Văn 9 Kiến thức về tác giả, tác phẩm lớp 9

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
[TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn
Chắc suất Đại học top - Giữ chỗ ngay!!

ĐĂNG BÀI NGAY để cùng trao đổi với các thành viên siêu nhiệt tình & dễ thương trên diễn đàn.

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích "Truyền kì mạn lục"- Nguyễn Dữ)

A. Tìm hiểu chung
I. Tác giả
  • Nguyễn Dữ (không rõ năm sinh năm mất) sống ở thế kỉ XVI - thời kì xã hội phong kiến khủng hoảng trầm trọng
  • Trường Tân (nay là Thanh Miện, Hải Dương)
  • Ông là người học rộng, tài cao, làm quan một năm rồi lui về ở ẩn
II. Tác phẩm
- Thể loại: truyền kì - là loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc, thường mô phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dữ sử sau đó được tác giả sắp xếp lại tình tiết, bồi đắp thêm cho đời sống các nhân vật, xem lẫn các yếu tố kì ảo
- "Truyền kì mạn lục": Ghi chép tản mạn những câu chuyện kì lạ được lưu truyền trong dân gian
- Nguồn gốc xuất xứ của "Chuyện người con gái Nam Xương"
- Thiên thứ 16 trong tổng số 20 truyện của "Truyền kì mạn lục"
- Được viết bằng chữ Hán, dựa trên cốt truyện cổ tích "Vợ chàng Trương"

B. Tìm hiểu chi tiết
I. Tóm tắt

Truyện kể về cuộc đời và số phận của Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người có tính thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp. Nàng có chồng là Trương Sinh- con nhà hào phú. Ở với chồng không được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ. Không bao lâu, mẹ chồng ốm rồi mất, nàng lo ma chay chu đáo. Thương con vắng bóng cha và để dỗ con nàng thường chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha. Trương Sinh trở về thì con đã biết nói, đứa bé ngây thơ kể với Trương về người hằng đêm vẫn đến nhà. Sẵn tính ghen, nghe lời con trẻ, nghĩ là vợ hư thân Trương Sinh mắng nhiếc và đuổi vợ đi. Vũ Nương bị oan nhưng không thể minh oan đã gieo mình ở bến Hoàng giang, nay được Linh Phi cứu giúp. Khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn, chàng lập dàn giải oan cho vợ. Vũ Nương được giải oan những nàng không thể trở về trần gian được nữa.
II. Bố cục: 3 phần
  • Phần 1: từ đầu -> "...cha mẹ đẻ mình" => lai lịch, phẩm chất và cuộc hôn nhân của Vũ Nương
  • Phần 2: tiếp -> "...trót đã qua rồi" => Trương Sinh trở về và nỗi oan của Vũ Nương
  • Phần 3: còn lại => cuộc sống của Vũ Nương dưới thủy cung và được giải oan
III. Phân tích
1. Vẻ đẹp toàn diện của Vũ Nương
a) Lời giới thiệu Vũ Nương "là người thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp"
- Ngay mở đầu văn bản, tác giả đã miêu tả cả nhan sắc lẫn tính cách không thể chê vào đâu của Vũ Nương. Ở nàng ở có nhan sắc xinh đẹp lại thêm phẩm chất đẹp đẽ cao quý "thùy mị nết na", "tư dung tốt đẹp" là thước đo chuẩn cho phụ nữ thời phong kiến
- Vì vậy, việc Trương Sinh xin mẹ đem 100 lạng vàng để xin cưới nàng làm vợ dù nàng là con kẻ khó không phải điều khó hiểu.
b) Phẩm chất, đức hạnh của Vũ Nương
*) Người phụ nữ đảm đang, người con dâu hiếu thảo
- Vũ Nương ngay từ khi mới về ra mắt nhà chồng đã thể hiện sự chăm chỉ, tần tảo, đảm đang của mình.
- Khi chồng đi chiến trận, nàng một mình gánh vác, quán xuyến hết thảy mọi việc trong gia đình; cũng là nàng một mình nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ già
- Khi mẹ chồng ốm, nàng ân cần chăm sóc, thuốc thang, chu đáo, lấy lời ngọt ngào khuyên lơn, lễ bái thần phật mong mẹ mau tai qua nạn khỏi
- Khi mẹ chồng mất: lo liệu ma chay chu đáo như với cha mẹ đẻ của mình
- Tình cảm ấy có thể cảm thấu trời đất cho nên trước khi mất, người mẹ già ấy đã trăng trối những lời yêu thương, động viên, khích lệ con dâu "Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ ta" -> càng tô đậm hơn lòng hiếu thảo của Vũ Nương
*) Người mẹ yêu thương con hết mực
- Chồng đi lính, Vũ Nương lúc bấy cũng có chửa, ngoài việc gánh tác mọi việc trong gia đình, nàng còn một mình sinh con nuôi con con
- Việc nàng chỉ bóng mình trên vách hằng đêm vừa để dỗ dành con vừa để cho con có cảm giác được sống đầy đủ trong tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ. Hành động ấy cũng thể hiện tình mẫu tử bao la nàng dành cho con
(*) Chi tiết cái bóng:
~ Lần xuất hiện 1: cái bóng của Vũ Nương qua lời nói của bé Đản
~ Lần xuất hiện 2: cái bóng của Trương Sinh, khi mà Vũ Nương đã mất
~ Ý nghĩa:
  • Cái bóng đầu tiên xuất hiện làm thắt nút câu chuyện, đẩy câu chuyện thêm phần kịch tính, rẽ sang một hướng mới
  • Cái bóng thứ 2 xuất hiện để cởi nút cho câu chuyện, cũng làm hướng đi rẽ sang hướng mới
  • Cái bóng là chi tiết kì ảo đặc sắc của truyện, chính cái bóng là nguyên nhân dẫn tới cái chết và cũng chính nó giải oan cho Vũ Nương
- Việc Vũ Nương chọn cho mình cái chết là một cách bảo vệ con trước định kiến của xã hội, không để con phải chịu đựng những lời gièm pha, xấu xí về mẹ nó. Chết chính là tự minh oan, đối với nàng, chết đi thì nỗi oan mới được rửa sạch
*) Người vợ thủy chung yêu chồng đằm thắm
- Khi mới về nhà chồng, biết tính chồng hay ghen nên Vũ Nương "luôn giữ gìn khuôn phép, không từng để vợ chồng đến thất hòa"
- Tuy rằng nành được Trương Sinh "đem 100 lạng vàng để xin cưới", ban đầu quả thực chưa có tình cảm. Nhưng nàng luôn cố gắng yêu thương chồng, dần dần có tình cảm và một mực thủy chung
- Điều đó càng được thể hiện rõ khi Vũ Nương tiễn chồng ra trận. Buổi tiễn đưa, nàng nói những lời đằm thắm, tình nghĩa. Ngay từ lời nói của nàng, ta nhận thấy rằng, nàng không phải kẻ ham hư vinh, vật chất. Bởi, Vũ Nương nói rằng nàng chỉ mong Trương Sinh bình an trở về, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất, nàng không mong chồng phải liều mạng lập công. Vì những lời nói thật lòng đó của Vũ Nương mà " mọi người đều tựa hai hàng lệ"
- Khi xa chồng, Vũ Nương luôn giữ trọn đạo làm vợ, nàng nhớ chồng da diết "mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được", giữ trọn tình yêu với chồng, may áo rét gửi người ải xa...
- Khi chồng đi lính trở về, dẫu bị nghi oan là thất tiết, song nàng không hề đưa ra một lời kêu than, trách móc chồng mà chỉ dùng những lời lẽ dịu dàng để khuyên lơn, mong giữ được gia đình đầm ấm
*) Người phụ nữ trọng nhân phẩm, tình nghĩa
- Khi bị chồng nghi oan, nàng hết sức phân trần mong chồng nghĩ lại
- Khi sống dưới thủy cung, nàng vẫn luôn thương nhớ gia đình, chồng con, phần mộ tổ tiên nhưng vì giữ lời hứa với Linh Phi nên nàng quyết định không quay về dương gian.
- Nàng đã phải gánh chịu nỗi oan lạ lùng để phải tự vẫn, chứng minh sự trong sạch. Bởi vậy, khi chết đi, nàng luôn mong được chồng lập đàn giải oan cho mình.
- Sau khi biết được mình đã trách oan vợ, Trương Sinh đã rất ân hận, ngay khi biết được mình có thể gặp lại vợ, chàng liền làm theo lời. Cuối cùng Vũ Nương cũng được gặp lại chồng con nhưng chỉ trong thoáng chốc.
2. Nỗi bất hạnh của Vũ Nương
- Cuộc sống gia đình nghèo, sau khi lấy chồng, những tưởng được sống ấm no, hạnh phúc nhưng chiến tranh đến, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương sống ở gia đình chồng những tháng ngày cô đơn, vất vả.
- Phải gánh chịu nỗi oan lạ lùng dẫn tới tự vẫn
- Nguyên nhân của cái chết:
+ Trực tiếp: lời nói ngây thơ của bé Đản "Ô, ông cũng là cha tôi ư?" làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông sẵn có của Trương Sinh
+ Gián tiếp:
  • Do Trương Sinh đa nghi, hay ghen, là con đẻ của xã hội trọng nam khinh nữ
  • Do cuộc hôn nhân bất bình đẳng (nhà Trương Sinh thuộc diện khá giả, có thể lấy ra 100 lạng vàng để hỏi cưới Vũ Nương, còn Vũ Nương được giới thiệu là con nhà nghèo)
  • Do chế độ phong kiến hà khắc: không cho người phụ nữ quyền bảo vệ mình
  • Do chiến tranh phi nghĩa, khiến gia đình chia lìa, vợ chồng không bồi đắp được tình cảm, cha con không nhận ra nhau
- Sau khi tự vẫn, Vũ Nương phải sống không thực sự hạnh phúc dưới thủy cung
  • Tuy rằng được cứu sống, được hưởng cuộc sống bất tử, an nhàn chốn cung nước nhưng nàng chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ gia đình trên dương thế
  • Nàng được minh oan nhưng chẳng thể trở về được nữa
3. Kết thúc truyện
- Cuối truyện là chi tiết: sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang, Vũ Nương đã hiện về trên chiếc kiệu hoa, theo sau là cờ tán võng lọng rực rỡ đầy sông lúc ẩn, lúc hiện. Sự xuất hiện trong chốc lát ấy của Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng đã được rửa oan cho nàng, nó chứng minh nàng vô tội
- Đây là một kết thúc phần nào có hậu bởi nó thể hiện ước mơ về sự công bằng của nhân dân ta: người tốt có bị oan khuất thì cuối cùng rồi cũng được minh oan và hưởng cuộc sống sung sướng với chân lý "ở hiền gặp lành" giống trong các câu chuyện cổ tích
- Một lần nữa ta thấy được vẻ đẹp trong con người Vũ Nương: tuy rằng sống một cuộc sống xa hoa dưới thủy cung nhưng vẫn luôn nặng tình, nặng nghĩa với quê hương, gia đình và có tấm lòng bao dung, độ lượng
- Tuy nhiên, cách kết thúc ấy cũng không làm mất đi tính bi kịch của truyện, Vũ Nương trở về mà vẫn xa cách ở giữa dòng, nàng và chồng con vẫn âm dương chia lìa đôi ngả. Vũ Nương khát khao một cuộc sống sum họp nơi trần thế nhưng nào chẳng thể nào trở về nữa


Trên đây là những kiến thức cơ bản của văn bản "Chuyện người con gái Nam Xương". Các bạn hãy tham khảo nhé
Tag các tình iu nà :3 @Roses_are_rosie , @_Nhược Hy Ái Linh_ , @Ánh 01 , @Aww Pomme , @Trần Hoàng Hạ Đan , @nhuukha , @minhtam8a2@gmail.com , @kaede-kun
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
HỒI THỨ 14

(Ngô Gia Văn Phái)
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Ngô Gia Văn Phái: nhóm các tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai - Thanh Oai - Hà Nội
- Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (làm quan dưới triều Lê) và Ngô Thì Du (làm quan dưới triều Nguyễn)
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác
  • Hoàng Lê nhất thống chí được viết từ cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn (khoảng 3p năm cuối thế kỉ 18 và những năm đầu thế kỉ 19)
  • Ngô Thì Chí viết 7 hồi đầu, Ngô Thì Du viết 7 hồi tiếp
- Thể loại
  • Thể "chí": một thể văn ghi chép sự vật, sự việc vừa có tính văn học vừa có tính lịch sử vừa có tính triết học (được gọi là: văn - sử - triết bất phân)
  • Là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi
- Ý nghĩa nhan đề
  • Hoàng Lê nhất thống chí: Ghi chép về sự thống nhất đất nước của vương triều nhà Lê
- Phương thức biểu đạt: tự sự có đan xen miêu tả, biểu cảm

II. Tìm hiểu đoạn trích
1. Tóm tắt
Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương rất giận liền họp các tướng sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân vừa đi vừa tuyển quân lính. 30 tháng chạp đến núi Tam Điệp vua mở tiệc khao quân. Mùng 7 năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Bằng này chỉ huy thao lược của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc thua chạy tán loạn, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp chạy thẳng về biên giới phía Bắc khiến tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân
2. Bố cục: 3 đoạn
3. Chủ đề: Ca ngợi chiến thắng lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn và vua Quang Trung. Đồng thời, tác phẩm miêu tả sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh cùng bọn bán nước.
