tim có một khả năng đáng ngạc nhiên là có thể bơm máu liên tục trong suốt cuộc đời. Tim có kích thước tương đối nhỏ so với những cơ quan khác trong cơ thể. Nó có kích thước khoảng bằng một nắm tay và nặng khoảng 365 (+/- 65) g.
hệ thống cơ học của tim (bơm) muốn hoạt động cần phải có những xung được truyền từ hệ thống điện của tim. Tốc độ và sức co bóp của tim phụ thuộc vào các yếu tố hóa học như oxy, epinephrine và acetacholine.
tim nằm ở trung thất, ngay phía sau xương ức, phía bên trái lồng ngực và nằm ngay phía trên cơ hoành. Mỏm tim nằm ở đáy tim hướng về phía bên trái, gần khoảng liên sườn thứ 5. Tim hơi quay về phía trước, do đó phần sau của tim hơi nghiêng sang bên phải. Khi nhìn phía trước hoặc phía bên của tim ta sẽ thấy chủ yếu là tâm thất trái. Như vậy ví dụ như khi nói rằng nhồi máu cơ tim vùng trước bên thì có nghĩa là nó ảnh hưởng chủ yếu ở tâm nhĩ trái.
Tim bao gồm các tế bào cơ chuyên biệt (chiếm đa số) và các tế bào điện. Cơ tim đập khoảng 100.000 lần và bơm 7500 lít máu mỗi ngày. Không thể nghỉ trong thời gian quá 2/3 giây, cơ tim phụ thuộc vào độ tập trung các ty lạp thể cao trong mỗi tế bào với lượng cung cấp oxy dồi dào để tạo ra năng lượng liên tục. Các tế bào lấy khoảng 70% lượng oxy chứa trong các động mạch vành - nhiều hơn bất kỳ cơ quan nào khác của cơ thể - bất kể nhịp tim như thế nào.
các buồng tim
tim bao gồm 4 buồng: 2 tâm nhĩ và 2 tâm thất. Tâm nhĩ nhỏ hơn, khoảng 1/3 kích thước và thể tích của tâm thất. Tâm thất trái là buồng tim lớn nhất, lớn gấp 3 lần khối lượng cơ của tâm thất phải - cả hai tâm thất đều có dung tích chứa tương đương nhau. Do kích thước tương đối lớn nên không có gì phải bất ngờ khi 70% trường hợp nhồi máu cơ tim là xảy ra ở tâm thất trái.
khi trao đổi về vấn đề tim mạch, người ta thường hay nói như thể có 2 quả tim: Tim phải và tim trái. điều này là do có một lớp mô liên kết và cơ dày được gọi là vách ngăn tim ra thành 2 bên phải và trái. ở phía đầu của tim (tâm nhĩ) cũng được chia ra bởi lớp mô liên kết từ phía đáy tim (tâm thất). Các lớp mô liên kết này tạo ra cấu trúc cho tim. Mô liên kết không dẫn truyền các hoạt động điện mà đóng vai trò là một hàng rào điện - thậm chí nó còn là chất cách điện. đây là yếu tố quan trọng cầu phải biết để hiểu về hệ thống điện học của tim.
các lớp của tim
tim được bao bọc bởi 2 lớp bảo vệ. Lớp bên ngoài: Lớp ngoại tâm mạc - phủ bên ngoài cơ tim. Nó tự gấp vào chính nó tại động mạch chủ để tạo thành bề mặt thượng tâm mạc của tim. Giữa hai lớp này là một lượng dịch nhỏ làm cho các bề mặt của chúng không dính lại với nhau.
Nếu lớp màng này bị viêm - viêm ngoại tâm mạc - thì mặt trong của 2 lớp ngoại tâm mạc này sẽ dính vào với nhau, gây ra ma sát và đau. Sự cọ sát giữa hai lớp sẽ tạo ra một âm ngắn xảy ra ở kỳ tâm thu tương tự như tiếng cọ của hai miếng cao su hoặc 2 miếng da thuộc vào với nhau. Ngoài ra, một lượng dịch tương đối nhỏ tích tụ bên trong túi ngoại tâm mạc này có thể làm cản trở khả năng co bóp của tim. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng chèn ép tim (cardiac tamponade) và có thể dẫn đến luồng máu đi ra khỏi tim ít hoặc không có.
