý Hoàng hậu sai người dâng vua một cái hộp nói đây là thứ vua rất yêu thích nên tiện thiếp lấy để dâng lên. Quang Tôn nghe nói cả mừng, vội mở ra xem thì ra trong đó là... đôi bàn tay của thị nữ hôm nọ vua khen đẹp đã bị chặt ra. Vua kinh hãi, sây xẩm cả mặt mày.

    Minh triều Vạn Trân Nhi: Không được ăn thì đạp đổ

    Vạn Trân Nhi chính là nguyên mẫu trong vụ án Ly miêu tráo Thái tử được nói đến trong các phim về Bao Công.

    Vạn Thị là người Thanh Châu, Sơn Đông, được tuyển vào cung từ nhỏ làm cung nữ. Lớn lên, Vạn Thị được hầu hạ Chu Kiến Thâm, dần dà hai người nảy sinh tư tình. Năm Thiên Thuận thứ 8, Anh Tôn băng hà, Chu Kiến Thâm lên ngôi khi tròn 18 tuổi, lấy hiệu là Hiến Tôn, lúc đó Vạn Thị đã 35 tuổi. Tuy tuổi tác chênh lệch nhưng hai người vẫn lén mây mưa cùng nhau. Vạn Trân Nhi đẹp một cách đầy đặn phốp pháp, có câu rằng “Thanh tú tựa Triệu Hợp Đức, đầy đặn như Dương Quý Phi”, bà ta rất được Hiến Tôn sủng ái.

    Nhưng sau khi Hiến Tôn lên ngôi thì hai vị Thái hậu đã tuyển chọn vào cung nhiều mỹ nữ, trong đó phải kể đến Hoàng hậu Ngô Thị, hai nàng phi Vương Thị và Bách Thị, khiến Vạn Trân Nhi đem lòng ghen ghét, thù hận.

    Ngô Hoàng hậu thấy Vạn Trân Nhi không coi ai ra gì, muốn trị cho một trận. Một hôm khi Vạn Trân Nhi vào gặp, rất ngạo mạn vô lễ, bà liền mắng. Vạn Thị không vừa liền đáp trả nói năng chỏng lỏn. Bực quá, Hoàng hậu vớ lấy chiếc gậy trong tay thái giám gõ cho mấy cái. Vạn Thị bèn tìm đến vua khóc lóc tố khổ và bịa chuyện nói khích. Hiến Tôn tức giận liền truyền chỉ phế bỏ Ngô Hoàng hậu rồi lập Vương Thị làm hậu.

    Năm Thành Hoá thứ 2 (1466), Vạn Thị sinh được con trai, được phong làm Quý phi, nhưng ít lâu sau thì đứa bé chết yểu, từ đó về sau bà ta không sinh được nữa. Vạn Thị thường ghen tuông đến mức điên khùng trước việc những phi tần, cung nữ khác trong cung được vua sủng ái. Nếu phát hiện thấy ai có thai bà ta liền sai người lấy cớ chữa bệnh để bắt uống thuốc phá thai, vậy mà vua chẳng dám làm gì ngoài việc nhỏ nhẹ phủ dụ bà ta.

    Một lần, Hiến Tôn lâm hạnh một cung phi họ Kỷ, người này có bầu. Vạn Thị sai một cung nữ đi dò xét, người này bản chất lương thiện nên về nói dối là không có mang. Sau đó Kỷ Thị sinh hạ một bé trai, biết cả hai mẹ con sẽ lâm nguy nên khẩn cầu viên thái giám hãy bóp chết đứa bé đi. Thái giám thấy bất nhẫn, bèn lén đưa vào nuôi trong phòng kín. Ngô Hoàng hậu sau khi bị phế cũng thường vào thăm đứa bé.

    Bấy giờ Hiến Tôn mới có một con trai là Tá Cực, chưa đầy 2 tuổi vừa được lập làm Thái tử đã bị Vạn Thị sai người giết chết. Trước nỗi đau mất con, vua vô cùng sầu não. Một hôm, vua soi gương và than thở mình tuổi đã cao mà không có con trai nối dõi. Thái giám Trương Mẫn thừa cơ bẩm báo chuyện mình đã lén nuôi được một hoàng tử. Vua cả mừng, cho đón Kỷ Thị và đứa bé vào cung. Vạn Thị nổi điên, hại chết Kỷ Thị. Trương Mẫn hoảng sợ, cũng phải nuốt vàng tự tử.

    Khách Thị: Người đàn bà làm loạn triều Minh

    Khách Thị vốn là nhũ mẫu của Minh Hy Tôn, sau khi câu kết với thái giám Nguỵ Trung Kiên, bà ta bắt đầu khống chế các thế lực trong triều và ra tay sát hại những người phụ nữ trong cung mà xưa nay bà ta không ưa.

    Minh Quang Tôn tuyển được một người phi là Triệu Thị. Người này có chút xích mích với Khách Thị, bà ta bèn giả thánh chỉ buộc Triệu Thị phải thắt cổ tự vẫn. Dụ Phi Trương Thị nói năng có điều chạm đến Khách Thị khiến bà ta nuôi hận trong lòng, bèn kiếm lời xúc xiểm với Hy Tôn, nói đứa bé do Dụ Phi sinh ra không phải cốt nhục của vua. Hy Tôn tin lời, tống giam Dụ Phi vào lãnh cung. Khách Thị không cho tiếp tế đồ ăn khiến bà phải uống nước mưa cầm hơi rồi chết đói.

    Trương Hoàng hậu rất ghét Khách Thị nên lựa lời khuyên Hy Tôn đừng nghe lời bà ta trừng phạt người ngay, nhưng ông ta không nghe. Khách Thị mua chuộc được một cung nữ trong cung Càn Ninh để ra tay hại Hoàng hậu. Khi đó Trương Hoàng hậu đang có mang, thường mỏi lưng nên sai cung nữ bóp lưng. Cung nữ đã ra tay khiến bà bị sảy thai. Chỉ vì dung túng cho Khách Thị làm hại những phụ nữ trong cung mà Minh Hy Tôn đã chịu họa tuyệt tự.

    Sưu tầm Internet​
     
  3. scientists

    scientists Guest

    Đánh giá lại nhân vật lịch sử Tần Thủy Hoàng

    Tần Thuỷ Hoàng là ông vua đầu tiên tự xưng Hoàng đế của đất nước Trung Hoa Cổ đại, từng được xem là ông vua đầy bản lĩnh, đồng thời cũng là một tên bạo chúa lừng danh. Đánh giá nhân vật này, từ xưa đã có nhiều ý kiến khác nhau.

    Đánh giá Tần Thủy Hoàng bằng thái độ phân tích khoa học

    Trong truyền thuyết dân gian thời Tần có chuyện nàng Mạnh Khương lặn lội tìm chồng bị chết do nạn lao dịch xây đắp Trường thành, chuyện Mao nhân tránh bạo chính triều Tần chạy trốn vào rừng sâu, thành người rừng, thân mọc đầy lông lá… đều phê phán Tần Thuỷ Hoàng tàn ác khiến dân chúng khốn khổ.

    Đời Hán, những truyện Kinh Kha, Lạn Tương Như, Đường Tuy… đều chê trách Tần Thuỷ Hoàng bạo ngược. Nhưng nhà sử học Tư Mã Thiên khi miêu tả con người và sự việc của Tần Thuỷ Hoàng lại có thiên hướng nhấn mạnh mặt công lao tích cực.

    Vạn lý Trường Thành

    Học giả Giả Nghị trong bài Quá Tần luận khẳng định Tần Thuỷ Hoàng là một bạo quân, song văn nhân Tang Hoằng Dương trong Diêm Thiết luận lại khen việc Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc là “công như khâu sơn, danh truyền hậu thế”.

    Đời Đường, Vương Bột miêu tả cung A Phòng với thái độ chê trách nặng nề, nhưng Liễu Tông Nguyên lại đề cao khẳng định. Chu Hy đời Tống từ góc độ Lý học thì phủ định rõ rệt nhưng Lý Chất đời Minh lại đánh giá rất cao, khen Tần Thủy Hoàng là “Hoành không xuất thế”, là “Thiên cổ nhất đế”. Đời Thanh, Vương Phu Chi lên án sự cai trị của Tần Thủy Hoàng là “bạo chính”, song lại khen là có nhiều biện pháp chính trị giỏi.

    Thời Cận đại, Trương Thái Viêm trong Tần hiến ký khâm phục Tần Thủy Hoàng là ông vua tài. Quách Mạt Nhược thì trước chê là “bạo quân” sau lại khen là “vĩ nhân”. Thời Hiện đại, vấn đề Tần Thủy Hoàng vẫn được quan tâm. Mao Trạch Đông đánh giá cao tác dụng của nhân vật này trong quá trình phát triển lịch sử, song chê trách sự đắc chí tự mãn, đắm chìm trong hưởng lạc của ông ta. Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu cũng phát biểu. Lã Chấn Vũ cho rằng, Tần Thủy Hoàng đã đẩy xã hội đến một giai đoạn mới, song sự thống trị của ông ta tàn bạo không thể chấp nhận được. Điềm Xương Ngũ, An Tác Chương, Lâm Kiếm Minh… cho rằng, Tần Thủy Hoàng là nhà chính trị có cống hiến lớn song cũng là bạo quân trời đất không dung.

    Ngày nay, đất nước Trung Hoa đổi mới, người ta đề cao tinh thần “thực sự cầu thị” và đánh giá lại một số nhân vật lịch sử. Đầu tiên vẫn là Tần Thủy Hoàng. Do có điều kiện thông tin, với thái độ phân tích khoa học, các học giả Trung Quốc tương đối nhất trí với 5 nguyên tắc đánh giá nhân vật lịch sử như sau:

    1. Nguyên tắc lịch sử: Phải dùng cách nhìn “bỉ thời bỉ địa” (thời ấy, nơi ấy) mà đánh giá. Mọi hành vi của nhân vật lịch sử không thể vượt qua thời đại họ. Không thể lấy yêu cầu của thời đại ngày nay để yêu cầu, đánh giá nhân vật thời xưa. Khi phân tích bối cảnh lịch sử, điểm chủ yếu cần suy nghĩ là thời gian, đất nước, đặc điểm thời đại và hoàn cảnh lịch sử mà nhân vật sống và hoạt động.

    2. Nguyên tắc giai cấp: Xem xét nhân vật lịch sử thuộc giai tầng xã hội nào? Hoạt động vì lợi ích của giai tầng nào? Từ lập trường nhân dân mà nhận xét một cách hợp lý song không nên phủ định hoàn toàn mọi mặt của tầng lớp trên.

    3. Nguyên tắc thể tất: Cần nhìn nhận cái chính, tức mặt chủ yếu của nhân vật. Nhân vô thập toàn. Dù là vĩ nhân cũng không phải là thánh nhân. Họ cũng là con người thường, cũng có thất tình lục dục. Vậy phải quan tâm đến đại tiết là chính, chú ý nhiều đến sự cống hiến của họ đối với sự phát triển của lịch sử.

    4. Nguyên tắc song doanh: Tức là phải thấy chỗ “được” của cả hai phía khi xét tương quan với phía đối lập. Thí dụ: Khi Nhiếp Chính Vương (đầu đời Thanh) là Đa Nhĩ Cổn kéo quân xuống phía Nam để thống nhất toàn quốc, trước khi đánh Dương Châu có gửi thư chiêu hàng đến Binh bộ thượng thư triều Minh là Sử Khả Pháp. Sử Khả Pháp đọc thư xong đốt liền. Sau vì tương quan lực lượng, thành bị mất, Sử bị bắt. Đa Nhĩ Cổn khuyên hàng, hứa cho quan cao lộc hậu, Sử nói: “Ta đây, đầu có thể mất, thân không thể khuất”. Rồi anh dũng hy sinh.

    Tướng lĩnh chống Thanh như thế thật đáng ca ngợi. Song, bên phía đối lập, Đa Nhĩ Cổn cũng đáng khẳng định. Giáo sư Triệu Thế Du (trường Đại học Bắc Kinh) nói: “Đa Nhĩ Cổn là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc, là một trong những người có cống hiến lớn nhất cho triều Thanh”.

    Vậy hai nhân vật này là đối diện mà mỗi người có chỗ “được”, riêng Đa Nhĩ Cổn có công lớn với triều Thanh, Sử Khả Pháp thì đến chết không hàng, biểu hiện khí tiết đáng quý. Đó là song doanh. Song đó là trường hợp có những đặc điểm phức tạp, còn những trường hợp rõ ràng như ở thời Tống, Nhạc Phi yêu nước mà Tần Cối bán nước thì đó là thiết án của lịch sử, không thể bình luận gì khác. Hồng Thừa Trù, Ngô Tam Quế rước giặc vào cửa quan, dù sau này triều Thanh lên cũng không thể xem là có công với nước được.

    5. Nguyên tắc đa phương: Đánh giá nhân vật lịch sử không nên chỉ bàn về một điểm mà nên bàn nhiều điểm, nhìn nhận về nhiều phương diện. Chủ yếu là từ lợi ích của nhân dân mà nhìn nhận đánh giá tác dụng của nhân vật đối với lịch sử, đối với xã hội và dân tộc.

    Công lớn – Tội nặng

    Từ những nguyên tắc trên, giới nghiên cứu Trung Quốc tương đối nhất trí đánh giá nhân vật Tần Thủy Hoàng như sau: Đây là nhân vật tiêu biểu trong lịch sử phát triển chế độ phong kiến tập quyền Trung Quốc song công có lớn mà tội cũng nặng. Có thể liệt kê những điểm chủ yếu như sau.

    Về công

    1. Tần Thủy Hoàng được đưa lên ngôi năm 13 tuổi (- 247), Lã Bất Vi phụ chính. Năm 22 tuổi chính thức nắm quyền lực, nhanh chóng tiêu diệt các thế lực phản nghịch của Tướng quốc Lã Bất Vi và hoạn quan Lao Ái, xác lập cơ sở thống trị, tự xưng là Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, dùng Lý Tư làm Thừa tướng, Mông Điềm làm Nguyên soái, lần lượt tấn công tiêu diệt sáu nước: Hàn, Triệu, Yên, Ngụy, Sở, Tề, xây dựng một quốc gia phong kiến tập quyền đầu tiên, thực hiện cuộc đại hòa hợp dân tộc đầu tiên của Trung Quốc.

    Mặc dầu việc thống nhất đất nước này, Tần Thủy Hoàng có điều kiện là được kế thừa một cơ nghiệp lớn của các tiên vương. (Trong bài Quá Tần luận, Giả Nghị viết: “… Đến Tần vương (tức Tần Thủy Hoàng) được kế tục sự hùng mạnh của sáu đời nên có thể thực hiện kế sách lớn mà thống trị thiên hạ”.

    Tang Hoằng Dương trong Diêm Thiết luận thì nói: “Sở dĩ, Tần vượt được các nước chư hầu mà thôn tính cả thiên hạ” là do đất nước hiểm trở và có sẵn “thế”. Cái “thế” ở đây tức là cơ sở do các đời trước để lại, đồng thời còn do nhân dân sáu nước kia chán ghét sự phân chia, có nhu cầu được thống nhất), song phải công nhận bản lĩnh cá nhân của Tần Thủy Hoàng, một con người đầy tài năng và sức mạnh. Công tích này của Tần Thủy Hoàng từng được ca ngợi: “Công như khâu sơn, danh truyền hậu thế”, “Dũng lược hơn người, đạt thành công lớn”, “Thống nhất lục vũ, vượt xa cả Ngũ Đế, Tam Vương”…

    2. Cải cách chế độ phân phong thành chế độ quận huyện. Mọi chính sự lớn nhỏ đều do Hoàng đế quyết định hết.

    3. Thống nhất hệ thống giao thông. Quy định kích cỡ các loại xe cộ phù hợp các loại đường xá. Biện pháp này gọi là “xa đồng quỹ”, đi lại rất thuận lợi.

    4. Thống nhất một loại chữ viết. Biện pháp này gọi là “Thư đồng văn”, cả nước viết cùng một thứ chữ, giúp cho việc giao lưu văn hóa được tiến triển.

    5. Thống nhất chế độ đo lường, việc mua bán khắp nơi được dễ dàng, phát đạt hơn.

    6. Để ngăn chặn sự xâm phạm của Hung Nô, Tần Thủy Hoàng bắt dân phu lao dịch, nối liền các dãy thành cũ của 3 nước Yên, Triệu, Tần, rồi đắp cao thêm, dài thêm, dựng nên dãy Vạn Lý Trường Thành hùng vĩ, trở thành một trong những kỳ quan thế giới ngày nay.

    (còn nữa)
     
  4. scientists

    scientists Guest

    Về tội

    - Tần Thủy Hoàng tính cách quyết liệt, ý chí mạnh mẽ, song vô cùng tàn ác. Ông ta hoàn thành được kế hoạch thống nhất của các vua đời trước song các thủ đoạn thống trị thì tàn khốc đến cực độ. Đường Chân đời Thanh trong sách Tiềm thư nói: “Từ Tần trở đi, phàm các đế vương đều là “tặc” cả, song tên “tặc” này tàn bạo hơn các đế vương khác nhiều, tội lớn hơn nhiều”.

    Ông ta tự xem mình là kỳ tài, bản lĩnh nhiều, tham vọng lớn. Tự thấy mình không thể là “vương” như các thời trước mà phải là “Hoàng đế” mới đúng tầm. Và mục đích xây dựng cơ nghiệp cốt vì tông tộc, vì cá nhân, vì dòng dõi mai sau, vì vậy tuyên bố quyết định “Sau Thủy Hoàng đế là Nhị Thế, Tam Thế, rồi đến Vạn Thế, cứ vậy truyền mãi cho đến muôn đời” (Tư Mã Thiên - Sử ký).

    - Khi mới thống nhất đất nước, dân đang khốn khổ, nhẽ ra để dân nghỉ ngơi chăm lo sản xuất, song vì lo củng cố quyền thống trị, tiếp tục trưng binh ồ ạt, tiến hành chiến tranh đại quy mô đi xâm lăng mở rộng biên cương, khiến dân bị đẩy vào vòng nước lửa khốn đốn khôn cùng.

    [​IMG]

    - Để thoả mãn cuộc sống đế vương thối nát, ngay trong quá trình tiêu diệt 6 nước, Tần vương đã bắt đầu quy hoạch xây dựng cung Hàm Dương. Sử ký ghi: Năm thứ hai sau khi thống nhất, bắt đầu khởi công, đồng thời xây dựng cả khu cung điện lớn cho các phi tần ở. Chỉ hai nơi này đã hao tổn dân lực tài lực không biết bao nhiêu. Song, chưa thỏa mãn, mấy năm sau, lại xây dựng cung A Phòng quy mô gấp nhiều lần, bắt tất cả các mỹ nữ sáu nước về ở đấy làm nơi hưởng lạc.

    [​IMG]

    - Khi mới ở ngôi được mươi năm, đã xây dựng phần mộ ở vùng Ly Sơn, quy mô hùng vĩ. Ngôi mộ cao hơn 50 trượng trong một khu lăng với nhiều cung điện lầu các nguy nga cất chứa nhiều châu báu bảo vật. Công trình lớn đến kinh người: chỉ công làm đất hết 170.130.192 ngày công. Riêng việc nung ngói hết 36 triệu ngày công. Làm thảm đặt các tượng binh mã hết 18.163 ngày công. Nung tượng binh mã hết 887.125 ngày công. Tổng số hết 207.035.480 ngày công.

    [​IMG]

    Đương thời, nước Tần có khoảng 400 vạn lao động trai tráng, chỉ làm việc đắp đất cho công trình cần mỗi trai tráng bình quân hơn 40 ngày lao dịch. Toàn bộ công trình đòi hỏi sức lao động vượt quá sức trai tráng cả nước gấp 3 lần (Quách Chí Khôn - Tần Thuỷ Hoàng đại truyện)

    Thời Tần, nhân khẩu cả nước khoảng 20 triệu người, bị trưng dụng đi xây dựng cung A Phòng và mộ Ly Sơn hơn 80 vạn. Mông Điềm đem 30 vạn quân đi chinh phạt Hung Nô. Dựng Trường thành dùng 50 vạn người. Giữ Ngũ Lĩnh dùng 50 vạn quân. Lính canh gác Kinh sư và các nơi trong nước không dưới 30 vạn. Nhân công sửa sang các nơi 30 vạn, phu vận chuyển lương thực cho quân đội và dân công khoảng trên 100 vạn. Không kể người phục dịch trong các cung điện, tổng số đã tới ba trăm năm sáu chục vạn người, tức là chiếm trên 20% tổng nhân khẩu phải đi binh dịch, lao dịch.

    - Binh dịch và lao dịch nặng nề dẫn đến tình trạng dân chúng cùng kiệt, nhưng thuế má lại tăng lên đến 20 lần nên “người nghèo thường ăn đồ ăn như heo chó, mặc đồ mặc như trâu ngựa” (Hán thư – Thực hóa chí).

    - Gần cuối đời, Tần Thuỷ Hoàng càng tàn bạo. Sợ quan lại và kẻ sĩ nói chung, ham đọc sách kinh điển để học tập cổ nhân, ảnh hưởng đến nhân tâm, coi thường pháp chế, thế là hạ lệnh thu thập sách vở trong cả nước, trừ loại y dược, bói toán, sử thư triều Tần ra, còn các loại khác đem đốt hết.

    - Bị nho sĩ chê bai, cho truy lùng bắt bớ tràn lan, rồi “giận cá chém thớt” sai đem 460 Nho sĩ chôn sống tất cả. Nếu đốt sách là huỷ diệt văn hoá điển tịch thì chôn Nho là huỷ diệt con người văn hoá.