4. Phân tích
a. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ
  • Là người có hành động mạnh mẽ, quyết đoán
- Nghe tin giặc đã chiếm cả một vùng đất đai rộng lớn lại thủ Phong cho vua Lê Nguyễn Huệ không hề nao núng Mà định đích thân cầm quân đi ngay Nhưng vì đại cục, trước đó Quang Trung đã tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế để trấn an lòng dân, yên kẻ phản trắc
- Chỉ trong vòng một tháng Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: tế cáo trời đất lên, ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh, tuyển mộ quân lính, mở cuộc duyệt binh, ra lời phủ dụ, có kế hoạch hành quân đánh giặc và cả kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng
  • Là người có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén
- Trước tiên, Quang Trung thể hiện sự sáng suốt trong việc lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và quan trọng hơn cả là để "yên kẻ phản trắc"
- Tiếp đó ông sáng suốt trong việc phân tích nhận định tình hình thời cuộc và thế tương quan giữa địch và ta. Sự nhận định ấy tự thể hiện rõ nhất trong lời phủ dụ ngắn gọn mà ý sâu xa
*) Nội dung lời phủ dụ:
+ Khẳng định chủ quyền của dân tộc ta, lên án, tố cáo hành động xâm lăng phi nghĩa và dã tâm cướp nước của quân Thanh
+ Nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc ta
+ Kêu gọi quân sĩ đồng tâm hiệp lực chống lại kẻ thù, bảo vệ đất nước
+ Đề ra kỷ luật nghiêm minh
+ Thông báo tình hình đất nước có giặc ngoại xâm
~~~~~~~~~
- Ông còn sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người, bình công và luận tội rõ ràng
- Ông hiểu được chỗ mạnh điểm yếu của hai tướng Sở, Lân. Ông đánh giá cao Ngô Thì Nhậm và còn định dùng tài ăn nói của Nhậm vào việc ngoại giao với nhà Thanh sau này để dẹp được việc binh đao
  • Là người có ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng
- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào, vậy mà Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột "phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được quân Thanh". Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Ngô Thì Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch của 10 năm tới
  • Là vị tướng có tài dụng binh như thần
- Ông tổ chức một cuộc hành binh thần tốc, chưa đầy một tuần đã tiến từ Phú Xuân đến Tam Điệp, vừa đi vừa chiêu binh. Xuất phát ngày 30 Tết đến mùng 5 Tết đã giải phóng Thăng Long vừa hành quân vừa đánh giặc vừa thu hồi giang sơn, tổng chiến dịch chỉ trọng trong 10 ngày. Hành quân ra liên tục nhưng "cơ nào đội ấy" vẫn chỉnh tề
- Vừa hành quân vừa phối hợp với các cánh quân tổ chức trận đánh một cách kỳ tài, chiến thắng vượt 2 ngày
- Với quân lính ông khuyên răn, mở tiệc khao quân tạo khí thế; với tướng ông hiểu chỗ mạnh, điểm yếu
- Ông quyết đoán nhưng không độc đoán, nghe lời góp ý của quần thần, hỏi ý kiến của hiền sĩ trong thiên hạ. Nhà vua thấy rõ ưu điểm và nhược điểm của tướng sĩ dưới quyền để sử dụng một cách phù hợp, thưởng, phạt nghiêm minh.
  • Là người anh hùng lẫm liệt
- Ông không chỉ là tổng chỉ huy trên danh nghĩa mà còn là người trực tiếp xông pha nơi chiến trận, tự mình thống lĩnh một mũi tiến công
- Ông lẫm liệt bước ra khỏi chiến trận với khuôn mặt và tấm áo hoàng bào sạm đen vì khói súng. Hình ảnh vua Quang Trung lẫm liệt cưỡi voi thúc độc quân sĩ với tấm áo bào màu đỏ đã khắc họa hình tượng người anh hùng mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, tài điều binh khiển tướng, là người tổ chức và là linh hồn của cuộc chiến.

b. Số phận của bọn cướp nước và bán nước
  • Sự thảm bại của bè lũ cướp nước
- Tướng:
+ Lúc quân Tây Sơn chưa đánh thì kiêu căng, ngạo mạn, tự mãn, chủ quan cho rằng có thể dễ dàng chiến thắng
+ Lúc quân Tây Sơn đánh đến thì sợ mất mật, "ngựa không kịp đóng yên", "người không kịp mặc áo giáp", chuồn trước qua cầu phao
- Quân:
+ Mặc sức vui chơi khi quân Tây Sơn chưa đến
+ Đến lúc lâm trận ai nấy đều rụng rời sợ hãi xin ra hàng hoặc bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chạy đến nỗi "nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa"
  • Sự thảm hại của bè lũ bán nước
- Lê Chiêu Thống cùng bề tôi trung thành của ông đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà mù quáng đem vận mệnh của dân tộc đặt vào tay kẻ xâm lược
- Khi bị đánh đến chỉ biết chạy bán sống bán chết luôn mấy ngày không ăn không nghỉ, cướp cả thuyền của dân để qua sông. Khi sang Trung Quốc phải tạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và khi chết phải gửi gắm xương tàn nơi đất khách quê người
- Họ không còn tư cách của quân vương mà phải chịu số phận nhục nhã của kẻ cầu cạnh và kẻ vong quốc
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
TRUYỆN KIỀU (NGUYỄN DU)
A. Tác giả Nguyễn Du
Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền - Nghi Xuân - Hà Tĩnh
I. Thời đại
- Sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động xã hội dữ dội: xã hội phong kiến Việt Nam vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19 khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn nhưng triều đại này ngắn ngủi, triều Nguyễn lên thay

II. Gia đình
- Sinh ra trong một gia đình đại quí tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học. Cha là Nguyễn Nhiễm - từng làm tể tướng, anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản - từng làm quan dưới triều Lê - Trịnh nhưng sau đó gia đình sa sút, năm ông 9 tuổi thì mồ côi cha, 12 tuổi mồ côi mẹ.

III. Cuộc đời
- Có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học, có hiểu biết sâu rộng và từng trải, có vốn sống phong phú
- Là con người giàu lòng yêu thương
- Trong những biến động của lịch sử và cuộc đời, Nguyễn Du đã từng sống nhiều năm lưu lạc, khi thì trên đất Bắc, khi thì về quê nội ở Hà Tĩnh. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, Nguyễn Du đã ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn và được cử đi sứ Trung Quốc
- Trong những năm lưu lạc ấy, ông sống cuộc sống gần gũi với người lao động, tiếp xúc với nhiều cảnh đời và số phận khác nhau. Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng đến sáng tác của ông

IV. Sự nghiệp văn học
- Sự nghiệp của Nguyễn Du gồm nhiều tác phẩm có giá trị, có cả chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó:
+ Chữ Hán: gồm có 3 tập
  • Thanh Hiên thi tập
  • Bắc hành tạp lục
  • Nam trung tạp ngâm
+ Chữ Nôm: tiêu biểu nhất là "Truyện Kiều", ngoài ra còn có "Văn chiêu hồn"
[tex]\Rightarrow[/tex] Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, ông đã có đóng góp lớn đối với sự nghiệp phát triển của nền văn học trung đại Việt Nam.

B. Tác phẩm
I. Nguồn gốc của "Truyện Kiều"

- Được viết vào đầu thế kỉ XIX
- Được viết dựa trên cốt truyện của tác phẩm "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc)
- Lúc đầu, truyện mang tên "Đoạn trường tân thanh" nghĩa là: tiếng kêu đau thương mới xé lòng
- Tuy có dựa vào cốt truyện khác nhưng "Truyện Kiều" có những sáng tạo nhất định và mãi mãi là tác phẩm bất hủ của thiên tài Nguyễn Du.
II. Thể loại: Truyện thơ Nôm
III. Tóm tắt
a. Gặp gỡ và đính ước:
Thúy Kiều là thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu một gia đình trung lưu lương thiện, em gái Thúy Vân và em trai Vương Quan. Trong buổi du xuân, nàng gặp và nảy nở mối tình với chàng Kim Trọng, nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng bày tỏ tâm tình và họ tự do đính ước.
b. Gia biến và lưu lạc
Kim Trọng về quê chịu tang, gia đình Kiều bị vu oan. Kiều nhờ Vân trả nghĩa Kim Trọng còn mình bán thân chuộc cha. Kiều bị bọn buôn người Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt đưa vào lầu xanh. Sau đó nàng được Thúc Sinh cứu vớt, nhưng lại bị vợ cả Thúc Sinh là Hoạn Thư đày đọa. Kiều trốn đến nương nhờ cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – một kẻ buôn người, nàng lại rơi vào lầu xanh. Thúy Kiều gặp Từ Hải, người anh hùng “đội trời đạp đất”. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán. Hồ Tôn Hiến lừa và giết Từ Hải, bắt Kiều hầu đàn, rượu. Bị ép gả cho viên thổ quan, Kiều trẫm mình ở sông Tiền Đường, nhưng nàng được sư Giác Duyên cứu giúp.
c. Đoàn tụ
Kim Trọng sau khi chịu tang, trở lại tìm Thúy Kiều. Hay tin gia đình Kiều, chàng đau đớn. Tuy kết duyên với Thúy Vân nhưng chàng không nguôi tình xưa, cất công đi tìm Kiều. Nhờ gặp sư Giác Duyên, Kiều tìm được gia đình. Chiều ý mọi người, nàng nối duyên Kim Trọng nhưng chỉ coi là tình bạn.
IV. Giá trị tác phẩm
1. Giá trị nội dung
a. Giá trị hiện thực
- "Truyện Kiều" phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và thế lực hắc ám chà đạp lên quyền sống của con người.
- "Truyện Kiều" đã hiện lên những hình ảnh của bọn tham quan trơ tráo, bỉ ổi (viên ngoan xử kiện vụ án của Vương ông, quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến)
- Đồng thời, trong "Truyện Kiều" ta thấy những thế lực hắc ám như Mã Giám Sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc bà, Bạc Hạnh,... là những kẻ vì tiền mà sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm và số phận người lương thiện
- "Truyện Kiều" cũng phơi bày nỗi khổ đau của những con người bị áp bức, đặc biệt là phụ nữ
b. Giá trị nhân đạo
- Trong xã hội phong kiến nam quyền Nguyễn Du đã không ngần ngại hết lòng ngợi ca, đề cao vẻ đẹp của con người, đặc biệt là người phụ nữ qua nhân vật Thúy Kiều.
