Sử Trung Quốc thời phong kiến: thời Tam quốc (220 - 280)

Thảo luận trong 'BẢNG TIN - PHÒNG SINH HOẠT CHUNG' bắt đầu bởi Thái Minh Quân, 14 Tháng chín 2019.

Lượt xem: 226

  1. Thái Minh Quân

    Thái Minh Quân Cố vấn Lịch sử Cố vấn chuyên môn

    Bài viết:
    2,238
    Điểm thành tích:
    401
    Nơi ở:
    TP Hồ Chí Minh
    Trường học/Cơ quan:
    THCS Nguyễn Hiền
    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    Lời người viết: từ thời Tam quốc đến đầu thời Tùy là thời kỳ loạn lạc và khá sôi động của lịch sử Trung Quốc. Để đảm bảo tính khách quan thì người viết dựa vào các bộ chính sử (đã dịch rồi) như Tam quốc chí, dùng lại một số của Tam quốc diễn nghĩa; trình bày lịch sử của từng nước Ngụy, Thục, Ngô

    1. Sự hình thành các nước Ngụy, Thục, Ngô cuối thời Đông Hán
    Cái chết bất ngờ của Hán Linh đế là dấu mốc mở đầu thời kỳ suy yếu của chính quyền Lạc Dương. Thiếu đế và Hiến đế được các tập đoàn quân phiệt đưa lên cầm quyền để dễ bề thao túng. Thời Thiếu đế, Hà Tiến bị hoạn quan giết; nhưng sau đó bộ tướng của ông ta là Viên Thiệu đánh dẹp hết hoạn quan, giết hạn hàng nghìn người khiến triều đình náo loạn, Thiếu đế và em trai là Hiệp phải chạy trốn.
    [​IMG] Đổng Trác
    Năm 189, Đổng Trác của Tây Lương dùng mưu đuổi được Viên Thiệu ra khỏi thành. Sau đó, ông ta phế luôn Hán Thiếu đế và lập em của nhà vua lên ngôi, hiệu là Hán Hiến đế (riêng vị phế đế sau đó bị Đổng Trác sát hại cùng với mẹ mình là Hà thái hậu). Sau khi nắm đại quyền, Đổng Trác tàn phá hậu cung vua Đông Hán, cướp bóc nhiều của cải bỏ vào kho lẫm và giết người vô tội vạ. Việc này khiến Viên Thiệu không hài lòng, bèn nhờ các thế lực quân phiệt khác đem quân chống đánh. Đổng Trác đánh thắng vài trận, nhưng cuối cùng bị quân của Tôn Kiên đánh tan nát nên phải rút lui. Tháng 2 năm Sơ Bình nguyên niên, Trác bức triều đình dời đô về Trường An, đòi nhà vua phong mình làm Thái sư. Ông ta xây lầu cao, giết người vô tội vạ và nhanh chóng hưởng lạc với nhiều mỹ nhân - trong đó có Điêu Thuyền, một trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa (ghi theo Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung).
    [​IMG] Lã Bố
    [​IMG]
    Đổng Trác đánh đuổi Lã Bố

    [​IMG] Điêu Thuyền

    Tháng 4 (mùa hạ) năm 190, một thuộc tướng là Lã Bố (cũng là con nuôi của Đổng Trác) chuẩn bị mưu phản. Lã Bố quen được nhiều mỹ nhân của Đổng Trác, trong đó có Điêu Thuyền. Vương Doãn xúi giục Lã Bố và các thuộc tướng vào cung sát hại được Đổng Trác. Tam quốc chí, phần Ngụy chí chép rõ: "Tháng 4. mùa Hạ (năm Sơ Bình nguyên niên). Tư Đồ Vương Doãn cùng Lữ Bố giết Đổng Trác. Tướng của Trác là Lý Thôi, Quách Dĩ giết Doãn và đánh Bố. Bố thua, theo lối Vũ Quan bỏ chạy về phía Đông. Bọn Thôi chiếm hết việc triều chính".
    Lợi dụng các phe cánh đang đánh nhau trong kinh đô Trường An, vua Hiến đế cùng triều đình bắt đầu một chuyến du hành đầy nguy hiểm về phương đông để tìm những người ủng hộ. Sách Tam quốc chí - phần Ngụy chí chép: "Sách Hán kỷ của Trương Phan chép: Ban đầu, Thiên tử khốn cùng ở Tào Dương, muốn xuôi sông Hà chạy về Hà Đông. Quan Thị trung Thái sử lệnh là Vương Lập nói: “Từ mùa xuân năm ngoái sao Thái Bạch xâm phạm vào sao Trấn ở vị trí Ngưu Đẩu, vượt quá dải Thiên tân, sao Huỳnh Hoặc lại đi ngược về địa phận Bắc Hà, chớ nên mạo phạm”.Bởi thế Thiên tử không vượt sông về Bắc nữa, mà theo lối Chỉ Quan đi về phía đông. Lập lại nói với quan Tông chánh là Lưu Ngải rằng: “Trước đây Thái Bạch đóng ở Thiên Quan, cùng với Huỳnh Hoặc gặp nhau; Kim-Hoả giao nhau, tượng trời ắt thay đổi. Vận Hán đã hết, ở đất Tấn-Nguỵ hẳn sẽ có người nổi lên vậy.” Sau Lập lại mấy lần nói với Đế rằng: “Mệnh trời có lúc khứ tựu, ngũ hành thịnh suy bất thường, thay Hoả là Thổ, kế thừa Hán chính là Nguỵ vậy, người có thể yên thiên hạ, chính là Tào thị, thiết nghĩ nên uỷ thác cho Tào công gánh vác công việc.” Công nghe được lời ấy, sai người đến nói nhỏ với Lập rằng: “Ta biết ông trung với triều đình, nhưng đạo trời huyền diệu lắm, ông chớ nên nhiều lời.”
    Trong khi các phe phái đánh nhau, giá cả lúa tăng vọt. Tam quốc chí, phần Ngụy chí ghi nhận: tháng 10 (âm lịch năm 195) "một hộc lúa giá hơn 5 vạn tiền, người phải ăn thịt lẫn nhau, (Thái Tổ - Tào Tháo) bèn bãi việc tuyển mộ tân binh". Năm 196, nhà vua gặp được Tào Tháo ở Hứa Xương. Tại Hứa Xương, Hiến đế phong Tào Tháo làm Vũ Bình hầu, giữ chức Tư không kiêm Hành Xa kỵ tướng quân. Hiến đế vốn muốn phong cho Tào Tháo chức cao hơn là Đại tướng quân nhưng vì Tào Tháo còn e ngại thế lực của Viên Thiệu, muốn tránh xung đột ngay với Thiệu, vì vậy đề nghị Hiến Đế phong chức Đại tướng quân cho Thiệu. Từ đó những việc lớn nhỏ trong triều đình nhà Hán đều do Tào Tháo quyết định. Nhiều mệnh lệnh được soạn thảo và ban ra từ phủ Tư không của Tào Tháo. Do tự mình chuyên quyết việc triều đình, Tào Tháo tiếp tục gặp phải sự chống đối ngấm ngầm từ các lực lượng ủng hộ Hán Hiến đế. Năm 197, Tào Tháo đánh bại được Viên Thuật ở đất Trần, buộc ông ta bỏ chạy. Tam quốc chí của Trần Thọ chép rõ: "Viên Thuật muốn xưng đế ở Hoài Nam, sai người đến bảo với Lã Bố. Bố bắt giữ sứ giả, gửi thư về triều. Thuật nổi giận, đánh Bố, bị Bố đánh tan. Mùa thu tháng chín, Thuật xâm phạm đất Trần, Công đông chinh đánh Thuật. Thuật nghe tin Công đích thân đến, bỏ trại chạy, để các tướng của mình là Kiều Nhuy, Lý Phong, Lương Cương, Nhạc Tựu ở lại; Công đến, đánh tan bọn Nhuy, chém được cả. Thuật vượt sông Hoài. Công quay về Hứa huyện".
    Năm 199, phát giác âm mưu của họ Đổng chống lại mình, Tào Tháo ra tay sát hại hết cả nhà họ Đổng, ngay cả Đổng quý nhân cũng bị sát hại nốt khi đang mang thai 5 tháng. Sách Tam quốc chí - phần Thục chí tường thuật sự kiện này: "Lúc Tiên Chủ (tức Lưu Bị, tác giả chú) chưa đi, cậu của Hiến Đế là Xa kỵ tướng quân Đổng Thừa, Thần Tùng Chi xét: Đổng Thừa, là cháu Đổng Thái hậu mẹ của Hán Linh Đế, Hiến Đế gọi là Trượng Nhân. Từ xưa không có danh tự Trương Nhân, nên gọi là cậu vậy. nhận cái đai áo của Đế bên trong có mật chiếu, chịu gánh vác việc tru diệt Tào Công. Tiên Chủ còn chưa khởi hành. Lúc ấy Tào Công thung dung bảo Tiên Chủ rằng: “Ngày nay anh hùng trong thiên hạ, chỉ có sứ quân và Tháo này vậy. Lũ Bản Sơ chẳng đáng kể đến.” Tiên Chủ đang ăn, đánh rơi cả thìa đũa. Hoa Dương quốc chí chép rằng: Ngay lúc bấy giờ có tiếng sấm nổ vang, Bị nhân đó bảo Tháo rằng: “Thánh nhân đã nói ‘sét gầm gió thét hẳn phải biến sắc’, tin rằng là vậy. Một tiếng sấm ra uy, mà có thể đến thế!” Tiên Chủ cùng với bọn Trường thuỷ Hiệu úy Chủng Tập-Tướng quân Ngô Tử Lan-Vương Tử Phục cùng bàn mưu. Mới hội họp, còn chưa thi hành. Việc bị phát giác, bọn Thừa đều bị tru diệt."
    Năm Kiến An thứ ba (rằm tháng Giêng) năm 199, Tào Thào làm suy yếu Lưu Bị ở Từ Châu. Sách Tam quốc chí - phần Ngụy chí chép thêm (trích đoạn): "Lã Bố tập kích Lưu Bị, chiếm Hạ Bì, Bị chạy lại chỗ Công. Trình Dục thuyết Công rằng: “Tôi xem Lưu Bị có hùng tài mà rất được lòng người, sau này chẳng chịu ở dưới người khác, chẳng bằng sớm liệu đi.” Công nói: “Nay đang là lúc thu dụng kẻ anh hùng, giết một người mà làm mất lòng thiên hạ, chẳng nên.”(...) "Lữ Bố lại giúp Viên Thuật sai Cao Thuận đánh Lưu Bị, Công sai Hạ Hầu Đôn đến cứu, gặp bất lợi. Bị bị Thuận đánh bại". Lúc Lưu Bị giữ vững được Hạ Bì; sách Tam quốc chí - phần Thục chí chép thêm: Tiên Chủ giữ Hạ Bì, Bọn Linh trở về, Tiên Chủ bèn giết Thứ sử Từ Châu Xa Trụ, để Quan Vũ trấn thủ Hạ Bi, còn mình thân về Tiểu Bái. Ngô lục của Hồ Xung chép: Tào Công mấy lần phái người thân cận ngầm dò xét chư tướng và tân khách đến ăn uống, muốn nhân việc đó hại Bị. Bấy giờ Bị đóng cửa, cùng người nhà trồng rau cải, Tào Công sai người chọc lỗ cửa dòm ngó. Đã quyết bỏ đi, Bị bảo với Trương Phi-Quan Vũ rằng: “Sao ta phải giả vờ trồng rau vậy? Hẳn là vì Tào Công đã có ý ngờ ta, ta chẳng thể ở lại được.” Trong đêm ấy xé hàng rào ở phía sau, cùng với bọn Phi lên ngựa bỏ đi, những y phục được ban cho, đều gói ghém để lại cả, rồi đến Tiểu Bái thu nhặt tập hợp binh lính". Ở Đông Hải có loạn Xương Bá, "Tiên Chủ phản lại Tào Công, đông tới mấy vạn người, Bị sai Tôn Càn hứa với Viên Thiệu cùng liên hoà, Tào Công sai Lưu Đại-Vương Trung đánh Bị, không thắng nổi. Năm thứ năm, Tào Công đông chinh đánh Tiên Chủ, Tiên Chủ thua trận. Tào Công thu thập được hết binh lính, lại bắt được vợ con Tiên Chủ, bắt giữ được cả Quan Vũ đem về" (trích theo Tam quốc chí của Trần Thọ, "Tào Công là Tào Tháo, còn Tiên chủ là Lưu Bị - tác giả chú). Quân của Tào Tháo (sách sử cũ ghi là Tào công) chưa đầy một vạn
    [​IMG]
    Ảnh minh họa quân Viên Thiệu tiến đánh Tào Tháo ở Quan Độ
    [​IMG] tướng Viên Thiệu
    [​IMG]
    Bản đồ Trung Hoa vào thời điểm trận Quan Độ xảy ra