    - Phủ nhận chế độ “Đức trị ”, “Lễ trị ” của Đạo Nho, chủ trương “Pháp trị ” một cách cực đoan, ban bố pháp luật vô cùng hà khắc. Sách Hán thư chép: “Người bị khép tội rất đông, người bị xử chết rất nhiều” (Đổng Trọng Thư truyện - Hán thư). Sách Diêm Thiết luận thiên Thỉnh thánh chép: “Thời Tần, người bị tội cắt mũi, mũi chứa đầy sọt. Người bị tội chặt chân, chân chất đầy xe”. “Tội đồ đi chật đường”, “Thiên hạ đầy sầu oán”…

    - Bạo chính của Tần Thuỷ Hoàng khiến mọi tầng lớp nhân dân đều oán trách. Sản xuất bị phá hoại, dân không sống nổi dẫn đến sự chống đối. Thương nhân cũng bất mãn vì càng về sau càng có những chính sách ức thương rất ngặt nghèo. Địa chủ cũng bất mãn vì trai tráng phải đi phu đi lính nhiều, không tìm được sức lao động. Rồi Nho sĩ phẫn nộ, cựu quý tộc của 6 nước cũng căm tức sự chuyên quyền độc đoán. Chính toàn bộ sự thống trị thất nhân tâm của Tần Thuỷ Hoàng đã khiến triều đại này nhanh chóng bị diệt vong mà “Kẻ diệt triều Tần chính là Tần Thuỷ Hoàng”.

    Vậy là nhân vật lịch sử Tần Thuỷ Hoàng đã được nhìn nhận công bằng: “Công nhiều, tội lắm”. Đứng từ lợi ích của nhân dân, từ ý nghĩa nhân bản mà xét thì nói chung xã hội vẫn xem vế sau nặng ký hơn vế trước nhiều.

    Theo honvietquochoc.com.vn
     
  5. scientists

    scientists Guest

    Tứ đại mĩ nhân Trung Hoa


    Trong lịch sử Trung Quốc có bốn người con gái được mệnh danh là tứ đại mỹ nhân (chữ Hán: 四大美人), có sắc đẹp làm khuynh đảo cả một đất nước, thay đổi cả lịch sử. Các tài liệu lịch sử về họ cũng bị ảnh hưởng nhiều do một số truyền thuyết và lời đồn dân gian. Họ nổi tiếng và được gọi là tứ đại mỹ nhân do sắc đẹp và ảnh hưởng của họ đối với các vị hoàng đế Trung Quốc và làm thay đổi lịch sử Trung Quốc. Tất cả bốn người mỹ nhân đều có những kết thúc không có hậu hoặc vẫn còn là bí ẩn. Số phận họ đúng như các câu dân gian "phụng nhân bạc mạng" (phục vụ và cống hiến hết sức cho dân nhưng kết cục khổ) và "hồng nhan bạc mệnh" (có sắc đẹp thì số xấu).

    Theo thứ tự thời gian, bốn người đó là:
    • Đại mỹ nhân trầm ngư là Tây Thi. Thời Xuân Thu, khoảng thế kỷ 7-thế kỷ 6 TCN.
    • Đại mỹ nhân lạc nhạn là Vương Chiêu Quân. Thời nhà Tây Hán, khoảng thế kỷ 1 TCN.
    • Đại mỹ nhân bế nguyệt là Điêu Thuyền. Thời Tam Quốc, khoảng thế kỷ thứ 3.[3]
    • Đại mỹ nhân tu hoa là Dương Quý Phi. Thời nhà Đường, 719-756.

    [​IMG]

    Có nghĩa là : Nếu Tây Thi có nét đẹp làm cá phải lặn (Trầm Ngư), Vương Chiêu Quân khiến chim nhạn phải rơi rớt (Lạc Nhạn), Điêu Thuyền đẹp đến nỗi trăng cũng phải khép, núp vào mây (Bế Nguyệt, bế ở đây là khép cửa, ngừng), thì Dương Quý Phi mỗi khi ngắm hoa, hoa đều rũ héo vì hổ thẹn (Tu Hoa, tu là xấu hổ, e thẹn).


    Wikipedia​
     
  6. scientists

    scientists Guest

    Tây Thi

    [​IMG]

    Tây Thi đứng đầu trong tứ đại mỹ nhân, trong những bộ phim dã sử của Trung Quốc, người con gái này được khắc họa là nhân vật có công lớn trong việc giúp Phạm Lãi, Văn Chủng và Việt Vương - Câu Tiễn diệt vua Ngô - Phù Sai.

    Vẻ đẹp của nàng rất nổi tiếng trong thi ca và đời sống dân gian Trung Quốc, mỗi khi nhận xét về nhan sắc của một phụ nữ đẹp, người Trung Quốc thường ví với sắc đẹp của Tây Thi.

    Câu chuyện về nàng Tây Thi là một ví dụ điển hình cho “hồng nhan họa thủy” (người đẹp thường là mầm mống tai họa của đất nước) ở thời kỳ phong kiến.

    Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi khi nàng đi hái củi trong rừng, chim bay trên trời nhìn thấy nàng quên cả vỗ cánh nên rơi xuống đất. Khi nàng giặt áo bên sông, cá nhìn thấy nàng, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Câu “chim sa, cá lặn” cũng là từ nàng mà ra.

    Tuy nhiên, Tây Thi là nhân vật không có thật, các sách chính sử tự cổ chí kim không hề nhắc tới Tây Thi. Nàng chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết, thơ văn. Trong “Sử ký Tư Mã Thiên”, cái tên Tây Thi không hề được nhắc tới, nên việc Tây Thi có thật hay không vẫn là một đề tài gây tranh cãi.

    Vương Chiêu Quân

    [​IMG]

    Vương Chiêu Quân đi vào lịch sử Trung Quốc như một người đẹp đem lại hòa bình. Sự hy sinh của nàng đã giúp mang lại hòa bình trong 60 năm giữa nhà Hán và Hung Nô.

    Chiêu Quân được tuyển vào cung dưới thời vua Hán Nguyên Đế. Trong thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa bao giờ được gặp mặt vua và chỉ là một cung nữ. Có lần thiền vu Hung Nô đến kinh đô Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán.

    Thiền vu đề nghị được trở thành con rể vua Hán Nguyên Đế. Thay vì gả công chúa cho thiền vu, vua Hán ban cho ông năm cung nữ, trong đó có Vương Chiêu Quân.

    Theo sử sách ghi lại, khi được vời vào triều, vẻ đẹp của Chiêu Quân đã làm cho Hán Nguyên Đế sững sờ, thậm chí còn muốn thay đổi quyết định để giữ nàng ở lại.

    Đời chồng thứ nhất của Chiêu Quân là thiền vu Hung Nô - Hô Hàn Tà. Sau khi ông chết, Chiêu Quân phải theo tục nối dây của người Hung Nô và trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề - con trai lớn của Hô Hàn Tà. Hòa bình giữa nhà Hán và Hung Nô đã được kéo dài trên 60 năm nhờ Chiêu Quân là vì vậy.

    Sau khi chết, Chiêu Quân được mai táng tại Nội Mông. Mộ của Chiêu Quân thường được gọi là “Thanh Trủng” (cỏ xanh) vì khi mùa đông sang, dù cỏ ở những nơi khác đã vàng úa thì cỏ trên mộ nàng vẫn xanh tốt.


    (còn nữa)
     
  7. scientists

    scientists Guest

    Điêu Thuyền

    [​IMG]

    Điêu Thuyền là một nhân vật nổi tiếng trong tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung. Dù được cho là nhân vật hư cấu nhưng hình tượng Điêu Thuyền vẫn được văn hóa dân gian Trung Quốc trân trọng và lưu giữ, thường được nhắc đến trong các câu chuyện lịch sử liên quan đến Đổng Trác và Lã Bố - hai vị tướng của nhà Đông Hán.

    Điêu Thuyền trong tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa” là nghĩa nữ của Tư đồ Vương Doãn. Vương Doãn bày kế gả Điêu Thuyền cho cả Đổng Trác và Lã Bố để ly gián họ nhằm mục đích lật đổ Đổng Trác.

    Trong cuốn "Thánh Thán Ngoại Thư", Mao Tôn Cương viết về Điêu Thuyền như sau: "18 lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lã Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền thắng nổi. Lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Bản lãnh của nữ tướng quân quả là tuyệt cao cường, đáng sợ thay!".

    Tuy vậy, trong “Biên niên sử Tam Quốc chí” không có đoạn nào nhắc đến Điêu Thuyền. Nhân vật Điêu Thuyền thực chất chỉ là hình ảnh hư cấu trong tiểu thuyết của La Quán Trung, không được xác nhận trong sử sách.

    Dương Quý Phi

    [​IMG]

    Năm 17 tuổi, Dương Ngọc Hoàn (tên thật của Dương Quý Phi) được chọn làm vợ của hoàng tử Thọ Vương Lý Mạo - con trai thứ 18 của Đường Minh Hoàng. Dương Ngọc Hoàn trở thành Thọ Vương phi.

    Về sau, Dương Ngọc Hoàn được giao nhiệm vụ trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Vũ Huệ Phi - một người vợ của vua Đường Minh Hoàng. Từ đó, Ngọc Hoàn phải làm sãi, không còn là vợ của vương tử Lý Mão nữa.

    Khi đến thắp hương cho vợ, Đường Minh Hoàng ngay lập tức say mê nhan sắc của Ngọc Hoàn và lập nàng làm Quý phi. Đường Minh Hoàng chiều chuộng nàng hết mực.

    Nhà vua tối ngày ở bên Dương Quý Phi yến tiệc đàn ca, bỏ bê việc triều chính dẫn đến họa mất nước. Năm 756, kinh thành Trường An bị thất thủ, hoàng thất nhà Đường phải chạy đi lánh nạn. Trên đường di chuyển, quân lính bức vua phải ra lệnh thắt cổ Dương Quý Phi thì họ mới chịu phò vua vì đương thời ai cũng cho Dương Quý Phi là mầm đại họa.

    Dưới sức ép của binh lính, Đường Minh Hoàng buộc phải xử tử Dương Quý Phi, nàng bị xiết cổ chết năm 38 tuổi. Sau khi chết, xác quý phi bị chôn vội ven đường.

    Năm 757, nhà Đường dẹp loạn xong, Đường Minh Hoàng sai người xây mộ cho quý phi. Hiện tại mộ nằm ở tỉnh Thiểm Tây, thực chất, đây chỉ là mộ gió, xác của Dương Quý Phi bị chôn vội trên đường chạy nạn nên không tìm lại được tung tích.

    Theo dantri.com.vn​
     
  8. scientists

    scientists Guest

    Đát Kỷ


    [​IMG]

    Đát Kỷ (妲己, cũng bị phiên âm sai thành Đắc Kỷ) là một nhân vật trong huyền sử Trung Quốc. Tương truyền, bà là một mỹ nhân nổi tiếng và là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự sụp đổ của nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc.

    Thân thế

    Thời Thương, người Trung Hoa chưa có tục chép sử, và hiện tại cũng chưa tìm thấy bất kỳ tài liệu đương thời nào ghi nhận sự tồn tại của Đát Kỷ. Tất cả các thông tin về Đắc Kỷ đều xuất phát từ các truyền thuyết dân gian. Mãi đến thời nhà Minh, tác phẩm tiểu thuyết dã sử Phong thần diễn nghĩa mới cung cấp những thông tin hệ thống về nhân vật này.

    Theo Phong thần diễn nghĩa thì Đát Kỷ nguyên danh là Tô Đát Kỷ, là con gái của Ký Châu hầu Tô Hộ. Do vua Trụ Vương vốn háo sắc, nghe lời của Bí Trọng và Vưu Hồn, nên đòi Tô Hộ phải dâng con gái để nạp làm phi tử. Tuy Tô Hộ phản ứng mạnh trước yêu cầu này, nhưng sau khi có thư khuyên giải cân nhắc của Tây Bá hầu Cơ Xương, ông quyết định dâng con gái. Tô Hộ có 2 người con. 1 là con trai trưởng Tô Toàn Trung, văn võ song toàn, dũng trí hơn người. 2 là Tô Đát Kỷ, 16 tuổi, 1 bông hoa rực rỡ đẹp tuyệt trần: mắt nàng long lanh như sương mai, da mịn màng tựa như lụa, nước da hồng hào, mũi cao thẳng, miệng hoa nhỏ, môi đỏ thắm, dáng đi uyển chuyển, giọng nói trong trẻo.

    Phong thần diễn nghĩa cũng cho rằng Đát Kỷ thực ra chỉ là người bình thường, nhưng trên đường dâng nạp cho Trụ Vương đã bị Hồ ly tinh nhập xác để thực hiện nhiệm vụ của Thạch Cơ giao cho là làm cho Trụ Vương mê muội và nhà Thương sụp đổ, tạo điều kiện cho nhà Chu thu phục thiên hạ. Tuy nhiên, do thực hiện nhiệm vụ quá tàn ác và làm chết quá nhiều người, vì vậy đã bị Khương Tử Nha chém chết.

    Trụ Vương và Đát Kỷ là 1 cặp được nhắc đến trong lịch sử Trung Quốc với sự phẫn nộ của nhiều người. Tương truyền, trong cung Trụ có 1 nơi dành riêng cho thú vui của vua Trụ. Vua Trụ, Đát Kỷ cùng các mỹ nhân thường xuyên vui chơi truy lạc tại đây. họ ra lệnh dùng roi đánh khắp người các con vật thật đau, để hằn lên vết đỏ, rướm máu, rồi mang nướng lên để thưởng thức, đem thịt treo thành rừng, gọi là nhục lâm. Nơi này được thiết kế với những hồ nhỏ, vua Trụ cho đổ rượu vào đầy hồ, gọi là tửu trì, rồi cùng Đắc Kỷ và các mỹ nhân xuống tắm rượu.

    Trong dân gian- các sử gia- những việc làm độc ác

    Trong nhiều truyền thuyết dân gian đều cho rằng Đát Kỷ là hồ ly tinh hóa thành, vì dược biết bà rậm lông chân. Tất cả đều mô tả bà có nhan sắc yêu kiều làm mê đắm lòng người, thuộc hàng đại mỹ nhân của Trung Hoa. Tuy nhiên, do là một yêu tinh và có nhiều hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp làm chết quá nhiều người, nên dân gian thường gọi bà là yêu cơ.

    Có lần Đát Kỷ bất hòa với thân thuộc của vua là Tỷ Can, bắt ông này phải moi tim ra. Một vị quan giỏi xem tinh tượng, bói toán cũng vì bất hòa mà bị bà cho cột lưng vào cột nung đỏ, cháy cả lưng. Trụ Vương còn cho xây cung "Lộc Đài" vuông mỗi bên 3 dặm, cao ngàn thước, quy mô lớn chưa từng thấy, phải dùng đến hàng vạn thợ xây, xây 7 năm mới xong.

    Những lần đi du ngoạn, Trụ Vương và Đát Kỷ cũng làm không ít điều ác nhân như: Một lần đi dạo thấy cảnh một cụ già và một em bé đi trong mưa tuyết, cụ già thì khỏe mạnh, còn em bé run rẩy vì lanh. Đát Kỷ nói cụ già dược sinh ra trong lúc cha mẹ còn trẻ nên ống chân có tủy, đứa trẻ kia sinh ra khi cha mẹ đã già nên chân không có ống tủy, vì thế mà lạnh. Trụ Vương không tin, ả liền cho người chặt chân cụ già và em bé ra xem rồi cùng cười ha hả, một lần khác thấy 1 sản phụ liền bắt mổ bụng ra xem trai hay gái.
    "Bào lạc" lại là 1 phát minh của Đát Kỷ, Trụ Vương. Đó là 1 ống đồng dài, khi sử dụng mang ống đồng nhét đầy than đỏ bắc ngang qua hố lửa, bắt tội nhân cởi hết quần áo giày dép ra và chạy từ đầu này sang đầu kia của ống đồng. Quan thần trong triều bấy giờ bị tàn sát vô tội vạ.

    Chu Văn Vương Cơ Xương được sự phò tá của Khương Tử Nha đã đánh đổ nhà Thương. Trụ Vương mất nước bèn mặc áo dát ngọc leo lên "Lộc Đài" tự châm lửa thiêu. Đát Kỷ cũng tự thắt cổ chết.

    Các sử gia đời sau thường cho rằng vì quá yêu Đát Kỷ, Trụ Vương đã làm nhiều điều thất đức, đi theo vết xe đỗ của vua Kiệt nhà Hạ say đắm nàng Muội Hỷ đến nỗi làm hỏng chính sự và mất nước về tay nhà Chu. Sau này cuối thời Tây Chu lại có chuyện Chu U vương si mê nàng Bao Tự mà cũng lặp lại bi kịch như Trụ Vương làm mất nhà Tây Chu. Về sau, Đát Kỷ bị chính tay Khương Tử Nha giết chết (có nơi ghi là Đát Kỷ sau khi Trụ Vương mất nước đã thắt cổ tự tử).

    “Phong thần diễn nghĩa” cũng cho rằng, Đát Kỷ thực ra chỉ là người bình thường, nhưng trên đường dâng nạp cho Trụ Vương đã bị hồ ly tinh nhập xác để thực hiện nhiệm vụ của Thạch Cơ giao cho. Tuy nhiên, do quá tàn ác, vì vậy đã bị Khương Tử Nha chém chết.
    Như vậy, xét về nét đẹp, Đát Kỷ cũng thuộc hàng đại mỹ nhân Trung Hoa nhưng không được coi trọng và kính nể như Tứ Đại Mỹ Nhân.

    Qua các nghiên cứu lịch sử

    Ở trên đã nêu, ngoài các truyền thuyết dân gian, các nghiên cứu khoa học, các phát hiện từ di chỉ khảo cổ chưa tìm thấy những dấu tích về sự tồn tại của nhân vật Đát Kỷ. Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa đều thống nhất phán đoán cơ bản Đát Kỷ chỉ là một nhân vật hư cấu được xây dựng trong dân gian và chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo, nhằm mục đích giảm nhẹ vai trò của Trụ Vương trong sự sụp đổ của nhà Thương và làm tiến trình thay thế của nhà Chu danh chính ngôn thuận.

    Trong văn hóa đại chúng

    Đát Kỷ là một nhân vật được khai thác rất nhiều trong văn hóa Trung Quốc. Rất nhiều thành ngữ có yếu tố nói về sắc đẹp của Đắc Kỷ hoặc sắc đẹp hồ ly tinh để nói về những nữ nhân có sắc đẹp làm mê muội những nam nhân có quyền lực, từ đó dẫn đến những việc vô đạo.

    Trước khi có nghệ thuật điện ảnh, nhân vật Đát Kỷ đã được đưa vào các bộ môn nghệ thuật múa rối hoặc sân khấu Trung Quốc. Và khi điện ảnh ra đời, Đát Kỷ là nhân vật không thể thiếu trong các tác phẩm liên quan đến sự sụp đổ của nhà Thương.
    Trong đó nổi bật nhất là bộ phim truyền hình do TVB sản xuất: Đát Kỷ - Trụ Vương hoặc có tên khác là Bảng Phong Thần (2001), với các diễn viên: Ôn Bích Hà (vai Đắc Kỷ), Trần Hạo Dân (vai Na Tra), Tiền Gia Lạc (vai Dương Tiễn), Trịnh Tử Thành (vai Trụ Vương) của TVB


    Theo Wikipedia​
     
  9. scientists

    scientists Guest

    Từ Hi Thái hậu (tiếng Trung: 慈禧太后; 29 tháng 11 năm 1835–15 tháng 11 năm 1908) là người nắm quyền lực thực tế của triều đình Thanh trong hơn 40 năm. Bà cùng với Võ Tắc Thiên được xem như là hai người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa, vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề (trọng nam khinh nữ), trong một thời gian dài. Thụy hiệu của bà là Hiếu Khâm Từ Hi Đoan Hựu Khang Di Chiêu Dự Trang Thành Thọ Cung Khâm Hiến Sùng Hi Phối Thiên Hưng Thánh Hiển hoàng hậu.

    [​IMG]

    Từ Hy Thái hậu là mẹ của hoàng đế Đồng Trị, dì (thực chất cũng là mẹ) của hoàng đế Quang Tự, thực hiện cái gọi là “buông rèm nghe chính sự” trong suốt 48 năm - 48 năm tai ương, khủng khiếp nhất của lịch sử chế độ phong kiến Trung Hoa.

    Rượu bát trân làm vua Hàm Phong say đắm

    Các sách đều chép về việc người con gái Mãn Châu, họ Na Nạp thị, tên tự Ngọc Lan, 16 tuổi được tuyển vào cung, nhanh chóng vượt qua mấy trăm cung nữ, sớm được nhìn thấy mặt “rồng”, nhận trọng trách sinh quý tử nối dõi ngai vàng.

    Theo thông lệ từ đời Hán, tất cả con gái từ 13 đến 16 tuổi chưa chồng, tính cách dịu dàng, đoan trang, hiếu lễ nghĩa, có tài, có sắc đều phải dự tuyển để chọn vào cung. Nhà nào có con gái đẹp mà giấu không dự tuyển sẽ bị trừng phạt nặng.

    Ngọc Lan được tuyển vào cung khi triều đình Mãn Thanh đã lún sâu vào khủng hoảng, thối nát, vua quan ăn chơi sa đọa, xao lãng việc triều chính. Hoàng đế Hàm Phong lúc đó mới 20 tuổi, đã lập hoàng hậu và có tới ba ngàn cung nữ.

    Nhưng từng ấy cũng chưa đủ để nhà vua vừa ý nên mới có chuyện hoàng đế giao du với cả gái điếm (do một cận thần dạy học cho thái tử đem vào cung), để đến nỗi mắc bệnh hoa liễu. Những người phụ nữ được ân ái với hoàng đế đều không thể sinh con, hoặc nếu có sinh được thì hài nhi cũng không sống nổi trăm ngày.