- Kiều có vẻ đẹp "nghiêng nước nghiêng thành" về hình thức, trong con người đó luôn lấp lánh cả vẻ đẹp tài năng: "cầm kỳ thi họa" Kiều đều giỏi. Không những thế, nàng còn là người con hiếu thảo và là một người giàu lòng vị tha, một người phụ nữ với đủ những tiêu chí "công dung ngôn hạnh" nhưng lại phải chịu nhiều cay đắng, bất hạnh
- Trước số phận đau khổ của Kiều, Nguyễn Du đã lớn tiếng bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với nỗi xót thương đau đớn cho thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Ông đã từng đau đớn, vấn khuất trước những bất hạnh của nhân vật: "thương thay cũng một kiếp người/ hại thay mang lấy sắc tài mà chi". Thúy Kiều còn là tiếng kêu thương cho số phận của những người phụ nữ "Thương thay thân phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"
- Nguyễn Du sống trong xã hội phong kiến nhưng ông dám đi ngược lại những lề thói vô lý của xã hội đó để Thúy Kiều hát lên bài ca về tình yêu tự do, về hạnh phúc, về công lý
+ "Bước chân xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" của Kiều đến với Kim Trọng đã thể hiện thái độ chống lại lễ giáo phong kiến, dám chủ động đến với tình yêu tự do, vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến
+ Truyện Kiều là khát vọng công lý mà Từ Hải chính là biểu tượng của công lý tự do
- Nguyễn Du tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người lương thiện khiến họ phải khổ sở, điêu đứng
2. Giá trị nghệ thuật
- Truyện Kiều được coi là đỉnh cao nghệ thuật của Nguyễn Du và của văn học Việt Nam
- Ngôn ngữ trong Truyện Kiều không chỉ có chức năng biểu đạt, biểu cảm mà còn có chức năng thẩm mĩ
- Khắc hoạ nhân vật
- Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên
- Nghệ thuật miêu tả người
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
CHỊ EM THÚY KIỀU
~ Nguyễn Du ~
I. Tìm hiểu chung
1. Vị trí đoạn trích
Nằm ở phần đầu của tác phẩm "Truyện Kiều": gặp gỡ và đính ước

2. Bố cục: chia làm 4 phần
- Phần 1: bốn câu đầu [tex]\rightarrow[/tex] giới thiệu chung về chị em Thúy Kiều
- Phần 2: bốn câu tiếp[tex]\rightarrow[/tex] Vẻ đẹp của Thúy Vân
- Phần 3: 12 câu tiếp [tex]\rightarrow[/tex] Vẻ đẹp của Thúy Kiều
- Phần 4: còn lại [tex]\rightarrow[/tex] nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em

3. Đoạn trích "Chị em Thúy Kiều"
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

II. Phân tích
1. Giới thiệu khái quát vẻ đẹp của hai chị em
- Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du không vội vàng miêu tả vẻ đẹp riêng của hai chị em mà giới thiệu khái quát vẻ đẹp của họ.
+ Cả hai là con gái của viên ngoại họ Vương, đều là thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp. Xét về vị trí: Thúy Kiều là chị, Thúy Vân là em
+ Đồng thời, họ còn có vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, trong sáng "Mai cốt cách tuyết tinh thần/ Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười". "Mai cốt cách" - dáng người thanh cao, mảnh dẻ như cây mai. "Tuyết tinh thần" - phong thái và tâm hồn trắng trong như tuyết
- Lời bình khép lại bốn dòng thơ đầu "Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười" cho thấy nét riêng của hai nhân vật vừa tô đậm vẻ đẹp chung toàn diện
[tex]\Rightarrow[/tex] Bốn câu thơ vô cùng ngắn gọn, song với bút pháp tả người của Nguyễn Du thật tài tình, đó là bút pháp ước lệ tượng trưng thường thấy trong thơ cổ. Nhà thơ đã lấy vẻ đẹp thiên nhiên làm khuôn mẫu để tả vẻ đẹp con người vừa làm nổi bật cái chung lại không làm mất đi nét riêng. Qua đó, ta thấy được cảm hứng ngợi ca tài năng, nhan sắc của con người đang tràn trề trong từng câu chữ

2. Vẻ đẹp của Thúy Vân
- Đến với bốn câu thơ tiếp theo, vẫn bút pháp ước lệ kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ, Nguyễn Du đã để Thúy Vân hiện lên với vẻ đẹp đoan trang, quý phái
"Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da"
- Vân có vẻ đẹp mà hiếm thiếu nữ nào có được. Đó là khuôn mặt đầy đặn như trăng rằm, lông mày sắc nét như con ngài. Nàng sở hữu một vẻ đẹp phúc hậu gợi sự đầy đủ viên mãn. Nụ cười nàng đẹp như hoa, tiếng nói trong như ngọc, mái tóc bồng bềnh như mây, da nàng toát lên vẻ đẹp của tuyết. Nghệ thuật liệt kê + bút pháp ước lệ + từ láy gợi tả làm nên vẻ đẹp phúc hậu, hài hoà trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến
- Khi tả Thúy Vân, ta nhận thấy một điều rất rõ ràng là Nguyễn Du đã miêu tả cụ thể từng nét trên khuôn mặt Vân. Thiên nhiên không chỉ ban tặng cho Thúy Vân nét đẹp khó ai bì kịp mà còn ưu ái dành tặng nàng đặc ân không bị ai ghen ghét, đố kị. Mây sẵn sàng nhường, tuyết sẵn sàng nhường. Tất cả đã báo trước cuộc đời Thúy Vân sau này sẽ yên ổn, sống hạnh phúc, sung sướng. Như vậy, vẻ đẹp của nàng không bị bó buộc bởi quan niệm xưa của nhân dân ta: hồng nhan bạc phận.

3. Vẻ đẹp của Thúy Kiều
- Sau khi khắc hoạ chân dung Thúy Vân, tác giả đã hết lời ca ngợi về vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều:
"Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh"
- Trong lời giới thiệu chung "Kiều càng sắc sảo mặn mà", Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật so sánh giúp người đọc thấy được nét sắc sảo trong tính cách, mặn mà trong tâm hồn của nàng. Không phải vì Vân đẹp hơn Kiều nên được tả trước mà tác giả muốn sử dụng biện pháp đòn bẩy, Vân đã đẹp, Kiều càng đẹp hơn.
- Nếu khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân, Nguyễn Du miêu tả chi tiết cụ thể thì miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, ông lại tập trung vào tả đôi mắt. Đó là đôi mắt sáng long lanh như làn nước mùa thu dưới đôi lông mày thanh tú tràn đầy sức sống như nét núi mùa xuân. Lột tả được vẻ đẹp của đôi mắt là nhà thơ đã lột tả được cái "thần" của khuôn mặt, thể hiện sự tinh anh của tâm hồn và trí tuệ, thật đúng như người ta vẫn thường nói "đôi mắt là cửa sổ tâm hồn".
- Nghệ thuật nhân hóa và cũng là ẩn dụ "hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh" cho thấy vẻ đẹp của Kiều rực rỡ tươi tắn, vượt xa cả cái đẹp của thiên nhiên đến độ thiên nhiên phải ghen hờn đố kị vì thua vì kém.
- Vẻ đẹp nhan sắc của Kiều nhằm dự báo một tương lai không bình yên, bất hạnh với nàng theo quan niệm "trời xanh quen thôi má hồng đánh ghen"
"Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghệ thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân."

- Nguyễn Du sử dụng nghệ thuật nói quá và điển tích "một hai nghiêng nước nghiêng thành" càng nhấn mạnh vẻ đẹp của mỹ nhân khiến người khác phải mê mẩn đến nước mất thành xiêu.
- Không chỉ đẹp mà Kiều còn là cô gái tài hoa hiếm có. Bằng nghệ thuật liệt kê, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy Kiều giỏi làm thơ, vẽ đẹp và cả sáng tác nhạc. Tài nào của nàng cũng giỏi, cũng điêu luyện tới mức có thể trở thành nghề. Nàng hoàn hảo tới mức thông thạo đủ cả: cầm, kì, thi, hoạ, đặc biệt với tài đánh đàn là vượt trội hơn cả, làm xúc động lòng người. Cung đàn "Bạc mệnh" mà nàng tự sáng tác là biểu hiện của một tâm hồn đa sầu đa cảm. Dường như số phận và cuộc đời bạc mệnh trong bản nhạc ấy đã vận vào cả cuộc đời nàng sau này
[tex]\Rightarrow[/tex] Bởi vậy, ta nhận thấy tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du dành cho người phụ nữ phong kiến xưa.

4. Đức hạnh và cuộc sống của hai chị em
"Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai."

- Gia cảnh: họ sống trong gia đình trung lưu và rất nề nếp. Họ có cuộc sống êm đềm, bình lặng
- Hai chị em đã đến tuổi cập kê "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" nhưng chưa từng biết đến chuyện nam nữ => họ vẫn là những thiếu nữ có tâm hồn trong trắng, sống đúng với khuôn phép của lễ giáo phong kiến
- Câu thơ có tới bốn phụ âm "x", hai phụ âm "t", cặp "c-k"
[tex]\Rightarrow[/tex] Qua đoạn trích "Chị em Thúy Kiều", Nguyễn Du đã cho thấy vẻ đẹp "mười phân vẹn mười" của Thúy Vân, Thúy Kiều. Đồng thời qua đó ông cũng thể hiện thái độ trân trọng, đồng cảm đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến



 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Cảnh ngày xuân
~Nguyễn Du~
I. Vị trí đoạn trích
Nằm ở phần thứ nhất của "Truyện Kiều", phần "Gặp gỡ và đính ước", nằm ngay sau đoạn trích miêu tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều
''Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về
Bước
dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang''
II. Bố cục: 3 phần
  • 4 câu đầu: giới thiệu cảnh ngày xuân
  • 8 câu tiếp: cảnh lễ hội trong tiết thanh minh
  • 6 câu cuối: cảnh chị em Kiều du xuân trở về
III. Phân tích
a. Cảnh thiên nhiên mùa xuân
- Hai câu thơ đầu:
+ Hai câu thơ tả thời gian và cảm nhận về bước đi của thời gian. Cảnh ngày xuân tươi đẹp bắt đầu từ hình ảnh chim én đưa thoi. Cụm từ "đưa thoi" miêu tả cánh chim đang chao lịa trên bầu thời giống như những con thoi đang dệt lên bức tranh mùa xuân, đồng thời cụm từ ấy cũng gợi ra ấn tượng về sự chảy trôi của thời gian: nhanh, thấm thoát đã trôi qua rất nhanh
+ "Thiều quang" nghĩa là ánh sáng đẹp, thứ ánh sáng mang tới hi vọng, tràn trề sự sống
+ "Chín chục" - "Sáu mươi": số đếm cụ thể, mùa xuân có 90 ngày, bây giờ đã qua 60 ngày rồi, tác giả sử dụng số đếm như muốn nhấn mạnh thêm sự trôi chảy của thời gian. Cùng với các từ "đã", "ngoài", tác giả đã khéo léo diễn tả sự bâng khuâng, nuối tiếc, giục giã con người sống nhanh lên kẻo mùa xuân đang ở độ chín nhất, căng tràn sức sống nhất
+ Chỉ bằng vài nét phác thảo, không gian đã hiện ra thật khoáng đạt với bầu trời cao rộng, quáng đãng, sáng sủa, điểm vào đó là vài cánh én tự do
- Hai câu sau:
"Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"

+ Cỏ "non xanh": màu xanh của sức sống mãnh liệt, căng tràn nhựa sống
+ Không chỉ là nhánh cỏ, bụi cỏ mà là cả một chân trời "cỏ": giãn nở không gian vô cùng vô tận
+ Bức tranh mùa xuân hiện lên đầu tiên với gam màu xanh tươi mát của thảm cỏ trải rộng đến chân trời. Toàn bộ không gian như nhuốm cả sự sống căng tràn, mãnh liệt ấy. Trên nền xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng.
-> Tất cả tạo nên một bức trang diễm lệ với màu sắc hài hoà, thanh nhã đẹp đến tuyệt diệu.
+ Đảo ngữ "trắng điểm" kết hợp với từ "điểm" như càng nhấn mạnh hơn sắc trắng trong trẻo của hoa lê. Điều đặc biệt là sự xuất hiện của hoa lê của loáng thoáng, không nở rộ, lộ liễu, cảnh vật dường như có hồn hơn, như một người con gái đẹp e ấp, ngại ngùng.