    Tháng 8/200, Tào Tháo đánh thắng Viên Thiệu ở trận Quan Độ. Sách Tam quốc chí, phần Thục chí nhắc sơ qua sự kiện này nhưng phần Ngụy chí viết đầy đủ hơn. Xem tường thuật ở phần Ngụy chí: "Tháng tám, Thiệu lập ba doanh trại ở phía trước, đắp gò đất làm nơi đóng binh lâu dài, đông tây kéo dài mấy chục dặm. Công cũng chia binh lập quân doanh đối địch, cùng giao chiến gặp bất lợi (...). Thiệu lại tiến binh đến Quan Độ, đắp núi đất, đào địa đạo. Công ở trong luỹ cũng làm như vậy, để đối phó lại. Thiệu sai bắn tên vào doanh trại của Công, tên bay như mưa rào mùa hạ, quân của Công đi lại đều phải dùng thuẫn che thân, chúng sợ lắm. Bấy giờ Công thiếu lương, gửi thư cho Tuân Úc, bàn rằng muốn quay về Hứa huyện. Úc cho rằng: “Quân của Thiệu đều tụ tập ở Quan Độ, muốn cùng Công quyết thắng bại. Công lấy quân mỏi mệt chống giữ quân cường mạnh, nếu chẳng thể khắc chế họ, tất bị họ đè bẹp, đó là cơ hội lớn trong thiên hạ vậy. Vả lại Thiệu, chỉ như kẻ anh hùng áo vải mà thôi, có thể tụ tập người ta mà chẳng thể dùng. Với tài thần vũ minh triết của chúa công lại được mọi người thuận theo phù giúp, sao việc lại chẳng nên!” Công nghe theo" (...).
    "Viên Thiệu vận chuyển mấy ngàn xe lương tới, Công dùng kế của Tuân Du, sai Từ Hoảng-Sử Hoán đón đánh, đại phá quân ấy, đốt sạch các xe lương thảo. Công cùng với Thiệu cầm cự nhau mấy tháng liền, dẫu khi giao chiến liên tục chém được tướng địch, nhưng binh sĩ ít ỏi lương thảo cạn sạch, sĩ tốt mỏi mệt. Công bảo quan vận lương rằng: “Chừng mười lăm ngày nữa là ta phá được Thiệu, các ngươi chẳng phải khó nhọc nữa.” Mùa đông tháng mười, Thiệu điều các xe chuyển lương, sai năm người bọn Thuần Vu Quỳnh dẫn hơn vạn binh hộ tống, ban đêm nghỉ lại ở cách phía bắc doanh trại của Thiệu bốn chục dặm. Mưu thần của Thiệu là Hứa Du hám tiền, Thiệu không đáp ứng nổi, Du bèn bỏ đi, nhân đó khuyên Công đánh bọn Quỳnh. Tả hữu ngờ vực, Tuân Du-Giả Hủ khuyên Công nên đánh. Công bèn lưu Tào Hồng giữ trại, thân dẫn năm ngàn quân bộ kỵ đi ngay trong đêm, đến sáng thì tới nơi. Bọn Quỳnh trông xa thấy binh của Công ít, liền ra ngoài cửa doanh bầy trận. Công tiến đánh gấp, Quỳnh lui vào bảo vệ doanh trại, Công đánh mạnh. Thiệu phái kỵ binh tới cứu Quỳnh. Tả hữu có kẻ nói: “Quân kỵ của địch đã gần lắm rồi, xin chia binh chống cự.” Công giận nói: “Lúc giặc đến sau lưng ta, hãy bẩm.” Sĩ tốt đều hết sức tử chiến, đánh tan bọn Quỳnh, chém được cả".
    Viên Thiệu liên tiếp nghe tin thua trận, kho lương bị mất, tướng sĩ náo loạn, kéo nhau bỏ chạy tán loạn. Bị Tào Tháo đuổi gấp và đánh tan nát, Thiệu cùng con trai là Viên Đàm dẫn quân rút nhanh qua Hoàng Hà mới nghỉ. Hơn 7 vạn quân Viên Thiệu chạy không kịp, phải xin hàng. Trong số đó có một vài người không hoàn toàn quy thuận, có biểu hiện trá hàng. Tào Tháo sợ phát sinh hậu hoạ bèn ra lệnh chôn sống cả bảy vạn hàng binh. Sách "Hiến đế khởi cư trú" tường thuật (Tam quốc chí, phần Ngụy chí dẫn lại): "Tông tộc nhà Thiệu nối đời chịu trọng ân của quốc gia, mà hung nghịch vô đạo đến mức như thế. Thần lập tức sửa soạn binh mã, cùng giao chiến ở Quan Độ, nhờ cậy thiên uy của thánh triều, chém được đầu bọn Đại tướng của Thiệu là Thuần Vu Quỳnh tám người, quân địch tan vỡ. Thiệu cùng với con là Đàm vứt bỏ khôi giáp mà chạy. Số đầu giặc bị chém đến hơn bảy vạn, đồ truy trọng cùng tài vật thu được không đếm xuể.”
    Viên Thiệu sau thất bại ở Quan Độ, ông "phát bệnh thổ huyết, đến mùa hạ tháng năm thì chết" (Tam quốc chí - phần Ngụy chí). Con trai là Thượng lên thay, cùng anh trai là Đàm tiếp tục chống Tào Tháo. Quân của anh em họ Viên đánh với Tào Tháo vài trận, nhưng kết quả đều thua và Tào Tháo gần như làm chủ ở miền Bắc. Phần Ngụy chí của sách Tam quốc chí chép rõ: "Mùa thu tháng chín, Công đi đánh Đàm, giao chiến liên tục. Đàm-Thượng mấy lần bại trận phải lui binh, cố thủ. Năm thứ tám mùa xuân tháng ba, Công đánh thành, quân họ Viên xuất chiến, Công tiến đánh, phá tan quân ấy, Đàm-Thượng nhân đêm tối bỏ chạy. Mùa hạ tháng tư, Công tiến quân đến Nghiệp huyện. Tháng năm trở về đất Hứa, lưu Giả Tín đóng binh ở Lê Dương". Sau khi chiếm Nghiệp thành, quân của Tào Tháo đến Ký châu và đến sông Hoàng Hà. Sách này lại viết tiếp: "Năm thứ chín mùa xuân rằm tháng giêng, Công vượt Hoàng Hà, ngăn nước sông chảy vào Bạch Câu để thông đường vận lương. Tháng hai, Thượng lại vây đánh Đàm, lưu Tô Do-Thẩm Phối giữ huyện Nghiệp. Công tiến quân đến Hoàn Thuỷ (59) , Do ra hàng. Đến huyện Nghiệp, Công tiến đánh, đắp thổ sơn, đào địa đạo. Trưởng huyện Vũ An là Doãn Giai đóng binh ở Mao thành, để kiểm soát đường vận lương ở Thượng Đảng. Mùa hạ tháng tư, Công để Tào Hồng đánh huyện Nghiệp, Công thân cầm quân đánh Giai, phá xong lại trở về. Tướng của Thượng là Tự Hộc giữ Hàm Đan, Công vây đánh lấy được (...).
    Cuối năm 207, sau những chiến dịch nhỏ chống lại người Ô Hoàn (乌桓), Tào Tháo đã giành được sự thống lĩnh không thể tranh cãi đối với miền đồng bằng Hoa Bắc gồm các tỉnh như Liêu Ninh, Sơn Tây, Nội Mông và Bắc Kinh ngày nay. Sách Tam quốc chí - phần Ngụy chí viết: "Tháng ấy (tháng Giêng năm Kiến An thứ mười), bọn Đại tướng của Viên Hi là Tiêu Xúc-Trương Nam làm phản đánh Hi-Thượng, Hi-Thượng chạy đến Tam Quận xứ Ô Hoàn. Bọn Xúc dâng cả huyện đầu hàng, được phong làm Liệt hầu (...) "Mùa thu tháng tám, Công đi đánh dẹp, chém bọn Độc, rồi qua sông Lộ Hà cứu Quánh Bình, Ô Hoàn chạy trốn ra nơi đất hiểm"
    Năm 208, Tào Tháo đưa quân về phía nam với ý định nhanh chóng thống nhất đế chế. Đầu tiên, Tào Tháo tiến đánh con của Lưu Biểu là Lưu Tông. Sách Tam quốc chí - Ngụy chí viết: "Mùa thu tháng bảy, Công nam chinh Lưu Biểu. Tháng tám, Biểu chết, con là Tông lên thay, đóng ở Tương Dương, Lưu Bị đóng ở Phàn Thành. Tháng chín, Công đến Tân Dã, Tông bèn ra hàng, Bị chạy ra Hạ Khẩu. Công tiến quân đến Giang Lăng, hạ lệnh tha cho dân chúng và quan lại cấp thấp ở Kinh châu, cho phép hối cải và thay đổi. Rồi luận xét công lao những kẻ ở Kinh Châu theo hàng, phong tước hầu cho mười lăm người, để Đại tướng của Lưu Biểu là Văn Sính làm Thái thú Giang Hạ, sai thống lĩnh binh cũ". Tào Tháo đóng quân ở Giang Lăng. Tuy nhiên, Tôn Quyền – người kế vị Tôn Sách tại Giang Đông và Lưu Bị sau khi chạy qua Hạ Khẩu, Giang Hạ vẫn tiếp tục chống cự. Mưu sĩ của Tôn Quyền là Lỗ Túc đảm bảo cho liên minh với Lưu Bị, là người đã thua chạy từ phía bắc.
    Mùa đông năm 208, Tào Tháo đại chiến với liên quân Lưu Bị - Tôn Quyền ở Xích Bích. Về diễn biến của trận đánh thì mỗi phần trong sách Tam quốc chí viết khác nhau:
    - Phần Ngụy chí viết: "Công đến Xích Bích, cùng Bị giao chiến, gặp bất lợi. Lúc ấy trong quân có đại dịch, quân sĩ bị chết rất nhiều, Công bèn dẫn quân về. Bị bèn chiếm lấy Kinh Châu (70) và các quận phía nam sông Trường Giang. Sơn dương công tái ký chép: Chiến thuyền của Công bị thiêu đốt ở đó, Công bèn dẫn quân theo đường Hoa Dung trở về, gặp bùn lầy, đường không đi được, trời lại có gió lớn, Công sai tất cả binh lính gầy yếu phải vác cỏ lấp những chỗ lầy lội, quân kỵ mới đi qua được. Đám quân sĩ gầy yếu bị người ngựa giầy xéo, bị vùi lấp trong bùn lầy, chết rất nhiều. Quân đã qua được, Công rất mừng, chư tướng hỏi việc ấy, Công nói: “Lưu Bị, xứng đáng là đối thủ của ta, chỉ hiềm hành động hơi chậm chạp, nếu y phóng hoả sớm hơn một chút, chúng ta đã chết rồi vậy.” Bị có cũng có phóng hoả nhưng không kịp".
    - Phần Thục chí chép: "Giang Biểu truyện chép: Bị theo kế của Lỗ Túc, tiến đến giữ Phàn Khẩu ở huyện Ngạc. Gia Cát Lượng đến đất Ngô chưa về, Bị nghe tin quân của Tào Công tiến xuống, rất sợ hãi, hàng ngày phái quân tuần tiễu trên sông dò ngóng tin tức quân của Quyền. Quân lính trông thấy thuyền của Du, vội đến bẩm với Bị, Bị nói: “Sao biết rằng đấy chẳng phải là quân Thanh Từ (19) ?” Quân lính thưa rằng: “Nhìn thuyền mà biết được vậy.” Bị sai người đến uý lạo Du. Du nói: “Tướng quân đã tin tôi, chẳng thể uỷ thác cho người khác đến được, hoặc giả có thể chịu bỏ cái uy mà tới, tôi thành thực mong được gặp gỡ.” Bị bảo Quan Vũ-Trương Phi rằng: “Bên kia muốn ta thân tới đó, nay ta liên kết với Đông Ngô mà chẳng chịu qua đó, không phải với tình đồng minh vậy.” Bèn cưỡi một chiếc thuyền lớn đến diện kiến Du, hỏi rằng: “Nay ngài chống cự Tào Công, có kế sách gì hay chăng. Quân sĩ chiến đấu có được bao nhiêu?” Du nói: “Ba vạn người.” Bị nói: “Tiếc là hơi ít.” Du nói: “Thế là đủ dùng, Dự Châu hãy chờ xem Du phá Tào Công.” Bị muốn gọi Lỗ Túc đến để cùng bàn bạc, Du nói: “Tôi vâng mệnh phá giặc chẳng dám nói bừa, nhược bằng muốn gặp Tử Kính, nên để khi khác. Túc cùng với Khổng Minh đều ở phía sau, chừng đôi ba ngày nữa sẽ tới đây.” Bị dẫu rất thẹn với Du, mà trong lòng không tin rằng Du có thể phá được quân bắc, nên sai sắp đặt các việc về sau, đem hai nghìn quân chia đều cho Vũ-Phi, không bằng lòng trao cả cho Du, để tính bề tiến thủ (...). Liên quân cùng với Tào Công đánh nhau ở Xích Bích, đại phá quân ấy, đốt hết thuyền chiến. Tiên Chủ cùng với quân Ngô thuỷ lục cùng tiến, đuổi đến tận Nam Quận, bấy giờ lại có bệnh dịch, quân bắc chết rất nhiều, Tào Công dẫn quân trở về".
    - Phần Ngô thư chép: "Giang Biểu truyện chép thư của Tào Công gửi Quyền rằng: “‘Gần đây ta nhận lệnh đánh kẻ có tội, dương cờ về phía nam, Lưu Tông phải trói tay. Nay luyện tám mươi vạn quân thủy, sắp cùng quân tướng hội săn ở đất Ngô’. Quyền nhận thư, đem ra cho bầy tôi xem, chẳng ai không sợ hãi thất sắc. Chỉ có Du, Túc là giữ ý chống lại, giống ý với Quyền. Du, Phổ làm Tả, Hữu đô đốc, đều lĩnh vạn quân, cùng đi với Bị, gặp quân của Tào Công ở Xích Bích, đại phá quân của Tào Công. Tào Công đốt thuyền còn lại rồi rút lui, quân sĩ đói bệnh, chết đến quá nửa. Bọn Bị, Du lại đuổi đến Nam Quận, Tào Công bèn về phía bắc".
    [​IMG]
    Khu vực có khả năng xảy ra trận Xích Bích (khúc sông kéo dài từ Hoàng Châu xuống thành phố Xích Bích)