Lớp thượng tâm mạc tạo thành lớp ngoài của tim, còn cơ tim tạo thành lớp giữa của tim và nội tâm mạc là lớp trong cùng của tim. Các động mạch vành - là các động mạc cung cấp máu cho các tế bào của cơ tim - đi bên trong lớp thượng tâm mạc. Cơ tim là lớp dày nhất của tim. Lớp nội tâm mạc có mặt trong trơn láng giúp cho máu có thể lưu thông dễ dàng trong các buồng tim. Các van tim là một phần của lớp nội tâm mạc.
các động mạch vành
tim được cấp máu chủ yếu vào lúc nó nghỉ ngơi - và dãn ra trong thì tâm trương. động mạch vành phải đi ra từ động mạch chủ ở phía trên van động mạch chủ chủ yếu cung cấp máu cho thất phải và nhĩ phải. Nhánh động mạch vành trái chính bắt đầu từ bờ trái của động mạch chủ đối diện với động mạch vành phải. Nhánh trái chính sau đó chia ra làm 2 động mạch: 1) nhánh mũ bao xung quanh bề mặt tim trái và 2) nhánh trái trước xuống chạy xuống mặt trước của tâm thất trái.
các van tim
tim có một nhóm các van để bảo đảm cho luồng máu chảy đúng hướng. Tâm nhĩ phải và thất phải được phân cách bởi van ba lá. Van ba lá là van nhĩ nhất do nó nằm giữa tâm nhĩ và tâm thất. Máu được tốc ra từ tâm thất phải đi qua van động mạch phổi (trong khi đó thì van ba lá sẽ đóng lại để ngăn không cho máu chảy ngược về nhĩ phải). Van hai lá ngăn cách tâm nhĩ trái với thất trái. Máu được tống từ thất trái đi qua van động mạch chủ để vào động mạch chủ.
Các van sẽ mở ra khi áp lực phía trên van lớn hơn áp lực phía dưới van. Các dây chằng (chordae tendanae) nối các lá van nhĩ thất với các cơ nhú bên trong tâm thất để làm cho các van khép chặt hơn dưới áp lực dội về phía sau của dòng máu cao, chẳng hạn như trong khi thất co bóp.
các mạch máu chính
mạch máu chính của tim phải là tĩnh mạch chủ. Nó nối với nhĩ phải dọc theo bờ phải của nó và đưa máu thiếu oxy về nhĩ phải. Nhĩ phải còn nhận máu tĩnh mạch từ xoang vành, là tĩnh mạch chính đưa máu về tim của hệ thống cung cấp máu riêng cho cơ tim. Tâm thất phải tống máu đi qua các nhánh chính của động mạch phổi phải và trái lần lượt đến phổi phải và trái.
Nhĩ trái nhận máu giàu oxy từ 4 tĩnh mạch phổi chính. Thất trái tống máu vào cung động mạch chủ đến khắp cơ thể. Bên trong cung động mạch chủ, đầu tiên, sẽ phân nhánh ra thành các động mạch vành tim, sau đó là 3 nhánh động mạch chính cung cấp máu cho phổi (qua động mạch cảnh) và phần thân trên. Các cấu trúc của tim phối hợp làm việc với nhau như một bản giao hưởng để thực hiện một mục đích chung: đưa máu giúp duy trì sự sống đến hàng triệu triệu tế bào.
hệ thống điện
trên thất: Nút xoang, còn được gọi là nút tạo nhịp chính, nằm ở tâm nhĩ phải, gần đường vào của tĩnh mạch chủ. Nút xoang tạo ra xung điện đầu tiên gây ra sóng khử cực chạy dọc tim. Nút nhĩ thất và bó his (còn được gọi là chỗ nối nhĩ thất) có tác dụng là cầu nối điện học giữa tâm nhĩ và tâm thất.
Tại thất: Bó his phân nhánh bắt đầu trong tâm thất và kết thúc ở các sợi purkinje.