- Sự phối hợp giữa màu xanh và trắng (hai gam màu sáng) qua tay của Nguyễn Du đã gợi ra một bức tranh xuân nhẹ nhàng, thanh khiết.
b. Cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh
- Hai câu đầu:
+ Hai câu thơ đầu sử dụng tiểu đối "lễ là..." - "hội là...." cùng với nghệ thuật tách từ "lễ hội", "lễ tảo mộ" là lòng biết ơn, sự tri ân đối với quá khứ, tổ tiên, "hội đạp thanh" là ngày vui của mùa xuân. Qua đó, tác giả đã miêu tả hai hoạt động cùng xảy ra trong ngày xuân, đồng thời việc tách từ cũng khiến câu thơ trở nên mềm mại, mượt mà hơn
- Sáu câu tiếp:
+ Không khí tưng bừng, tấp nập của ngày lễ hội được miêu tả một cách chi tiết, làm rộn lên không khí náo nức bằng sự kết hợp tàu tình các từ ghép (chị em, gần xa, yến anh) và từ láy (nô nức, sắm sửa, dập dìu) -> Qua đó mà ta thấy được tâm trạng náo nức tươi vui trong lòng người đi du xuân
+ Nghệ thuật ẩn dụ "nô nức yến anh" gợi hình ảnh từng đoàn người đu chơi xuân đông đúc, dập dìu như chim yến chim oanh mà trong đó chủ yếu là nam thanh nữ tú, cũng như thế mà gợi ra những cuộc trò chuyện xôn xao náo nức tình tứ của những đôi uyên ương
+ Biện pháp so sánh "Ngựa xe như nước, áo quần như nêm" gợi sự đông đúc của từng đoàn người chen nhau đi chơi xuân
+ Hai câu thơ còn lại như trái ngược với bốn câu thơ ở trên, nó là khoảng lặng trong ngày xuân. Không còn là không khí náo nhiệt, vui cười như trước đó mà ở đây là sự tri ân, nhớ về người thân đã khuất, cúng bái ông bà tổ tiên, đốt vàng vó, tiền giấy cho người đã mất -> Gợi truyền thống đẹp của nhân dân ta: uống nước nhớ nguồn
c. Cảnh buổi chiều ngày xuân
- Cảnh hoàng hôn hiện ra với hình ảnh mặt trời từ từ lăn ánh nắng cuối ngày đang tắt, không gian trở nên ảm đạm, mờ tối dần. Cảnh vẫn đẹp, vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, dịp cầu nhỏ bắc ngang. Mọi chuyển động nhẹ nhàng như chậm lại, cảnh vật thay đổi, thời gian, không gian cũng thay đổi: mặt trời từ từ ngả về Tây, bước chân người thơ thẩn,..
- Cả một không gian êm đềm, vắng lặng, cái không khí rộn ràng tưng bừng của lễ hội không còn nữa
- Hình ảnh "tiểu khê", nhịp cầu "nho nhỏ": không gian dường như nhỏ bé, thu hẹp lại, lắng vào chiều sâu
- Một loạt hệ thống từ láy được sử dụng "tà tà", "thơ thẩn", "thanh thanh", "nao nao", "nho nhỏ" diễn tả cảnh vật có tâm hồn đồng điệu với con người tao nhã nhưng chứa đựng cái buồn không nói hết. Có thể thấy ở đây, cảnh được cảm nhận bằng tâm trạng nhân vật -> bút pháp tả cảnh ngụ tình
- Qua cảnh vật, tâm trạng con người cũng được diễn tả rõ hơn, đậm nét hơn: lưu luyến, tiếc nuối, bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui sắp tàn
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Kiều ở lầu Ngưng Bích
(Trích "Truyện Kiều")
~ Nguyễn Du~
I. Vị trí đoạn trích
- Nằm ở phần thứ hai của "Truyện Kiều" - phần "Gia biến và lưu lạc"
II. Kết cấu đoạn trích: 3 phần
- Sáu câu đầu: hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều trước lầu Ngưng Bích
- Tám câu tiếp: nỗi nhớ thương Kim Trọng và cha mẹ
- Tám câu cuối: tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cái nhìn cảnh vật
"Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trong mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

III. Phân tích
1. Sáu câu thơ đầu: cảnh ngộ và nỗi niềm cô đơn đến tột cùng của Thúy Kiều
- Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng "khóa xuân" (hai từ "khoá xuân" không phải mang ý nghĩa như những cô gái khác ở nhà đến khi lấy chồng mà nó hàm chứa nỗi xót xa, mỉa mai cho thân phận của Thúy Kiều)
- Nàng trơ trọi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng:
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
+ Những hình ảnh non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng đều cho thấy một quang cảnh rộng lớn đối lập với sự chơ chọi, chênh vênh của lầu Ngưng Bích. Từ trên lầu cao nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát mù mịt. Các hình ảnh này có thể là ảnh thực, cũng có thể là những hình ảnh mang tính ước lệ để gợi lên sự mênh mông rợn ngợp của không gian, càng diễn tả rõ nét hơn tâm trạng cô đơn của Kiều.
+ Từ láy "bát ngát" càng tô đậm cái vô cùng vô tận của không gian. Nghệ thuật liệt kê "cát vàng, cồn nọ, bụi kia" làm cho không giản nổi bật lên sự vắng vẻ, thiếu sự sống, cảnh vật thì ngổn ngang. Sự thực thì trong lòng Kiều, những cảm xúc, tâm trạng, mối lo cũng đang ngổn ngang như thế.
+ Từ "xa trông": trông ngóng, hướng về sự sống, dấu hiệu ấm áp của thiên nhiên, song nàng không tìm được
-> Quang cảnh rộng, trống, cô liêu của thiên nhiên, đồng thời cũng là tâm trạng cô đơn của Kiều
+ Có thể thấy rằng, đối diện với thiên nhiên bát ngát, rộng lớn ấy là một mình Kiều cô đơn, lẻ bóng. Không gian càng rộng lớn bao nhiêu thì con người càng như đơn lẻ bấy nhiêu. Kiều sống trong nỗi bẽ bàng buồn tủi, tâm trạng nàng được khắc họa thật rõ nét trong hai câu thơ tiếp theo
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
- Đây là sự cô đơn lẻ loi đến cùng cực, bị giam lỏng một mình, bầu bạn với Kiều chỉ là sự vật vô tri vô giác.
- Hai chữ "bẽ bàng" được đảo lên đầu câu là tính từ thể hiện tâm trạng xót xa khi cốt nhục bị chia lìa, tình yêu tan vỡ, nhân phẩm bị chà đạp. Tâm trạng thì ngổn ngang trăm mối, trong cái "bẽ bàng" còn có cả nhục nhã, ê chề, điều ấy thật dễ hiểu khi nhìn vào cảnh ngộ hiện tại của nàng.
- Cụm từ "mây sớm đèn khuya" cùng với đó là tiểu đối "mây sớm" - "đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn khép kín, hết ngày dài lại đến đêm thâu, Kiều chỉ biết làm bạn với mây với đèn. Vòng tuần hoàn ấy cứ lặp đi lặp lại, nó như một vòng tròn bi kịch không hồi kết, không lối thoát giam hãm Kiều. Tình thì ngổn ngang trăm mối, cảnh thì bao la bạt ngàn, Kiều thật đáng thương làm sao!

2. Sáu câu thơ tiếp
* Nỗi nhớ chàng Kim
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trong mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
-Không biết chia sẻ với ai, Kiều tự trò chuyện tâm sự với chính mình, hướng nỗi nhớ của mình về những người thân yêu nhất. Người đầu tiên mà Thúy Kiều nhớ tới là Kim Trọng. Có người cho rằng Thúy Kiều nhớ Kim Trọng trước là không hợp lý nhưng ta cần tìm hiểu rõ để thấy được sự tinh tế trong ngòi bút của Nguyễn Du. Khi nàng quyết định bán mình chuộc cha và em tức là đã tạm tròn chữ hiếu nhưng lại dang dở chữ tình nên luôn mang mặc cảm có lỗi với Kim Trọng.Hơn nữa, nàng bị lừa, bị thất thân với Mã Giám Sinh, tình cảm ấy vẫn chưa thể trả nên càng cảm thấy bản thân có lỗi, không xứng đáng với Kim Trọng. Có lẽ đối với Kim Trọng, Kiều đã không thẻ dứt bỏ nỗi ân hận, tâm lí ám ảnh vì đã phụ tình chàng.
+ Nhớ chàng Kim, Kiều nhớ đến đêm thề nguyện đính ước, nàng tưởng tượng chàng Kim đang ngày đêm mòn mỏi chờ mong tin tức của mình.
+ Câu thơ "tấm son gột rửa bao giờ cho phai" có thể hiểu theo hai nét nghĩa. Đó là tấm lòng son sắc thủy chung của Kiều đã bị hoen ố, không thể gột rửa, cũng có thể hiểu đó là tấm lòng thủy chung của Kiều với Kim Trọng sẽ không bao giờ nhạt phai -> Kiều là người con gái thủy chung
* Nỗi nhớ cha mẹ
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
- Nghĩ về cha mẹ lòng Kiều ngập tràn thương xót, nàng lo lắng cho cha mẹ ngày đêm tựa cửa ngóng trông tin nàng, lo cho nàng
- Nàng đau đớn tự trách bản thân. Trách vì chưa tròn chữ hiếu, không thể ở bên để nâng giấc, để quạt nồng ấp lạnh; trách vì khoảng cách xa xôi "mấy năng mưa" nàng không thể vượt qua để về bên cha mẹ, mua vui cho phụ mẫu; hơn thế nữa, nàng nhận thức được sự trôi chảy của thời gian, thời gian trôi đi mỗi khắc mỗi giây đều khiến cha mẹ già yếu đi một chút. -> Kiều là người con hiếu thảo
  • Khi nhớ đến Kim Trọng, tác giả dùng từ "tưởng" (Tưởng người dưới nguyệt chén đồng) còn khi nhớ đến cha mẹ tác giả lại dùng từ "xót"(Xót người tựa của hôm mai) vì:
- Chữ "tưởng"
+ Là nhớ, là mơ tưởng về kỉ niệm đẹp dưới đêm trăng có lời thề giữa hai người
+ Tưởng còn là xót xa, thương cho Kim Trọng vẫn còn chờ đợi, thương cho mình khi phải dấn thân vào bước lạc loài
- Chữ "Xót"
+ Là lo lắng cho cha mẹ đang ngày đêm tựa cửa ngóng tin con gái
+ Là sự tự trách vì chưa tròn chữ "hiếu", không thể ở bên chăm sóc cha mẹ
[tex]\Rightarrow[/tex] Như vậy, mặc dù Kiều đang rất đau khổ, cô đơn nhưng nàng đã quên đi cảnh ngộ của bản thân để nghĩ về những người thân yêu nhất [tex]\rightarrow[/tex] Một người thủy chung, hiếu thảo, giàu lòng vị tha nhân phẩm

3. Tám câu thơ cuối: tâm trạng đau buồn lo âu của Kiều qua cái nhìn cảnh vật
- Đây là đoạn thơ được xem là kiểu mẫu trong lối thơ sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển. Tác giả sử dụng thật tài tình điệp ngữ "Buồn trông" tạo ra hiệu quả nghệ thuật lớn, buồn mà trông ra tứ phía nhưng trông mà vô vọng, trông để mong muốn tìm chút an ủi nhưng ngược lại lại càng thêm sầu não, lo sợ.
- Tám câu thơ với bốn cặp câu, mỗi cặp câu là một ẩn dụ cho một cảnh, một tâm trạng diễn tả những nỗi buồn khác nhau
+ Cảnh một:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

  • Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa bể mênh mông gợi ra cảnh ngộ cô đơn của Kiều, đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi nhớ gia đình, quê hương da diết trong lòng người con "bơ vơ nơi đất khách". Đó là nỗi buồn cho thân phận lênh đênh chìm nổi giữa dòng đời. Tạo dựng một tương phản trong bức tranh thiên nhiên ở hai câu đầu, một bên là cửa bể, một bên là hình ảnh "cánh buồm thấp thoáng" tô đậm sự nhỏ bé lênh đênh, trôi dạt của cánh buồm.
  • Từ chỉ thời gian "chiều hôm" và các từ "thấp thoáng", "xa xa" làm cho cảnh vật lúc ẩn lúc hiện, ở phía xa kia, mong manh yếu ớt trong lúc ngày sắp tàn, giống như niềm hi vọng của Kiều cũng nhỏ bé, mong manh gần như tuyệt vọng. Hoàng hôn thường mang lại cảm giác buồn man mác, khiến lòng người không kìm được mà sầu não, kết hợp trong câu thơ trên càng khiến nỗi buồn thân phận trở nên thấm thía hơn
+ Cảnh hai:
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

  • Hình ảnh ẩn dụ cánh hoa trôi giữa dòng và câu hỏi tu từ "biết là về đâu" gợi ra thân phận lệnh đênh vô định của Kiều. Ta cảm nhận được nàng giống như cánh hoa kia trôi giữa dòng đời đen bạc, sẽ chẳng biết sẽ trôi về đâu.