    [​IMG]
    Đô đốc Chu Du của nước Ngô (tranh vẽ trong Tam quốc diễn nghĩa)

    [​IMG]

    [​IMG]
    Đại chiến Xích Bích. Thống kê quân số các bên như sau: quân Tào Tháo chừng 150.000 người (theo Tam quốc chí của Trần Thọ), liên minh Thục - Ngô về cơ bản có khoảng 50.000 - 60.000 quân lính.

    Năm 219, quân Ngô đánh bại Quan Vũ, tái chiếm Kinh Châu. Sách Tam quốc chí ở mỗi phần chép khác nhau:
    [​IMG] Quan Vũ
    [​IMG]
    Quan Vũ đánh trận
    - Phần Ngụy chí chép: "(Công) Sai Vu Cấm giúp Tào Nhân đánh Quan Vũ. Tháng tám, nước sông Hán tràn, vùi quân của Cấm, quân chìm, Vũ bắt Cấm, rồi vây Nhân. Sai Từ Hoàng cứu Nhân (...) Tháng mười mùa đông, đem quân về Lạc Dương. Tôn Quyền sau sứ gửi thư, xin đánh Quan Vũ đệ tự chuộc tội. Vương từ Lạc Dương xuống phía nam đánh Quan Vũ. Chưa đến, Hoảng đánh Quan Vũ, phá Vũ, Vũ chạy, Nhân được giải vây (...). Tháng giêng mùa xuân năm thứ ba mười lăm, đến Lạc Dương. Quyền chém Vũ, đem đầu đến".
    - Phần Thục chí chép: "Bấy giờ Quan Vũ đánh tướng của Tào Công là Tào Nhân, bắt được Vu Cấm ở Phàn Thành. Ít lâu sau Tôn Quyền tập kích giết chết Vũ, chiếm lấy Kinh Châu"
    - Phần Ngô thư chép: "Năm thứ hai mươi tư, Quan Vũ vây Tào Nhân ở Tương Dương, Tào Công sai Tả Tướng quân Vu Cấm cứu Nhân. Gặp lúc nước sông Hán dâng cao, Vũ đem quân thuyền bắt hết ba vạn quân kị bộ của của Cấm đem về Giang Lăng, riêng thành chưa hạ. Quyền trong lòng sợ Vũ, ngoài muốn đánh để lập công cho mình, gửi thư cho Tào Công, xin được đánh Vũ để chuộc tội. Tào Công lại muốn cho Vũ chống nhau với Quyền để ngăn chặn, sai người theo trạm dịch gửi thư cho Quyền, sai Tào Nhân đem nỏ bắn ra để báo cho Vũ biết. Vũ chần chừ không bỏ đi. Tháng nhuận, Quyền đánh Vũ, sai Lữ Mông đánh úp huyện Công An trước, bắt được Tướng quân Sĩ Nhân. Mông đến Nam Quận, Nam Quận Thái thú Mi Phương đem thành hàng. Mông chiếm Giang Lăng, vỗ về người già yếu ở đấy, cởi trói cho Vu Cấm. Lục Tốn đi riêng chiếm Nghi Đô, đánh lấy các huyện Tỉ Quy, Chi Giang, Di Đạo, về đóng quân ở Di Lăng, giữ ở Hiệp Khẩu để chặn quân Thục. Quan Vũ về Đương Dương, rút đến phía tây giữ Mạch Thành, Quyền sai người dụ Vũ. Vũ giả hàng, dựng cờ hiệu làm người tượng ở trên thành, nhân đó chạy trốn, quân đều tan rã, chỉ còn hơn mười quân kị. Quyền sai bọn Chu Nhiên, Phan Chương chặn đường rút của Vũ trước. Tháng mười hai, viên Tư mã của Chương là Mã Trung bắt được Vũ cùng bọn con của Vũ là Bình, Đô đốc của Vũ là Triệu Lũy ở Chương Hương, bèn định Kinh Châu".

    2. Ba nước Ngụy, Thục, Ngô hình thành
    (phần này, người viết sẽ viết theo trình tự thời gian chứ không viết riêng lịch sử của từng nước)

    [​IMG]
    Tào Tháo - Ngụy Thái tổ Vũ hoàng đế
    - Năm 220, Tào Tháo chết, tháng 10 năm đó con ông là Tào Phi phế bỏ vua Hán Hiến Đế, lên ngôi hoàng đế chấm dứt nhà Đông Hán, đặt quốc hiệu là Ngụy, hiệu Ngụy Văn Đế, đóng đô tại Lạc Dương. Sách Tam quốc chí - phần Ngụy chí chép: "Ngày canh tí, Vương băng ở Lạc Dương, thọ sáu mươi sáu tuổi (...). Thụy là Vũ Vương. Ngày đinh mão tháng hai, táng ở Cao Lăng". Tào Phi lên ngôi và buộc Hán Hiến đế "nhường ngôi" cho họ Tào, lấy hiệu là Ngụy Văn đế
    Tam quốc chí - phần Ngụy chí không viết gì về Tào Phi, hai phần còn lại chép như sau:
    - Phần Thục chí: "Bọn Thái phó Hứa Tĩnh, An Hán tướng quân Mi Trúc, quân sư tướng quân Gia Cát Lượng, Thái thường Lại Cung, Quang lộc huân Hoàng Quyền, Thiếu phủ Vương Mưu dâng lời rằng:“Tào Phi thí chúa soán ngôi, chôn vùi ngôi Hán thất, cướp lấy thần khí, bức hiếp kẻ trung lương, tàn ác vô đạo. Quỷ thần căm giận, đều nghĩ đến họ Lưu"
    - Phần Ngô thư chép: "Tháng giêng mùa xuân năm thứ hai mươi lăm, Tào Công hoăng, Thái tử Phi thay làm Thừa tướng Ngụy Vương, đổi niên hiệu là Diên Khang. Mùa thu, Tướng Ngụy là Mai Phu sai Trương Kiệm đến xin được thu nạp. Năm nghìn hộ dân của năm huyện Âm, Tán, Trúc Dương, Trúc âm trục. Sơn Đô, Trung Lư thuộc quận Nam Dương đến nương dựa. Mùa đông, Vương nối tự của nhà Ngụy xưng tôn hiệu, đổi niên hiệu là Hoàng Sơ (...). Ngụy lược chép: Quyền nghe tin Ngụy Văn Đế nhận truyền ngôi và Lưu Bị xưng Đế bèn gọi hỏi người biết xem sao, khí sao giữa vùng phận của mình thế nào, bèn có ý tiếm hiệm. Lại cho rằng ngôi của mình còn nhỏ, không đủ để ra oai với dân chúng, lại muốn nhún nhường trước rồi lên ngôi sau, nhún nhường thì có thể mượn cớ để được ban ân sủng, lên ngôi sau thì nhà Ngụy tất đến đánh dẹp, đến đánh dẹp thì mới làm cho dân chúng hăng hái, dân chúng hăng hái thì mới có thể tự đại, cho nên ngầm cắt tuyệt Thục mà chuyển sang theo thờ Ngụy. Quyền từ Công An đến đóng đô ở huyện Ngạc, đổi tên là Vũ Xương, lấy sáu huyện Vũ Xương, Hạ Trĩ, Tầm Dương, Dương Tân, Sài Tang, Sa Tiện lập thành quận Vũ Xương".
    - Năm 221, Lưu Bị cũng tự xưng là Hoàng đế kế tục nhà Hán, tức Tiên chủ của Thục Hán với mục đích khôi phục nhà Hán. (Quốc gia này trong sử sách gọi là "Thục" hay "Thục-Hán".).

    [​IMG]
    Triều đình Lưu Tiên chủ (Lưu Bị)
    Phần Thục chí của sách Tam quốc chí chép: "Bọn Thái phó Hứa Tĩnh, An Hán tướng quân Mi Trúc, quân sư tướng quân Gia Cát Lượng, Thái thường Lại Cung, Quang lộc huân Hoàng Quyền, Thiếu phủ Vương Mưu dâng lời rằng: “Tào Phi thí chúa soán ngôi, chôn vùi ngôi Hán thất, cướp lấy thần khí, bức hiếp kẻ trung lương, tàn ác vô đạo. Quỷ thần căm giận, đều nghĩ đến họ Lưu. Nay ở trên không có thiên tử, hải nội bàng hoàng, không có chỗ ngóng trông. Quần hạ trước sau dâng sớ hơn tám trăm người, đều nói rõ có điềm lành, và những lời đồ sấm làm chứng cớ rõ ràng. Gần đây có rồng vàng hiện ra ở Xích Thuỷ núi Vũ Dương, suốt chín ngày mới tan. Hiếu kinh dẫn lời của Thần Tiết rằng ‘Ân đức đến cùng cực ắt có rồng vàng hiện ra’, rồng, là hình tượng của vua vậy. Hào thứ chín mươi lăm trong quẻ Càn ở sách Chu Dịch nói ‘rồng bay ở trên trời’, mà đại vương đang như rồng bay lên, xứng nhận lấy ngôi đế vậy.
    Lại làm bài văn tế rằng: “Duy năm Kiến An thứ hai mươi sáu tháng tư ngày Bính Ngọ, Hoàng đế là Bị tiến dụng ngôi huyền mẫu, cáo rõ với Hoàng thiên Thượng đế hậu thổ thần kỳ: Nhà Hán có thiên hạ, số vận dài đến vô cùng. Xưa kia Vương Mãng soán đạo, Quang Vũ hoàng đế nổi giận lôi đình tru diệt đi, xã tắc lại còn. Nay Tào Tháo cậy quyền binh làm chuyện tàn nhẫn, tru lục cả chủ hậu, đầy trời ngập đất, tội trạng đã rõ ràng. Con Tháo là Phi, lại làm chuyện hung nghịch, cướp giữ ngôi thần khí. Quần thần tướng sĩ cho rằng xã tắc đã đổ nát, nên Bị phải kế vào, tiếp nối cơ nghiệp của hai tổ, tuân kính mệnh trời đánh kẻ có tội.
    Nguỵ thư chép: Bị nghe tin Tào Công chết, sai phó quan là Hàn Nhiễm dâng điếu thư, lại gửi đồ lễ phúng viếng. Văn Đế ghét cái việc nhân lễ tang cầu thân, mệnh cho Thứ sử Kinh Châu chém Nhiễm, tuyệt đường sứ mệnh. Điển lược chép: Bị phái tham mưu duyện Hàn Nhiễm mang điếu thư, lại dâng gấm vóc. Nhiễm xưng có bệnh, ở lại Thượng Dung. Từ Thượng Dung dâng thư lên, gặp lúc thọ chung, có chiếu thư hồi đáp cho Nhiễm được vào chầu. Bị được thư hồi đáp, bèn xưng chế. Năm Chương Vũ nguyên niên mùa hạ tháng tư, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu. Lấy Gia Cát Lượng làm Thừa tướng, Hứa Tĩnh làm Tư đồ. Đặt ra trăm quan, xây dựng tông miếu, hợp tế ở miếu Cao Hoàng đế
    "
    - Năm 222, Tôn Quyền cũng xưng Đế, lập nước Ngô và đóng đô ở Kiến Nghiệp. Trước đó vào năm 221, Ngụy Văn đế phong Tôn Quyền chức Ngô vương và Tôn Quyền đã xưng thần với Hoàng đế Ngụy. Tam quốc chí - phần Ngô thư chép: "Từ thời Ngụy Văn Đế lên ngôi vị, Quyền vâng lệnh xưng thần, lại sai bọn Vu Cấm về".
    Trong năm 221, quân đội Thục Hán tiến đánh quân Đông Ngô ở trận Di Lăng để trả thù cho cái chết của Quan Vũ.