    Đó chính là bi kịch của hoàng đế và cũng là bi kịch của đất nước. Vì vậy, mục đích của cuộc tuyển cung nữ lần này là chọn được người có khả năng sinh thái tử.

    Sách “Tình sử Từ Hy Thái hậu” của Đàm Lâm viết rằng: Do giao du với gái điếm, vua Hàm Phong mắc bệnh hoa liễu, toàn thân mọc mụn, nhưng quan ngự y chỉ dám nói vua mắc bệnh ghẻ lở.

    Tuy vậy, khi Ngọc Lan được tuyển vào cung, nhà vua cũng được ngự y dâng rượu mới: Rượu xuân bát trân. Rượu bát trân gồm nhân sâm, câu kỷ, ngũ vị tử, hoàng kỳ, kim hoa xã, tắc kè, chân gấu, nhung hươu, ngâm trong tiết hươu.

    Chính nhờ loại rượu này đã làm vua Hàm Phong mê đắm Ngọc Lan ngay từ lần đầu thấy mặt và hết mực sủng ái nàng. Trong mắt nhà vua trẻ tuổi này, Ngọc Lan là người tài sắc vẹn toàn. “Ngũ quan của nàng không một chỗ nào chê được. Đặc biệt là làn da của nàng, trong cái trắng có hồng, trong hồng có phấn, nước da như phát sáng.

    Màu da càng làm tăng thêm vẻ đẹp của nàng, khiến nàng đẹp khác thường. Tuy khuôn mặt nàng có nét buồn, nhưng nét buồn đó lại như bù đắp cho nàng cái gì đó chưa đầy đủ...

    Hai bím tóc đen lánh, vầng trán trắng ngần, mắt như sóng thu, môi hồng như hoa anh đào, hai má như hoa phù dung...”. Vì vậy, lần đầu gặp tại phật điện trong cung, hoàng đế đã thực sự bị Lan Nhi bắt mất hồn, và hai người đã thực sự hòa quyện. Ngọc Lan đã thỏa nguyện ước bấy lâu: được thấy mặt rồng và có cơ hội thực hiện những kế hoạch của riêng mình.

    Bất chấp luân thường với mộng ước tiếm ngôi

    Ngay từ lần đầu được vua ban ân và sủng ái, Ngọc Lan đã đặt ngay kế hoạch chiếm đọat quyền lực trong cung. Nàng đã lợi dụng hoàng đế ban cho mình địa vị và quyền uy ngay trong các cuộc “mây mưa”. Lần đầu ân ái, nhà vua cao hứng phong cho nàng là quý nhân, lần thứ hai là quý phi, lần tiếp theo là Quý phi...

    Nhiều sách chép rằng, chính trong lần thứ hai ân ái với người đẹp, vua đã ban: “Ngày hai tháng bảy mùa hạ năm Nhâm Tý, vua phong Diệp Hách Na La thị Ngọc Lan làm Lan quý nhân. Rồi lấy con triện luôn đem theo bên mình đóng lên dòng chữ vừa viết: “Dưỡng Tâm trai ngự bút chí bảo giám”.

    Rồi cũng theo lời thỉnh cầu của nàng, nhà vua lập tức đưa nàng vào cung. Đối với vua Hàm Phong, Lan Nhi như một món quà lạ. Đã chán ngấy các cung tần được trang điểm kỹ lưỡng, vàng bạc châu báu khoác đầy người, người con gái khỏe mạnh chốn dân dã, lại có khiếu thi ca đã chiếm lĩnh vị trí tối cao trong trái tim của hoàng thượng trong nhiều năm.

    Khi đạt được một số nấc thang danh vọng, gánh nặng của hoàng tộc đặt lên vai Lan Nhi là phải sinh quý tử nối ngôi. Và Lan Nhi đã làm được điều ấy. Tuy nhiên, sự thực về chuyện này đã được chép trong “Tình sử Từ Hy Thái hậu” như sau: trước khi vào cung, Lan Nhi đã yêu một người và nặng lòng với người ấy.

    Khi được làm quý phi, Lan Nhi đã bố trí cho người này vào cung gặp mặt và 2 người đã chìm đắm trong hoan thú, rồi thề với nhau rằng, nếu sinh con trai sẽ đặt tên là Đồng Trị”.

    Trong dã sử còn truyền rằng, ngoài Đồng Trị, Từ Hy còn là người sinh ra Quang Tự, người kế tiếp Đồng trị ngồi vào ngai vàng của triều Mãn Thanh sau khi Đồng Trị đoản thọ. Sách “20 nữ nhân Trung Quốc” chép rằng: ‘Tây thái Hậu rất thích một món ăn do “Kim hoa phạm diếm” cung cấp.

    Quán này có một người làm công trẻ tuổi, đẹp trai họ Sử. Sử làm quen với Lý Liên Anh (một đại thái giám thân cận của Từ Hy Thái hậu) và được Lý bí mật dẫn vào nội cung chơi.

    Có lần Sử theo Lý Liên Anh tới cửa Cảnh Hòa thì gặp Tây Thái hậu. Thấy người đàn ông đẹp, cường tráng bà ta liền cho giữ gã họ Sở ở lại cung để hầu hạ. ít lâu sau bà sinh ra một đứa con trai giống Sử như đúc.

    Đứa bé lập tức được chuyển tới nhà Thuần Vương để nuôi nấng (vợ của Thuần Vương là em gái của Tây Thái hậu). Còn bố của đứa trẻ, người đàn ông họ Sử thì bị bí mật thủ tiêu ngay sau khi đứa trẻ mới chào đời”.

    Vốn là người đàn bà ham mê nhục dục, góa bụa khi tuổi còn rất trẻ, lại sẵn có nhiều quyền lực trong tay, Từ Hy không cần giấu giếm chuyện chung đụng với đàn ông, không kể tới dạnh phận sang hèn, chỉ cần được “no say” nỗi khát thèm về thể xác.

    Ngay khi vua Hàm Phong còn sống, Ngọc Lan đã lén lút đi lại với người tình thuở còn ở quê hương rồi có con với người đó, lại bày đặt màn kịch hết sức khéo léo để vua Hàm Phong lầm tưởng con mình.

    Rồi khi Hàm Phong chết, bà ta đã không ngần ngại giao du với đủ loại người, từ quan thái giám trong cung, đến đầu bếp, kép hát.... Nhưng ghê tởm nhất là chuyện bà có quan hệ gần gũi quá mức với hai đại thái giám trong cung : An Đức Hải và Lý Liên Anh.

    Nói chung phần lớn bọn quan hoạn trong cung nhà Thanh cũng thích “chung đụng” với phụ nữ một cách bệnh hoạn. Tuy đã “khứ thể” (cắt mất của quý) nhưng bọn này vẫn ngấm ngầm lấy vợ hoặc lén lút làm tình với các cung nữ của nhà vua.

    Chúng tìm cách thỏa mãn dục vọng bằng cách thức quái đản, dày vò thân xác người đàn bà bằng tay và bằng lưỡi. Nhiều người không chịu nổi sự nhục nhã đã tìm đến cái chết... Hầu hết những cung nữ gắn bó với quan giám thường có số phận thê thảm. Và điều đặc biệt là nhiều quan giám triều Thanh cũng bị mắc bệnh hoa liễu như bề trên của chúng,

    Từ Hy Thái hậu- nữ hoàng không ngai gây nhiều tội ác nhất trong lịch sử triều Mãn Thanh

    Sau khi vua Hàm Phong chết, Đồng Trị lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, bà ta đã buông rèm nhiếp chính suốt 48 năm ròng. Bà đã không ngại ngần bày ra nhiều quỷ kế nhằm tiêu diệt những người không cùng phe cánh. Không ít người đã chết thảm bởi tay Từ Hy Thái hậu. Rất nhiều sách chép rằng chính Từ Hy Thái hậu là người đã ép vua Quang Tự cùng ái phi là Trân Phi đến chỗ chết.

    Có chuyện, một lần chơi cờ, một viên thái giám lỡ lời “Nô tỳ giết con mã của lão phật gia rồi”, Từ Hy liền nổi giận mà truyền: “Ta sẽ giết chết cả nhà nhà ngươi”. Và ngay sau đó ra lệnh đánh viên thái giám đó cho đến chết.

    Song tội ác lớn nhất của Từ Hy Thái hậu là đã làm mất chủ quyền dân tộc, làm cho Trung Quốc trở thành xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến. Trong suốt 48 năm Từ Hy Thái hậu thâu tóm quyền lực trong tay, triều đình nhà Thanh đã ký với các nước đế quốc một số điều ước, hiệp ước ghi nhận sự mất chủ quyền dân tộc của Trung Quốc.

    Lần lượt triều đình đã ký các hòa ước với Nga, Anh, Pháp, Nhật, Đức, ý, áo... Điển hình là Điều ước Mã quan ký với Nhật Bản, Điều ước Tân Sửu ký với liên quân 8 nước đế quốc. Các điều ước này thừa nhận Trung Quốc phải cắt đất và bồi thường chiến phí rất nặng.

    Riêng điều ước Mã quan, Trung Quốc mất Đài Loan, Liêu Đông, Bành Hồ, chiến phí hai vạn lạng bạc (bằng thu nhập của triều đình Mãn Thanh trong ba năm). Từ Hy Thái hậu cũng là người đã bóp chết biến pháp của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, 1 biến pháp có khả năng đưa Trung Quốc thoát khỏi nguy cơ rơi vào vòng lệ thuộc của các nước đế quốc phương Tây.

    Trong sách 20 nữ nhân Trung Quốc tổng kết cuộc đời bà hoàng hậu không ngai này bằng mấy dòng sau: “Từ sau chính biến Tân Dậu đoạt lấy chính quyền, 2 lần buông rèm nghe chính sự, một lần giáo huấn chính sự, lập qua ba hoàng đế nhỏ (hoàng đế Đồng Trị, hoàng đế Quang Tự, hoàng đế Phổ Nghi- ba vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa), thao túng chính quyền đời Thanh gần nửa thế kỷ.

    Trong thời gian bà nắm quyền, đối nội chuyên chế, tàn bạo, đối ngoại khuất phục, bán nước, khiến dân tộc Trung Hoa nhiều lần nguy vong bờ cõi và bà trở thành người có tội lớn với dân tộc”.

    Nhận định chung

    Nói chung, Thái hậu Từ Hy là con người có nhiều tham vọng, quyết đoán và độc tài, không biết dùng cận thần có năng lực để tham mưu cho bà. Bà cũng chẳng biết tin dùng người Hán,chỉ vì ít học nên không tiến kịp thời đại. So với Thiên hoàng Minh Trị của Nhật Bản và Pyotr I của Nga, Từ Hy thái hậu ích kỷ hơn vì nghĩ đến quyền lợi riêng nhiều hơn, chẳng hạn lấy số tiền dự tính đóng chiến hạm theo kiểu châu Âu để sửa sang Di Hòa viên làm nơi tĩnh dưỡng cho bà lúc về già.

    Ngay từ 1879, Từ Hy đã chuẩn bị lăng - sau đây là một vài con số:

    - Thảm dệt kim tuyến dát ngọc quý gồm 3000 viên.

    - Gấm phủ lụa hoa sen, trên lụa đính 2400 viên ngọc trai.

    - Áo sợi bằng vàng bạc có đính ngọc.

    - Mũ ngọc có viên to bằng quả trứng.

    - 624 tấn bạc trắng.

    - 108 pho tượng phật bằng vàng, miệng dát ngọc dạ đứng xa mấy chục thước cũng nhìn thấy ánh sáng, tay cầm hoa sen ngọc.

    - 4 con ngựa bằng ngọc.

    - 18 tượng La Hán.

    - 1 tháp bằng ngọc.

    Ngoài ra còn hàng vạn viên ngọc khác, và rất nhiều vàng, mã não, trân châu…

    So với những thái hậu từng nắm thực quyền ở Trung Hoa như Lã hậu và Võ Tắc Thiên, Từ Hy có điểm giống ở chỗ thao túng các hoàng đế, có cách cư xử tàn nhẫn. Nhưng thời đại của Từ Hy so với trước bất lợi hơn. Võ Tắc Thiên ở vào thời Trung Hoa hưng thịnh, bên ngoài mở mang bờ cõi. Trong khi đó hoàn cảnh đối ngoại của Từ Hy có điểm giống Lã Hậu. Lã Hậu bên ngoài bị Hung Nô uy hiếp, cũng như Trung Hoa của Từ Hy bị các đế quốc phương Tây xâu xé. Bởi thế có tài liệu của Trung Quốc buộc tội bà "Cắt đất cầu hoà, thờ giặc như cha". Chuyện phòng the của bà cũng như của Lã Hậu và Võ Tắc Thiên, rất đáng lên án vì bà ta quá dâm loạn.

    Có ý kiến từ châu Âu liệt Từ Hy vào hạng Đại Nữ Hoàng đế Ekaterina II của Nga, có tài cai trị. Ý kiến phản bác cho rằng lời khen đó quá mức. Vì bà tin bọn Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương thật, nhưng chỉ cho họ nắm quân đội, tài chính và việc cai trị ở các tỉnh thôi, mà triều đình vẫn hủ bại, hậu quả là "ngoài nặng trong nhẹ", quyền cai trị ở ngoài các tỉnh lần lần qua tay người Hán, họ mạnh lên; còn quyền thống trị của người Mãn ở trong triều đình nhẹ lần, khiến cho Mãn Thanh dễ bị diệt vong.

    Tổng hợp từ nhiều nguồn​

     
  10. scientists

    scientists Guest

    Nguyễn Trãi​


    Nguyễn Trãi (1380–19/9/1442), quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán.

    [​IMG]

    Thời thơ ấu

    Nguyễn Trãi (阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋) sinh năm 1380 tại làng Chi Ngại, huyện Chí Linh (nay là thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, người làng Chi Ngại, một nho sĩ hay chữ nhưng nghèo và mẹ là Trần Thị Thái, con gái thứ ba của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Mối lương duyên của thân phụ và thân mẫu Nguyễn Trãi là một ngoại lệ đối với những qui định hôn nhân khắt khe của tôn thất nhà Trần, Trần Nghệ Tông đã không cho Nguyễn Phi Khanh làm quan khi ông đỗ Thái học sinh vì ông là kẻ thứ dân mà lấy vợ giàu sang, cho rằng như vậy là phạm thượng.

    Đôi vợ chồng trẻ có với nhau năm người con theo thứ tự là Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng[ Nhưng chưa được bao lâu thì bà Trần Thị Thái qua đời, anh em Nguyễn Trãi lại nương nhờ ông ngoại là Trần Nguyên Đán nhưng đến năm 1390 thì Trần Nguyên Đán mất. Nguyễn Phi Khanh phải một mình nuôi các con ăn học.

    Ở Nhị Khê, Nguyễn Phi Khanh đã ra công rèn cặp các con theo khuôn khổ Nho giáo mà có lẽ là Nho giáo Khổng Mạnh chứ không học Tống Nho vì Hồ Quý Ly đã bài bác Tống Nho là không thiết thực. Tuy còn ít tuổi nhưng Nguyễn Trãi rất ham học. Tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả

    Làm quan với nhà Hồ

    Năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần Thiếu Đế, lật đổ nhà Trần, nhà Hồ thành lập. Cũng trong năm đó, nhà Hồ mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh, đứng thứ tư, được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng. Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan, làm đến chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1407, Minh Thành Tổ phái Trương Phụ đem quân xâm lược nước Đại Ngu, nhà Hồ kháng chiến thất bại, Hồ Quý Ly cùng nhiều triều thần bị bắt và bị đem về Trung Quốc, trong số đó có Nguyễn Phi Khanh. Đại Ngu rơi vào ách Minh thuộc.

    Lúc này, Nguyễn Trãi đang chạy trốn để thoát khỏi sự truy bắt của quân Minh. Trương Phụ ép Phi Khanh viết thư gọi ông, ông bất đắc dĩ phải ra hàng. Nhiều tài liệu khác thì kể rằng, khi cha bị giải sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi đã theo cha lên cửa ải và tỏ ý muốn đi theo hầu hạ, nhưng Nguyễn Phi Khanh không đồng ý và khuyên ông nên về lo cứu nước báo thù nhà.

    Mười năm phiêu dạt

    Cuộc đời Nguyễn Trãi từ sau năm 1407 đến khi vào yết kiến Bình Định Vương ở Lỗi Giang để tham gia khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn là một ẩn số. Cho tới nay, chưa thấy được những tài liệu chính xác, đầy đủ về Nguyễn Trãi trong thời kỳ đó. Sử sách không chép cũng như chép không thống nhất và bản thân Nguyễn Trãi cũng không ghi lại điều gì cụ thể. Nguyễn Trãi nói nhiều đến thập niên phiêu chuyển (mười năm phiêu dạt) lênh đênh ở nơi chân trời góc biển trong một số văn thơ của ông, áng chừng là để chỉ khoảng thời gian này. Tất nhiên con số mười năm chỉ mang tính tương đối.

    Trù hoạch mưu lược, viết thư thảo hịch

    Tháng 6 năm 1423, Lê Vận và Lê Trăn được Bình Định Vương cử làm sứ giả, mang lễ vật là năm đôi ngà voi cùng thư do Nguyễn Trãi viết đi cầu hoà. Lời lẽ trong thư rất mềm dẻo, khôn khéo[21], Tổng binh nhà Minh là Trần Trí chấp thuận ngay. Từ đây, mọi thư từ giao thiệp giữa quân Lam Sơn và quân Minh cũng như văn thư hiểu dụ các thành trì đều do một tay Nguyễn Trãi soạn thảo.

    Nguyễn Trãi cũng đề xuất một diệu kế nhằm tuyên truyền thanh thế cho nghĩa quân Lam Sơn. Ông dùng nước cơm trộn mật (hoặc mỡ) viết vào lá cây tám chữ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần (黎利為君, 阮廌為臣), nghĩa là Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi, với ý đồ khiến kiến ăn mỡ khoét thành chữ trên mặt lá, rồi lá theo dòng nước trôi đi các ngả như tin báo từ trên trời xuống. Tuy vậy, một số tướng lĩnh khác như Lê Sát, Phạm Vấn, Lê Thụ bất bình vì cho rằng Nguyễn Trãi quá cao ngạo và coi thường họ, những người đã chịu nhiều lao khổ từ khi cuộc khởi nghĩa còn trong trứng nước. Đinh Liệt hoà giải mâu thuẫn bằng cách đề nghị Nguyễn Trãi đổi lại thành Lê Lợi vi quân, bách tính vi thần (黎利為君, 百姓為 臣), nghĩa là Lê Lợi làm vua, trăm họ làm tôi. Thế là tin Lam Sơn khởi nghĩa truyền đi khắp nơi, khiến cho mọi người hết sức tin tưởng vào tương lai của nghĩa quân.

    Tranh thủ thời gian hoà hoãn hiếm hoi, Lê Lợi dẫn quân về Lam Sơn, nhanh chóng củng cố lực lượng. Năm 1424, Trần Trí biết rằng không thể chiêu dụ Lam Sơn đầu hàng, bèn bắt giữ sứ giả Lê Trăn, tuyệt giao với Lê Lợi. Cuộc khởi nghĩa bước vào một giai đoạn mới.

    Chấp thuận ý kiến của Nguyễn Chích, tháng 10 năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào nam, tấn công đồn Đa Căng, thành Trà Lân và bao vây thành Nghệ An. Kết hợp với các hoạt động quân sự, Nguyễn Trãi đã viết nhiều thư cho Phương Chính để khiêu chiến với tướng này, hòng khiến quân Minh sơ hở. Tuy nhiên, thành Nghệ An vẫn cố thủ không chịu đầu hàng. Tháng 8 năm 1425, Bình Định Vương mở cuộc tấn công vào Tân Bình, Thuận Hoá và liên tiếp giành được thắng lợi. Cho đến cuối năm 1425, không chỉ Nghệ An mà cả miền đất từ dãy Tam Điệp trở vào đèo Hải Vân đều thuộc địa bàn quản lí của nghĩa quân Lam Sơn, quân Minh chỉ còn cố thủ trong năm thành Tây Đô, Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá chờ cứu viện.

    Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi chia một bộ phận nghĩa quân Lam Sơn chia làm ba hướng, tấn công ra bắc và thắng quân Minh ở Tốt Động - Chúc Động. Bình Định Vương nghe báo tin, bèn tiến gấp ra Đông Quan, Nguyễn Trãi theo Lê Lợi trở ra bắc. Đầu năm 1427, Lê Lợi phong cho Nguyễn Trãi làm Triều liệt Đại phu Nhập nội Hành khiển Lại bộ Thượng thư, kiêm chức Hành Khu mật viện sự. Đồng thời, ông cũng sai dựng một toà lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề, trên bờ sông Hồng, cao ngang tháp Báo Thiên, hàng ngày ngồi trên lầu trông vào thành Đông Quan xem xét hoạt động của quân Minh; Nguyễn Trãi ngồi hầu ở ngay tầng dưới để bàn luận quân cơ và thảo thư từ đi lại.

    Tại đây, Nguyễn Trãi đã viết hàng chục bức thư gửi vào thành Đông Quan chiêu dụ Vương Thông, gửi đi Nghệ An chiêu dụ Thái Phúc cũng như dụ hàng các tướng lĩnh nhà Minh ở Tân Bình, Thuận Hoá và một số thành trì khác. Kết quả đạt được rất khả quan: các thành Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá ra hàng đầu năm 1427. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã từng cùng với viên chỉ huy họ Tăng vào dụ hàng thành Tam Giang, khiến Chỉ huy sứ thành này là Lưu Thanh ra hàng vào khoảng tháng 4 năm 1427. Ông cũng đã đem thân vào dụ hàng thành Đông Quan năm lần Quân Minh ở Giao Chỉ càng bị cô lập nhanh chóng, chỉ còn cố thủ được ở một số thành như Đông Quan, Cổ Lộng, Tây Đô... mà thôi.