  • Nàng Kiều thổ lộ tâm tình trong cánh hoa kia, nó trôi, nó dạt về đâu chẳng thể tự mình định được. Cánh hoa nhỏ bé, cứ lênh đênh trên biển như thế giống như sự mất phương hướng, sự bế tắc của Kiều, nàng mù mịt về bản thân, về tương lai, chỉ biết phó mặc cuộc đời cho dòng nước kia xô đẩy, nàng cũng lại càng sợ, cánh hoa sẽ có ngày bị sóng đánh vùi dập giữa biển cuộc đời.
+ Cảnh ba:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

  • Đến đây không phải là cỏ non xanh như trong tiết thanh minh ở "Cảnh ngày xuân" mà là "cỏ rầu rầu", cỏ đã nhuốm màu tâm trạng. Nhìn sắc cỏ, ta có thể thấy được sự đồng điệu với thân phận Kiều lúc này. Cỏ rầu rầu cùng với màu xanh xanh, sắc xanh héo úa, mịt mù trải dài từ mặt đất đến chân mây gợi ra nỗi chán ngán, hiện ra một tương lai mịt mù, vô định phía trước.
  • Nét vẽ không gian vô cùng rộng lớn "nội cỏ", "chân mây", "mặt đất" nhưng phảng phất trong ý thơ là nỗi buồn, sự sợ hãi không thể giấu giếm. Từ láy "rầu rầu" vẽ lên cả một vùng cỏ cây héo úa, tạo ra ý thơ nhân hóa để gợi sầu thương cô lẻ trong Kiều. Từ láy "xanh xanh" kia gợi ra sắc xanh nhạt nhòa, như xa cách, như sự nhạt phai ý nghĩa của cuộc sống này.
+ Cảnh bốn:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sống vây quanh ghế ngồi

  • Cái âm thanh "ầm ầm tiếng sóng" ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống cuộc đời Kiều. Từng lớp sóng thật hãi hùng, ghê sợ. Vì thế mà Kiều lo sợ, kinh hãi và tuyệt vọng.
  • Thiên nhiên là ẩn dụ cho những biến cố kinh hoàng sắp xảy đến với Kiều, thiên nhiên dữ dội và đầy biến động, giận dữ, sóng kêu réo khi thủy triều lên, thậm chí còn có cảm giác những cơn sóng dữ dội kia đang bước ngay sát đến mình. Từng lớp sóng đánh vào là từng cơn lo sợ, kinh hãi và tuyệt vọng của Kiều.
  • Tác giả sử dụng từ láy tăng nghĩa nhằm diễn tả nỗi buồn tăng lên lớp lớp. Cảnh được miêu tả từ xa tới gần, âm thanh từ tĩnh tới động miêu tả một cách tài tình, hợp lí diễn biến tâm trạng của Kiều từ mông lung đến kinh sợ, hãi hùng
  • Các biện pháp nghệ thuật: điệp từ, câu hỏi tu từ,.... cùng với nhiều từ láy diễn tả chân thực tâm trạng của Kiều.
IV. Giá trị nhân đạo và hiện thực qua đoạn trích
  • Nguyễn Du cảm thương cho số phận của Kiều, ông luôn hi vọng nàng có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Nàng chính là hiện thân cho những người phụ nữ xưa, tài sắc vẹn toàn nhưng luôn phải chịu sự bất hạnh.
  • Ông lên tiếng bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với nỗi xót thương đau đớn cho thân phận phụ nữ xưa. Ông đã từng đau đớn chất vấn "thương thay cùng một kiếp người/ hại thay mang lấy sắc tài làm chi".
  • Nguyễn Du sống trong xã hội phong miến nhưng lại dám đi ngược lại những lề thói vô lý của xã hội đó để cất lên bài ca về khát khao tình yêu, tự do, hạnh phúc và bình đẳng.
  • Ông cũng tố cáo những thế lực tàn bạo đã khiến những con người lương thiện, những người phụ nữ vô tội phải chịu khổ sở, điêu đứng....
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Đồng chí
~ Chính Hữu ~

I. Tác giả
- Chính Hữu (1926 - 2007), quê Can Lộc, Hà Tĩnh
- Là nhà thơ trưởng thành trong cả hai cuộc kháng chiến. Ông làm thơ từ năm 1947, tác phẩm hầu hết đều viết về người lính và chiến tranh, thơ ông cảm xúc dồn nén, chân thành và hàm súc

II. Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: "Đồng chí" được sáng tác vào đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) và in trong tập "Đầu súng trăng treo" (1966)
- Nhan đề: "Đồng" là cùng, "chí" là chí hướng, "đồng chí" có nghĩa là cùng chung lí tưởng, chung chí hướng. Ngay từ nhan đề, Chính Hữu đã cho thấy bài thơ "Đồng chí" là bài thơ khẳng định tình đồng chí đồng đội xuất phát từ những người có cùng điểm chung
- Bố cục: 3 phần
+ 7 câu đầu: cơ sở hình thành tình đồng chí
+ 10 câu tiếp: biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí
+ 3 câu cuối: biểu tượng cao đẹp giàu chất thơ của tình đồng chí

III. Phân tích
1. Cơ sở hình thành tình đồng chí
"Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau"

- Hai câu thơ sóng đôi, đối nhau rất chỉnh mở đầu bài thơ vừa tạo sự đăng đối cho câu thơ vừa thể hiện sự tương đồng về cảnh ngộ
- Tác giả sử dụng hai thành ngữ "nước mặn đồng chua" và "đất cày lên sỏi đá" để giới thiệu về quê hương "anh" và "tôi". Những người lính cùng có xuất thân là nông dân ở những miền quê nghèo khó, lam lũ cùng với nhau hội tụ về đây, người thì ở miền biển, người thì từ miền núi trung du
"Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!"

- Là những người xa lạ, không quen biết nhưng họ đến đây vì một mục đích, một nhiệm vụ, một lý tưởng. Họ cầm súng chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bằng hai hình ảnh sóng đôi cùng với hình ảnh hoán dụ đã khẳng định rõ cơ sở hình thành
- Tình đồng chí còn được nảy nở và trở thành bền chặt trong sự chan hòa, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, nỗi buồn đó là mối tình tri kỷ của những người bạn chí cốt
  • Câu thơ thứ bảy là một câu đặc biệt chỉ có hai tiếng và một dấu chấm than.
+ Nó như một nút nhấn, một điểm tựa, điểm chốt, như một đòn gánh, gánh hai đầu là những câu thơ đồ sộ.
+ Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm xúc động, lắng đọng về hai tiếng mới mẻ và thiêng liêng đó.
+ Câu thơ như cái bản lề gắn kết phần I và phần II của bài thơ
+ Không những thế, nó còn làm bừng sáng cả bài thơ

2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí
"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ giớ lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính"

- Tình đồng chí là sự cảm thông những tâm tư nỗi niềm của nhau, hiểu bạn như hiểu mình
+ Ruộng nương, căn nhà là cả cơ nghiệp của người nông dân. Vậy mà họ đã gác lại tất cả để ra đi đánh giặc
+ Ra đi mà biết rằng cả cơ nghiệp của mình hoang trống, biết người thân trống trải nhưng cũng mặc kệ thì đó quả là sự hy sinh lớn lao, là quyết tâm ra đi mà không hề dửng dưng vô tình
- Hình ảnh hoán dụ và phép nhân hóa ở câu thơ thứ ba trong đoạn thơ gợi ra nỗi nhớ hai chiều
- Không chỉ chia sẻ cùng nhau những niềm vui nỗi buồn mà họ còn chia sẻ những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính
''Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay''

+ Những người lính trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cùng chịu bệnh tật, cùng phải trải qua những cơn sốt rét rừng ghê gớm, họ cùng thiếu cùng rách
+ Sự gắn bó đồng cảm đã giúp các anh vượt qua tất cả sự thiếu thốn đó
+ Tác giả đã xây dựng những cặp câu sóng đôi đối xứng nhau. Đáng chú ý là bao giờ người lính cũng nói về bạn trước khi nói về mình, chữ "anh" bao giờ cũng xuất hiện trước chữ "tôi"
+ Nghệ thuật liệt kê "áo", "quần", "chân", "tay" đã tô đậm thêm sựu khó khăn cùng cực, những thiếu thốn gian khổ của cuộc kháng chiến. Nếu không có những từ ngữ sóng đôi trong bốn câu thơ, người đọc sẽ ái ngại trước sự ôn nghèo kể khổ của nhà thơ, tuy nhiên những hình ảnh ấy lại cho ta thấy sự sát cánh bên nhau của người lính để cùng vượt qua hết cái khắc nghiệt, thử thách của chiến tranh
+ Chính tình đồng đội đã tiếp thêm cho họ động lực để vượt lên buốt giá, mỉm cười đi qua gian lao, lạc quan và yêu đời. Miệng cười vang lên giữa cái khắc nghiệt của thời tiết. Đó là nụ cười tái nhưng lại mang sức mạnh to lớn để chiến đấu với kẻ thù
+ Cụm từ "thương nhau" là tình thương xuất phát từ hai phía: thương về những thiếu thốn phải trải qua, thương vì phải để lại toàn bộ quê hương mà ra đi chiến đấu
+ Hành động "nắm lấy bàn tay" thật ấm áp, thật đẹp biết bao. Đây là một cử chỉ rất cảm động chứa chan tình cảm chân thành. Qua cái bắt tay, họ truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau niềm tin, ý chí và nghị lực. Họ gắn bó với nhau trong đời thường để cùng gắn bó trong chiến đấu, cùng sống cùng chết cho lí tưởng. Bằng ý nghĩa cao đẹp đó, câu thơ đã trở thành hình ảnh ẩn chứa sức mạnh lớn lao của người lính

3. Biểu tượng cao đẹp giàu chất thơ về tình đồng chí
"Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo"

- Hai câu thơ đầu sử dụng từ ngữ hình ảnh chân thực "rừng hoang sương muối" mở ra một không gian và thời gian hoang vu, vắng vẻ, lạnh giá của Đêm Đông
- Chính ở cái nơi vô cùng khó khăn gian khổ "rừng hoang sương muối" ấy thì tình đồng chí của họ lại hiện lên thật thiêng liêng, cao đẹp
- Trên cảnh nền hùng vĩ và khắc nghiệt của thiên nhiên những người lính phục kích chờ giặc tới trong tư thế chủ động. Họ sát cánh bên nhau tạo nên một sức mạnh vô cùng như một bức tượng đài vững chắc trước kẻ thù. Cụm từ "đứng cạnh bên nhau" thay cho các đại từ nhân xưng "anh- tôi" càng tô đậm sự kề vai sát cánh của những người lính. Động từ "chờ" cho thấy tư thế chủ động của người lính trong đêm phục kích. Đó cũng là tinh thần trách nhiệm của những người lính trước giờ phút bước vào trận đánh
- Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh giữa khung cảnh và toàn cảnh. Khung cảnh thì lạnh lẽo buốt giá nhưng toàn cảnh lại ấm áp tình đồng đội
- Hình ảnh "Đầu súng trăng treo" là hình ảnh độc đáo bất ngờ là điểm nhấn của toàn bài.