    [​IMG]
    Lược đồ trận Di Lăng (chỗ màu đỏ là nơi diễn ra trận đánh, nay thuộc Hồ Bắc)

    [​IMG]
    Hình ảnh mô phỏng trận Di Lăng
    + Tam quốc chí - phần Thục chí tướng thuật trận Di Lăng "Năm thứ hai mùa xuân rằm tháng giêng, quân của Tiên chủ về lại Tỷ Quy, thuỷ quân của các tướng Ngô Ban-Trần Thức đóng ở Di Lăng, giáp với bờ tây xứ Giang Đông. Tháng hai, Tiên Chủ từ Tỷ Quy dẫn chư tướng tiến quân, men theo núi Tiệt Lĩnh, ở Di Đạo xứ Hào Đình đóng doanh trại, men núi Giáp thông sang Vũ Lăng, phái Thị Trung là Mã Lương yên uỷ rợ Man Di ở Ngũ Khê, các tù trưởng đều hưởng ứng. Trấn bắc Tướng quân Hoàng Quyền làm Đô đốc các quân ở Giang Bắc, cùng với quân Ngô cự nhau ở Di Lăng đạo. Mùa hạ tháng sáu, có luồng khí màu vàng hiện ra ở Tỷ Quy trong vòng mấy chục dặm, rộng đến mấy chục trượng. Hơn chục ngày sau, Lục Nghị đại phá quân Tiên Chủ ở Hào Đình, tướng quân Phùng Tập-Trương Nam đều bị chết. Tiên Chủ từ Hào Đình chạy về Tỷ Quy, thu họp binh sĩ li tán, rồi bỏ thuyền, theo đường bộ chạy về Ngư Phúc, đổi huyện Ngư Phúc thành Vĩnh An. Ngô sai tướng quân Lý Dị-Lưu A ngầm bám theo quân của Tiên Chủ, đóng binh ở Nam Sơn. Mùa thu tháng tám, thu binh trở về. Tư đồ Hứa Tĩnh chết. Mùa đông tháng mười, chiếu cho Thừa tướng Lượng lập quân doanh suốt từ nam lên Bắc tới Thành Đô. Tôn Quyền hay tin Tiên Chủ đóng ở Bạch Đế, rất sợ, sai sứ đến xin hoà. Tiên Chủ đồng ý, sai Thái trung đại phu Tông Vĩ đến đáp mệnh. Mùa đông tháng mười hai, Hán gia Thái thú Hoàng Nguyên nghe tin Tiên Chủ ốm không đến thăm, cất binh chống lại".
    - Năm 222, quân Thục Hán bị quân Ngô của Lục Tốn đánh bại. Sách Tam quốc chí viết rõ tình hình ở hai nước:
    + Phần Ngô thư chép: "Năm đó, Lưu Bị đem quân đến đánh, đến huyện Vu Sơn, Tỉ Quy, sai sứ giả dụ dỗ người Man Di ở quận Vũ Lăng, trao cho ấn tín, hứa sẽ phong thưởng cho họ. Do đó các huyện cùng dân ở miền Ngũ Khê đều phản Ngô theo Thục. Quyền lấy Lục Tốn làm Đô đốc, sai bọn Chu Nhiên, Phan Chương đến chống quân Thục. Sai Đô úy Triệu Tư đi sứ đến nhà Ngụy. Ngụy Đế hỏi rằng: “Ngô Vương là chủ thế nào”? Tư đáp rằng: “Thông minh, có nhân, có trí, là vị vua hùng lược vậy”. Đế hỏi tình trạng, Tư nói: “Nạp Lỗ Lúc ở chỗ bọn phàm tục, đấy là cái thông đạt của Vương vậy; cử Lữ Mông ở chỗ đánh trận, đấy là cái sáng suốt của Vương vậy; bắt được Vu Cấm mà không làm hại, đấy là cái nhân của Vương vậy; lấy Kinh Châu mà mũi đao không vấy máu, đấy là cái trí của Vương vậy; dựa vào ba châu như hổ ngồi xem thiên hạ; đấy là cái hùng của Vương vậy; nhún nhường với bệ hạ, đấy là cái tài lược của Vương vậy”
    Tháng giêng mùa xuân năm Hoàng Vũ thứ nhất, bộ tướng của Lục Tốn là bọn Tống Khiêm đánh năm đồn của quân Thục, đều phá được, chém tướng của chúng. Tháng ba, người quận Bà Dương nói là có rồng vàng xuất hiện. Quân Thục chia ra giữ các chỗ hiểm, trước sau dựng hơn năm mươi trại, Tốn tùy từng trại lớn hay nhỏ mà đem quân chống giữ, từ tháng giêng đến tháng nhuận, đại phá chúng, chém mấy vạn đầu lúc đánh trận và quân đến hàng. Lưu Bị chạy trốn, chỉ thoát thân được
    "
    + Phần Thục chí chép: "Mùa hạ tháng sáu, có luồng khí màu vàng hiện ra ở Tỷ Quy trong vòng mấy chục dặm, rộng đến mấy chục trượng. Hơn chục ngày sau, Lục Nghị đại phá quân Tiên Chủ ở Hào Đình, tướng quân Phùng Tập-Trương Nam đều bị chết. Tiên Chủ từ Hào Đình chạy về Tỷ Quy, thu họp binh sĩ li tán, rồi bỏ thuyền, theo đường bộ chạy về Ngư Phúc, đổi huyện Ngư Phúc thành Vĩnh An. Ngô sai tướng quân Lý Dị-Lưu A ngầm bám theo quân của Tiên Chủ, đóng binh ở Nam Sơn. Mùa thu tháng tám, thu binh trở về. Tư đồ Hứa Tĩnh chết. Mùa đông tháng mười, chiếu cho Thừa tướng Lượng lập quân doanh suốt từ nam lên Bắc tới Thành Đô. Tôn Quyền hay tin Tiên Chủ đóng ở Bạch Đế, rất sợ, sai sứ đến xin hoà".
    - Năm 222, Lưu Bị qua đời ở thành Bạch Đế. Tam quốc chí - phần Thục chí chép: "Mùa đông tháng mười hai, Hán gia Thái thú Hoàng Nguyên nghe tin Tiên Chủ ốm không đến thăm, cất binh chống lại (...). Triều đình phái tướng quân Trần Hốt đánh dẹp Nguyên, quân Nguyên bị thua, thuận theo sông xuống hạ lưu, bị thân binh bắt trói lại, đem về Thành Đô, bị chém. Tiên Chủ ốm nặng, phó thác con côi cho Thừa tướng Lượng, Thượng thư lệnh Lý Nghiêm làm phó. Tháng tư mùa hạ ngày Quý Tỵ, Tiên Chủ băng ở Vĩnh An cung, bấy giờ sáu mươi ba tuổi".
    Lưu Thiện lên ngôi Hoàng đế Thục Hán, hiệu là Thục Hậu chủ. Phần Thục chí viết chi tiết về tiêu sử của tân vương Thục Hán: "Hậu Chủ huý Thiện, tự Công Tự, con trai Tiên Chủ. Năm Kiến An thứ hai mươi tư, Tiên Chủ lên làm Hán Trung vương, lập (Hậu Chủ) làm vương Thái Tử (...). Mùa hạ năm Kiến Hưng nguyên niên, ận không theo mệnh lệnh. Di vương ở Việt Tuyển là Cao Định cũng dấy loạn. Năm ấy (Hậu Chủ) cưới Hoàng Hậu Trương thị (...). Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ hai, chuyên cần cầy cấy trồng trọt lương thực, đóng cửa an dân" (các đoạn còn lại nói về việc Thừa tướng Thục Hán là Gia Cát Lượng dẹp loạn nên không trích dẫn lên đây)

    [​IMG]


    - Từ năm 222 đến năm 229, sau cái chết của Thục Hán Tiên chủ, Thừa tướng của Thục Hán là Khổng Minh đã thiết lập lại quan hệ bang giao với Ngô để chống Tào Ngụy, tạo nên sự ổn định của trục ba quốc gia.
    [​IMG]
    Thừa tướng Thục Hán là Khổng Minh - Gia Cát Lượng

    + Theo Thục chí của Tam quốc chí, Thừa tướng Gia Cát Lượng lập tức hòa hảo với Ngô, đồng thời nhiều lần đem quân đánh các cuộc phản loạn trong nước để giữ yên quốc gia: "Năm Kiến Hưng nguyên niên, (Hậu Chủ) cưới Hoàng Hậu Trương thị. Lại sai Thượng Thư lang Đặng Chi sang sứ kết thân với Ngô. Ngô vương sai sứ đáp lễ giảng hoà với Thục. Cùng năm (hai bên) qua lại hoà hảo". Ở các năm tiếp theo, quân Thục Hán tiếp tục đánh quân phản loạn để giữ yên nước Ngô. Tam quốc chí - phần Thục chí chép thêm: "Tháng ba, mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ ba, Thừa tướng Lượng đi đánh bốn quận phía nam. Bốn quận đều bình định được (...). Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ năm, Thừa tướng Lượng dẫn quân ra đóng đồn ở Hán Trung, lập doanh trại trên sông Miện, phía bắc đường lớn Dương Bình (...). Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ sáu, Lượng ra đánh Kỳ Sơn, không thắng được. Mùa đông (năm ấy) lại ra Tán Quan, vây Trần Thương, hết lương phải rút lui. Nguỵ tướng Vương Song mang quân đuổi theo Lượng. Lượng giao chiến (với Song) đánh bại, chém chết Song rồi trở về Hán Trung. Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ bảy, Lượng sai Trần Thức tấn công Vũ Đô, Âm Bình cuối cùng thắng trận, an định được hai quận. Mùa đông (năm ấy), Lượng dời đại bản doanh ở nam sơn đến vùng bình nguyên, lại xây Hán - Nhạc hai thành (...). Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ bảy, Lượng sai Trần Thức tấn công Vũ Đô, Âm Bình cuối cùng thắng trận, an định được hai quận. Mùa đông (năm ấy), Lượng dời đại bản doanh ở nam sơn đến vùng bình nguyên, lại xây Hán - Nhạc hai thành. Cùng năm Tôn Quyền xưng đế, kết giao với Thục thề ước cùng chia thiên hạ"

    - Năm 229, Tôn Quyền chính thức xưng Đế ở Kiến Xương, hiệu Ngô Đại đế của nước Đông Ngô. Sách Tam quốc chí ghi rất giản lược sự kiện này: "Năm Kiến Hưng thứ bảy (của vua Thục Hậu chủ), Tôn Quyền xưng đế, kết giao với Thục thề ước cùng chia thiên hạ" (Tam quốc chí - phần Thục chí). Riêng phần Ngô chí của sách này viết có một chút: "Quyền bèn đổi niên hiệu, đến sông chống giữ (quân Tào Ngụy - tác giả chú)"
    [​IMG] chân dung vua Tôn Quyền

    Phần lớn miền bắc hoàn toàn thuộc nhà Ngụy, trong khi đó Thục chiếm miền tây nam bao gồm Tứ Xuyên và Ngô chiếm miền trung tâm phía nam và phía đông. Biên giới phía ngoài của ba quốc gia này bị giới hạn bởi ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa. Ví dụ, kiểm soát về chính trị của nhà Thục trên biên giới phía nam của mình bị giới hạn bởi các bộ lạc người Thái trong tỉnh Vân Nam và Myanmar ngày nay, nhà Ngô không thể vươn tới mà phải tồn tại cùng nước Lâm Ấp (của người Chăm).