    Cuối năm 1427, Minh Tuyên Tông xuống chiếu điều binh cứu viện Vương Thông, sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân từ Quảng Tây, Mộc Thạnh đem 5 vạn quân từ Vân Nam, cùng tiến quân sang Việt Nam. Với trận Chi Lăng - Xương Giang, hai đạo viện binh của nhà Minh với số lượng lên tới hơn 10 vạn quân đã bị quân Lam Sơn tiêu diệt hoàn toàn. Quân Minh ở Đại Việt lâm vào tình thế khốn quẫn hoàn toàn, buộc phải đề nghị giảng hoà. Lúc bấy giờ, một số tướng sĩ đến yết kiến và khuyên Lê Lợi nên đánh thành Đông Quan, giết hết quân Minh để trả thù cho sự bạo ngược mà người Minh đã gây nên ở Đại Việt. Nhưng ý kiến của Nguyễn Trãi thì lại khác. Sách Đại Việt sử kí Bản kỉ thực lục, quyển X, tờ 44a-44b ghi rõ rằng :

    "Duy có hành khiển Nguyễn Trãi ở nơi tham mưu, được xem thư bọc sáp của [Vương] Thông gửi về nước nói "Chớ tham chỗ đất một góc mà làm nhọc quân đi muôn dặm; giả sử dùng quân được như số quân đi đánh khi đầu, lại được sáu, bảy, tám đại tướng như bọn Trương Phụ thì mới có thể đánh được; tuy nhiên có đánh được cũng không thể giữ được", nên biết rõ thế mạnh yếu của giặc, mới chuyên chủ mặt chủ hoà. Vua [Lê Thái Tổ] nghe theo và hạ lệnh cho các quân giải vây lui ra"

    —Đại Việt sử ký toàn thư​


    Nhờ đó, quân Minh nhanh chóng giảng hoà, tổ chức hội thề Đông Quan và rút toàn quân về nước. Khi quân Minh sắp rút đi, một số tướng khuyên Lê Lợi nên đánh thêm một trận để cho giặc không dám sang nữa nhưng Nguyễn Trãi can nên tha cho những người cùng đường. Năm 1428, nhà Hậu Lê hình thành.
    (còn nữa)​

     
  11. scientists

    scientists Guest

    Vụ án Lệ Chi Viên

    Tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông. Nhà vua lúc đó mới hai mươi tuổi, đang độ thanh niên, không ai nghĩ rằng đó lại là chuyến tuần du cuối cùng của vua. Và kéo theo sau đám tang là một vụ án oan khiên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
    Ngày 1 tháng 9 năm 1442, sau khi nhà vua duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón Lê Thái Tông đi thuyền vào chơi chùa Côn Sơn. Khi trở về Đông Kinh, người thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ theo hầu vua. Ngày 7 tháng 9 năm 1442, thuyền về đến Lệ Chi Viên thì vua bị bệnh, thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất. Các quan giấu kín chuyện này, nửa đêm ngày 9 tháng 9 năm 1442 về đến Đông Kinh mới phát tang. Triều đình qui tội Nguyễn Thị Lộ giết vua, bèn bắt bà và Nguyễn Trãi, khép hai người vào âm mưu thí nghịch.

    Ngày 19 tháng 9 năm 1442 (tức ngày 16 tháng Tám năm Nhâm Tuất), Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Thị Lộ và gia quyến đều bị tru di tam tộc. Vị khai quốc công thần đã kết thúc cuộc đời ở tuổi 63 trong một hoàn cảnh bi phẫn và oan khuất.

    Được phục hồi danh dự

    Sau khi Nguyễn Trãi chết, đa phần những di cảo thơ văn và trước tác của ông đều bị tiêu hủy. Bản khắc in sách Dư địa chí bị Đại Tư đồ Đinh Liệt sai hủy năm 1447. Nhiều trước tác mất vĩnh viễn đến nay như Luật thư, Ngọc đường di cảo, Giao tự đại lễ,... Gia quyến Nguyễn Trãi cũng lưu tán khi biến cố Lệ Chi Viên xảy đến. Theo gia phả họ Nguyễn Nhị Khê, em trai Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Hùng chạy về Phù Khê, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Nguyễn Phù - một người con của Nguyễn Trãi - chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn. Bà vợ thứ năm của Nguyễn Trãi là Lê thị, đang mang thai, phải trốn về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương. Đặc biệt, bà vợ thứ tư của Nguyễn Trãi là Phạm Thị Mẫn, lúc đó cũng đang mang thai, được người học trò cũ của chồng là Lê Đạt giúp chạy trốn vào xứ Bồn Man, sau về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tại Đây, bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ.

    Thời điểm Nguyễn Trãi mất cũng gần thời điểm vua Lê Nhân Tông lên ngôi, Thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính. Ngày 18 tháng 10 năm 1459, Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân đảo chính, giết Lê Nhân Tông và Thái hậu, lên ngôi vua bốn ngày sau đó và trở thành vị vua thứ tư của nhà Hậu Lê. Thế nhưng, thời gian trị vì của vị vua này kết thúc vào ngày 24 tháng 6 năm 1460 khi các quan đại thần như Đinh Liệt, Nguyễn Xí, Lê Lăng,... tổ chức cuộc binh biến lần thứ hai, phế truất và giết Lê Nghi Dân. Gia Vương Lê Tư Thành được tôn lên ngôi vào ngày 26 tháng 6 năm ấy, trở thành vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê - Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông là con trai của Lê Thái Tông với bà Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, người từng chịu ơn cứu mạng của vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ trong những ngày bà mang nặng đẻ đau vua Lê Thánh Tông năm 1442. Có lẽ vì thế, dù chưa từng và không thể gặp mặt Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông hẳn có sự chú ý đặc biệt với vị lão thần quá cố.

    Tháng 8 năm 1464, sau 22 năm oan khuất, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước hiệu là Tán Trù bá, rồi lại truy tặng tước hiệu Thái Sư Tuệ Quốc Công, bãi bỏ lệnh truy sát của triều đình với gia quyến Nguyễn Trãi và ra lệnh bổ dụng con cháu ông làm quan. Nguyễn Anh Vũ khi ấy đi thi đỗ Hương cống, bèn được nhà vua bổ nhiệm làm Tri huyện

    Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Sau khi Nguyễn Trãi bị nạn 70 năm, ngày 8 tháng 8 năm 1512, vua Lê Tương Dực truy tặng Nguyễn Trãi tước Tế Văn hầu, chế văn truy tặng có câu
    “Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên
    Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế
    Dịch là
    Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ
    Truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau​
     
    Last edited by a moderator: 12 Tháng ba 2014
  12. scientists

    scientists Guest

    Trương Lệ Hoa​


    Trương Lệ Hoa (559-589) là một mỹ nhân tuyệt thế xuất hiện tại Nam triều thuộc nhà Trần (đời vua Trần Văn Đế năm 560). Bà vốn xuất thân là ca kỹ, sau này làm Quý phi của Nam triều Trần Hậu Chủ.

    Cuộc đời

    Trương Lệ Hoa xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo khó ở Giang Nam. Tuy là con nhà nông, phải phụ cha mẹ làm những công việc đồng áng nặng nhọc nhưng Lệ Hoa đang ở độ tuổi đôi mươi có nét đẹp khác lạ: "da trắng như tuyết, mắt đen láy, thân hình toát lên vẻ thanh tú", những vẻ đẹp theo nàng từ lúc mới sinh nên tên Lệ Hoa cũng do cha mẹ đặt từ các đặc điểm trên. Trương Lệ Hoa có mái tóc dài bảy thước, bóng đến soi gương được, lông mày như vẽ. Ngoài ra, nàng còn có trí nhớ hơn người và sự nhạy bén nhận biết người tài, có thể nói là "Nhân gian có nhất ngôn nhất sự, luôn luôn biết trước".
    Người con trai của Trần Văn Đế là Trần Thúc Bảo, tên tự là Hoàng Nô cũng mới gần hai mươi tuổi khi ấy được phong là Trần Nhu Tuyên đế. Trần Nhu trong một dịp ra ngoài cung dạo chơi đã gặp và phải lòng Trương Lệ Hoa khi thấy nàng đang bán hoa sen ngoài phố. Trần Nhu đã đưa một số tiền lớn cho cha mẹ Lệ Hoa để mua nàng về làm thiếp.

    Cũng có giai thoại nói rằng Lệ Hoa là thị tì cho Cung Quý Tần, Trần Hậu Chủ vừa gặp đã trúng tiếng sét ái tình, phong làm Quý Phi.

    Khi vua Trần Văn Đế băng hà thì Trần Nhu lên làm hoàng đế, hiệu là Chí Đức (về sau sách sử gọi là Trần Hậu Chủ). Ngay khi nắm một quyền lực lớn nhất trong tay, Hậu Chủ đã cho rước Trương Lệ Hoa về cung và suốt ngày đắm đuối bên nàng, bỏ mặc Thẩm Hoàng Hậu và những lời can ngăn của quần thần "Lệ Hoa chỉ là con của tầng lớp dân dã". Ông coi Lệ Hoa như bảo bối quý báu nhất, đến nỗi khi lâm triều, bá quan khởi tấu quốc sự, đều cho Trương Lệ Hoa ngồi trên đầu gối, cùng quyết định đại sự thiên hạ. Đặc biệt là sau khi Lệ Hoa sinh được một đứa con trai, ông lập tức lập làm Thái tử, địa vị của nàng trong mắt ông ngày được nâng cao và củng cố.

    Việc làm ảnh hưởng đến quốc gia

    Vì xuất thân từ tầng lớp nghèo khó trong xã hội nên khi vào cung, Lệ Hoa hết sức choáng ngợp trước cảnh vàng son nhung lụa. Mặc dù được vua chu cấp đầy đủ nhưng ở ngôi vị quý phi, nàng vẫn chưa thỏa mãn. Lệ Hoa sai tâm phúc bí mật liên lạc với các tầng lớp quý tộc bên ngoài để thực hiện việc "mua quan bán chức", hễ ai muốn có chức tước gì trong triều chỉ cần đưa cho nàng một số vàng bạc nào đó tương xứng với giá trị của chức ấy thì sẽ toại nguyện nhờ tài nâng đỡ và mồm miệng của Lệ Hoa thuyết phục nhà vua. Ngoài Lệ Hoa, Trần Hậu Chủ còn sủng ái Cung Quý Tần, Khổng Quý Tần, hai mỹ nhân họ Vương, Lý, Viên Chiêu nghi... Hậu chủ có bài thơ vong quốc nổi tiếng " Ngọc thụ hậu đình hoa" cũng tự khi này.
    Thái tử Trần Dân bất mãn trước việc hoàng hậu Thẩm mẹ mình không được sủng ái cùng với việc Trương Quý Phi công khai ăn hối lộ nên tỏ ý chống đối, Lệ Hoa cầu cứu với Hậu Chủ và từ đó vua càng phớt lờ những lời can gián của Thái Tử cũng như quần thần rồi ngày càng ăn chơi sa đọa cùng Trương mỹ nhân.

    Nhà Trần bị diệt

    Năm 588, nhà Tùy dẫn quân tấn công Nam triều, Tấn Vương Dương Quảng bao vây kinh đô Nam Trần. Hậu Chủ bước đường cùng phải dẫn Trương Lệ Hoa và Khổng Quý Tân nhảy xuống một cái giếng cạn ở vườn Ngự Uyển để trốn quân Tùy. Cuối cùng bị bắt gọn, Dương Quảng cũng suýt bị mỹ nhân hớp hồn, toan đưa nàng về nhưng sau khi nghe quan quân can ngăn đã hạ lệnh xử tử Trương Lệ Hoa, còn Hậu Chủ và hoàng tử Thâm bị bắt làm tù nhân. Trương Lệ Hoa chết rất trẻ, chỉ vừa sắp bước qua tuổi 30. Nàng bị xử trảm ở bờ suối Thanh Khê.


    Sưu tầm​
     
  13. scientists

    scientists Guest

    Từ Hy Thái hậu
    [​IMG]
    Thật khó có thể đếm hết các cuốn sách viết về các nữ nhân Trung Quốc, cũng khó có thể thống kê hết các sách viết về Từ Hy Thái hậu (Na Nạp Thị)- người đàn bà tài sắc, chuyên quyền, hoang dâm, độc ác. Bà cùng với Võ Tắc Thiên trở thành hai nữ nhân nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa.

    Cuộc đời của Từ Hy Thái hậu gắn liền với triều đại Mãn Thanh- triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa đang trong giai đọan suy tàn và khủng hoảng tột độ. Từ một mỹ nữ trong dân dã được chọn vào cung làm quý nhân, rồi từ địa vị quý phi nhảy lên ngôi thái hậu, thâu tóm quyền lực, gây bao tội ác.
    Từ Hy Thái hậu là mẹ của hoàng đế Đồng Trị, dì (thực chất cũng là mẹ) của hoàng đế Quang Tự, thực hiện cái gọi là “buông rèm nghe chính sự” trong suốt 48 năm - 48 năm tai ương, khủng khiếp nhất của lịch sử chế độ phong kiến Trung Hoa.
    Rượu bát trân làm vua Hàm Phong say đắm
    Các sách đều chép về việc người con gái Mãn Châu, họ Na Nạp thị, tên tự Ngọc Lan, 16 tuổi được tuyển vào cung, nhanh chóng vượt qua mấy trăm cung nữ, sớm được nhìn thấy mặt “rồng”, nhận trọng trách sinh quý tử nối dõi ngai vàng.
    Theo thông lệ từ đời Hán, tất cả con gái từ 13 đến 16 tuổi chưa chồng, tính cách dịu dàng, đoan trang, hiếu lễ nghĩa, có tài, có sắc đều phải dự tuyển để chọn vào cung. Nhà nào có con gái đẹp mà giấu không dự tuyển sẽ bị trừng phạt nặng.
    Ngọc Lan được tuyển vào cung khi triều đình Mãn Thanh đã lún sâu vào khủng hoảng, thối nát, vua quan ăn chơi sa đọa, xao lãng việc triều chính. Hoàng đế Hàm Phong lúc đó mới 20 tuổi, đã lập hoàng hậu và có tới ba ngàn cung nữ.
    Nhưng từng ấy cũng chưa đủ để nhà vua vừa ý nên mới có chuyện hoàng đế giao du với cả gái điếm (do một cận thần dạy học cho thái tử đem vào cung), để đến nỗi mắc bệnh hoa liễu. Những người phụ nữ được ân ái với hoàng đế đều không thể sinh con, hoặc nếu có sinh được thì hài nhi cũng không sống nổi trăm ngày.
    Đó chính là bi kịch của hoàng đế và cũng là bi kịch của đất nước. Vì vậy, mục đích của cuộc tuyển cung nữ lần này là chọn được người có khả năng sinh thái tử.
    Sách “Tình sử Từ Hy Thái hậu” của Đàm Lâm viết rằng: Do giao du với gái điếm, vua Hàm Phong mắc bệnh hoa liễu, toàn thân mọc mụn, nhưng quan ngự y chỉ dám nói vua mắc bệnh ghẻ lở.
    Tuy vậy, khi Ngọc Lan được tuyển vào cung, nhà vua cũng được ngự y dâng rượu mới: Rượu xuân bát trân. Rượu bát trân gồm nhân sâm, câu kỷ, ngũ vị tử, hoàng kỳ, kim hoa xã, tắc kè, chân gấu, nhung hươu, ngâm trong tiết hươu.
    Chính nhờ loại rượu này đã làm vua Hàm Phong mê đắm Ngọc Lan ngay từ lần đầu thấy mặt và hết mực sủng ái nàng. Trong mắt nhà vua trẻ tuổi này, Ngọc Lan là người tài sắc vẹn toàn. “Ngũ quan của nàng không một chỗ nào chê được. Đặc biệt là làn da của nàng, trong cái trắng có hồng, trong hồng có phấn, nước da như phát sáng.
    Màu da càng làm tăng thêm vẻ đẹp của nàng, khiến nàng đẹp khác thường. Tuy khuôn mặt nàng có nét buồn, nhưng nét buồn đó lại như bù đắp cho nàng cái gì đó chưa đầy đủ...
    Hai bím tóc đen lánh, vầng trán trắng ngần, mắt như sóng thu, môi hồng như hoa anh đào, hai má như hoa phù dung...”. Vì vậy, lần đầu gặp tại phật điện trong cung, hoàng đế đã thực sự bị Lan Nhi bắt mất hồn, và hai người đã thực sự hòa quyện. Ngọc Lan đã thỏa nguyện ước bấy lâu: được thấy mặt rồng và có cơ hội thực hiện những kế hoạch của riêng mình.
    Bất chấp luân thường với mộng ước tiếm ngôi
    Ngay từ lần đầu được vua ban ân và sủng ái, Ngọc Lan đã đặt ngay kế hoạch chiếm đọat quyền lực trong cung. Nàng đã lợi dụng hoàng đế ban cho mình địa vị và quyền uy ngay trong các cuộc “mây mưa”. Lần đầu ân ái, nhà vua cao hứng phong cho nàng là quý nhân, lần thứ hai là quý phi, lần tiếp theo là Quý phi...
    Nhiều sách chép rằng, chính trong lần thứ hai ân ái với người đẹp, vua đã ban: “Ngày hai tháng bảy mùa hạ năm Nhâm Tý, vua phong Diệp Hách Na La thị Ngọc Lan làm Lan quý nhân. Rồi lấy con triện luôn đem theo bên mình đóng lên dòng chữ vừa viết: “Dưỡng Tâm trai ngự bút chí bảo giám”.
    Rồi cũng theo lời thỉnh cầu của nàng, nhà vua lập tức đưa nàng vào cung. Đối với vua Hàm Phong, Lan Nhi như một món quà lạ. Đã chán ngấy các cung tần được trang điểm kỹ lưỡng, vàng bạc châu báu khoác đầy người, người con gái khỏe mạnh chốn dân dã, lại có khiếu thi ca đã chiếm lĩnh vị trí tối cao trong trái tim của hoàng thượng trong nhiều năm.
    Khi đạt được một số nấc thang danh vọng, gánh nặng của hoàng tộc đặt lên vai Lan Nhi là phải sinh quý tử nối ngôi. Và Lan Nhi đã làm được điều ấy. Tuy nhiên, sự thực về chuyện này đã được chép trong “Tình sử Từ Hy Thái hậu” như sau: trước khi vào cung, Lan Nhi đã yêu một người và nặng lòng với người ấy.
    Khi được làm quý phi, Lan Nhi đã bố trí cho người này vào cung gặp mặt và 2 người đã chìm đắm trong hoan thú, rồi thề với nhau rằng, nếu sinh con trai sẽ đặt tên là Đồng Trị”.
    Trong dã sử còn truyền rằng, ngoài Đồng Trị, Từ Hy còn là người sinh ra Quang Tự, người kế tiếp Đồng trị ngồi vào ngai vàng của triều Mãn Thanh sau khi Đồng Trị đoản thọ. Sách “20 nữ nhân Trung Quốc” chép rằng: ‘Tây thái Hậu rất thích một món ăn do “Kim hoa phạm diếm” cung cấp.
    Quán này có một người làm công trẻ tuổi, đẹp trai họ Sử. Sử làm quen với Lý Liên Anh (một đại thái giám thân cận của Từ Hy Thái hậu) và được Lý bí mật dẫn vào nội cung chơi.
    Có lần Sử theo Lý Liên Anh tới cửa Cảnh Hòa thì gặp Tây Thái hậu. Thấy người đàn ông đẹp, cường tráng bà ta liền cho giữ gã họ Sở ở lại cung để hầu hạ. ít lâu sau bà sinh ra một đứa con trai giống Sử như đúc.
    Đứa bé lập tức được chuyển tới nhà Thuần Vương để nuôi nấng (vợ của Thuần Vương là em gái của Tây Thái hậu). Còn bố của đứa trẻ, người đàn ông họ Sử thì bị bí mật thủ tiêu ngay sau khi đứa trẻ mới chào đời”.
    Vốn là người đàn bà ham mê nhục dục, góa bụa khi tuổi còn rất trẻ, lại sẵn có nhiều quyền lực trong tay, Từ Hy không cần giấu giếm chuyện chung đụng với đàn ông, không kể tới dạnh phận sang hèn, chỉ cần được “no say” nỗi khát thèm về thể xác.
    Ngay khi vua Hàm Phong còn sống, Ngọc Lan đã lén lút đi lại với người tình thuở còn ở quê hương rồi có con với người đó, lại bày đặt màn kịch hết sức khéo léo để vua Hàm Phong lầm tưởng con mình.
    Rồi khi Hàm Phong chết, bà ta đã không ngần ngại giao du với đủ loại người, từ quan thái giám trong cung, đến đầu bếp, kép hát.... Nhưng ghê tởm nhất là chuyện bà có quan hệ gần gũi quá mức với hai đại thái giám trong cung : An Đức Hải và Lý Liên Anh.
    Nói chung phần lớn bọn quan hoạn trong cung nhà Thanh cũng thích “chung đụng” với phụ nữ một cách bệnh hoạn. Tuy đã “khứ thể” (cắt mất của quý) nhưng bọn này vẫn ngấm ngầm lấy vợ hoặc lén lút làm tình với các cung nữ của nhà vua.
    Chúng tìm cách thỏa mãn dục vọng bằng cách thức quái đản, dày vò thân xác người đàn bà bằng tay và bằng lưỡi. Nhiều người không chịu nổi sự nhục nhã đã tìm đến cái chết... Hầu hết những cung nữ gắn bó với quan giám thường có số phận thê thảm. Và điều đặc biệt là nhiều quan giám triều Thanh cũng bị mắc bệnh hoa liễu như bề trên của chúng,
    Từ Hy Thái hậu- nữ hoàng không ngai gây nhiều tội ác nhất trong lịch sử triều Mãn Thanh
    Sau khi vua Hàm Phong chết, Đồng Trị lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, bà ta đã buông rèm nhiếp chính suốt 48 năm ròng. Bà đã không ngại ngần bày ra nhiều quỷ kế nhằm tiêu diệt những người không cùng phe cánh. Không ít người đã chết thảm bởi tay Từ Hy Thái hậu. Rất nhiều sách chép rằng chính Từ Hy Thái hậu là người đã ép vua Quang Tự cùng ái phi là Trân Phi đến chỗ chết.
    Có chuyện, một lần chơi cờ, một viên thái giám lỡ lời “Nô tỳ giết con mã của lão phật gia rồi”, Từ Hy liền nổi giận mà truyền: “Ta sẽ giết chết cả nhà nhà ngươi”. Và ngay sau đó ra lệnh đánh viên thái giám đó cho đến chết.
    Song tội ác lớn nhất của Từ Hy Thái hậu là đã làm mất chủ quyền dân tộc, làm cho Trung Quốc trở thành xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến. Trong suốt 48 năm Từ Hy Thái hậu thâu tóm quyền lực trong tay, triều đình nhà Thanh đã ký với các nước đế quốc một số điều ước, hiệp ước ghi nhận sự mất chủ quyền dân tộc của Trung Quốc.
    Lần lượt triều đình đã ký các hòa ước với Nga, Anh, Pháp, Nhật, Đức, ý, áo... Điển hình là Điều ước Mã quan ký với Nhật Bản, Điều ước Tân Sửu ký với liên quân 8 nước đế quốc. Các điều ước này thừa nhận Trung Quốc phải cắt đất và bồi thường chiến phí rất nặng.
    (còn)
     
  14. scientists

    scientists Guest

    8 kiểu tra tấn hãi hùng nhất lịch sử

    Cho chuột gặm nhấm thân thể, cưa đôi người, tứ mã phanh thây… là những phương pháp tra tấn đáng sợ nhất từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại.
    Trong hàng nghìn năm qua, tra tấn là phương pháp loài người sử dụng để phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Dù là biện pháp trừng phạt vì phạm tội hay khai thác thông tin, đó đều là những hình thức gây đau đớn tột cùng cho nạn nhân.
    Dưới đây là một số kỹ thuật tra tấn khủng khiếp từng xuất hiện trong lịch sử:

    Quan tài sắt
    [​IMG]
    Quan tài sắt là một chiếc thùng hình nón gắn hàng trăm chiếc đinh sắt bên trong. Được thiết kế đủ lớn để chứa được những người có kích thước lớn nhất, nạn nhân sẽ bị nhốt bên trong và bị thẩm vấn trong thời gian dài. Chỉ cần một cử động nhỏ, nạn nhân sẽ bị các đinh sắt gây thương tích và đâm xuyên người. Mặc dù thiết bị này được xem là kiểu tra tấn điển hình thời trung cổ, nhưng không có dữ liệu cho thấy nó được sử dụng trước năm 1793.