- Đây là hình ảnh thực vừa là hình ảnh lãng mạn. Nó gợi ra sự liên tưởng thú vị của thiên nhiên trong mát, của cuộc sống thanh bình, người lính cầm súng chiến đấu để bảo vệ hòa bình cho Tổ quốc
- Súng và trăng là gần và xa, là chiến sĩ và thi sĩ, là thực tại và mơ mộng, tất cả hòa quyện bổ sung cho nhau trong cuộc đời người
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Đoàn thuyền đánh cá
~ Huy Cận ~
I. Tác giả
- Huy Cận (1919 - 2005) tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Vụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
- Nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập "Lửa thiêng" (1940)
- Năm 1996, được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
II. Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: Giữa năm 1958 Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh, đứng trước thiên nhiên đẹp đẽ hùng vĩ với tư cách của những con người làm chủ đất trời, được tiếp xúc và chứng kiến cuộc sống lao động mới của những con người lao động trên biển, hồn thơ Huy Cận đã thực sự hồi sinh. Bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" được ra đời trong hoàn cảnh ấy và in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lại sáng"
- Nhan đề "Đoàn thuyền đánh cá" xét về mặt cấu tạo là một cụm danh từ vừa có nghĩa thực vừa có nghĩa biểu tượng. Đoàn thuyền đánh cá trước hết là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với người lao động trên biển. Song nó còn mang ý nghĩa biểu tượng cho khí thế lao động mới - tinh thần đoàn kết, lạc quan, làm chủ biển trời. Một đoàn thuyền chứ không phải một con thuyền gợi không khí lao động hăng say, gợi nhịp sống mới sau chiến tranh
III. Phân tích
Khổ 1:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

- Thời điểm đoàn thuyền ra khơi là khi hoàng hôn buông xuống. Với hình ảnh so sánh kỳ lạ "mặt trời" với "hòn lửa", nhà thơ không chỉ cho thấy hình ảnh, màu sắc đỏ rực của vầng thái dương lúc hoàng hôn mà còn cho ta thấy một không gian rộng lớn của biển cả.
- Hình ảnh mặt trời đỏ, rực rỡ, tràn đầy sức sống đã gây ra một bức tranh hoàng hôn kỳ vĩ tráng lệ. Bức tranh hoàng hôn tuyệt đẹp ấy được nhìn từ điểm nhìn nghệ thuật rất đặc biệt: trên chính con thuyền đánh cá ra khơi
- Nghệ thuật nhân hóa và hình ảnh ẩn dụ trong câu thơ thứ hai cùng liên tưởng độc đáo: vũ trụ như một ngôi nhà khổng lồ, những con sóng nhấp nhô làm then cài cửa còn màn đêm đang từ từ hạ xuống là then cửa. Cái thi vị của những hình ảnh so sánh ẩn dụ này là hướng thiên nhiên về phía con người, nâng tầm thiên nhiên để nâng tầm con người.
- Hai câu thơ sau, chữ "lại" diễn tả hoạt động lặp đi lặp lại của con thuyền, một chuyến ra khơi trong muôn vàn chuyến ra khơi. Đồng thời miêu tả hoạt động trái chiều giữa hoạt động của vũ trụ với hoạt động của con người: vũ trụ khép vào màn đêm yên tĩnh, trở về trạng thái nghỉ ngơi, con người bắt đầu một ngày lao động mới. Câu thơ gợi ra một nhịp sống thanh bình của quê hương đất nước.
- Cách nói quá trong câu thơ thứ tư của khổ thơ đã cho ta thấy khí thế lao động hào hứng hăng say của đoàn thuyền, nó ra khơi với khí thế phơi phới, mạnh mẽ và niềm vui sức mạnh của những con người làm chủ biển trời
Khổ 2: Đoàn thuyền không chỉ hát khi bắt đầu hành trình ra khơi mà còn cất lên tiếng hát ca ngợi biển cả ngay khi đang làm việc:
“Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!”

Thủ pháp liệt kê: cá bạc, cá thu vừa diễn tả niềm tự hào của người lao động được làm chủ biển trời vừa ngợi ca sự giàu có của biển cả quê hương. Nhà thơ Huy Cận thật sáng tạo khi liên tưởng cảnh tượng đàn cá bơi giống như con thoi của khung cửi dệt. Hình ảnh ấy vừa thể hiện trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ vừa gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh đoàn cá thu thon dài bơi lượn như thoi đưa, chúng đang dệt một tấm vải giữa biển đêm bao la, kì vĩ. Tài nguyên của biển giàu có là thế nên chủ cần một câu hát, một tiếng gọi để thu cá vào lưới. Câu hát cuối khổ thơ vang lên vừa thiết tha, ngọt ngào vừa gần gũi “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!” thể hiện niềm vui phơi phới và hứa hẹn một chuyến ra khơi thành công
Khổ 3: Trong khung cảnh bao la của biển trời hình ảnh con thuyền đánh cá của những người ngư dân hiện lên thật đẹp, thật thơ mộng:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng”

Biện pháp khoa trương và bút pháp lãng mạn đã biến con thuyền trở nên kỳ vĩ, khổng lồ hòa nhập với kích thước vũ trụ. Cảnh thực mà như ảo, giữa mênh mông trời nước con thuyền là trung tâm vừa đẹp vừa khỏe khoắn lướt lên to lớn, hào hùng đầy thơ mộng, nó có gió làm lái, trăng làm buồm, lướt đi giữa biển bằng mà như lướt trên mây cao. Hàng loạt các động từ mạnh rải đều trong từng dòng thơ diễn tả chuyến ra khơi đánh cá giống hệt như một trận đánh hào hùng, mà trong đó, con thuyền là hội tụ đầy đủ sức mạnh, còn con người là những chiến sĩ dũng cảm: cũng thăm dò, cũng dàn đan thế trận, giăng lưới, bủa lưới. Hai chữ “thuyền ta” đứng đầu khổ thơ- sau nó là rất nhiều hành động của con người vừa tạo ra lối thơ vắt dòng vốn quen thuộc trong thơ Huy Cận đồng thời thể hiện niềm tự hào của nhà thơ khi được gắn bó thân thiết với con thuyền
Khổ 4, 5:
"Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào."
-
Sự giàu có của biển
+ Bằng nghệ thuật liệt kê tên các loại cá quý và tách thành ngữ dân gian "chim, thu, nhụ, đé" thành "cá nhụ cá chim cùng cá đé" làm cho câu thơ trở nên nhẹ nhàng, uyển chuyển
+ "Cá song lấp lánh đuốc đen hồng" được sử dụng nghệ thuật ẩn dụ với nét vẽ nhiều màu sắc "đen hồng", "vàng chóe" khiến nhà thơ giống như một họa sĩ đang thổi hồn vào bức tranh cá những màu sắc tuyệt đẹp
+ Nghệ thuật ẩn dụ ở câu thơ thứ hai là sáng tạo thú vị của nhà thơ. Bằng sự nhạy cảm tinh tế cùng trí tưởng tượng phong phú đã liên tưởng cái thân dày và dài cùng với những chấm tròn màu đen hồng trên vẩy của nó giống như cây đuốc lấp lánh dưới ánh trăng đêm. Đàn cá song đã tạo nên một đêm hội đuốc tưng bừng, lấp lánh.
- Biển bao dung
+ Nghệ thuật so sánh "biển như lòng mẹ" khiến biển trở nên thật ấm áp, thật bao dung, sẵn sàng dâng tặng những gì quý giá nhất của bản thân cho con người. So sánh biển với mẹ, con người còn thể hiện sự biết ơn vô cùng đối với biển cả
+ Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành niềm vui, giao hòa cùng thiên nhiên, bài hát làm không khí lao động thêm tươi vui, công việc lao động bớt mệt nhọc. Trong ái nhịp lãng mạn, sóng cũng như đang xô bóng trăng dưới nước cùng gõ vào mạn thuyền với con người để xua cá vào lưới. Như vậy, thiên nhiên đã cùng với con người hòa hợp trong lao động
+ Đất nước ta, đặc biệt là vùng biển có thế mạnh về đánh bắt hải sản, có lợi cho phát triển kinh tế, chúng ta cần đẩy mạnh hoạt động đánh bắt có lợi. Con người cũng là một lợi thế, với kinh nghiệm dày dặn, sự kiên trì, bền bỉ, người ngư dân đã và đang ngày đêm bám biển, vận dụng sức mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Khổ 6:
“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng Đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”

"Sao mờ" nghĩa là trời sắp sáng, một ngày mới đang đến. Vì vậy nhịp độ công việc càng sôi nổi, gấp rút hơn. Nó thể hiện ở nhịp thơ nhanh, gấp gáp trong câu thơ đầu. Trung tâm của bức tranh này là hình ảnh người dân chài đang kéo lưới. Con người ấy được khắc họa với những đường nét gân guốc, chắc khỏe, cơ bắp đang cuồn cuộn kéo mẻ lưới trĩu nặng. Hình ảnh họ trở thành tượng đài vững chắc tạc vào thiên nhiên lộng lẫy hùng vĩ. Đến câu thơ cuối với nhịp thơ chậm rãi cho ta thấy niềm thanh thản, vui tươi, tâm trạng thoải mái của người lao động trước kết quả tốt đẹp
Khổ 7:
“Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”

Câu hát mở đầu khổ thơ cất lên khi hành trình đánh cá bắt đầu và nó đã theo suốt cả hành trình. Để rồi giờ đây nó lại vang lên khi đoàn thuyền trở về. Sự xuất hiện câu thơ gần như là một sự láy lại của câu thơ đầu khổ đầu khiến người đọc thấy câu hát ấy sau một hành trình dài vẫn vẹn nguyên một tình yêu, một niềm tin đối với lao động. Việc lặp lại khúc hát đem đến cho bài thơ kết cấu đầu cuối tương ứng, có tính trọn vẹn cả bài thơ như một khúc ca lao động đầy say mê hứng khởi. Biện pháp nhân hóa và nói quá ở câu thơ thứ hai trong khổ thơ đã diễn tả tuyệt vời cảnh đoàn thuyền phóng như bay về bến để giành lấy thời gian. Trong cuộc chạy đua ấy, con người đã chiến thắng. Họ trở về trong một tư thế sánh ngang với vũ trụ, làm chủ thiên nhiên. Hình ảnh mặt trời khép lại một hành trình và mở ra ngày mới. Biện pháp nhân hóa ở hình ảnh "mặt trời đội biển" cùng với nghệ thuật hoán dụ ở câu thơ cuối đã cho thấy đoàn thuyền thắng lợi trở về, thể hiện khí thế hùng mạnh của con người làm chủ đất nước, đất trời và biển cả. Ý thơ phảng phất không khí thần thoại, anh hùng ca- bản anh hùng ca lao động.

  • Trong bài thơ có rất nhiều từ hát
Ý nghĩa:
+ Đó là khúc ca ca ngợi cuộc sống lao động và sự giàu đẹp của thiên nhiên, của đất nước
+ Khúc ca tạo nên bằng sự hài hoà giữa âm thanh, nhịp điệu và những động tác nhịp nhàng của con người với sự vận động tuần hoàn của thiên nhiên, vũ trụ. Khúc hát được cất lên là niềm vui sướng, hạnh phúc của người lao động có tự do được làm chủ biển trời, làm chủ cuộc đời
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Bài thơ về tiểu đội xe không kính
~ Phạm Tiến Duật ~
I. Tác giả
- Phạm Tiến Duật (1941 – 2007) quê ở Thanh Ba, Phú Thọ. Sau khi tốt nghiệp trường đại học Sư phạm Hà Nội, năm 1964, ông gia nhập quân đội, hoạt động ở tuyến đường Trường Sơn.