    - Từ năm 222 đến năm 234 là thời kỳ nước Thục và Ngô tăng cường ổn định quốc gia để củng cố liên minh chống Ngụy:
    * Nước Ngô: chiến thắng trước Lưu Bị kết thúc thời kỳ thù địch Thục - Ngô để chính quyền nước Ngô an tâm vào việc củng cố đất nước trước các cuộc nổi dậy của các bộ lạc địa phương. Sau khi lên ngôi Hoàng đế nước Đông Ngô, Tôn Quyền "truy tôn cha là Phá lỗ tướng quân Kiên làm Vũ Liệt Hoàng Đế, mẹ là Ngô thị làm Vũ Liệt Hoàng hậu, anh là Thảo nghịch tướng quân Sách làm Trường Sa Hoàn Vương. Ngô Vương Thái tử Đăng làm Hoàng thái tử. Các tướng lại đều được thưởng thêm" (...). Vua nước Thục sau đó đã cử Vệ úy Trần Chấn đều mừng ông lên ngôi. "Quyền bèn phân chia thiên hạ, các châu Dự, Thanh, Từ, U thuộc Ngô, các châu Duyện, Kí, Tinh, Lương thuộc Thục. Các đất mình quản thì lấy cửa Hàm Cốc làm ranh giới" (trích phần Ngô thư - Tam quốc chí)
    + Chính quyền Đông Ngô tích cực ổn định quốc gia và quốc gia phát triển, cư dân khá sung túc. Sách Tam quốc chí - phần Ngô chí viết rõ (ở đây trích đoạn): "Tháng hai mùa xuân năm Hoàng Vũ thứ ba, sai Thái thường Phan Tuấn đem năm vạn quân đánh người Man Di ở quận Vũ Lăng. Bọn Vệ Ôn, Gia Cát Trực đều làm trái chiếu lệnh mà không lập công, bắt vào ngục (..). Tháng mười mùa đông, Quyền đem đại quân ẩn đợi ở gò Phụ Lăng đợi, Lăng (tướng nước Ngụy, tức Vương Lăng) biết bèn lui" (...). Tháng ba (năm Gia Hòa nguyên niên đời vua Tôn Quyền), sai Tướng quân Chu Hạ, Hiệu úy Bùi Tiềm vượt biển đến quận Liêu Đông. Tháng chín mùa thu, tướng Ngụy là Điền Dự chặn đánh, chém bọn Hạ ở núi Thành Sơn" (...). Năm Gia Hòa thứ hai, tướng Đông Ngô là Công Tôn Uyên phản Đông Ngô, giết quân tướng rồi đầu hàng Ngụy. Ngô đế tính đánh, nhưng đại thần can nên thôi. "Tháng năm mùa hạ, Quyền sai bọn Lục Tốn, Gia Cát Cẩn đóng quân ở Giang Hạ, Miện Khẩu; bọn Tôn Thiều, Trương Thặng hướng đến Quảng Lăng, Hoài Dương; Quyền đem đại quân vây Tân Thành quận Hợp Phì (của Thừa tướng Thục Hán là Gia Cát Lượng). Quyền cho là Ngụy Minh Đế không thể đi xa, nhưng Đế sai quân giúp Tư Mã Tuyên Vương (tức Tư Mã Ý - tác giả chú) chống Lượng, tự đem quân thủy đánh phương đông. Chưa đến Thọ Xuân, Quyền rút về, Tôn Thiều cũng bãi binh" (...) Giặc ở quận Lư Lăng là bọn Lí Hoàn, La Lệ làm loạn. Mùa hạ năm thứ tư, sai Lữ Đại đánh bọn Hoàn".
    + Chính quyền Đông Ngô đúc tiền: "Mùa xuân năm Gia Hòa thứ năm, đúc tiền lớn, một thoi tiền giá năm trăm tiền cũ. Hạ chiếu sai quan dân chuyển đồng, tính giá trị của đồng. Đặt phép tắc cấm tự đúc tiền" (đến năm Xích Ô nguyên niên lại đúc tiền đồng to hơn tiền hiện hành)
    + Đông Ngô tiếp tục ổn định quốc gia: "Tháng hai (năm Gia Hòa thứ sáu đời Tôn Quyền), Lục Tốn đánh bọn Bành Đán, năm đó đều phá chúng. Tháng mười mùa đông, sai Vệ tướng quân Toàn Tông đánh úp huyện Lục An, không thắng. Gia Cát Khác dẹp người Sơn Việt xong việc, lên phía bắc đóng quân ở quận Lư Giang" (...). Mùa hạ (năm Xích Ô nguyên niên), Lữ Đại đánh giặc ở quận Lư Lăng, xong, về Lục Khẩu (...) Tháng 3 mùa xuân năm Xích Ô thứ hai, "sai sứ giả là Dương Đạo, Trịnh Trụ, Tướng quân Tôn Di đến quận Liêu Đông, đánh tướng giữ thành của nước Ngụy là bọn Trương Trì, Cao Lự, bắt được trai gái của chúng". (...). Tháng mười mùa đông năm Xích Ô thứ hai, Tướng quân Tưởng Bí xuống phía nam đánh giặc người Di" (...) Tháng đó, Thái phó của nước Ngụy là Tư Mã Tuyên Vương đến cứu thành Phàn. Tháng sáu, đem quân về. Tháng nhuận, Đại tướng quân Cẩn chết. Tháng tám mùa thu, Lục Tốn đắp thành ở huyện Chu". Tháng giêng năm Xích Ô thứ sáu, "Gia Cát Khác đánh huyện Lục An, phá trại của tướng Ngụy là Tạ Thuận, bắt lấy người dân huyện ấy'.
    * Quân Đông Ngô xâm chiếm nước Âu Lạc cũ (đất Giao Châu). Tam quốc chí - phần Ngô thư chép: "(năm Xích Ô thứ hai) các quận Uất Lâm, Thương Ngô thuộc Giao Châu nhiễu động, có mấy vạn quân. Sai Tướng quân Lữ Đại, Đường Tư đánh chúng, hơn một năm đều phá được".
    * Vua nước Phù Nam dâng phương vật: "Tháng mười hai (năm Xích Ô thứ sáu), vua nước Phù Nam là Phạm Chiên sai sứ dâng nhạc kĩ và phương vật".
    Tình hình nước Ngô sau khi Thừa tướng Lục Tốn mất: "Tháng hai mùa xuân năm thứ tám (Xích Ô), Thừa tướng Lục Tốn chết. Mùa hạ, sấm sét đánh vào cột cửa cung, lại đánh vào cột cầu lớn bờ nam sông. Nước lớn tràn ngập ở huyện Trà Lăng, cuốn trôi hơn hai trăm nhà dân (...)
    Tháng hai mùa xuân năm thứ chín, Xa kị tướng quân Chu Nhiên đánh huyện Tổ Trung của nước Ngụy, bắt chém hơn nghìn người (...). Mùa thu cùng năm, Bộ Chất làm Thừa tướng nước Đông Ngô. "Tháng năm mùa hạ, Thừa tướng Bộ Chất chết. Tháng mười mùa đông, tha người tử tội. Tháng giêng mùa xuân năm thứ mười một, Chu Nhiên đắp thành ở Giang Lăng. Tháng hai, đất vẫn rung" (...). Tháng 6 năm Thái Nguyên nguyên niên, "có gió lớn, sông biển tràn ngập, đất bằng chìm sâu đến tám thước, cây tùng bách ở Cao Lăng thuộc Ngô Quận nứt bật, chim ở cửa phía nam thành quận rơi xuống. Tháng mười một mùa đông, đại xá. Quyền tế đàn nam giao về, mắc bệnh" (...). "Tháng mười hai, sai người gọi Đại tướng quân Khác về, bái làm Thái tử thái phó. Hạ chiếu giảm lao dịch, bớt thu thuế, trừ cái khổ nhọc của dân" (...) "Tháng tư mùa hạ, Quyền hoăng, bấy giờ bảy mươi mốt tuổi, thụy là Đại Hoàng Đế. Tháng bảy mùa thu, táng ở Tưởng Lăng"