    Kẹp ngón tay
    [​IMG]

    Một kỹ thuật tra tấn đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả là phương pháp kẹp ngón tay, chân. Kiểu hành xác dã man này được áp dụng lần đầu tiên thời Trung cổ ở châu Âu. Trong quá trình tra tấn, nạn nhân sẽ bị kẹp ngón tay, ngón chân vào một chiếc kẹp bằng sắt, rồi từ từ bị siết chặt và gây sự đau đớn, thậm chí gãy xương. Để thử thách sức chịu đựng của nạn nhân, một số chiếc kẹp còn có gai nhọn bên trong để làm thủng da thịt, móng tay chân.

    Chiếc bàn đau đớn
    [​IMG]

    Đây là một dụng cụ tra tấn hình chiếc bàn dài làm bằng gỗ và sắt. Nó có con lăn 2 đầu, ở giữa là một đòn bẩy có tác dụng khiến 2 con lăn di chuyển. Khi tra tấn, nạn nhân sẽ bị đặt vào chiếc bàn, tay chân bị trói chặt vào 2 con lăn. Tiếp đó, họ sẽ bị người tra tấn dùng đòn bẩy kéo căng tay và chân ra 2 chiều ngược nhau. Lúc này nạn nhân cảm thấy vô cùng đau đớn và có thể bị đứt hết cơ, gãy xương.

    Tứ mã phanh thây
    [​IMG]
    Tứ mã phân thây là một kiểu tra tấn có từ thời phong kiến. Đây là hình phạt mà tứ chi của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào bốn con ngựa. Khi hành hình, các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng, từ đó bốn sợi dây kéo tứ chi phạm nhân đến khi thân thể của phạm nhân bị xé thành nhiều mảnh. Phạm nhân sau đó có thể bị bỏ mặc cho máu chảy đến chết. Hình phạt này còn có một biến thể khác là ngũ mã phân thây với con ngựa thứ năm cột vào cổ phạm nhân.

    Con bò đồng
    [​IMG]

    Hình thức tra tấn khủng khiếp này xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại. Con bò đồng là một khiếc khuôn bằng đồng hình con bò, có một cánh cửa bên thân và rỗng ở phần đầu. Khi bị hành hình, nạn nhân sẽ bị nhốt vào thân con bò, trong khi người tra tấn dùng lửa đốt và thiêu cháy người bên trong. Kinh khủng hơn, đầu con bò được đễ rỗng nhằm phát ra tiếng la hét của nạn nhân và thở ra khói, khiến nó giống như đang rống lên.

    Kéo dưới thân tàu
    [​IMG]
    Đây là một dạng tra tấn phổ biến với các thủy thủ trên biển. Nạn nhân sẽ bị buộc vào dây và thả xuống dưới thân tàu. Sau đó, họ bị kéo từ mạn trái sang mạn phải tàu, hoặc bị kéo dọc theo sống tàu. Nếu kéo nhanh, nạn nhân sẽ bị cứa đứt da thịt, mất tứ chi… Nếu kéo chậm, người bị tra tấn bị chết đuối do ở lâu dưới nước. Kiểu tra tấn này từng được cho phép thực hiện một cách hợp pháp ở Hải Quân Hà Lan. Hình thức này được ghi nhận đầu tiên trong pháp lệnh của Hà Lan năm 1560 và được bãi bỏ không chính thức vào năm 1853.

    Chuột gặm nhấm
    [​IMG]
    Với kiểu tra tấn bằng động vật này, nạn nhân sẽ bị đặt một chiếc chụp kim loại lên người và trong đó chứa những con chuột. Tiếp đó, người tra tấn sẽ nung nóng chiếc chụp và khiến lũ chuột sợ hãi tìm lối thoái. Theo bản năng, bầy chuột tìm lối thoát bằng cách ngặm nhấm cơ thể của nạn nhân. Cách tra tấn này vừa gây đau đớn về thể xác và khủng bố tinh thần nạn nhân.
    Thả trôi sông
    [​IMG]
    Kiểu tra tấn này do những người Ba Tư cổ đại khai sinh. Nạn nhan sẽ bị lột quần áo, buộc vào một chiếc bè và bị ép uống sữa hoặc ăn mật ong. Chiếc bè sau đó bị thả trôi sông. Nạn nhân sẽ bị tiêu chảy do ăn nhiều đồ ngọt, bị côn trùng cắn và kiệt sức đến chết. Việc làm này có thể diễn ra trong nhiều ngày để hành hạ tinh thần và thể xác của người bị hành hình.
    Tổng hợp
     
  15. scientists

    scientists Guest

    Cảm ơn bạn, mình sẽ post ngay lovelycat_handoi95 !
     
    Last edited by a moderator: 31 Tháng một 2014
  16. scientists

    scientists Guest

    Từ Hi Thái Hậu

    [​IMG]

    Từ Hi Thái hậu (tiếng Trung: 慈禧太后; bính âm: Cíxǐ Tàihòu; Wade–Giles: Tz'u2-hsi3 T'ai4-hou4; 29 tháng 11 năm 1835–15 tháng 11 năm 1908) là người nắm quyền lực thực tế của triều đình Thanh trong hơn 40 năm. Bà cùng với Võ Tắc Thiên được xem như là hai người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa, vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề (trọng nam khinh nữ), trong một thời gian dài. Thụy hiệu của bà là Hiếu Khâm Từ Hi Đoan Hựu Khang Di Chiêu Dự Trang Thành Thọ Cung Khâm Hiến Sùng Hi Phối Thiên Hưng Thánh Hiển hoàng hậu.

    [​IMG]

    Rượu bát trân làm vua Hàm Phong say đắm

    Các sách đều chép về việc người con gái Mãn Châu, họ Na Nạp thị, tên tự Ngọc Lan, 16 tuổi được tuyển vào cung, nhanh chóng vượt qua mấy trăm cung nữ, sớm được nhìn thấy mặt “rồng”, nhận trọng trách sinh quý tử nối dõi ngai vàng.

    Theo thông lệ từ đời Hán, tất cả con gái từ 13 đến 16 tuổi chưa chồng, tính cách dịu dàng, đoan trang, hiếu lễ nghĩa, có tài, có sắc đều phải dự tuyển để chọn vào cung. Nhà nào có con gái đẹp mà giấu không dự tuyển sẽ bị trừng phạt nặng.

    Ngọc Lan được tuyển vào cung khi triều đình Mãn Thanh đã lún sâu vào khủng hoảng, thối nát, vua quan ăn chơi sa đọa, xao lãng việc triều chính. Hoàng đế Hàm Phong lúc đó mới 20 tuổi, đã lập hoàng hậu và có tới ba ngàn cung nữ.

    Nhưng từng ấy cũng chưa đủ để nhà vua vừa ý nên mới có chuyện hoàng đế giao du với cả gái điếm (do một cận thần dạy học cho thái tử đem vào cung), để đến nỗi mắc bệnh hoa liễu. Những người phụ nữ được ân ái với hoàng đế đều không thể sinh con, hoặc nếu có sinh được thì hài nhi cũng không sống nổi trăm ngày.

    Đó chính là bi kịch của hoàng đế và cũng là bi kịch của đất nước. Vì vậy, mục đích của cuộc tuyển cung nữ lần này là chọn được người có khả năng sinh thái tử.

    Sách “Tình sử Từ Hy Thái hậu” của Đàm Lâm viết rằng: Do giao du với gái điếm, vua Hàm Phong mắc bệnh hoa liễu, toàn thân mọc mụn, nhưng quan ngự y chỉ dám nói vua mắc bệnh ghẻ lở.

    Tuy vậy, khi Ngọc Lan được tuyển vào cung, nhà vua cũng được ngự y dâng rượu mới: Rượu xuân bát trân. Rượu bát trân gồm nhân sâm, câu kỷ, ngũ vị tử, hoàng kỳ, kim hoa xã, tắc kè, chân gấu, nhung hươu, ngâm trong tiết hươu.

    Chính nhờ loại rượu này đã làm vua Hàm Phong mê đắm Ngọc Lan ngay từ lần đầu thấy mặt và hết mực sủng ái nàng. Trong mắt nhà vua trẻ tuổi này, Ngọc Lan là người tài sắc vẹn toàn. “Ngũ quan của nàng không một chỗ nào chê được. Đặc biệt là làn da của nàng, trong cái trắng có hồng, trong hồng có phấn, nước da như phát sáng.

    Màu da càng làm tăng thêm vẻ đẹp của nàng, khiến nàng đẹp khác thường. Tuy khuôn mặt nàng có nét buồn, nhưng nét buồn đó lại như bù đắp cho nàng cái gì đó chưa đầy đủ...

    Hai bím tóc đen lánh, vầng trán trắng ngần, mắt như sóng thu, môi hồng như hoa anh đào, hai má như hoa phù dung...”. Vì vậy, lần đầu gặp tại phật điện trong cung, hoàng đế đã thực sự bị Lan Nhi bắt mất hồn, và hai người đã thực sự hòa quyện. Ngọc Lan đã thỏa nguyện ước bấy lâu: được thấy mặt rồng và có cơ hội thực hiện những kế hoạch của riêng mình.

    Bất chấp luân thường với mộng ước tiếm ngôi

    Ngay từ lần đầu được vua ban ân và sủng ái, Ngọc Lan đã đặt ngay kế hoạch chiếm đọat quyền lực trong cung. Nàng đã lợi dụng hoàng đế ban cho mình địa vị và quyền uy ngay trong các cuộc “mây mưa”. Lần đầu ân ái, nhà vua cao hứng phong cho nàng là quý nhân, lần thứ hai là quý phi, lần tiếp theo là Quý phi...

    Nhiều sách chép rằng, chính trong lần thứ hai ân ái với người đẹp, vua đã ban: “Ngày hai tháng bảy mùa hạ năm Nhâm Tý, vua phong Diệp Hách Na La thị Ngọc Lan làm Lan quý nhân. Rồi lấy con triện luôn đem theo bên mình đóng lên dòng chữ vừa viết: “Dưỡng Tâm trai ngự bút chí bảo giám”.

    Rồi cũng theo lời thỉnh cầu của nàng, nhà vua lập tức đưa nàng vào cung. Đối với vua Hàm Phong, Lan Nhi như một món quà lạ. Đã chán ngấy các cung tần được trang điểm kỹ lưỡng, vàng bạc châu báu khoác đầy người, người con gái khỏe mạnh chốn dân dã, lại có khiếu thi ca đã chiếm lĩnh vị trí tối cao trong trái tim của hoàng thượng trong nhiều năm.

    Khi đạt được một số nấc thang danh vọng, gánh nặng của hoàng tộc đặt lên vai Lan Nhi là phải sinh quý tử nối ngôi. Và Lan Nhi đã làm được điều ấy. Tuy nhiên, sự thực về chuyện này đã được chép trong “Tình sử Từ Hy Thái hậu” như sau: trước khi vào cung, Lan Nhi đã yêu một người và nặng lòng với người ấy.

    Khi được làm quý phi, Lan Nhi đã bố trí cho người này vào cung gặp mặt và 2 người đã chìm đắm trong hoan thú, rồi thề với nhau rằng, nếu sinh con trai sẽ đặt tên là Đồng Trị”.

    Trong dã sử còn truyền rằng, ngoài Đồng Trị, Từ Hy còn là người sinh ra Quang Tự, người kế tiếp Đồng trị ngồi vào ngai vàng của triều Mãn Thanh sau khi Đồng Trị đoản thọ. Sách “20 nữ nhân Trung Quốc” chép rằng: ‘Tây thái Hậu rất thích một món ăn do “Kim hoa phạm diếm” cung cấp.

    Quán này có một người làm công trẻ tuổi, đẹp trai họ Sử. Sử làm quen với Lý Liên Anh (một đại thái giám thân cận của Từ Hy Thái hậu) và được Lý bí mật dẫn vào nội cung chơi.

    Có lần Sử theo Lý Liên Anh tới cửa Cảnh Hòa thì gặp Tây Thái hậu. Thấy người đàn ông đẹp, cường tráng bà ta liền cho giữ gã họ Sở ở lại cung để hầu hạ. ít lâu sau bà sinh ra một đứa con trai giống Sử như đúc.

    Đứa bé lập tức được chuyển tới nhà Thuần Vương để nuôi nấng (vợ của Thuần Vương là em gái của Tây Thái hậu). Còn bố của đứa trẻ, người đàn ông họ Sử thì bị bí mật thủ tiêu ngay sau khi đứa trẻ mới chào đời”.

    Vốn là người đàn bà ham mê nhục dục, góa bụa khi tuổi còn rất trẻ, lại sẵn có nhiều quyền lực trong tay, Từ Hy không cần giấu giếm chuyện chung đụng với đàn ông, không kể tới dạnh phận sang hèn, chỉ cần được “no say” nỗi khát thèm về thể xác.

    Ngay khi vua Hàm Phong còn sống, Ngọc Lan đã lén lút đi lại với người tình thuở còn ở quê hương rồi có con với người đó, lại bày đặt màn kịch hết sức khéo léo để vua Hàm Phong lầm tưởng con mình.

    Rồi khi Hàm Phong chết, bà ta đã không ngần ngại giao du với đủ loại người, từ quan thái giám trong cung, đến đầu bếp, kép hát.... Nhưng ghê tởm nhất là chuyện bà có quan hệ gần gũi quá mức với hai đại thái giám trong cung : An Đức Hải và Lý Liên Anh.

    Nói chung phần lớn bọn quan hoạn trong cung nhà Thanh cũng thích “chung đụng” với phụ nữ một cách bệnh hoạn. Tuy đã “khứ thể” (cắt mất của quý) nhưng bọn này vẫn ngấm ngầm lấy vợ hoặc lén lút làm tình với các cung nữ của nhà vua.

    Chúng tìm cách thỏa mãn dục vọng bằng cách thức quái đản, dày vò thân xác người đàn bà bằng tay và bằng lưỡi. Nhiều người không chịu nổi sự nhục nhã đã tìm đến cái chết... Hầu hết những cung nữ gắn bó với quan giám thường có số phận thê thảm. Và điều đặc biệt là nhiều quan giám triều Thanh cũng bị mắc bệnh hoa liễu như bề trên của chúng,

    Từ Hy Thái hậu- nữ hoàng không ngai gây nhiều tội ác nhất trong lịch sử triều Mãn Thanh

    Sau khi vua Hàm Phong chết, Đồng Trị lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, bà ta đã buông rèm nhiếp chính suốt 48 năm ròng. Bà đã không ngại ngần bày ra nhiều quỷ kế nhằm tiêu diệt những người không cùng phe cánh. Không ít người đã chết thảm bởi tay Từ Hy Thái hậu. Rất nhiều sách chép rằng chính Từ Hy Thái hậu là người đã ép vua Quang Tự cùng ái phi là Trân Phi đến chỗ chết.

    Có chuyện, một lần chơi cờ, một viên thái giám lỡ lời “Nô tỳ giết con mã của lão phật gia rồi”, Từ Hy liền nổi giận mà truyền: “Ta sẽ giết chết cả nhà nhà ngươi”. Và ngay sau đó ra lệnh đánh viên thái giám đó cho đến chết.

    Song tội ác lớn nhất của Từ Hy Thái hậu là đã làm mất chủ quyền dân tộc, làm cho Trung Quốc trở thành xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến. Trong suốt 48 năm Từ Hy Thái hậu thâu tóm quyền lực trong tay, triều đình nhà Thanh đã ký với các nước đế quốc một số điều ước, hiệp ước ghi nhận sự mất chủ quyền dân tộc của Trung Quốc.

    Lần lượt triều đình đã ký các hòa ước với Nga, Anh, Pháp, Nhật, Đức, ý, áo... Điển hình là Điều ước Mã quan ký với Nhật Bản, Điều ước Tân Sửu ký với liên quân 8 nước đế quốc. Các điều ước này thừa nhận Trung Quốc phải cắt đất và bồi thường chiến phí rất nặng.

    Riêng điều ước Mã quan, Trung Quốc mất Đài Loan, Liêu Đông, Bành Hồ, chiến phí hai vạn lạng bạc (bằng thu nhập của triều đình Mãn Thanh trong ba năm). Từ Hy Thái hậu cũng là người đã bóp chết biến pháp của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, 1 biến pháp có khả năng đưa Trung Quốc thoát khỏi nguy cơ rơi vào vòng lệ thuộc của các nước đế quốc phương Tây.

    Trong sách 20 nữ nhân Trung Quốc tổng kết cuộc đời bà hoàng hậu không ngai này bằng mấy dòng sau: “Từ sau chính biến Tân Dậu đoạt lấy chính quyền, 2 lần buông rèm nghe chính sự, một lần giáo huấn chính sự, lập qua ba hoàng đế nhỏ (hoàng đế Đồng Trị, hoàng đế Quang Tự, hoàng đế Phổ Nghi- ba vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa), thao túng chính quyền đời Thanh gần nửa thế kỷ.

    Trong thời gian bà nắm quyền, đối nội chuyên chế, tàn bạo, đối ngoại khuất phục, bán nước, khiến dân tộc Trung Hoa nhiều lần nguy vong bờ cõi và bà trở thành người có tội lớn với dân tộc”...

    Nhận định
    Có nhiều nhận định khác nhau về Thái hậu Từ Hy.
    Nói chung, Thái hậu Từ Hy là con người có nhiều tham vọng, quyết đoán và độc tài, không biết dùng cận thần có năng lực để tham mưu cho bà. Bà cũng chẳng biết tin dùng người Hán,chỉ vì ít học nên không tiến kịp thời đại. So với Thiên hoàng Minh Trị của Nhật Bản và Pyotr I của Nga, Từ Hy thái hậu ích kỷ hơn vì nghĩ đến quyền lợi riêng nhiều hơn, chẳng hạn lấy số tiền dự tính đóng chiến hạm theo kiểu châu Âu để sửa sang Di Hòa viên làm nơi tĩnh dưỡng cho bà lúc về già.
    So với những thái hậu từng nắm thực quyền ở Trung Hoa như Lã hậu và Võ Tắc Thiên, Từ Hy có điểm giống ở chỗ thao túng các hoàng đế, có cách cư xử tàn nhẫn. Nhưng thời đại của Từ Hy so với trước bất lợi hơn. Võ Tắc Thiên ở vào thời Trung Hoa hưng thịnh, bên ngoài mở mang bờ cõi. Trong khi đó hoàn cảnh đối ngoại của Từ Hy có điểm giống Lã Hậu. Lã Hậu bên ngoài bị Hung Nô uy hiếp, cũng như Trung Hoa của Từ Hy bị các đế quốc phương Tây xâu xé. Bởi thế có tài liệu của Trung Quốc buộc tội bà "Cắt đất cầu hoà, thờ giặc như cha". Chuyện phòng the của bà cũng như của Lã Hậu và Võ Tắc Thiên,rất đáng lên án vì bà ta quá dâm loạn
    Có ý kiến từ châu Âu liệt Từ Hy vào hạng Đại Nữ Hoàng đế Ekaterina II của Nga, có tài cai trị. Ý kiến phản bác cho rằng lời khen đó quá mức. Vì bà tin bọn Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương thật, nhưng chỉ cho họ nắm quân đội, tài chính và việc cai trị ở các tỉnh thôi, mà triều đình vẫn hủ bại, hậu quả là "ngoài nặng trong nhẹ", quyền cai trị ở ngoài các tỉnh lần lần qua tay người Hán, họ mạnh lên; còn quyền thống trị của người Mãn ở trong triều đình nhẹ lần, khiến cho Mãn Thanh dễ bị diệt vong.