- Ông là nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
- Đề tài chủ yếu: thường viết về hình tượng người lính và những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn
- Giọng thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc
II. Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
- “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được viết năm 1969 khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt, đặc biệt tuyến đường Trường Sơn đã trở thành trọng điểm bắn phá của máy bay Mĩ
- Bài thơ được in trong tập “Vầng trăng quầng lửa” (xuất bản năm 1969)
2. Nhan đề
- Nhan đề bài thơ khá dài, lạ, tưởng như có chỗ thừa
- Xét về logic, hai chữ “bài thơ” không thật cần thiết xuất hiện ở nhan đề vì bản thân tác phẩm đã bao hàm nghĩa bài thơ rồi. Tuy nhiên hai chữ này xuất hiện là để đảm trách một nhiệm vụ nghệ thuật: tạo ra sự tương phản với vế còn lại; nếu vế trước là chất thơ, là nghệ thuật thì vế sau là hiện thực trần trụi. Bằng cách ấy, nhan đề đã gây được sự chú ý của người đọc, làm nổi bật hình ảnh của những chiếc xe không kính. Cũng qua nhan đề bài thơ, tác giả nêu ra tuyên ngôn nghệ thuật: khai thác chất thơ từ hiện thực trần trụi
3. Bố cục: Bài thơ xuất hiện hai hình ảnh
- Những chiếc xe không kính
- Người lính lái xe
III. Phân tích
1. Hình ảnh những chiếc xe không kính
- Trong “bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã sáng tạo nên một hình ảnh thơ thật mới lạ, độc đáo, đó là hình ảnh những chiếc xe không kính. Thông thường trong thơ ca, hình ảnh tàu thuyền xe cộ đi vào thơ ca đều được mĩ lệ hóa, lãng mạn hóa trở thành những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng nhưng đến với Phạm Tiến Duật, ông lại đưa hình ảnh những chiếc xe không kính thật đến trần trụi hơn bao giờ hết. Điệp khúc “xe không kính” lặp lại trong nhan đề, khổ thơ thứ nhất, khổ thơ thứ 3, khổ 4 và khổ 7; cụm từ “kính vỡ” lặp lại ở khổ 1 và 5
“Không có kính không phải vì xe không có kính”
- Câu thơ đầu với điệp từ "không" liên tiếp như một lời thông báo xe không kính không phải là do nhà sản xuất tạo ra, vốn dĩ nó cũng có kính. Xe bị tàn phá bởi bom của kẻ thù, bởi sự khốc liệt của chiến tranh
"Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi"
- Điệp từ "bom" + hai động từ mạnh "giật", "rung" nhấn mạnh sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh anh câu thơ lý giải nguyên nhân thật mộc mạc gần với văn xuôi, có giọng thản nhiên
- Bom đạn chiến tranh làm cho những chiếc xe biến dạng thêm và trần trụi hơn
"Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước"
- Không một chút cầu kỳ, tô vẽ, những chiếc xe không kính hiện lên như vốn dĩ nó có ở ngoài đời thực. Nó bị hỏng hóc, thiếu thốn đủ các bộ phận, có méo mó, có biến dạng đến thảm hại. Đó là minh chứng hùng hồn cho những gian khổ, thiếu thốn của cuộc đời người lính trên chặng đường hành quân vất vả
- Điệp từ "không có" xuất hiện 3 lần kết hợp với nghệ thuật liệt kê làm nổi bật không khí của chiến trường. Từ những hình ảnh chiếc xe không kính mà ta có thể tưởng tượng được ra bao nhiêu nguy hiểm khác nữa
2. Hình ảnh những người lính lái xe
a. Tư thế ung dung hiên ngang tinh thần lạc quan dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ
"Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng"

- Phép đảo ngữ đặt từ "ung dung" lên đầu làm nổi bật tư thế vững chãi của người lính lái xe
- Điệp từ "nhìn" cùng với nhịp thơ đều đặn 2/2/2 khẳng định tinh thần dũng cảm hiên ngang bất khuất của những người lính lái xe. Đặc biệt cái nhìn thẳng là cái nhìn không hề né tránh, run sợ, dám đương đầu với khó khăn thử thách
"Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
....Như sa như ùa vào buồng lái"

- Bằng tinh thần lạc quan những người lính lái xe đã biến những khó khăn nguy hiểm thành điều kiện, thành niềm vui. Hiện thực thì vô cùng khốc liệt nhưng bằng một nghị lực phi thường, một tâm hồn lãng mạn những vật đó trở thành người bạn đồng hành cùng người lính ra chiến trận
- Hình ảnh con đường chạy thẳng vào tim là một ẩn dụ đẹp đó là con đường cách mạng - con đường trái tim người lính

b. Tâm hồn sôi nổi của tuổi trẻ tình đồng chí đồng đội sâu sắc
"Không có kính ừ thì có bụi
....khô mau thôi"

- Thiên nhiên đó là sự khắc nghiệt của gió, mưa, bụi. Không có kính chắn gió, các anh phải đối mặt với tất cả những khó khăn thử thách ấy: nào gió lùa mất đắng, nào cánh chim trời đột ngột bất ngờ
- Điệp từ "nhìn" kết hợp với những động từ "sa, ùa" càng tô đậm những khó khăn gian khổ mà người lính phải trải qua trên cung đường Trường Sơn
- Nhưng với một thái độ ngang tàn bất chấp khó khăn gian khổ và tinh thần quả cảm những người lính lái xe buông những lời chắc gọn "không có... ờ thì" như một lời nói thường, biến những khó khăn thành điều thú vị
- Bằng giọng thơ tiểu táo và nghệ thuật nhân hóa ẩn dụ "Gió xoa mắt đắng" đã làm cho hiện thực gian khổ bị mờ đi, hóa ra không có kính không phải là dở mà lại là cái hay bởi qua ô cửa kính vỡ người lính được giao hoà trực tiếp với thiên nhiên, họ không hề cô đơn mà hình như cả đất trời, cả những ánh sao, cả thiên nhiên, cả vũ trụ đang cùng người lính băng qua tiền tuyến
- Nghệ thuật điệp cấu trúc "không có kính Ừ thì" đã nhấn mạnh thái độ ngang tàn, thách thức, xem nhẹ bất chấp khó khăn gian khổ của những chàng trai trẻ. Bom đạn của kẻ thù không làm các anh chùn bước thì gió bụi mưa sa của đáng kể gì
- Giọng ngang tàn đó còn thể hiện rõ qua các hình ảnh thơ "phì phèo châm điếu thuốc", "cười haha". Những người lính đã bình thường hóa những điều tưởng chừng không bình thường, họ chấp nhận gian khổ như một điều tất yếu
- Hình ảnh thơ so sánh "bụi phun tóc trắng như người già" và "mưa tuôn mưa xối như ngoài trời" là cách ví von đầy dí dỏm, vui tươi, sôi nổi: trên con đường ra trận những mái đầu xanh của các chàng trai trẻ đã bị bụi đường nhuộm trắng, đã bị mưa làm ướt như đứng giữa trời
- Đây chắc chắn hình ảnh của những chàng trai trẻ ở độ tuổi mười tám, đôi mươi. Họ vô cùng tếu hóm "phì hèo châm điếu thuốc", "cười haha". Tâm hồn sôi nổi ấy gợi một cảm giác nhẹ nhõm thanh thản, xua tan mọi khó khăn
"Những chiếc xe từ trong bom rơi
....vỡ rồi"

- Con đường giải phóng miền Nam là con đường đi tới chính nghĩa. Họ càng đi càng có thêm nhiều bạn. Cái bắt tay đã đủ ấm lòng đẻ động viên nhau cảm thông cho nhau
- Khái niệm về gia đình của họ cũng thật là tếu hóm "chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy". Tình cảm thật sâu nặng thiêng liêng, xích lại gần nhau trong những cái chung
- Những sinh hoạt nghỉ ngơi của các anh cũng thật giản dị, gian khổ nhưng tâm hồn người lính vẫn luôn vui tươi lạc quan
"Võng mắc chông chênh đường xe chạy
...trời xanh thêm"

"Chông chênh" gì thì chông chênh nhưng ý chí chiến đấu của người lính vẫn vững vàng kiên định, vượt lên trên tất cả

c. Ý chí chiến đấu vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
"Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim"

- Biện pháp liệt kê và điệp ngữ "không có" được nhắc lại ba lần nhấn mạnh sự thiếu thốn đến trần trụi của những chiếc xe đồng thời cũng cho ta thấy mức độ ác liệt của chiến trường
- Nhưng điều kỳ diệu là không gì có thể cản trở nổi sự chuyển động kỳ diệu của những chiếc xe trơ trụi ấy. Điều này được tác giả giải thích bất ngờ và chí lý "chỉ cần trong xe có một trái tim"
- Bom đạn quân thù có thể làm biến dạng chiếc xe nhưng không bao giờ đè bẹp được tinh thần ý chí chiến đấu của những người lính
- Đối lập với cái không có ở trên là một cái có ở dưới. Đó là trái tim sức mạnh của người lính
- Hình ảnh hoán dụ "trái tim" là hình ảnh gợi ra biết bao ý nghĩa: đó là trái tim yêu nước, trái tim can trường. Trái tim ấy hội tụ tất cả vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người lính lái xe
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
Bếp lửa.
~ Bằng Việt ~
I, Tác giả:
- Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (Nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông làm thơ từ những năm 60 của thế kỉ XX và thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ông hiện là chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội.
- Các tác phẩm chính của Bằng Việt gồm: Hương cây - Bếp lửa (in chung với Lưu Quang Vũ, 1968), Những gương mặt - những khoảng trời (1973), Đất sau mưa (1977), Khoảng cách giữa lời (1948), Phía sau mặt trăng chìm (1995), Ném câu thơ vào gió (2001), Thơ Bằng Việt (2003),...

II, Tác phẩm:
1, Nội dung:
- Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên ngành luật ở nước ngoài (Liên Xô cũ). Bài thơ sau đó được đưa vào tập Hương cây - Bếp lửa - tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ (NXB Văn học, 1968).
- Bài thơ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu yêu thương, đùm bọc; những kỉ niệm về tuổi thơ gian khổ trong thời kì kháng chiến khó khăn của đất nước. Bài thơ thể hiện lòng kính trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.
2, Nghệ thuật:
- Thành công của bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả, tự sự với biểu cảm và bình luận. Sự sáng tạo hình tượng bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi kỉ niệm, cảm xúc và suy tư về tình bà cháu.
- Xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa gần gũi, vừa gợi lên nhiều liên tưởng mang ý nghĩa biểu tượng. Viết theo thể thơ tám chữ, phù hợp với giọng điệu cảm xúc, hồi tưởng và suy ngẫm. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả, tự sự, nghị luận và biểu cảm.

III, Phân tích:
a, Những hồi tưởng về bà, về kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu.
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

+ Điệp ngữ "một bếp lửa" gợi lên một hình ảnh vô cùng đối với mỗi miền quê Việt Nam. Kết hợp thêm các từ láy "Chờn vờn", "Sương sớm" và phép ẩn dụ ẩn dụ "nắng mưa" diễn tả cuộc đời lận đận, khó nhọc của bà.
+ Hình ảnh bếp lửa gần gũi, quen thuộc đã khơi nguồn dòng cảm xúc cho tác giả dòng về bà.
+ Cảm xúc dâng lên trong lòng tác giả cùng với kí ức và hồi tưởng.

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

+ Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
+ Gợi lại tuổi thơ bên bà với nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn.
+ Bếp lửa là sự can trường, bền bỉ của cả bà và cháu cùng những người dân ở hậu phương một thời phải thắt lưng buộc bụng để vượt qua cái "đói mòn đói mỏi".
+ Hoàn cảnh gian lao của đất nước khiến tuổi ấu thơ cũng sớm trưởng thành, sớm hình thành ý thức trách nhiệm để đổi nhóm lửa nghĩ thương bà khó nhọc bởi để có thể nhóm lên ngọn lửa mỗi ngày, để duy trì được đời sống của hai bà cháu với khẩu phần đạm bạc, ít ỏi, bà đã phải nỗ lực rất nhiều.

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngà ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

+ Ẩn dụ, điệp ngữ, liệt kê.
+ Tình cảm ấm áp, công lao to lớn của bà đối với cháu và lòng biết ơn chân thành, tình yêu thương sâu sắc của cháu đối với bà.
+ Âm thanh của tiếng chim tu hú gợi hình ảnh đồng quê, nỗi nhớ mong da diết về gia đình, quê hương, mong đến ngày đoàn tụ.

b, Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
"Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!".
+ Chiến tranh khốc liệt, sức chịu đựng phi thường và sự hi sinh cao cả.
+ Đoạn văn giàu cảm xúc. Người bà không chỉ thay thế vị trí của người cha, người mẹ chăm cháu học, lo cho cháu từ miếng ăn đến giấc ngủ, tất cả những sự tận tụy chăm sóc đều dành cho cháu. Bà còn là hậu phương vững chắc cho con nơi chiến trường an lòng hoàn thành nhiệm vụ.
+ Cái khổ, cái hiện thực mà bà cháu phải gánh chịu, đó là sự hi sinh cao cả của bà - một bà mẹ Việt nam anh hùng.

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng....
+ Điệp ngữ, ẩn dụ
+ Hình ảnh ngọn lửa và tình cảm thấm thía của tác giả đối với bà.