    *** Tam quốc chí - phần Ngô chí nói về việc chính quyền Đông Ngô đô hộ nước Âu Lạc cũ:

    + Truyện Bộ Chất: "Năm Kiến An thứ mười lăm, ra làm Bà Dương Thái thú. Trong năm đó, chuyển làm Giao Châu Thứ sử" (...) "Năm Diên Khang thứ nhất, Quyền sai Lữ Đại thay Chất, Chất đem vạn nghĩa sĩ ở Giao Châu lên quận Trường Sa".
    + Truyện Lữ Đại: "Năm Diên Khang nguyên niên, Đại lên thay Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu. Lúc đến châu, tên đầu lĩnh của giặc ở Cao Lương là Tiền Bác xin hàng, Đại nhân đó thừa chế, lấy Bác làm Cao Lương tây bộ Đô úy (...). Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp chết, Quyền dùng con của Tiếp là Huy làm An Viễn tướng quân, lĩnh chức Thái thú Cửu Chân, lấy Hiệu úy Trần Thì lên thay Tiếp. Đại dâng biểu xin chia ba quận ở Hải Nam lập ra Giao Châu, lấy Tướng quân Đái Lương làm Thứ sử, chia bốn quận ở Hải Đông làm Quảng Châu, Đại tự mình làm Thứ sử. Rồi phái Lương và Thì vào phương nam, nhưng Huy không vâng lệnh, dấy binh đóng ở cửa biển để chống cự bọn Lương (...). Đại vì thế dâng sớ xin đánh dẹp Huy trị tội, đốc suất ba nghìn quân đêm ngày vượt biển (...). Rồi đi, qua Hợp Phố, cùng với bọn Lương đều tiến lên. Huy nghe tin Đại đến, quả nhiên kinh hãi cuống cuồng, không biết chạy đâu, bèn thống suất sáu người anh em cởi trần trùng trục ra nghênh đón Đại. Đại chém hết bọn họ đưa đầu về kinh đô. Đại tướng của Huy là bọn Cam Lễ, Hoàn Trị thống suất quan dân tấn công Đại, Đại gắng sức đánh đại phá chúng, bởi có công Đại được tấn phong tước Phiên ngu hầu. Vì thế giữ chức ở Quảng Châu, sau lại làm Thứ sử Giao Châu như cũ.
    Đại đã bình định được Giao Châu, lại tiến lên đánh dẹp quận Cửu Chân, chém và bắt sống mấy vạn người. Lại phái quan Tòng sự xuôi nam tuyên bố phong hóa của nhà nước, truyền đến các bậc Vương của các nước Phù Nam, Lâm Ấp, Đường Minh ở ngoài biên, bọn họ đều phái sứ giả dâng cống vật. Quyền khen ngợi công lao ấy, bái Đại làm Trấn Nam tướng quân
    ".
    + Tiết Tống truyện: "Lữ Đại từ Giao Châu được gọi về, Tống dâng sớ với vua Đông Ngô (sớ khá dài nên không trích ở đây). Trong bản sớ này có nói về phong tục của cư dân Giao Châu như sau (trích đoạn): "Sau đó Tích Quang làm Giao Chỉ Thái thú, Nhậm Diêm làm Cửu Chân Thái thú, bèn dạy dân ấy cày bừa, đội mũ đi giày, sắp đặt mai mối, mới biết cưới hỏi, dựng lập trường học, giảng dạy kinh truyện. Do đó chịu phục, hơn bốn trăm năm, có phần chuyển hóa. Từ thời trước thần làm khách đến đấy, người quận Châu Nhai bỏ phép cưới hỏi của châu huyện, đều hẹn đến tháng tám thì mở cửa, vào lúc người dân tụ tập, trai gái tự kén chọn nhau, nếu vừa ý thì làm vợ chồng, cha mẹ không cấm được. Ở hai huyện Mi Linh quận Giao Chỉ, huyện Đô Lung quận Cửu Chân, có tục anh chết thì em lấy chị dâu, nhiều đời cho đấy là thói thường, quan lại nghe biết cũng không ngăn được. Trai gái quận Nhật Nam cởi trần, không cho là thẹn. Do đó mà nói, có thể ví như sâu bọ có tai mắt mặt mũi vậy. Vậy nhưng đất rộng người đông, hiểm trở độc hại, dễ gây phản loạn, khó đến đánh dẹp. Quan lại chỉ ràng buộc, diễu oai vỗ về mà thôi, còn như tô thuế của ruộng nhà, chuyển chở cung cấp,chỉ thích các đồ ngọc trai, thuốc thơm, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, san hô, ngọc sáng, chim vẹt, phỉ thúy, khổng tước, vật lạ, vật báu chất đầy" (...) Bấy giờ tướng cũ của Tân là bọn Di Liệu, Tiền Bác còn nhiều, do đó Chất đến sửa trị, lập lại phép tắc, vừa lúc lại gọi về. Rồi đó Lữ Đại đến, có cuộc biến của họ Sĩ, đem quân đánh phía nam, đến ngày dẹp xong, đặt lại quan lại, nêu rõ kỉ cương, diễu oai vạn dặm, lớn nhỏ cúi phục. Do đó mà nói, vỗ về biên giới, thực là người ấy. Làm quan ở phương xa phải nên trong sạch, ở ngoài cõi hoang phục thì họa phúc rất lắm.
    Ngày nay Giao Châu dẫu mới định nhưng ở huyện Cao Lương còn có giặc ẩn nấp; bốn quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Châu Quan vẫn chưa yên, dựa vào đó mà cướp bóc, trở thành nơi ẩn nấp của bọn phản loạn trốn tránh. Nếu Lữ Đại không còn ở phương nam, quan Thứ sử mới đến phải cẩn thận, trông coi tám quận, mưu lược phải rõ ràng mới dần dần dẹp được giặc ở Cao Lương, phải dựa vào oai sủng, cậy vào hình thế, noi theo phép tắc của Đại mới mong sửa sang được. Nếu chỉ dùng người tầm thường, chọn lấy phép tắc sơ qua, không có mưu hay kế lạ thì bọn giặc càng thêm đông, lâu ngày gây hại. Cho nên sự an nguy của nhà nước trông chờ vào việc dùng người, không thể không xét kĩ vậy. Thần lo triều đình coi thường việc kén chọn, cho nên dám bày tỏ ý ngu để nêu rõ đức thánh
    ”.
    + Sĩ Tiếp truyện: "Sau khi Chu Phù chết, nhà Hán phái Trương Tân tới làm Thứ sử Giao Châu, Tân sau lại bị tướng của mình là Khu Cảnh giết hại ở đó, nên Kinh châu mục Lưu Biểu phái người ở Linh Lăng là Lại Cung đến thay Tân (...) Nhà Hán nghe tin Trương Tân chết, ban ấn thư cho Tiếp nói: “Đất Giao Châu ở tận cùng bờ cõi, phía nam liền với sông biển, ân trên chẳng tỏ hết được, đạo nghĩa ở dưới tắc nghẽn, biết kẻ nghịch tặc là Lưu Biểu vừa phái Lại Cung dòm ngó đất phương nam, nay cho Tiếp làm Tuy nam Trung lang tướng, đốc trách bảy quận, lĩnh chức Thái thú Giao Chỉ như cũ”. Sau Tiếp phái Trương Mân dâng cống vật đến kinh đô (...). Năm Kiến An thứ mười lăm, Tôn Quyền phái Bộ Chất tới làm Thứ sử Giao Châu. Chất đến nơi, Tiếp thống suất anh em vâng mệnh nhận chức Tiết độ. Nhưng Ngô Cự mang dị tâm, Chất chém đi (...). Quyền càng khen Tiếp, thăng làm Vệ Tướng quân, phong tước Long Biên hầu, em trai là Nhất làm Thiên tướng quân, tước Đô Hương hầu. Tiếp thường phái sứ giả đến chỗ Quyền, dâng cống các loại gỗ thơm, vải tốt, thường đến hàng nghìn tấm, các đồ quý báu như ngọc trai, vỏ sò lớn, lưu li, chim phỉ thuý, đồi mồi, tê giác, voi, các vật quý quả lạ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không đưa tới. Có lúc cống cả thảy mấy trăm con ngựa. Quyền lập tức viết thư, ban cho ân sủng hậu hơn nữa, nhằm đáp lễ và uý lạo Tiếp. Tiếp ở quận hơn bốn chục năm, năm Hoàng Vũ thứ năm, lúc chín mươi tuổi thì chết. Quyền vì thấy quận Giao Chỉ ở nơi xa, bèn tách từ Hợp Phố về bắc đặt làm Quảng châu, lấy Lã Đại làm Thứ sử; từ Giao Chỉ về nam đặt làm Giao châu, lấy Đái Lương làm Thứ sử. Lại phái Trần Thời thay Tiếp làm Thái thú Giao Chỉ. Lúc đó Sĩ Huy chống cự quyết liệt (phần này khá dài nên không trích dẫn).
    + Truyện Lục Khải, phần phụ chép về em của Lục Khải là Lục Dận có nói về khởi nghĩa Bà Triệu ở Giao Châu năm 248: "Năm Xích Ô thứ mười một, người rợ ở quận Giao Chỉ, Cửu Chân (88) đánh diệt thành ấp, Giao Châu nhiễu động. Lấy Dận làm Giao Châu Thứ sử, An nam Hiệu úy. Dận vào miền nam, dùng ân tín để dụ, ưa việc chiêu nạp, hơn ba nghìn người phe đảng của bọn cừ súy Hoàng Ngô ở huyện Cao Lương đều ra hàng. Dẫn quân xuống phía nam, tuyên bố rất thật, đem tiền của để trao tặng. Hơn trăm tướng giặc, năm vạn người dân ở nơi sâu xa khó quản, chẳng ai không cúi đầu, do đó Giao Châu yên bình. Liền bái chức An nam Tướng quân" (chú thích số 88: Người rợ ở quận Giao Chỉ, Cửu Chân: ý nói đến Triệu Ẩu, người quận Cửu Chân, bấy giờ tụ quân nổi dậy chống quan lại nước Ngô ở Giao Châu)


    + Tôn Hạo truyện: "Năm Nguyên Hưng nguyên niên, nhà Ngụy đặt quan Giao Chỉ Thái thú sai đến quận (...). Tháng chín mùa thu (năm Nguyên Hưng thứ hai), Hạo ra Đông Quan, Đinh Phụng đến Hợp Phì. Năm đó, sai bọn Giao Châu Thứ sử Lưu Tuấn, Tiền bộ đốc Tu Tắc vào đánh quận Giao Chỉ, bị tướng Tấn là bọn Mao Quýnh phá, đều chết, quân tan về quận Hợp Phố (...). Tháng giêng năm Kiến Hành thứ nhất, "Sai Giám quân Ngu Tỉ, Uy nam Tướng quân Tiết Hủ, Thương Ngô Thái thú Đào Hoàng đi từ đường Kinh Châu, Giám quân Lí Úc, Đốc quân Từ Tồn đi từ đường biển Kiến An, đều đến quận Hợp Phố đánh quận Giao Chỉ" (...). Năm Kiến Hành thứ ba, "bọn Tỉ, Hoàng phá quận Giao Chỉ, bắt giết tướng giữ thành mà nhà Tấn đặt, do đó các quận Cửu Chân, Nhật Nam đều thu về" (....) "Đại xá, chia quận Giao Chỉ lập quận Tân Xương" (...) Tháng 8 năm Kiến Hành thứ ba, "Hạo lại sai Từ Lăng Đốc là Đào Tuấn đem bảy nghìn quân từ đường phía tây đến, sai Giao Châu Mục là Đào Hoàng đem quân bản bộ cùng quân của các quận Hợp Phố, Uất Lâm và quân đường phía tây cùng đi đánh Mã."
    + Tôn Hưu truyện: "Tháng năm (năm Vĩnh An thứ sáu), quan lại của quận Giao Chỉ là bọn Lữ Hưng làm phản, giết Thái thú Tôn Tư. Lúc đầu Tư bắt hơn nghìn thợ khéo trong quận đưa đến Kiến Nghiệp, vừa lúc quan Sát chiến đến, sợ lại bị bắt, cho nên bọn Hưng nhân đó phát động quân dân, chiêu dụ người rợ vậy (...). "Lữ Hưng đã giết Tôn Tư, sai sứ đến nước Ngụy, xin Thái thú và quân sĩ đến. Thặng tướng Hưng dâng tấu chọn vạn người làm ruộng cho làm quân sĩ".

    * Nước Thục Hán (220 - 250):
    Nước Thục Hán ở Thành Đô có hai đời Hoàng đế là Chiêu Liệt đế Lưu Bị và Hậu chủ Lưu Thiện. Lưu Bị thành lập nước Thục Hán, có Gia Cát Lượng phò tá nên thế nước dần tăng lên. Sau khi Chiêu Liệt đế qua đời ở thành Bạch Đế, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá con trai của Chiêu Liệt đế là Thục Hậu chủ Lưu Thiện. Sách Tam quốc chí - phần Thục chí (hay có chỗ ghi là Thục thư) viết rõ sự thành lập và tan rã của nhà nước này. Nhân vật có công gầy dựng nên nhà nước này không ai khác chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng (và những người kế tục). Phần viết này sẽ trình bày hai phần nhỏ: một phần nói về Gia Cát Lượng (tiểu sử), phần còn lại sẽ nói thêm về những việc làm Thừa tướng Khổng Minh từ khi Hậu chủ lên ngôi:
    a. Khổng Minh và sự ra đời của nước Thục Hán (phần này chọn lọc tư liệu và khái lược, vì phần trước đó có nói sơ qua nên không nhắc lại)
    * Tiểu sử Khổng Minh (phần này trích lược từ Tam quốc chí - phần Thục chí):
    "Gia Cát Lượng tự Khổng Minh, người quận Lang Nha huyện Dương Đô, là hậu duệ của quan Tư lệ Hiệu úy là Gia Cát Phong nhà Hán. Cha là Khuê, tự Quân Cống, thời Hán mạt làm Quận thừa ở Thái Sơn. Lượng mồ côi sớm, theo chú là Huyền tạm làm thái thú Dự Chương cho Viên Thuật (...). Huyền mất, Lượng tự mình cày ruộng, thường ca Lương phụ ngâm. Hán Tấn xuân thu viết: Nhà Lượng ở huyện Đặng thuộc Nam Dương, cách thành Tương Dương 20 dặm về phía Tây, xứ ấy gọi là Long Trung. Lượng cao tám thước, thường tự ví mình với Quản Trọng-Nhạc Nghị, người bấy giờ chẳng mấy ai cho là vậy (...). Nguỵ lược chép: Lượng ở Kinh Châu, năm Kiến An sơ, cùng với Thạch Quảng Nguyên và Từ Nguyên Trực ở Dĩnh Xuyên, Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam đều là bạn học. Ba người kia đều chuyên cần học tập đến lẽ tinh thục, riêng Lượng chỉ xem xét đại lược mà thôi. Mỗi lúc sớm tối thong dung, thường ôm gối cười dài, mà bảo ba người kia rằng: “Ba người mai sau làm quan, xem tài cán chắc sẽ làm đến Thứ sử hoặc Quận thú vậy.” Ba người hỏi chí của Lượng, Lượng chỉ cười không đáp (...). Thời Tiên chủ đóng ở Tân Dã, Từ Thứ ra mắt Tiên chủ, được Tiên chủ rất kính trọng, Thứ muốn giúp Tiên chủ mới bảo: “Gia Cát Khổng Minh là bậc trí giả, được gọi là “con rồng nằm”, tướng quân há chẳng mong được gặp ư? ”Tương dương ký chép: Lưu Bị bàn chuyện thế sự với Tư Mã Đức Tháo (5) , Đức Tháo nói: “Đám nho sinh tục sỹ, há biết được thời thế ư? Biết thời vụ mới là tuấn kiệt. Tất chỉ có một trong hai người Phục Long, Phượng Sồ”. Bị hỏi là ai? Đáp: “Là Gia Cát Khổng Minh và Bàng Sỹ Nguyên đó”.Tiên chủ nói: “Tiên sinh hãy đưa y đến gặp ta.” Thứ nói: “Người này chỉ có thể tới gặp, chứ chẳng thể vời, tướng quân nên khuất giá tới đó”.
    [​IMG] Gia Cát Lượng (tranh vẽ)
    [​IMG]
    [​IMG]
    "Tam cố thảo lư" là giai thoại nổi tiếng kể lại việc Lưu Bị từng 3 lần tới nhà nhà tranh để mời Gia Cát Lượng xuất núi cùng mình mưu tính đại sự. (Tranh minh họa).