    Sưu tầm​
     
  17. scientists

    scientists Guest

    Cùng ngắm qua tứ đại mĩ nhân Trung Hoa

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    Tây Thi

    [​IMG]

    Ðiêu Thuyền

    [​IMG]

    Vương Chiêu Quân

    [​IMG]

    Dương Quý Phi
     
    Last edited by a moderator: 7 Tháng ba 2014
  18. scientists

    scientists Guest

    Mỹ Nhân Trung Hoa

    Ngoài tứ đại mỹ nhân ra,trung hoa còn có hàng ngàn mỹ nhân khác có ảnh hưởng đến lịch sử.

    Trác Văn Quân:

    [​IMG]
    Điển tích về Trác Văn Quân là câu chuyện tình với Trường Khanh, tức Tư mã Tương Như có tiếng đàn tuyệt chiêu, đặc biệt là khi gảy khúc Phượng Cầu, trong lòng thiếu phụ, gái thanh xuân bỗng như sóng trào.

    Thời ấy, Trác Văn Quân thuộc hàng quốc sắc thiên hương, con của tri huyện Thiểm Tây Trác Bá Lộc. Nàng được gã cho thư sinh Vương Hàm Tân, đỗ tú tài rồi nhưng vẫn tiếp tục việc bút nghiên. Nửa năm hương lửa đang nồng, Hàm Tân bỗng lâm bạo bệnh từ trần. Nửa đời hồng nhan dang dở. Trong suốt thời gian làm tuần, nàng ngồi rũ rượi bên bàn thờ chồng. Bỗng một đêm, văng vẳng từ bên kia sông, tiếng đàn ai theo với lời ca não nùng:

    Tình yêu là mối dây oan
    Hoa tươi nghĩ lúc hoa tàn tủi thân.
    Hoa tàn hoa rụng - Hoa héo đầu cành
    Hận ngày xanh - Tủi ngày xanh
    Kiếp hoa ngắn ngủi
    Mưa gió tan tành
    Nguyệt đan mành
    Hoa tàn tạ
    Cảnh bâng khuâng
    Yêu nhau không trọn
    Đời bạc như vôi
    Tình xưa ai đã phụ rồi
    Người xưa như thế thì thôi còn gì
    Mối tình si - lệ lâm ly
    Thà rằng quen biết nhau chi
    Biết nhau như thế ước gì mà mong


    Ôi tiếng đàn câu ca như xé tâm can. Trác Văn Quân gọi tỳ nữ Thanh Mai vào thơ phòng, hỏi:

    - Tiếng đàn của ai bên sông sao nghe buồn bã quá, lòng ta xao động khôn cùng. Người hãy sang sông tìm thử ai đang réo rắt tiếng tơ trùng này.

    Đêm đã khuya, nhưng may con ánh trăng vằng vặc. Thanh Mai vâng lời chủ, gọi đò sang sông. Cô lái đò giải thích cho Thanh Mai:

    - Có chàng trai từ phương xa đến đây tên là Tư Mã Tương Như Trường Khanh. Chàng có khúc nhạc mê hồn Phượng Cầu Hoàng, đàn bà con gái không sao cưỡng lại sức quyến rũ, mê mẩn khi nghe khúc nhạc này.

    Thanh Mai chỉ hiểu mơ hồ lời giải thích của cô lái đò và tìm đến gần phía trang viên. Bên trong thấp thoáng nhiều bóng hồng đang đùa cợt lả lơi quanh một chàng trai trẻ đẹp. Sửng sờ, cô tỳ nữ bị chôn cứng chân đến gần tảng sáng mới lần bướ ra về, thưa chuyện cho cô chủ:

    - Em đã tìm đến trang viên... Ở đó có vườn hoa đẹp, có chàng trai tên là Trường Khanh, có tiếng đàn làm mê hoặc đàn bà con gái khắp vùng này.

    Trác Văn Quân bỗng hở dài, nét hoa thêm phần ủ dột, thảo nào, lòng tạ. Suốt ngày hôm đó, nàng ngồi câm nín bên lan can, vành khăn tang trễ xuống ngang vai, khói hương bàn thờ chồng cũng tắt ngấm. Rồi ngày một ngày hai, tiếng đàn sao im bặt... Qua đêm thứ ba, Văn Quân không dìm được nỗi lòng, gọi Thanh Mai vào:

    - Đã hai đêm ta không nghe được tiếng đàn, trong người khó thở. Người hãy tìm đến chàng, trao thư này cho tạ Thanh Mai ngập ngừng can ngăn:

    - Tiểu thư chưa quen biết, sao lại trao thơ cho người lạ, lệnh lang cũng vừa mệnh chung...

    Văn Quân như mất hồn, ừ thì thôi vậy, nếu người không trao thư cho ta, thì hãy đưa ta đến tìm gặp người đó. Nói xong, vội vàng Văn Quân cởi bỏ tang phục, ăn mặc cực kỳ diêm dúa, kéo xệch Thanh Mai xuống đò, sang ngang. Gần đến trang thanh viên, Văn Quan hối hả bước vội. Nhưng khi đến gần, được Thanh Mai chỉ cho trông thấy dung mạo người trong mộng, Văn Quân bỗng thẹn thùng, on người đàn bà đoan chính, một thoáng chốc... Nàng run rẩy quay gót chạy trở về. Tràng Khanh cũng biết có nguời đang nhìn trộm mình rồi bỏ chạy, nhưng vướng víu các kiều nữ đang quấn chặt lấy mình, nên không theo đuổi kịp. Sau đó, tuy trễ một chuyến đò, Tràng Khanh cũng tìm đến được bên ngoài phủ quan, biết ngươì thiếu phụ là Trác Văn Quân, góa phụ trẻ đẹp tuyệt tác trần gian. Tràng Khanh nghĩ, ta sẽ có nàng.

    Trác Văn Quân về đến thơ phong, vất bỏ xiêm ỵ mặc lại tang phục, đến ngồi lặng yên bên bàn thờ chồng. Nửa đêm về sáng, bỗng tiếng đàn lại vọng lên. Ôi nó réo rắt mời gọị Người góa phụ cố bịt kín lấy đôi tai, nhưng âm thanh lại càng xoáy vào hồn. Nàng dẫy dụa trong dằn vặt nhưng thôi, ánh trăng mờ dần... Nàng thẩn thờ đứng dậy, lại cởi bỏ tang phục, thay đổi xiêm y sặc sỡ, nhanh bước ra bờ sông. Khi đã đưa nàng sang bên kia bờ, cô lái đò hỏi:

    - Thưa bà, tiện nữ sẽ đợi đến bao giờ để đưa bà về.

    - Không, đừng hoài công chờ đợi. Ta đã vào khúc Phượng Cầu, e không có ngày trở lại.

    Sau này, đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm ăn.

    Sau Hán Vũ Đế đọc bài "Tử hư phú" của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức tước. Lại sai chàng cầm cờ tiết, thay nhà vua về Ba Thục chiêu an bọn phụ lão tùng phục nhà Hán. Lần này thỏa chí bình sinh, Tương Như áo gấm vinh quy được người đón rước long trọng. Nhưng làm quan ít lâu, lại chán, cáo bịnh lui về quê.

    Trong "Bích Câu kỳ ngộ" có câu:

    Cầu hoàng tay lựa nên vần,
    Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào.


    Và, trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du cũng có câu:

    Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
    Nghe ra như oán, như sầu phải chăng!


    là đều do điển tích trên.

    Ban Chiêu:

    [​IMG]
    Ban Chiêu sinh vào thời Đông Hán Trung Quốc cách đây hơn 2000 năm, còn gọi là Ban Phi, bà xuất thân trong một gia tộc nổi tiếng, rất có tài hoa về văn học. Cha tên là Ban Bưu là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ, Ban Chiêu thưởng được mời vào Hoàng cung để dạy kinh sử cho hoàng hậu và các quý nhân trong cung đình. Năm 14 tuổi, Ban Tiêu gả cho Tào Thế Thúc, tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ này rất hạnh phúc.

    Tài khiếu viết văn của Ban Chiêu trước hết thể hiện trong quá trình giúp anh trai tên là Ban Cố viết cuốn "Tiền Hán Thư", đây là cuốn sử đoạn đại mang thể loại ký truyện đầu tiên của Trung Quốc, có địa vị ngang hàng với cuốn "Sử Ký" của Tư Mã Thiên thời Tây Hán trên lịch sử. Cha của Ban Chiêu là người đầu tiên bắt tay vào việc viết bộ sử này, sau khi cha qua đời, anh trai Ban Chiêu tên là Ban Cố tiếp tục hoàn thành việc này, không ngờ Ban Cố bị một vụ án làm iên lụy rồi bị chết trong ngục. Trước kia Ban Chiêu cũng tham gia vào cả quá trình viết bộ sử này, sau khi cha và anh trai qua đời, bà tiếp tục nối nghiệp cha anh, cho mãi đến khi hoàn bộ sách này. Sau khi bộ "Tiền Hán Thư" cho xuất bản, đã được sự đánh giá rất cao. Chương gay cấn nhất trong "Tiền Hán Thư" là bảng thứ 7 "Bảng bách quan công khanh" và chí thứ 6 "Thiên văn chí", hai bộ phận này về sau đều do Ban Chiêu hoàn thành.

    Học thức của Ban Chiêu hết sức tinh túy, để cầu được sự chỉ dẫn của Ban Chiêu, nhà học giả lớn hồi bấy giờ tên là Mã Dung đã phải quỳ ở bên ngoài thư viện đọc sách của Ban Chiêu để lắng nghe bà giảng giải.

    Ban Chiêu có một người em trai tên là Ban Siêu, chàng cũng là một người viết văn, về sau gác bút ra trận, lập nên nhiều chiến công lẫy lừng, và được phong làm Định Viễn Hậu, khiến nhà Hán lừng danh khắp Trung Á và Tây Á suốt 30 năm. Năm thứ 12 Vĩnh Nguyên thời Hán Hoà Đế, Ban Siêu đã cao tuổi, ông nhờ con trai đến Lạc Dương để chầu chương vua, bày tỏ mong muốn được trở về quê hương để hưởng những năm cuối đời về già. Thế nhưng trong suốt ba năm liền nhà vua không hề đoái hoài đến nguyên vọng của Ban Siêu. Nghĩ đến người anh trai của mình Ban Cố đã qua đời, Ban Chiêu hết sức thương cảm trước tâm trạng của Ban Siêu đã hơn thất thập mà còn phải sống trên đất khách quê người, quyết định bất chấp hết thảy đi thuyết phục hộ cho Ban Siêu.

    Thế là Ban Chiêu trình thư lên vua, trong thư Ban Siêu dẫn lại nhiều điển tích, ám thị nhà vua nên thương hại cho người em trai mình đã tuổi cao sức yếu muốn trở về quê nhà, bài viết của Ban Chiêu có tình có lý, vua đọc xong cũng phải động lòng. Không bao lâu, nhà vua liền cử một vị đại tướng thay thế Ban Siêu. Chính vài viết của Ban Chiêu đã thuyết phục nhà vua cho phép Ban Siêu rời khỏi triều đình.

    Tài viết văn của Ban Chiêu còn thể hiện trong bài số 7 mang tựa đề "Nữ giới". Bài viết này chủ yếu nói lên phụ nữ con gái nên ăn nói đi đứng như thế nào, nên sử lý công việc quan hệ gia đình ra làm sao, bài viết này của Ban Chiêu vốn là cuốn giáo khoa gia giáo riêng của gia đình mình để khuyên răn con gái gia tộc họ Ban, không ngờ về sau bài viết này được truyền tay chép trong khắp Kinh thành, rồi sau nữa truyền ra và nổi tiếng khắp cả nước.

    Ban Chiêu chủ yếu sống trong thời Hán Hoà Đế, về sau nhà vua băng hà, vua mới lên nối ngôi lại ít tuổi, thái hậu bèn ra triều sử lý việc nước. Ban Chiêu được tôn làm sư phụ tham gia vào các công việc triều đình, bà hết lòng trung hiếu, dốc hết tài trí của mình cho đất nước. Về sau Ban Chiêu tuổi cao sức yếu rồi qua đời, Thái Hậu liền mặc áo đơn sơ để tưởng niệm và làm lễ quốc táng để tiễn đưa bà đến nơi an nghỉ cuối cùng.

    Ban Chiêu là một người phụ nữ tài ba, học vấn uyên bác, phẩm chất cao thượng, bà không những là một nhà sử học, nhà văn học mà còn là một nhà chính trị nổi tiếng thời cổ Trung Quốc.


    (Còn nữa)
     
  19. scientists

    scientists Guest

    Thái Diễm:
    [​IMG]

    Thái Diễm cũng gọi là Thái Văn Cơ, một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220-264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bực nhứt cổ kim. Tương truyền, thấy một người chụm củi, ông bảo: "Tôi nghe tiếng củi đó nổ, biết là củi tốt, sao đem chụm cho uổng". Ông xin khúc củi về, làm một cây đàn, tiếng rất trong.

    Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.

    Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Kỷ.

    Một hôm, Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm. Đổng Kỷ làm quan xa chỉ có nàng ở nhà. Nghe tin Tháo đến, nàng vội ra rước vào. Tháo ngồi trên sập, nàng thi lễ xong chắp tay đứng hầu bên. Tháo nhìn lên vách, chợt thấy một tấm bìa treo, có ghi bài văn bia, bèn đứng dậy bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Thái Diễm thưa:

    - Đây là bài văn bia đề một nàng Tào Nga. Xưa đời Hòa Đế, ở vùng Thượng Ngu có một người đồng bóng tên Tào Vu, hay lên đồng nhảy múa. Một hôm vào ngày mồng 5 tháng 5, Vu say rượu, đứng múa may trên thuyền, sẩy chân té xuống sông chết. Cô con gái của Vu vừa lên 14 tuổi, quá thương cha, cứ đi dọc bờ sông kêu khóc suốt 7 ngày đêm, rồi nhảy xuống nước mất tích. Qua 5 ngày sau, bỗng thấy nàng đội xác cha nổi lên mặt sông. Người trong làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện Thượng Ngu là Đỗ Thượng tâu việc ấy về triều. Triều đình khen nàng Tào Nga là gái hiếu, truyền cho lập bia. Đỗ Thượng lại sai Hàn Đan Thuần làm bài văn khắc vào bia để ghi lại việc ấy. Hàn Đan Thuần bấy giờ mới 13 tuổi, cầm bút viếc ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa chữa một chữ. Đỗ Thượng chịu là hay, cho khắc vào bia dựng bên mộ nàng Tào Nga. Thời bấy giờ, ai đọc cũng lấy làm lạ. Tiếng văn hay đồn dậy xa gần... Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối, không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, người lấy bút viết 8 chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả 8 chữ vào đấy.

    Tào Tháo thấy 8 chữ ấy cũng ghi trên bức bia, bên cạnh bài văn như sau: "Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu".

    Tháo hỏi Diễm:

    - Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa 8 chữ này không?

    Nàng thưa:

    - Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp cũng hiểu ý nghĩa ra sao.

    Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan Chủ bạ là Dương Tu lên tiếng:

    - Tôi hiểu ra rồi.

    Tu giải:

    - Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. "Hoàng quyến" là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ti sắc), chữ "ti" với chữ "sắc" hợp lại thành chữ "tuyệt". "Ấu phụ" nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là "thiếu nữ". Chữ "thiếu" đứng bên chữ "nữ" hợp thành chữ "diệu". "Ngoại tôn" là cháu ngoại. Cháu ngoại tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử). Chữ "nữ" chắp với chữ "tử" thành chữ "hảo". "Tê cửu" là cái cối giã hành tỏi. Cái cối là vật chịu cay (thụ tân). Chữ "thụ" đặt bên chữ "tân" thành chữ "từ". Tóm lại, đó là ẩn chữ "Tuyệt diệu hảo từ", tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.

    Võ Tắc Thiên:
    [​IMG]
    Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đại đế (624 – 705), cổ vãng kim lai duy chỉ có 1 người này. Võ Tắc Thiên là nữ hoàng chính thức duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi vì bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác

    Thượng Quan Uyển Nhi:
    [​IMG]

    Cháu gái Thượng Quan Nghị, hiệu xưng là Cân Quốc.Là Thủ Tướng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Thời Đường Cao Tông, cháu gái tể tướng Thượng Quan Nghị là Thượng Quan Uyển Nhi, thông thuộc thi thư, không những biết ngâm thơ viết văn mà còn hiểu biết chuyện xưa nay, thông minh mẫn tiệp dị thường.

    Ban Tiệp Dư:

    [​IMG]

    Ban Tiệp Dư là con nhà danh môn, còn trẻ đã học thành tài, thời Hán Thành Đế được lập làm Tiệp Dư. Chị em Triệu Phi Yến sau khi đắc sủng, ganh ghét tài năng phẩm hạnh của Ban Tiệp Dư, Ban Tiệp Dư ngày đêm lo sợ nên xin theo hầu thái hậu ở cung Trường Tín. Có thể bài “Đoàn Phiến Thi” được sáng tác tại cung Trường Tín, bài thơ nhỏ này dùng từ thái mới mẻ, tình như ai oán, biểu hiện thật ủy uyển hàm súc, có một loại khí độ oán mà không giận .

    Đoàn Phiến Thi

    Tân liệt tề hoàn tố, tiên khiết như sương tuyết.
    Tài vi hợp hoan phiến, đoàn đoàn tự minh nguyệt.
    Xất nhập quân hoài tụ, động dao vi phong phát.
    Thường khủng thu tiết chí, lương tiêu đoạt viêm nhiệt.
    Khí quyên khiếp tứ trung, ân tình trung đạo tuyệt

    Hoa Nhị Phu Nhân:

    [​IMG]

    Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn từng ngưỡng mộ tài danh của Hoa Nhị Phu Nhân. Hoa Nhị Phu Nhân là Phí Quý Phi của Hậu Thục Hậu Chủ - Mạnh Xưởng, xuất thân là 1 ca kỹ ở Thanh Thành (nay ở phía Đông Nam thành phố Giang Yển). Tương truyền “Hoa Nhị Phu Nhân Cung Từ” có hơn 100 biến, trong đó thật ra chỉ có hơn 90 biến. Khi Tống diệt Hậu Thục, chỉ dùng có 1 vạn quân, 14 vạn quân Hậu Thục không chiến mà hàng, Hoa Nhị Phu Nhân theo Mạnh Xưởng lưu vong về phương bắc, đêm nghỉ ở Gia Minh dịch trạm, cảm hoài nỗi buồn nước mất nhà tan, đề lên vách quán bài “Thái Tang Tử”. Nhưng vì quân kỵ thôi thúc nên bị mất hết một nửa, cứ viết được 1 chữ lại rơi lệ.

    Thái Tang Tử
    Sơ li thục đạo tâm tướng toái,
    Li hận miên miên.
    Xuân nhật như niên,
    Mã thượng thời thời văn đỗ quyên.

    Tiết Đào:

    [​IMG]

    Nữ thi nhân thời Đường, người gọi là Nữ Hiệu Thư, từng xướng họa cùng thi nhân nổi tiếng đương thời Nguyên Trẩn, thực lực không thua kém. Tác phẩm tiêu biểu : Ngô Đồng Thi (làm khi mới 8 tuổi)
    Đình trừ nhất cổ đồng,
    Tủng cán nhập vân trung,
    Chi nghênh nam bắc điểu,
    Diệp tống vãng lai phong.

    Tiết Đào (770-832), tự Hồng Độ. Cha Tiết Vân là một viên tiểu lại ở kinh đô, sau loạn An Sử dời đến ở Thành Đô, Tiết Đào sinh vào năm thứ 3 Đại Lịch thời Đường Đại Tông. Lúc còn nhỏ đã thể hiện rõ thiên phú hơn người, 8 tuổi đã có thể làm thơ, cha từng ra đề “Vịnh Ngô Đồng”, ngâm được 2 câu “Đình trừ nhất cổ đồng, tủng cán nhập vân trung”; Tiết Đào ứng thanh đối ngay : “Chi nghênh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. Câu đối của Tiết Đào như dự đoán trước mệnh vận cả đời của nàng. Lúc 14 tuổi, Tiết Vân qua đời, Tiết Đào cùng mẹ là Bùi Thị nương tựa nhau mà sống. Vì sinh kế, Tiết Đào bằng dung mạo và tài năng hơn người tinh thi văn, thông âm luật của mình bắt đầu đến các nơi ăn chơi hoan lạc, rót rượu, phú thi, đàn xướng hầu khách nên bị gọi là “Thi Kỹ”.
    Thời Đường Đức Tông, triều đình mời Trung thư lệnh Vĩ Cao làm Tiết độ sứ Kiếm Nam, thống lược Tây Nam, Vĩ Cao là một quan viên nho nhã cũng có tài thơ văn, ông nghe nói về tài năng xuất chúng của Tiết Đào mà còn là hậu nhân của quan chức triều đình, liền phá lệ mời nàng dùng thân phận nhạc kỹ đến Soái Phủ đãi yến phú thi, Tiết Đào trở thành Doanh Kỹ nổi tiếng ở Thành Đô (Nhạc kỹ chính thường được mời đến các cuộc vui chơi của võ quan trấn thủ các nơi). Sau 1 năm, Vĩ Cao mến tài Tiết Đào, chuẩn bị tấu xin triều đình để Tiết Đào đảm nhiệm quan chức Hiệu Thư Lang, tuy chưa kịp thực hiện nhưng danh hiệu “Nữ Hiệu Thư” đã không kính mà đến, đồng thời Tiết Đào cũng được gọi là “Phụ Mi Tài Tử”. Về sau, Vĩ Cao vì trấn thủ biên cương có công nên được phong làm Nam Khang Quận Vương, rời khỏi Thành Đô. Lý Đức Dụ tiếp nhiệm Kiếm Nam Tiết Độ Sứ cũng rất ngưỡng mộ tài năng của Tiết Đào. Trong suốt cuộc đời của Tiết Đào, Kiếm Nam Tiết Độ Sứ tổng cộng có 11 người thay phiên đảm nhiệm, người nào cũng vô cùng thanh lãi và kính trọng nàng, địa vị của nàng đã vượt xa một tuyệt sắc hồng kỹ tầm thường...