+Tình bà như ngọn lửa thắp sáng niềm tin cho cháu, một niềm tin bất diệt. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
+ Tác giả không dùng hình ảnh bếp lửa cho hai câu sau, ngọn lửa đã chuyển sang nghĩa ẩn dụ, tượng trưng chứ không cò mang nghĩa thực như "bếp lửa bà nhen" nữa. Khi đồng nhất với niềm tin, tình yêu thương của bà dành cho cháu thì cho cách Mạng, cho đất nước, quê hương thì ngọn lửa thích hợp hơn bởi hình dáng, tính chất của nó (lửa cháy thành ngọn, mỗi lúc một lớn hơn, phát sáng và có tác dụng soi rọi, tỏa chiếu, sưởi ấm).


Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
- Đảo ngữ, ẩn dụ, đối.
+ Cuộc đời bà vất vả.
+ Bếp lửa cũng là niềm hạnh phúc, ấm no mà hòa bình mang lại, với tất cả sự yêu thương, chăm chút của bà.

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
- Điệp ngữ
- Bếp lửa bà nhóm lên mỗi sớm mai là nhóm lên niềm yêu thương, niềm sưởi ấm, san sẻ. Tình bà thương cháu nồng đượm như bếp lửa quê hương. Người cháu kính yêu, quý trọng bà.
+ Bếp lừa và bà là hai hình ảnh sóng đôi, gắn bó khăng khít với nhau trong suốt bài thơ. Bếp lửa trở thành cái cớ để tác giả hồi tưởng về những kỉ niệm cùng bà trong suốt những năm đói nghèo gian khổ, trong những gày chạy giặc, chống càn, trong cả cuộc kháng chiến kiên cường, bền bỉ cũng như những ngày hạnh phúc chúc mừng Cách Mạng thành công chia sẻ ngọt bùi.
+ Nhớ về bà là người cháu nhớ đến bếp lừa và nhắc đến bếp lửa là nghĩ ngay dến bà.
+ Bếp lửa đã trở thành một hoán dụ tượng trưng về bà và hơn thế nữa, là hiện thân của cả quê hương gian khổ mà biết mấy thân thương, keien cường, anh dũng.

+ Chính vì vậy, bếp lửa có thể chứ đựng sức mạnh lớn lao và mang trong nó biết bao ý nghĩa "kì lạ và thiêng liêng".


Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
+ Bếp lửa là hình ảnh quê hương, bà cũng là hình ảnh quê hương.
+ Khép lại khổ thơ là câu thơ nặng trĩu truyền lửa cho cháu.

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà đã nhóm lửa lên chưa? ...
+ Câu hỏi tu từ. Nỗi nhớ khắc khoải, thường trực, đau đớn, khôn nguôi. Luôn nhớ về bà, về quê hương và nguồn cội.
+ Tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ gần gũi, chân thực, giản dị và xúc động. Đó vừa là tình cảm truyền thống của người Việt Nam vừa là tình cảm gắn với hoàn cảnh riêng của nhân vật trữ tình. Tình cảm bà cháu được thể hiện qua hồi ức với những kỉ niệm sinh động về tuổi thơ được bà đùm bọc, chở che trong gian khó qua những cảm xúc, suy tư, nỗi lòng thương nhớ, trân trọng, biết ơn của người cháu ở nơi xa hướng về bà.
+ Tình cảm bà cháu càng thấm đậm ân tình, cao cả và đẹp đẽ hơn khi hòa quyện, gắn liền với tình cảm của nhân dân, quê hương, đất nước, với kháng chiến và cách Mạng. Bài thơ không chỉ là hồi tưởng, tâm tình của người cháu với bà mà còn là bài học về tình yêu quê hương, đất nước, bài học về lẽ sống làm người.
 
Last edited:

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
Làng
~ Kim Lân ~
I, Tác giả:
- Kim Lân (1920 - 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài. Nhà văn chỉ học hết tiểu học rồi sau đó phải đi làm thơ. Năm 1944, ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc và bắt đầu con đường viết văn, cộng tác cho những tờ báo như: Chi Lăng, Xông Pha, Dân quân Việt Bắc.
- Kim Lân gắn bó với truyện ngắn và thành công nhất ở thể loại này. Đề tài quen thuộc của nhà văn là những con người lao động bé nhỏ, sống cuộc đời lam lũ, lầm than nhưng giàu lòng yêu thương, gắn bó với quê hương, đất nước. Kim Lân viết rất ít, rất chọn lọc.
- Kim Lân được đánh giá là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

II. Tác phẩm:
1, Nội dung:
- Truyện ngắn Làng được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.
- Qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động tinh thần kháng chiến, tình yêu làng quê gắn liền với tình yêu nước của những người nông dân Việt Nam rời làng, tản cư theo Cách Mạng.
2, Nghệ thuật:
- Tác phẩm đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện độc đáo.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật (miêu tả tâm lí, ngôn ngữ, hành động).

III, Phân tích tác phẩm:
- Tình huống truyện:
+ Tình huống trong truyện ngắn Làng là một tình huống bất thường giàu tích kịch. Người nông dân tản cư yêu làng, tự hào về làng Chợ Dàu của mình phải đối mặt với cái tin khủng khiếp: Làng Chợ Dầu theo Tây làm Việt Gian, phản bội kháng chiến - cái tin khiến mọi người dân làng Chợ Dầu nơi tản cư đều phải tủi hổ, xót xa, không dám ngẩng mặt nhìn ai.
+ Tình huống truyện hợp lí, chân thực và thuyết phục bởi tính chất tự nhiên của nó: Ông Hai ra chợ, gặp những người dân tản cư và nghe tin đồn thổi. Trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta thiếu thốn về mọi mặt, phương tiện truyền thông nghèo nàn, chuyện tin tức "Thất thiệt" gắn với cơ chế tin đồn của văn hóa làng xã là chuyện không hề hiếm gặp. Cũng chính vì thế nên nó gây xáo trộn, lo âu, ngờ vực, nửa tin nửa ngờ.
+ Điều đáng nói hơn là cái tin chết người ấy lại chính là phép thử nhạy nhất để đo sự yêu nước sâu sắc của ông Hai. Càng yêu làng, gắn bó với làng bao nhiêu, ông càng coi trọng danh dự, niềm tự hào về làng bấy nhiêu. Và danh dự của làng Chợ Dầu với ông không chỉ là sự giàu có, bề thế hay truyền thống lâu đời mà còn bởi làng chợ Dầu ủng hộ cụ Hồ, tham gia kháng chiến Làng Chợ Dầu phản bội, theo Tây chính là nỗi tủi nhục lớn nhất của người dân làng chợ Dầu.
+ Chính điều này cho thấy mối quan hệ vô hình mà khăng khút của truyền thống Việt Nam, mối quan hệ giữa làng và nước! Khi làng không còn là cái làng yêu nước, sống thủy chung theo đọa lí của cha ông nữa thì yêu cũng biến thành thù! Mà thù cái vốn là tình yêu máu thịt của mình vô cùng đau đớn.
-> Tình hống truyện có tác dụng khắc họa sâu sắc tâm trạng ông Hai và cũng là phương tiện bộc lộ rõ nét tình yêu làng, yêu nước của ông.

- Nỗi nhớ về làng của Ông Hai khi ở nơi ở mới.
+ Ông lại nghĩ về làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm việc với anh em, ô sao mà độ ấy vui thế.....Ông lại hướng về làng, lại muốn được anh em đào đường, ấp ụ,...Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Luôn nghe ngóng tin tức, tình hình về làng.
+ Ông nhớ làng Chợ Dầu tha thiết, đi đến đâu cũng khoe về làng với sự tự hào, hãnh diện về làng bởi sự sầm uất và đặc biệt là tình yêu nước nồng nàn theo kháng chiến, theo cụ Hồ đánh đuổi giặc. Ngày ngày đọc báo, theo dõi tin tức kháng chiến. Ông sung sướng và hả hê khi quân ta lập được chiến công "Ruột gan ông múa lên vui quá".
-> Niềm tự hào của người nông dân trước thành quả của cách mạng làng quê và qua đó cũng thể hiện lòng tự hào về làng, yêu làng sâu sắc của ông hai.

- Tâm trạng của ông Hai khi nghe làng theo Tây:
Ngoại hình - tâm líHành động
- Cổ nghẹn ắng
- Da mặt tê rân rân
- Lặng đi, không thở được.
- Thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
- Nước mắt giàn giụa.
- Bỗng ngừng lại, ngờ ngợ, kiểm
điểm trong tâm trí từng người,
không tin những người mình biết
lại phản bội,nhưng cũng không lí
giải được tại sao lại có tin đồn...
- Lo lắng: Người ta ghê tởm
giống Việt gian, không ai làm ăn,
buôn bán với, không ai chứa....
- Nằm rũ ra trên giường, không nói.
- Khẽ nhúc nhích, gắt :"Biết rồi".
- Lặng hẳn đi, chân tay nhũn ra,
tưởng chừng như không cất được lên.
- Trống ngực đánh thình thịch, nín thở,
lắng tai.
- Ngồi lặng trên một góc giường, bao
nhiêu ý nghĩ: đem nhau đi đâu bây giờ?
Về làng? Không được! Yêu làng nhưng
làng theo Tây thì phải thù! .... Nước mắt
giàn ra .....
- Rặn è è ở cổ, nuốt một cái gì vướng ở cổ, cất
tiếng hỏi, giọng lạn hẳn đi:"Liệu có thật không..."
- Trả tiền trước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười
nhạt, vươn vai nói to.....
- Vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng.
- Cúi gằm mặt mà đi
- Nắm chặt hai tay mà rít lên:"Chúng bay ăn miếng
cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt
gian bán nước để nhục nhã thế này.
- Trằn trọc không sao ngủ được.
- Ngóc đầu dậy, giơ tay trỏ lên nhà trên, sít hai hàm răng
lại mà nghiến :"Im! khổ lắm..."
- Hỏi con trai để khẳng định với mình: Làng chợ Dầu yêu
nước, ủng hộ cụ Hồ Chí Minh!
- Đi theo người đàn ông đến sẩm tối.
- Tươi vui, rạng rỡ.
- Chia quà cho con.
- Bô bô với mọi người: Cải chính tin làng dầu theo giặc.
Ăn mừng.
[TBODY] [/TBODY]
+ Diễn biến tâm lí của ông hai cũng rất tự nhiên, chân thật. Là người nông dân chất phác, yêu làng, yêu nước, ông phản ứng tự nhiên trước những tin tức và tác động bên ngoài. Ông xấu hổ, tủi nhục vì tin làng mình theo giặc bởi làng chợ Dầu đã trở thành một phần không thể thiếu trong máu thịt ông. Nỗi nhục của làng cũng là nỗi nhục của ông.
+ Tinh thần trách nhiệm xuất phát từ tình yêu làng chân thực. Nhưng trong tiềm thức sâu sa, ông Hai cũng như những người làng quê Việt Nam khác, có một tình yêu bình dị khác còn chứa một tình yêu sâu sắc, lớn lao hơn: Yêu nước, yêu lẽ phải.
+ Đạo lí của người Việt Nam là yêu nước, yêu nhà. Trước tình huống làng làm trái với đạo lí, đi ngược lại với quyền lợi của đất nước, của kháng chiến thì ông không thể "yêu" làng được nữa mà phải "thù"! Mâu thuẫn trong tâm trạng ông Hai cũng hết sức chân thật và cảm động vì sâu thẳm tâm hồn giản dị của ông, tình yêu làng luôn gắn với tình yêu nước.
-> Ngôn ngữ độc thoại, độc thoại nội tâm. Cảm xúc băn khoăn, lo sợ, nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên cũng nỗi đau xót yuir hổ trong lòng ông Hai.

- Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính về Làng.
+ Tỏ ra vui vẻ, muốn kêu to với moi người về tin cải chính: Làng chợ Dầu kiên cường theo kháng chiến chứ không phản bội, theo Tây,....cũng hoàn toàn hợp lí, nhất quán với con người thật thà, chất phác của ông Hai.
+ Ngôn ngữ nhân vật rất chọn lọc, phù hợp với tâm lí, tích cách nhân vật. Đặc biệt sử dụng những từ ngữ bnhf dân, khẩu ngữ, phương ngữ ("Thì vưỡn", "sai sự mục đích",).
+ Hồ hởi khoe khắp nơi, còn khoe "Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ". Mua quà bánh cho các con, biến thành một con người hoàn toàn khác sau khi nghe tin cải chính. Tự hào kể lại chiến công của làng chợ Dầu cứ như ông Hai vừa tham gia vào trận chiến ấy vậy.
 
Top Bottom