    [​IMG]
    Lưu Bị bàn chuyện đại sự với Gia Cát Lượng

    Bởi thế Tiên Chủ đến chỗ Lượng, tất cả ba lần, được gặp, cho đuổi hết người đi rồi nói: “Hán thất nghiêng ngửa suy đồi, gian thần tiếm quyền, chúa thượng chịu nỗi phong trần. Cô chẳng tự lượng đức lượng lực, muốn đem tín nghĩa tỏ rõ cùng thiên hạ, nhưng trí thuật kém cỏi, để giặc thoả sức tung hoành, cho đến tận hôm nay. Hiềm vì ý riêng vẫn còn chưa dứt, tiên sinh hãy mách bảo cho kế sách lâu dài được chăng?”. Lượng đáp rằng : “Từ thời Đổng Trác tới đây, hào kiệt cùng nổi dậy, vượt châu chiếm quận nhiều không kể xiết. Tào Tháo so với Viên Thiệu, danh tiếng nhỏ chẳng bằng, binh lực chênh lệch, nhưng Tháo lại thắng được Thiệu, lấy yếu thắng mạnh, chẳng phải chỉ có thiên thời, mà còn bởi mưu người nữa. Nay Tháo cầm quân trăm vạn, bức hiếp thiên tử sai khiến chư hầu, bởi thế chẳng thể cùng tranh phong được. Tôn Quyền chiếm cứ Giang Đông, đã trải ba đời, nước hiểm dân thuận, dùng được người hiền tài, như thế chỉ có thể làm ngoại viện chứ chẳng thể thôn tính. Kinh Châu phía Bắc có sông Hán, sông Miện, phía Nam có mối lợi Nam Hải, phía Đông liền với Ngô Hội, phía Tây thông với đất Ba, đất Thục, đó là đất dụng võ, không phải chúa giỏi tất chẳng giữ được, ấy là trời dành cho tướng quân đó, tướng quân có ý gì chăng?
    Ích Châu hiểm trở đầy dẫy, đất đai ngàn dặm phì nhiêu, là kho của trời cho, Cao Tổ nhờ nơi đó mà thành đế nghiệp. Lưu Chương hôn ám nhu nhược, Trương Lỗ đe doạ ở phía Bắc, dân đông nước giầu mà chẳng biết trông coi, kẻ sỹ tài trí chỉ mong gặp đấng minh quân. Tướng quân là dòng dõi tông thất, tín nghĩa sáng rõ bốn bể, đứng đầu những kẻ anh hùng, mong người hiền như khát nước, nếu gộp được cả Kinh-Ích, giữ vững nơi hiểm trở, Tây hoà với các tộc Nhung, Nam phủ dụ Di Việt, ngoài giao hảo với Tôn Quyền, trong sửa sang chính trị; Khi thiên hạ có biến, mệnh cho một viên thượng tướng đưa quân Kinh Châu nhằm hướng Uyển-Lạc, tướng quân đích thân đốc xuất đại binh Ích Châu tiến ra Tần Xuyên, trăm họ ai dám không đem giỏ cơm bầu nước nghênh đón tướng quân? Được như vậy, ắt nghiệp bá có thể thành, Hán thất có thể hưng được vậy.” Tiên Chủ khen “Hay!” Từ đó đối với Lượng tình nghĩa ngày càng thắm thiết. Quan Vũ-Trương Phi rất không hài lòng. Tiên Chủ giải thích rằng: “Cô được Khổng Minh, như cá gặp nước vậy. Các em chớ nên nhiều lời”. Vũ-Phi phải chịu.
    Lượng bèn đi về Bắc ra mắt Bị, do Bị với Lượng chưa từng quen biết, lại thấy Lượng ít tuổi, mới tỏ ý tiếp đãi như đối với học trò. Sau buổi họp, khách khứa đã về hết, chỉ còn lại mình Lượng, Bị vẫn không hỏi han gì cả. Tính Bị thích kết lông mao, gặp lúc có người mới dâng cho Bị một cái đuôi trâu, Bị tự tay ngồi tết. Lượng bèn tiến đến nói: “Minh tướng quân nuôi chí cao xa, mà chỉ ngồi tết đám lông trâu thôi ư!”. Bị biết Lượng tất chẳng phải người tầm thường, liền quẳng cái đuôi trâu đi, bảo: “Sao lại nói vậy? Là ta đang muốn quên đi sự lo lắng buồn phiền đấy thôi!” Lượng nhân đó nói tiếp: “Tướng quân nghĩ Lưu trấn Nam(6) có bằng được Tào công chăng?” Bị đáp: “Không bằng”, Lượng lại hỏi: “Tướng quân tự xét mình thì thế nào?”. Bị đáp: “Cũng chẳng bằng.” Lượng bảo: “Mọi thứ đều chẳng bằng, mà binh sĩ của tướng quân bất quá chỉ mấy ngàn người, lấy quân ấy để đợi địch, có kế cũng chẳng làm gì được!” Bị nói: “Ta đang lo lắng việc ấy, bây giờ nên làm thế nào?”. Lượng nói: “Nay Kinh Châu dân số chẳng phải ít, nhưng số biên trong sổ tịch quá ít ỏi, cứ theo sổ tịch trưng binh, tất nhân tâm không phục; nên nói riêng với Trấn Nam , lệnh cho hết thảy dân di cư trong vùng, đều phải tới chứng thực, nhân đó có thể tuyển thêm người”. Bị theo kế đó, nên được đông quân cường mạnh. Bởi thế Bị biết Lượng thao lược hơn người, bèn lấy lễ thượng khách tiếp đãi.
    Năm Sơ Bình trung, Trung Châu dấy binh, bèn cùng với Thao xuôi nam đến đất Kinh Châu, tới nơi, lại đặc biệt giao kết với Gia Cát Lượng. Gặp lúc Kinh Châu phụ thuộc bên ngoại (9) , Khổng Minh theo về với Lưu Bị, Phúc và Thao cùng về Bắc. Đến năm Hoàng Sơ trung, Thao làm quan đến chức Quận thú, Điển nông Hiệu uý, Phúc làm đến Hữu Trung lang tướng, Ngự sử trung thừa. Tới năm Đại Hoà trung, Gia Cát Lượng ra Lũng Hữu nghe tin Nguyên TrựcQuảng Nguyên quan chức chỉ như thế, cảm thán nói: “Nước Nguỵ nhiều kẻ sĩ vậy! hai người ấy cũng chẳng được dùng ư?” Sau đó vài năm Thứ bị bệnh mất, bia mộ đặt tại Bành Thành, nay vẫn còn ở đó. Tiên Chủ đến Hạ Khẩu, Lượng nói: “Nay việc cấp bách, xin được phụng mệnh đến cầu cứu Tôn tướng quân”. Bấy giờ Quyền đang hội quân ở Sài Tang, ngóng xem việc thành bại, Lượng thuyết Quyền rằng: “Thiên hạ đại loạn, tướng quân khởi binh nắm giữ Giang Đông, Lưu Dự Châu (10) thu quân ở Hán Nam(11) , cùng Tào Tháo tranh thiên hạ. Nay Tháo đã trừ được đại nạn (12) , các xứ đã yên, mới đây lại phá được Kinh Châu, uy chấn bốn bể. Kẻ anh hùng không chốn dụng võ, cho nên Dự Châu phải lẩn trốn là vậy. Xin tướng quân hãy lượng sức mình mà định liệu: Nếu có thể lấy quân sĩ NgôViệt kháng cự được Trung Quốc, chi bằng sớm đoạn tuyệt ngay; nếu không thể đương, sao chẳng thu binh cởi giáp, ngoảnh mặt về Bắc mà thờ Tào! Nay tướng quân ngoài mặt tỏ ý phục tùng, trong lòng lại toan tính do dự, việc khẩn cấp mà không quyết, hoạ sẽ đến ngay đó!” Quyền hỏi: “Ví quả như lời ngài, sao Lưu Dự Châu không thờ Tào đi?” Lượng nói: “Điền Hoành, chỉ là một tráng sỹ nước Tề, còn giữ nghĩa không chịu nhục, huống chi Lưu Dự Châu vốn là dòng vương thất, anh tài cái thế, hết thảy kẻ sỹ đều ngưỡng mộ, nếu nước chẳng về biển, khiến việc chẳng xong, ấy là bởi trời vậy, sao có thể quy phục ở yên dưới họ Tào!”. Quyền bừng bừng nói: “Ta chẳng thể dâng cả đất Ngô, với mười vạn quân binh, chịu phép của người. Kế ta đã quyết! Phi Lưu Dự Châu chẳng ai đương nổi Tào Tháo, song Dự Châu mới đây thua trận, chẳng hay có thể chống nổi nạn này?” Lượng nói: “Dự Châu tuy thua ở Trường Bản, nhưng quân sỹ đã tụ về cùng một vạn thuỷ quân tinh giáp của Quan Vũ, Lưu Kỳ ở Giang Hạ cũng còn không dưới vạn binh. Tào Tháo đông quân, từ xa tới đã mỏi mệt, lúc truy kích Dự Châu, quân khinh kỵ một ngày đêm đi hơn ba trăm dặm, ấy chính là ‘nỏ mạnh đã bắn xa hết sức, sức chẳng thể xuyên thủng tấm lụa mỏng’ vậy. Cho nên binh pháp kỵ việc ấy, nói rằng ‘Kể cả Thượng tướng quân cũng ngã nhào vậy.’ Vả lại người phương Bắc vốn không quen thuỷ chiến; dân chúng Kinh Châu theo Tháo, chỉ vì việc binh bức bách, mà nhân tâm bất phục. Tin chắc rằng nếu tướng quân sai mãnh tướng thống lĩnh mấy vạn binh, cùng Lưu Dự Châu đồng tâm hiệp lực, tất phá được quân của Tháo vậy. Quân Tháo bị phá, ắt hẳn quay về Bắc, như vậy thế Kinh-Ngô sẽ cường, chân đỉnh hình thành. Cơ hội thành bại, là ở hôm nay vậy.” Quyền rất hài lòng, lập tức phái Chu Du-Trình Phổ, Lỗ Túc nắm ba vạn thủy quân, theo Lượng đến gặp Tiên chủ, cùng hợp sức cự Tào công.
    Năm Kiến An thứ mười sáu, Ích Châu mục Lưu Chương, sai Pháp Chính nghênh đón Tiên chủ, nhờ đánh Trương Lỗ. Lượng cùng Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu. Tiên chủ từ Hà Manh quay về đánh Chương, Lượng cùng bọn Trương Phi-Triệu Vân thống suất binh sỹ ngược sông, chia nhau đánh lấy các quận huyện, cùng Tiên Chủ hợp sức vây đánh Thành Đô. Thành Đô bình định, Lượng lĩnh chức quân sư tướng quân, tạm coi việc ở phủ Tả tướng quân (16) . Tiên Chủ đánh dẹp bên ngoài, Lượng thường trấn giữ Thành Đô, quân lương đầy đủ. Năm thứ hai mươi sáu (17) , quần thần khuyên Tiên Chủ xưng đế, Tiên Chủ không nghe, Lượng thuyết rằng: “Xưa Ngô Hán-Cảnh Yểm lúc đầu khuyên Thế Tổ lên ngôi đế, Thế Tổ từ chối, trước sau bốn lần, Cảnh Thuần (18)mới dẫn lời rằng: ‘Anh hùng trong thiên hạ đều ngưỡng vọng mong ngóng. Nếu chẳng theo lời bàn luận, sĩ đại phu sẽ đều đi tìm chủ khác, chẳng ai theo chúa công nữa’. Thế Tổ rất cảm kích vì lời của Thuần, liền ưng thuận. Nay họ Tào soán ngôi nhà Hán, thiên hạ vô chủ, đại vương là dòng dõi họ Lưu, kế thừa cơ nghiệp, nay lên ngôi hoàng đế, là việc rất nên làm. Các sĩ đại phu theo đại vương đã lâu, đắng cay trải đủ, nay cũng mong muốn được chút công danh như lời Thuần nói vậy.” Bởi thế Tiên chủ lên ngôi hoàng đế, sách mệnh cho Lượng làm thừa tướng rằng: “Trẫm trong nhà bất hạnh, phụng mệnh kế thừa đại nghiệp, lòng đau đáu sợ hãi, đâu dám hưởng yên vui, thường lo lắng cho trăm họ, vẫn sợ tài đức mình chẳng đủ. Than ôi! Thừa tướng của trẫm là Lượng hiểu rõ bụng trẫm, không lười biếng giúp trẫm sửa bớt lỗi lầm, lấy nghiệp lớn làm trọng, nay tuyên chiếu bố cáo cùng thiên hạ! mong ngươi hãy gắng sức.” Rồi lấy Lượng làm thừa Tướng kiêm Lục Thượng thư sự, ban cho Giả tiết. Sau này Trương Phi mất, Lượng lĩnh thêm chức Tư lệ hiệu úy.
    Năm Chương Vũ thứ ba mùa xuân, Tiên Chủ lâm trọng bệnh ở Vĩnh An, triệu Lượng từ Thành Đô tới, phó thác hậu sự, bảo Lượng rằng: “Tài của ngươi gấp mười lần Tào Phi, tất yên được nước, làm nên đại sự. Nếu có thể giúp được con trẫm, hãy giúp. Ví như nó bất tài, quân sư hãy tự mình làm chủ”. Lượng ứa nước mắt khóc nói: “Thần nguyện dốc hết tâm lực phụ chính, một lòng trung trinh, tới chết mới thôi”. Tiên Chủ lại viết chiếu gửi Hậu Chủ, rằng: “Mọi việc phải theo lời thừa tướng mà làm, coi như cha vậy”.