    Chu Thục Chân:

    [​IMG]

    Nữ từ nhân nổi tiếng thời Đường, hiệu xưng U Thê Cư Sĩ, được biết là một tài nữ người ở Tiền Đường thời Tống, thi từ đều giỏi, đương thời chỉ có nàng mới xứng tề danh với Lý Thanh Chiếu. Tác phẩm tiêu biểu có “Đoạn Trường Tập” và “Đoạn Trường Từ” được lưu truyền, nổi tiếng nhất là “Điệp Luyến Hoa”.
    Chu Thục Chân có cuộc đời khá u sầu. Nguyên nàng có một ý trung nhân lý tưởng, cũng là người tài hoa mà nàng tự quen biết. Nhưng phụ mẫu không cho phép nàng kết hôn với ý trung nhân của mình, mà gả nàng cho 1 thương nhân. Chồng nàng là người chỉ biết kiếm tiền, đối với thi từ và tranh vẽ của nàng đều không có hứng thú, vì vậy mà cuộc sống của nàng lúc nào cũng đầy u sầu và tẻ nhạt.


    (Còn nữa)
     
  20. scientists

    scientists Guest

    Lý Sư Sư:
    [​IMG]


    Tư ái của Tống Huy Tông (bồ nhí).
    (Rất nổi tiếng trong tác phẩm Thủy Hử. Nghe đâu là người iu của Lãng Tử Yến Thanh)

    Trần Viên Viên:
    [​IMG]

    Trần Viên Viên vốn là ca kỹ ở Côn Sơn, từng sống ở Tần Hoài, bởi nàng sắc nghệ siêu quần, lại liên quan đến sự kiện lịch sử trọng đại(gián tiếp khiến giang sơn Trung Hoa rơi vào tay giặc Thát từ quan ngoại), nên người đời liệt nàng vào Tần Hoài bát diễm và gọi nàng là Tiền triều Kim Lăng xướng gia nữ.

    Trần Viên Viên vốn họ Hình, tên Nguyên, tự Viên Viên, còn có tự Uyển Phương, lúc nhỏ theo dưỡng mẫu họ Trần nên đổi theo họ Trần. Nàng dung mạo xinh đẹp, hoa minh tuyết diễm, hát hay múa đẹp, sắc nghệ quán thế.

    Nghe nói do Ngô Tam Quế hận không lấy được nàng, đã dẫn quân Thanh vào cửa quan, để dành lại người đẹp. Vì vậy không phải do nàng trực tiếp gây ra cảnh sinh linh đồ thán đó, nhưng vẫn bị người của mấy đời sau phỉ nhổ.

    Lý Thanh Chiếu:
    [​IMG]


    Lý Thanh Chiếu, hiệu “Dịch An Cư Sĩ”, người Sơn Đông - Lịch Thành thời Tống (nay là Sơn Đông - Tế Nam). Cha là Lý Cách Phi, làm quan đến Lễ Bộ Viên Ngoại Lang, một người học vấn uyên bác. Mẹ là Vương Thị, cũng là một người biết thơ văn. Lý Thanh Chiếu được cha dạy ngâm thơ, viết từ và tản văn từ nhỏ. 18 tuổi được gả cho Triệu Minh Thành, cũng là một người có học vấn. 2 vợ chồng cùng sinh hoạt, cùng học tập, cuộc sống rất tình thú. Khi quân Kim diệt Tống, vợ chồng Lý Thanh Chiếu chạy xuống phương nam lánh nạn. Năm 1129, Triệu Minh Thành được phái đến Hồ Châu nhậm chức, đi đến Kiến Khang thì qua đời, Lý Thanh Chiếu phải bôn ba đến Chiết Giang nương nhờ em trai là Lý Kháng. Về sau cùng với Lý Kháng phiêu bạc qua Việt Châu, Đài Châu, Hàng Châu và Kim Hoa.
    Sinh đang tác nhân kiệt, tử diệc vi quỷ hùng.
    Chí kim tư Hạng Vũ, bất khẳng quá Giang Đông.

    Vệ Tử Phu:
    [​IMG]


    Vệ Hoàng Hậu,vốn chỉ là một cung nữ nhưng nhờ tài đức,nàng được Hán Vũ Đế phong làm Hoàng Hậu.Vệ Hoàng hậu có vài tro lớn trong việc cai trị đất nước của Hán Vũ Đế.Sau khi thái tử Lưu Cứ và công chúa Vệ Trưởng chết.Cuộc đời đau đớn của bà cũng chấm dứt.
    Vệ Tử Phu nổi tiếng khắp thiên hạ vì mái tóc đen và đẹp.

    Chương Đức Đậu:
    [​IMG]


    Đậu Thái Hậu.Chương Đức Đậu là hoàng thái hậu của đời Đông Hán , là một vị hòang hậu xen vào trong chuyên triều chính . Bà ta rất đẹp nhưng rất thủ đọan.

    Đặng Tuy:
    [​IMG]


    Hán Hoà Hy thái hậu.Giống như Đậu Thái Hậu,Đặng Tuy là một trong những thái hậu làm bình ổn vương triều Đông Hán.Tuy nhiên cũng theo gót Đậu Thái Hậu,bà liên tiếp giết nhiều người để giữ vững địa vị cho mình.Kết cục là cả nhà bị chu di cửu tộc,bà cũng bị bức ép chết như Đậu Thái Hậu.Sau này,gia tộc họ Đặng mới dc. phục hồi danh dự.


    Triệu Phi Yến:
    [​IMG]


    Hán Thành Đế hoàng hậu. Giỏi ca múa, thân hình nhỏ gọn, nhẹ như chim yến, tương truyền có thể đứng trong lòng bàn tay mà múa nên gọi là “Phi Yến”. Nhập cung thời Thành Đế cùng với Ban Tiệp Dư, sau được lập làm hoàng hậu.Trong cung,Triệu Phi Yến cùng với người em Triệu Hợp Đức hết sức lộng hành,giết rất nhiều người vô tội như Hứa Hoàng Hậu,Hứa Quí Nhân.Còn giở trò đe dọa Ban Tiệp Dư.Giết chết tiểu Thái Tử.

    Tày đình hơn là công khai hoang dâm trước bàn dân thiên hạ để hòng có con.Nhưng cuối cùng vẫn không thể có con được.

    Khi Bình Đế tức vị, bị phế làm thứ dân, tự sát mà chết.

    (Còn nữa)
     
  21. scientists

    scientists Guest

    Muội Hỷ:
    [​IMG]


    Muội Hỷ là con dân nước Hữu thi, 1 nước nhỏ ở biên viễn. Do đánh thua vua Kiệt nhà Hạ (thế kỷ 21 đến thế kỷ 17 trước CN) nên vua nước Hữu Thi phải nộp người con gái đẹp là Muội Hỷ để xin giảng hòa. Với 1 sắc đẹp hiếm có cộng với khả năng quyến rũ lạ thường, Muội Hỷ khiến Kiệt suốt ngày phải bám lấy gấu váy của ả, không lo gì chính sự.


    Đắc Kỷ:

    [​IMG]

    Là con gái vua nước Tô, họ Kỷ. Đát là cách gọi người con gái đẹp, theo thói quen ngày nay thì gọi là Kỷ Đát nhưng người đương thời lại gọi là Đát Kỷ hay Tô Đát Kỷ

    Cũng như Muội Hỷ, Đát Kỷ được đưa sang nhà Ân để cầu hòa. Trước kia Hạ Kiệt và Muội Hỷ phát minh ra “Tửu trì”, Trụ vương và Đát Kỷ đương nhiên kế thừa và phát huy thành đại qui mô. Bên cạnh “tửu trì” lại tạo thêm 1 “nhục lâm” (rừng thịt). Rừng thịt này là 1 cánh rừng mà trên các cành cây treo đầy thịt đã chế biến, đi dưới cánh rừng ấy có thể tùy ý ăn thịt ở khắp nơi, phối hợp với 3000 người “trâu uống rượu” ở tửu trì theo nhịp trống. Nhưng sự thưởng thức tấn tuồng ngoạn mục này của Trụ Vương-Đát Kỷ “tiến bộ” hơn nhiều so với Hạ Kiệt-Muội Hỷ: hạ lệnh cho hàng ngàn người, nửa trai nửa gái, không vướng 1 chút quần áo nào, đuổi nhau như đàn ong trong rừng vừa ăn thịt vừa uống rượu ở tửu trì, lại còn mượn tửu hứng mà từng đôi từng đôi làm tình với nhau. Trụ Vương và Đát Kỷ vừa uống rượu vừa thưởng thức, có khi còn chạy lại gần xem cho đã. Trụ Vương còn xây cung: “Lộc Đài” vuông mỗi bên 3 dặm, cao ngàn thước, qui mô lớn chưa từng thấy, phải dùng đến hàng vạn thợ xây, xây trong 7 năm mới xong. Những lần đi du ngoạn, Trụ vương và Đát Kỷ cũng làm không ít điều càn như: trong 1 lần đi dạo thấy cảnh 1 cụ già và 1 đứa trẻ đi trong mưa tuyết, cụ già thì khỏe mạnh, đứa trẻ thì run rầy vì lạnh. Đát Kỷ liền nói ông già được sinh ra lúc cha mẹ còn trẻ nên ống chân có tủy, đứa trẻ kia sinh ra khi cha mẹ đã già nên ống chân không có tủy, vì thế mà lạnh. Trụ Vương không tin, ả liền gọi người chặt chân ông lão và cậu bé ra xem rồi 2 người cùng cười ha hả. Lại 1 lần 2 người thấy 1 sản phụ liền bắt mổ bụng ra xem trai hay gái

    “Bào lạc” lại là 1 phát minh của Đát Kỷ Trụ Vương. Đó là 1 ống đồng dài, khi sử dụng đem ống đồng nhét đầy than đỏ bắc ngang qua hố lửa. Lúc ấy bắt tội nhân cởi hết áo quần giay dép, bức họ chạy từ đầu này sang đầu kia của ống đồng. Đại thần trong triều bấy giờ bị tàn sát vô tội vạ. Chu Văn vương Cơ Xương được sự phò tá của thừa tướng Khương Tử Nha đã đánh đổ nhà Thương xây dựng nhà Chu. Trụ Vương thua trận bèn mặc áo dát ngọc leo lên “Lộc Đài”, châm 1 mồi lửa tự thiêu, Đát Kỷ cũng tự thắt cổ chết.

    Bao Tự:
    [​IMG]


    Bao Tự là hoàng hậu của Chu U Vương (781-770 trước CN) nhà Chu, người có sắc đẹp lộng lẫy, nhà vua cực kỳ sủng ái. Có điều lạ, nàng không bao giờ cười.

    Vì để thấy nụ cười người đẹp U Vương ra lênh cho quan giữ kho mỗi ngày dâng 100 tấm lụa rồi sai cung nữ xé để làm nàng vui. Nhưng Bao Tự tuyệt nhiên vẫn không cười. Bấy giờ có viên quan tên Quách Thạch Phủ bày mẹo: “Tiên vương ta ngày xưa có xây Phong hỏa đài ở Ly Sơn, lại đặt mấy mươi cỗ trống to, phòng lúc có giặc sẽ nổi lửa đánh trống báo hiệu chư hầu sang ứng cứu. Đã lâu đất nước thái bình, không bao giờ đốt đến. Nay vua vì hoàng hậu mà đốt náng tất vui lòng mà cười. U Vương khen phải liền dọn ra Ly Sơn và đốt Phong hỏa đài. Bấy giờ chư hầu cứ nghĩ giặc giã kéo đến bèn đưa quân ứng cứu. Nhưng khi đến nơi chẳng thấy bóng giặc đâu mà chỉ thấy U Vương cùng Bao Tự đang cười hả hê. U Vương lấy làm tự đắc lắm bèn thưởng cho Quách Thạch Phủ

    Nhưng sau quân Khuyển Nhung sang đánh phá, tiến đến Kiểu Kinh (kinh đô nhà Chu), U Vương đại bại liền đốt phong hỏa đài cầu viện. Các trấn chư hầu vì bị mắc lừa lần trước, cho là đại vương và hoàng hậu đương yến ẩm nên không đem quân sang cứu. U Vương bị chúa Khuyển Nhung giết chết, Bao Tự lại sa vào tay chúa Khuyển Nhung. Nhưng cuối cùng các trấn chư hầu xua quân phản công, quân Khuyển Nhung đại bại, chúa Khuyển Nhung bỏ chạy, Bao Tự vì theo không kịp mà tự tử

    Thật đúng là:

    Nhất tiếu khuynh nhân thành
    Tái tiếu khuynh nhân quốc



    Phùng Thục Nghi:

    [​IMG]


    Phùng Thái Hậu Bắc Ngụy-cháu gái Phùng Hoằng-vua Bắc Yên,nhà cải cách và cũng là vị nữ hoàng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc với hơn 20 năm nắm quyền lực tối cao của hoàng cung Trung Hoa.


    Đại Ngọc Nhi:

    [​IMG]


    Hiếu Trang Thái Hoàng Thái hậu,bà nội của hoàng đế Khang Hy.Đệ nhất mỹ nhân của tộc Ái tân Giác La Mãn-Mông.

    Đổng Ngạc Phi:
    [​IMG]


    Người mà Thuận Trị Đế yêu thương nhất.Cái chết của bà đến nay vẫn là một kì án của triều Đại Thanh ko có lời giải đáp. Sau khi bà mất THuận Trị bỏ đi tu, để lại đất nước cho cậu bé Khang Hi và cũng mở ra một trong những trang sử huy hoàng nhất của Đại Thanh triều

    Chân Hoàng Hậu:
    [​IMG]


    Sau khi Tào Phi xưng đế, sủng hạnh Quách hoàng hậu, Quách hậu cậy đắc sủng nên gièm pha Chân hoàng hậu, từ đó Chân hoàn hậu thất sủng. Sau khi bị vua bỏ lơ không nói đến, từ “Đường Thượng Hành” có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối. Sự chờ đợi của Chân hoàng hậu đáng thương cuối cùng chỉ là một tờ giấy chết của Tào Phi. Thậm chí sau khi chết, thi thể phải lấy tóc che mặt, lấy trấu lấp miệng, chịu nỗi khổ vũ nhục và lăng ngược.

    Đường Thượng Hành

    Bồ sinh ngã trì trung, kỳ diệp hà li li.
    Bàng năng hành nhân nghĩa, mạc nhược tiếp tự tri.
    Chúng khẩu thước hoàng kim, sử quân sinh biệt li.
    Niệm quân khứ ngã thời, độc sầu thường khổ bi.
    Tưởng kiến quân nhan sắc, cảm kết thương tâm ti.
    Niệm quân thường khổ bi, dạ dạ bất năng mị.


    Triệu Cơ:

    [​IMG]


    Mẫu thân của hoàng đế vĩ đại Tần Thủy Hoàng.Là người rất quan trọng trong công cuộc đưa Tần Thủy Hoàng lên ngôi hoàng đế của Lã Bất Vi.

    Lý Hương Quân:
    [​IMG]


    Danh kỹ trên sông Tần Hoài là Lý Hương Quân, bên mình lúc nào cũng mang một chiếc quạt lụa, mặt quạt làm bằng tơ lụa trắng tinh, trên mặt vẽ một bức vẽ hoa đào, sắc thái đậm đà đẹp đẽ, do đó gọi là "quạt hoa đào" (Đào hoa phiến). Bức vẽ trên chiếc quạt ấy tuyệt nhiên không phải do tay danh gia nào vẽ, vậy vì sao Lý Hương Quân lại xem đó như một vật quý giá vô cùng? Vốn là hoa đào vẽ trên mặt quạt ấy, không phải vẽ bằng chất liệu vẽ bình thường, mà là máu tươi của Lý Hương Quân đổ ra vẽ thành, ngưng kết trên mặt quạt ấy là câu chuyện tình ai diễm triền miên giữa nàng và tình lang Hầu Phương Vực,và cũng là toàn bộ ước nguyện của nàng ở kiếp này.

    Liễu Như Thị:
    [​IMG]


    Tài nữ nổi tiếng thời Minh, đứng đầu Tần Hoài Bát Diễm, từng chiết chiêu võ công với 2 thi nhân nổi tiếng đương thời là Trần Tử Long, Tiền Khiêm Ích ; làm rạng danh quần thư, không nhượng phe tu mi.

    Đổng Tiểu Uyển:

    [​IMG]

    Đổng Tiểu Uyển là người đứng đầu trong Kim Lăng bát diễm nổi tiếng thời Minh mạt, sắc đẹp của nàng từng khiến xảy ra một phen minh tranh ám đấu giữa các danh công cự khanh.

    Người con gái lưu lạc phong trần này coi khinh quyền quý, quyết tâm tranh đấu với nó. Song nàng lại cùng đệ nhất tài tử trong Tứ tài tử thời Minh mạt là Mạo Tích Cương, một người giàu có, phong lưu lỗi lạc, hai người đã phải lòng nhau. Bài viết này tái hiện lại một câu chuyện tình của người con gái truyền kì đất Kim Lăng.

    Đổng Tiểu Uyển tên Bạch, tự Thanh Liên, còn gọi là Thanh Liên nữ sử, tên và tự của nàng đều vì lòng ngưỡng mộ Lý Bạch mà ra. Nàng thông minh linh tú, thần tư diễm phát, yểu điệu thiền quyên, là nhất lưu nhân vật trong đám con gái ở cựu viện Tần Hoài.

    Mã Tương Lan:

    [​IMG]


    Mã Tương Lan (1548-1604) có thể coi là nữ thi nhân, nữ hoạ gia thời nhà Minh. Theo Tần Hoài nghiễm kí, nàng tên Chân, tự Tương Lan, tiểu tự Huyền Nhân, lại có tự là Nguyệt Kiều, vì con thứ 4 trong nhà tên còn được gọi là Tứ nương.

    Nàng bản tính linh lợi, lại xinh xắn, thơ hay vẽ đẹp, sở trường vẽ lan trúc, bởi thế còn gọi là Tương Lan.

    Tướng mạo của nàng tuy không xuất chúng, dáng dấp như người thường nhưng đầu óc thông minh, sáng sủa như xuân liễu tảo oanh, từ ngữ nói ra toàn lời hay ý đẹp, khéo vừa lòng người.

    Khấu Bạch Môn:
    [​IMG]


    Khấu Bạch Môn tên Mi, tự Bạch Môn, là một trong Tần Hoài bát diễm thời Minh mạt Thanh sơ.

    Bản Kiều Tạp Ký viết: "Bạch Môn dáng người xinh đẹp, phong lưu cởi mở[1], tài viết nhạc, họa lan khéo, hiểu biết niêm vận, giỏi ngâm thơ, những thứ học qua không có gì là không tinh thông." Bản tính Bạch Môn vốn đơn thuần chẳng chút sâu sắc[2], do vậy mà quyết định của nàng trong vấn đề tình cảm dẫn tới bi kịch.


    Cố Mi Sanh:

    [​IMG]


    Cố Mi Sanh tức Cố Mị, nguyên người Nam Kinh, Bản Kiều Tạp Ký chép: "Cố Mị tự Mi Sanh, tên Mị, hiệu Hoành Ba, sau đổi là Thiện Trì. Người trang nghiêm tịnh nhã, phong độ siêu quần; tóc mai như mây biếc[1], hoa đào xấu hổ, lưng ong nhỏ nhắn, eo thon nhẹ nhàng. Thông văn sử, vẽ hoa lan rất khéo, tài ngang với Mã Thủ Chân[2], nhưng tư dung xem có phần hơn, được tôn xưng là Nam Khúc đệ nhất nhân." Đủ thấy nàng không những dáng vẻ thùy mị đáng yêu, lại còn đầy đủ văn tài nghệ kỹ.

    Biện Ngọc Kinh:
    [​IMG]


    Biện Ngọc Kinh tên Tái, có hiệu là “Ngọc Kinh đạo nhân”, thường gọi là Ngọc Kinh. Nàng vốn xuất thân từ người làm trong nhà quan lại, tỷ muội có hai người, bởi vì cha mất sớm nên phải luân lạc làm ca kỹ, Biện Tái thi cầm thư hoạ không gì không biết, lại thông văn sử. Nàng tinh thông cả hội hoạ, múa bút như mây trôi, “nhất lạc bút tẫn thập dư chỉ”.

    Nguồn sưu tầm: ..::Nông trường Truyện tranh Việt Nam::..
     
  22. scientists

    scientists Guest

    Chuyện gì đang xảy ra vậy ? Tại sao lại gộp tất cả thành một đống lộn xộn thế này, cứ như là cái thùng rác, thấy bài có hơi liên quan thì quăng vào đây ! Thật là, mod box Sử làm việc kiểu gì vậy ? Câu hỏi và chủ đề có thể gộp chung lại mà nói hay sao? Mình mới là chủ của pic này, mình có suy nghĩ và ý tưởng riêng để xây dựng một topic theo ý mình, nhưng tại sao lại thay đổi chủ pic và có thêm cả tá người vào đây post lung tung lộn xộn.

    Các bạn là mod, là moderator mà lại làm việc một cách cẩu thả như vậy thì mình không đồng ý. Mỗi chủ đề, mỗi topic được lập ra đều là ý tưởng riêng của chủ pic. Cần được tôn trọng. Các bạn làm vậy chẳng khác nào vứt bỏ công lao của người post bài.

    Đó chỉ là ý kiến của mình, với tư cách 1 thành viên đóng góp bài viết cho Box Sử, mình không muốn tranh luận hay cự cãi gì hết. Nhưng mong là các bạn mod box Sử hãy ghi nhận !
     
  23. scientists

    scientists Guest

    Bao Công

    Bao Công tên thật là Bao Chửng (11 tháng 4 năm 999 - 20 tháng 5 năm 1062, chữ Hán: 包拯; 999–1062), tự Hy Nhân (希仁). Ngoài ra, ông còn được gọi là Bao Thanh Thiên, Bao Thị Chế, Bao Hắc Tử, Bao Học Sĩ hay Bao Long Đồ. Ông nổi tiếng là một vị quan “thanh liêm, chấp pháp nghiêm minh, không khiếp sợ quyền uy hay vị nể tư tình” dưới thời hoàng đế Tống Nhân Tông (1022-1063).

    Cuộc đời
    Bao Chửng, người Hợp Phì, Lư Châu (nay là thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc). Cha ông là Bao Nghi, từng giữ chức đại phu trong triều. Sau khi qua đời, Bao Nghi được phong Hình bộ thị lang.

    Lúc nhỏ, Bao Công đã nổi tiếng là đứa con hiếu thảo, đôn hậu, sống mực thước. Năm 1027, ông thi đậu tiến sĩ, được cử đến nhậm chức Tri huyện Kiến Xương (nay thuộc tỉnh Giang Tây), nhưng vì song thân già yếu, ông không thể làm quan xa nên xin khoan nhận việc, để ở nhà chăm sóc cho cha mẹ.

    Sau khi cha mẹ qua đời, ông mới đi nhậm chức Tri huyện Thiên Trường (nay thuộc tỉnh An Huy), sau đó là Tri phủ Đoan Châu[4] (nay thuộc TP. Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông).

    Nghe tiếng Bao Công tận tụy và thanh liêm, nhà vua cho triệu ông về kinh giao cho chức Trung thừa, rồi lần lượt thăng các chức Giám sát ngự sử, Trực học sĩ Long đồ các, Tam tư Hộ bộ Phó sử, đến Thiên Chương các Thị chế (nên người đời sau còn gọi ông là Bao Thị Chế).

    Theo truyền thuyết, Bao Công là Văn Khúc Tinh Quân trên trời giáng trần. Vì vậy, ngoài việc xử án ban ngày ở dương gian, ban đêm, ông còn phải xử án ở âm phủ. Vầng trăng trên trán ông tựa như ánh trăng soi sáng công lý ngay cả ở những nơi tăm tối nhất.

    Năm 1052(?), vì giúp đỡ người thân là Trương Nghêu Tá làm phật lòng hoàng đế Nhân Tông, ông bị thuyên chuyển đến Hà Bắc làm Nhậm đốc chuyển vận sử. Bốn năm sau, ông mới được triệu về kinh nhậm chức Phủ doãn phủ Khai Phong.[5] Bao Công làm quan phủ doãn phủ Khai Phong chỉ trong vòng 1 năm. Thời gian còn lại, ông được thăng chức Thừa tướng, Ngự sử đài. Theo sử sách, ông được bảo vệ bởi Ngự tiền thị vệ tứ phẩm Triển Chiêu nhưng không có bằng chứng nào về sự phò tá của Công Tôn Sách, Vương Triều, Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ. Chức vụ cao nhất là Bao Công đảm nhận ở cuối đời là Xu mật Phó sử, tương đương với chức Phó tể tướng.

    Năm 1062, ông lâm bệnh mất ở nơi làm việc, hưởng thọ 64 tuổi, điều đáng nói ở đây, là thời gian từ lúc lâm bệnh cho đến khi mất chỉ có 13 ngày, nên người ta vẫn cho rằng ông mất một phần do thuốc của hoàng đế ban cho, do lúc sinh thời Bao Chửng từng xử những vụ án vạch mặt bọn thái y, nên bị bọn chúng căm ghét (từ lúc uống thuốc đến khi phát bệnh mất chỉ là 9 ngày). Hoàng đế Tống Nhân Tông đích thân làm chủ lễ truy điệu, phong cho Bao Công là Lại bộ Thượng thư, ban cho thụy hiệu “Hiếu Túc”, có nghĩa là hiếu đạo và thiết diện vô tư và còn phái một đoàn ngự lâm quân hộ tống linh cửu ông về mai táng ở quê nhà ông.

    Hiện nay đền thờ của ông có hai câu liễn: “Lý Oan Ngục, Quan Tiết Bất Thông, Tự Thị Diệm La Khí Tượng. Chẩn Tai Lê, Từ Thiện Vô Lương, Y Nhiên Bồ Tát Tâm Trường”. Đại ý nói về phẩm chất cao quý của ông...



    Bài thơ duy nhất còn lại

    GS. Nguyễn Khắc Phi viết: Là một người có học vị cao và sống ở một thời đại văn thơ nở rộ, chắc Bao Công cũng sáng tác không ít, song đáng tiếc là cho đến nay chỉ còn lại một bài ông làm lúc mới bước vào đường hoạn lộ, đó là:
    Thư Đoan Châu quận trai bích(Đề lên tường thư trai ở quận Đoan Châu)Phiên âm:Thanh tâm vi trị bảnTrực đạo thị thân mưuTú cán chung thành đốngTinh cương bất tác câuThương sung thử tước híThảo tận thố hồ sầuSử sách hữu di huấnVô di lai giả tu. Dịch nghĩa:Lòng trong sạch là cái gốc của việc trị nước,Đạo ngay thẳng là điều mưu cầu của việc tu thân.Thân cây đẹp tốt rốt cuộc sẽ thành rường cột,Gang thuần chất không thể uốn thành móc cong.Kho đầy hẳn bọn chuột và chim sẻ vui mừng.Cỏ hết thì bọn thỏ và chồn rầu rĩ.Sử sách có lời di huấn:Chớ để lại điều xấu hổ cho con cháu mai sau!Tạm dịch thơ:Thanh liêm: gốc “trị quốc”Cương trực: “tu thân” cầu.Cây thẳng ắt làm cột,Thép ròng chẳng uốn câu.Kho đầy: chuột, sẻ khoái.Cỏ hết: thỏ, chồn sầu.Sử sách nêu di huấn:Chớ để nhục về sau!
    Phim về Bao Công
    Một trong những loạt phim nổi tiếng về Bao Công là Bao Công Kỳ Án, được quay tại Đài Loan với sự tham gia của Kim Siêu Quần và Hà Gia Kính. Bộ phim sớm trở nên nổi tiếng ở Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, Bao Công thật không hề có khuôn mặt đen và cũng không có vết sẹo hình Mặt Trăng như trong phim, thậm chí ông lại trắng trẻo và có phần thư sinh. Điều này là do ảnh hưởng của Kinh kịch, hát bội, Trong nghệ thuật Kinh Kịch, các diễn viên thường phải hóa trang mặt nạ trước khi biểu diễn. Mặt trắng là đại diện cho kẻ tiểu nhân; mặt đỏ là đại diện cho nghĩa khí, trung nghĩa; mặt đen đại diện cho nghiêm túc, công chính liêm minh, quân tử. Do đó, mặt Bao Công được tô đen để khắc họa bản tính liêm chính của ông.


    Theo Wikipedia
     
    Last edited by a moderator: 27 Tháng hai 2014
  24. scientists

    scientists Guest

    Về vua Bảo Đại, các bạn có thể xem những thông tin cơ bản tại ĐÂY , còn trong topic này chúng ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam, bài viết sẽ chi tiết và cụ thể hơn.
    Bảo Đại


    Bảo Đại (22 tháng 10, 1913 – 31 tháng 7, 1997) là vị Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua. Ông đồng thời cũng là quốc trưởng đầu tiên của Đế quốc Việt Nam (3/1945) và Quốc gia Việt Nam (7/1949).


    Tiểu sử và sự nghiệp
    Thuở nhỏ
    Vua Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển, tục danh "mệ Vững" sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 (ngày 23 tháng 9 năm Quý Sửu) tại Huế, là con của vua Khải Định và Từ Cung Hoàng thái hậu. Về thân thế của Bảo Đại vẫn còn nhiều nghi ngờ, vì vua Khải Định bị mang tiếng là bất lực và không thích gần đàn bà.

    Ngày 28 tháng 4 năm 1922, Vĩnh Thuỵ được xác lập Đông cung Hoàng Thái tử. Ngày 15 tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thuỵ cùng vua cha Khải Định sang Pháp để thưởng ngoạn cuộc triển lãm hàng hóa tại Marseille, Pháp. Tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và học ở trường Lycée Condorcet rồi sau ở trường Sciences Po (École libre des sciences politiques), Paris.

    Tháng 2 năm 1924, Vĩnh Thụy về nước để dự Lễ Tứ Tuần Đại Khánh vua Khải Định, đến tháng 11 năm 1924 trở lại nước Pháp để tiếp tục học.

    Vua Khải Định mất ngày 6 tháng 11 năm 1925, Vĩnh Thụy về nước thọ tang vua cha và ngày 8 tháng 1 năm 1926, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm vua lấy niên hiệu Bảo Đại. Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục học tập. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po). Sau 10 năm đào tạo ở "Mẫu quốc" ngày 16 tháng 8 năm 1932, Bảo Đại cùng triều quan, xuống tàu "Đác ta nhăng" (D artagnan) về nước. Ngày 19 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại ra đạo dụ số một tuyên cáo chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ Nam triều. Văn bản này hủy bỏ "Quy ước" ngày 16 tháng 11 năm 1925 lập ra sau khi Khải Định chết.



    Lên ngôi
    [​IMG]

    Bảo Đại trong lễ phục nhân dịp tấn phong Đông cung Thái tử

    [​IMG]
    Xa giá vua Bảo Đại ngày đăng quang từ điện Cần Chánh lên điện Thái Hòa

    Tháng 9 năm 1932, Bảo Đại hồi loan trở về nước, chính thức làm vua. Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính...Bảo Đại đã cho bỏ một số tập tục mà các tiên vương đã bày ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn long nhan nhà vua khi nhà vua tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy... Ngày 8 tháng 4, năm 1932, Bảo Đại đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Đằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực là Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại . Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ, tháng 12 năm 1933, Bảo Đại ngự du Bắc hà thăm dân chúng.

    Ngày 20 tháng 3 năm 1934, Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một việc làm phá lệ bởi vì kể từ khi vua Gia Long khai sáng triều Nguyễn cho đến vua Khải Định, các vợ vua chỉ được phong tước Hoàng phi, sau khi mất mới được truy phong Hoàng hậu. Ông là nhà vua đầu tiên thực hiện bỏ chế độ cung tần, thứ phi. Cuộc hôn nhân này cũng gặp phải rất nhiều phản đối vì Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công giáo và mang quốc tịch Pháp.

    Tuyên bố độc lập

    Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.[cần dẫn nguồn] Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á, và "ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích" (theo Par Francis AGOSTINI).

    Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại đã ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ.Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.

    Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Trần Trọng Kim tuyên bố bảo vệ "độc lập" giành được 9 tháng 3, và ngày 18 tháng 8 tạo ra một ủy ban giải phóng dân tộc, nhóm tất cả các đảng phái chính trị để lãnh đạo cuộc chiến này. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại gửi thông điệp cho Tổng thống Truman, vua nước Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tướng de Gaulle đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên đến 24 tháng 8 ông đã thực hiện câu trả lời Hội đồng Cơ mật quyết định thoái vị "để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước".

    Ngày 18 tháng 8, vua Bảo Đại đã xác nhận độc lập của Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, được công bố vào tháng 3 và đồng thời gửi một thông điệp đến De Gaulle yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam. Thông điệp này cho rằng sự độc lập của Việt Nam "chỉ có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Pháp và ảnh hưởng tinh thần Pháp ở Đông Dương". Tuy nhiên De Gaulle dự kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, người đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được "độc lập", mà là Vĩnh San, được xem như là một người "Gaullist".

    (Còn nữa)
     
  25. scientists

    scientists Guest

    Thoái vị

    [​IMG]

    Chân dung Vua Bảo Đại

    Từ tháng 3 năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Người Nhật đang lo chống đỡ các đòn tấn công của quân đội đồng minh Anh-Mỹ. Cả chính phủ của Trần Trọng Kim lẫn triều đình của Bảo Đại đều không đủ lực lượng quân sự và uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Theo Peter A. Pull, chỉ có Việt Minh là lực lượng có tổ chức duy nhất ở nước này có khả năng nắm được quyền chính trị.Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, nước Nhật cạn kiệt nguyên liệu nên quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc kỳ và Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này.

    Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh buộc chính quyền Đế quốc Việt Nam giao quyền lực cho họ. Trước tình thế đó, Bảo Đại quyết định thoái vị. Bảo Đại không rõ phải liên lạc với ai ở Hà Nội, nên gửi một điện tín tới "Ủy ban Nhân dân Cứu quốc" ở Hà Nội:

    "Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban sớm tới Huế, để nhận bàn giao."

    Bản Tuyên ngôn thoái vị của Bảo Đại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 chính thức chấm dứt Nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được vua Bảo Đại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Đại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng ông này hội ý với người đồng hành và tâu với Bảo Đại rằng:

    "Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết."

    Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn, như sau:

    Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
    Vì nền độc lập của Việt Nam,
    Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
    Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.
    Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
    Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
    Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
    Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:
    --Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.
    --Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
    --Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.
    Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
    Việt Nam độc lập muôn năm,
    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm,
    Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.


    Theo hồi ký "Con Rồng Việt Nam" của Bảo Đại, bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Mọi người có mặt trong buổi lễ đều ngẩn ngơ, bàng hoàng. Bảo Đại viết rằng:

    "Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.

    Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu."
    (Còn nữa)
     
  26. scientists

    scientists Guest

    Tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
    Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức "Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam", ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.

    Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Lưu vong sang Trung Quốc

    Ngày 16 tháng 3 năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh thăm viếng Trung Hoa, nhưng ông không trở về nước, mà về Côn Minh rồi Hương Cảng. Tại Côn Minh, ông đã tiếp xúc với nhiều giới chính trị, trong đó có người Mỹ. Đại Tướng George Marshall, đại diện Hoa Kỳ, đã đem bản giao ước với Bảo Đại về trình Tổng thống Harry S. Truman. Bảo Đại bèn viết thư về nước xin từ chức "Cố vấn tối cao" trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam
    Đàm phán với chính phủ Pháp
    Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại". Có ý kiến cho rằng việc này nhằm chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh, cũng có ý kiến cho rằng giải pháp Bảo Đại được đưa ra nhằm phản ứng với xu hướng quốc tế trao trả độc lập cho các thuộc địa đồng thời nhằm chống lại sự mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương. Còn bản thân Bảo Đại nhận xét rằng "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."

    Mỹ ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới "không phải là người cộng sản", Mỹ ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài lòng với điều mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Bằng viện trợ, Mỹ ép Pháp phải nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Chính sách của Mỹ là hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau đó sẽ ép người Pháp rút lui khỏi Đông Dương.

    Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập. Để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam, các lực lượng chính trị bao gồm Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng liên kết thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp.

    Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, mặc dù nghĩa chính xác của từ "độc lập" và các quyền hạn cụ thể của chính phủ mới vẫn chưa được xác định. Chính phủ hoạt động dưới một hiến chương lâm thời, chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ và bản "Thanh niên Hành Khúc" với lời nhạc mới làm quốc ca.[1Quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội riêng tuy nhiên phải "sẵn sàng bảo vệ bất cứ phần nào của Liên Hiệp Pháp".Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đình Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp chỉ trích.

    Thành lập Quốc gia Việt Nam

    Ngày 24 tháng 4 năm 1948, thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu cũng bay tới Hồng Kông để gặp Bảo Đại xin thành lập Chính phủ Lâm thời cho Việt Nam, ngày 15 tháng 5, Bảo Đại gửi thông điệp cho tướng Xuân, tán thành sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam do tướng Xuân điều khiển "để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận Quốc tế".

    Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, để đàm phán về nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Tháng 1 năm 1949, Bản tuyên ngôn Việt - Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.

    Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.

    Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 20 tháng 6 năm 1949, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn từ chức, Chính phủ Lâm thời Nam phần tuyên bố giải tán. Ngày 21 tháng 6, thỏa ước Elyseé được công bố.

    Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc Gia Việt Nam. Pháp chuyển giao những chức năng hành chính cho Quốc Gia Việt Nam một cách chậm chạp.

    Thành lập Chính phủ

    Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam được thành lập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng, trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (Có tài liệu ghi Bảo Đại là Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Nguyễn Văn Xuân là phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng). Theo đánh giá của người Mỹ, Bảo Đại ít tham gia vào công việc của chính phủ, giành nhiều thời gian cho nghỉ mát.

    Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, giải tán chính phủ Nguyễn Phan Long và ủy nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập chính phủ mới. Tính đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.
    [​IMG]

    Chân dung Bảo Đại thời kỳ 1952-1954

    Thu hồi chủ quyền quốc gia
    Từ tháng 6 cho đến tháng 10 năm 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp họp tại Pau (Pháp) để bàn về việc chuyển giao các chức năng quản lý xuất nhập cảnh, quan hệ ngoại giao, ngoại thương, hải quan và tài chính cho Quốc gia Việt Nam. Tài chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất bao gồm việc kiểm soát lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Kết quả tất cả các chức năng trên đã được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu sau khi ký thỏa thuận với Pháp đã tuyên bố: "Nền độc lập của chúng tôi hiện nay thật tuyệt vời". Các quan chức Pháp phàn nàn về Bảo Đại: "Ông ấy tập trung quá mức vào việc lấy lại từ chúng tôi những gì có thể thay vì tìm kiếm sự ủng hộ từ nhân dân... Lịch sử sẽ phán xét ông ấy vì quá chú tâm vào chuyện này". Tuy nhiên người Pháp vẫn giành cho mình quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên Hiệp Pháp. Người Pháp còn có quyền tiếp cận mọi thông tin nhà nước, tham dự vào tất cả các quyết định của chính phủ và nhận một khoản nhỏ từ lợi tức quốc gia của Việt Nam.

    Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Quốc gia Việt Nam thành lập những đơn vị mới do sĩ quan Việt Nam chỉ huy và đào tạo sĩ quan người Việt thay thế dần những sĩ quan Pháp đang hiện diện trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

    Thay đổi Thủ tướng
    Chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng tồn tại đến ngày 6 tháng 6 năm 1952 thì phải cáo lui, nhường chỗ cho Nguyễn Văn Tâm lên làm thủ tướng cùng thành phần tổng, bộ trưởng đa số là người do Pháp đào tạo.

    Ngày 20 tháng 11 năm 1953, hoàng thân Bửu Lộc từ Pháp về Sài Gòn lập chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Thời gian này, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn Ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện", lại có cả một đội máy bay riêng do các phi công người Pháp lái phục vụ.

    Ngày 11 tháng 1 năm 1954, Chính phủ mới do Bửu Lộc thành lập trình diện Bảo Đại nhưng đến ngày 16 tháng 6 năm 1954, Bửu Lộc từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm về nước, ngày 6 tháng 7, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới.

    Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, chính quyền và quân đội Quốc gia Việt Nam tập kết ở miền Nam Việt Nam chờ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam.

    Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ chính phủ lần thứ nhất vào ngày 24 tháng 9 năm 1954 và lần thứ hai vào ngày 10 tháng 5 năm 1955.

    Bị phế truất
    Tháng 9 năm 1954, tướng Nguyễn Văn Hinh không chịu dưới quyền chỉ huy của Ngô Đình Diệm nên đánh điện sang Pháp nhờ Bảo Đại can thiệp. Bảo Đại điện về Sài Gòn triệu tập Diệm sang Cannes gặp Bảo Đại để bàn lại việc sắp xếp nhân sự nhưng Diệm không đi. Bảo Đại quyết định điện về Sài Gòn cách chức thủ tướng của Ngô Đình Diệm.

    Tuy nhiên, ngày 4 tháng 10 năm 1955, Ủy ban trưng cầu dân ý thành lập đưa ý kiến đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và đưa Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng. Khi cử tri đi đến nơi bỏ phiếu, họ thấy rằng nơi đây đã bị những người ủng hộ Ngô Đình Diệm kiểm soát. Một cử tri sau khi bỏ phiếu đã nói rằng "Người chỉ đạo nói cho chúng tôi hiểu rằng ở đây chỉ có hai sự lựa chọn, hoặc là phiếu đỏ (Ngô Đình Diệm) sẽ được bỏ vào hòm phiếu hoặc phiếu xanh sẽ bị loại đi". Trong trường hợp này Bảo Đại đã mất cơ hội trở về chính quốc với 5.721.735 phiếu truất còn Ngô Đình Diệm được suy tôn lên chức vị Quốc trưởng, Bảo Đại sống lưu vong ở Pháp khi mới 40 tuổi cho đến khi qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Paris.

    (Còn nữa)
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->