    b. Thục Hán từ khi Chiêu Liệt đế mất cho đến khi mất về tay nhà Tấn

    * Một số tranh ảnh sưu tầm về vua Thục Hán Chiêu Liệt đế Lưu Bị: (trích Nghiên cứu Tam quốc)
    [​IMG]
    Tranh minh họa Lưu Bị múa đại đao hóa giải loạt mưa tên (nguồn: Nghiên cứu Tam quốc)

    [​IMG]
    Tranh minh họa Lưu Bị nhậm chức Tri huyện ở Bình Nguyên. Tranh thời Nguyên Anh tông. Theo Bách quan chí thì: huyện nào từ một vạn hộ trở lên thì quan ở đó gọi là huyện lệnh; còn không đủ số này thì gọi là huyện trưởng.

    [​IMG]

    - Sau khi Lưu Bị (Thục Chiêu Liệt đế) băng hà, Hậu chủ Lưu Thiện lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi. Ngược về tiểu sử, Lưu Thiện tự Cộng Tự và là con trai của Lưu Bị. Năm Kiến An thứ 24, vua Đông Hán lập Lưu Bị làm Hán Trung vương, gia phong Lưu Thiện làm Thái tử Thục Hán. Tam quốc chí - phần Thục chí (Hậu chủ truyện) chép: "Đến khi xưng tôn hiệu (làm Hoàng đế Thục Hán - niên hiệu Chương Vũ nguyên niên của Lưu Bị) có sắc phong rằng: ”Duy ngay Tân Tị tháng năm năm Chương Vũ thứ nhất. Hoàng Đế thuận nói: Thái Tử Thiện, trẫm gặp lúc vận mệnh nhà Hán lâm nguy, bọn phản thần tặc tử tiếm đoạt. Xã tắc không người làm chủ, định ra khuôn phép cho mọi người, tụ họp chính đạo. Thuận theo mệnh trời, trẫm nối ngôi báu. Nay lấy Thiện làm Hoàng Thái Tử, kế thừa tông miếu, cung kính xã tắc. Lệnh cho người phụng mệnh cầm cờ tiết là Thừa tướng Lượng khoan hãy trao ấn tín (Thái Tử cho Thiện). Cung kính lắng nghe các bậc sự phụ (xem Thiện) mọi việc có đều đạt được ”hành nhất vật nhi tam thiện” hay chưa. Có thể không cần gượng ép (mà trao chức) vậy!”. Ngụy lược chép: "Bị lập (Thiện) làm Thái Tử, lúc đầu lấy Gia Cát Lương làm Thái Tử Thái Phó. (Sau) đến khi Thiện lên ngôi, dùng Lượng làm Thừa tướng, uỷ thác mọi việc. Lại nói với Lượng: ”Chính là họ Cát đã cứu Qủa nhân”. Lượng cũng vì Thiện chưa thông thuộc chính sự bèn tổng quản công việc trong ngoài".
    [​IMG]
    Thục Hán Hậu chủ Lưu Thiện (miếu hiệu là Hán Hoài đế). Ở phần Lưu Thiện, người viết chép phần Thục chí ở hai phần nhỏ: Hậu chủ truyên, Gia Cát Lượng truyện

    [​IMG]
    Bức vẽ Trương Bao, Khổng Minh và Quan Hưng ở đình Chợ Vàm (nay thuộc ấp Long Hưng B, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). Nguồn tranh: Nghiên cứu Tam quốc

    [​IMG]
    Gia Cát Lượng với nhà thơ Đào Uyên Minh. Nguồn: Nghiên cứu Tam quốc

    Khi Lưu Bị băng hà ở Vĩnh An cung, "Tháng năm (cùng năm), Hậu Chủ lên nối ngôi ở Thành Đô, lúc đó mười bảy tuổi. Tôn Hoàng Hậu làm Hoàng Thái Hậu, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu (tức niên hiệu Kiến Hưng nguyên niên). "Kiến Hưng năm đầu, phong Lượng làm Vũ Hương Hầu, được mở phủ sự, không lâu sau, lại lĩnh thêm chức Ích Châu mục. Việc chính sự chẳng kể lớn nhỏ, đều do Lượng quyết" (trích Tam quốc chí - Phần Thục chí, Gia Cát Lượng truyện). Gia Cát Lượng truyện chép thêm: "Gia Cát Lượng tập chép: Năm ấy, Nguỵ tư đồ Hoa Hâm, Tư không Vương Lãng, Thượng thư lệnh Trần Quần, Thái sử lệnh Hứa Chi, Yết giả Phó xạ Gia Cát Chương đều gửi thư riêng cho Lượng, bày đặt mệnh trời việc người, muốn Lượng dâng cả nước xưng thần. Lượng không đáp thư, lại viết một bức chính luận rằng: “Khi xưa Hạng Vũ khởi lên mà chẳng có đức, dẫu lấy được Hoa Hạ, giữ thanh thế như hoàng đế, rốt cục vẫn phải thân bại danh liệt (19) , ấy là lời răn cho hậu thế. Nước Nguỵ chẳng xem đó là tấm gương, lại theo vết chân ấy; thoát thân đã là may, lấy làm điều răn cho con cháu. Các vị đều là những bậc nguyên lão, vâng mệnh Nguỵ chúa mà tiến thư, khác chi Sùng-Tủng xưng tụng công lao của Mãng (20) , cũng là bức bách cầu may cẩu thả tránh hoạ thôi. Xưa Thế Tổ (21) chấn hưng cơ nghiệp cũ, có mấy nghìn binh lính gắng sức giằng co, bẻ gẫy hơn bốn mươi vạn cường binh của Mãng ở gần Cổn Dương, mới hay thảo phạt kẻ tà đạo cứ đâu quân ít hay nhiều. Kìa như Mạnh Đức (22) , vẫn lấy sự lừa lọc quỷ quyệt hơn thế lực, đem vài chục vạn quân đến cứu Trương Cáp ở Dương Bình, thế cùng ngồi lo lắng hối tiếc, cầu mong thoát nạn, làm nhục khí thế của ba quân, đành cam bề chịu mất đất Hán Trung, trong bụng biết rõ thần khí (23) chẳng thể làm xằng mà có được, nên quay về chưa lâu, đã trúng độc mà chết. Tử Hoàn (24) dâm dật, làm việc cướp ngôi. Các ngài lại buông tuồng dùng những lời quỷ biện hoa mỹ của Tô-Trương (25) , vâng mệnh bề trên mà dâng lên Hoan Đâu (26) những lời lẽ khí thế ngút trời, muốn huỷ hoại ngôi Đường đế, ngâm nga biện giải chuyện VũTắc (27) , cũng chỉ là chôn vùi văn thơ làm buồn lòng kẻ hàn mặc (28) mà thôi. Kẻ đại nhân quân tử tất chẳng bao giờ làm thế. Thiên Quân giới lại viết: “Vạn quân liều chết, xưng hùng thiên hạ”. Xưa Hiên Viên sửa sang mấy vạn binh sỹ, mà khống chế bốn phương, yên việc trong cõi, huống chi ta dùng mấy chục vạn quân, nương theo chính đạo soi xét kẻ có tội, cứ theo lẽ ấy mà suy thì có thể cầu mà được vậy!"
    Phần Thục chí, Hậu chủ chuyện chép thêm: "Mùa hạ năm Kiến Hưng nguyên niên, Tang Ca Thái Thú Chu Bao chiếm quận làm phản. Nguỵ Thị Xuân Thu chép: Ban đầu, Ích Châu Tòng Sự Thường Phòng đi xếp đặt công việc, nghe tin Bao có lòng khác, bèn bắt Chủ Bộ (của Bao) tra khảo xét hỏi rồi giết đi. Bao phẫn nộ tấn công giết chét Phòng, vu (cho Phòng) tội mưu phản. Gia Cát Lượng giết các con Phòng, lại đầy bốn người em Phòng đi Việt Tuyển, muốn làm yên lòng (Bao)" (...). Tháng ba, mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ ba, Thừa tướng Lượng đi đánh bốn quận phía nam. Đến mùa thu bình định được hết cả. Quân nhu đầy đủ, nước mạnh dân giầu, bèn cho sửa sang khí giới thao luyện binh sĩ, chờ thời khởi sự. Đổi tên quận Ích Châu thành quận Kiến Ninh. Chia (một phần) quận Kiến Ninh và (một phần) quận Vĩnh Xương lập ra quận Vân Nam. Lại chia (một phần) quận Kiến Ninh và (một phần) quận Tang Ca lập ra quân Hưng Cổ.Tháng mười hai (năm đó) Lương quay về Thành Đô" (trích phần Hậu chủ truyện, Gia Cát Lượng truyện - có sắp xếp lại). Phần Hậu chủ truyện chép tiếp: "Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ năm, Thừa tướng Lượng dẫn quân ra đóng đồn ở Hán Trung, lập doanh trại trên sông Miện, phía bắc đường lớn Dương Bình".
    Sau đó, quân Thục Hán nhiều lần chống đánh quân Ngụy xâm nhập và quân nổi dậy bên trong. Tam quốc chí chép lại: "Ngụy Minh Đế sang Tây trấn thủ Trường An, mệnh cho Trương Cáp chống cự Lượng. Lượng cử Mã Tắc đốc suất ba quân ở trước trận cùng với Cáp đại chiến ở Nhai Đình. Tốc trái phép của Lượng, hành động thất thố, bị Trương Cáp đánh tan. Lượng dời hơn một ngàn hộ dân từ Tây Thành vào Hán Trung" (trích Gia Cát Lượng truyện). "Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ sáu, Lượng ra đánh Kỳ Sơn, không thắng được. Mùa đông (năm ấy) lại ra Tán Quan, vây Trần Thương, hết lương phải rút lui. Nguỵ tướng Vương Song mang quân đuổi theo Lượng. Lượng giao chiến (với Song) đánh bại, chém chết Song rồi trở về Hán Trung. Mùa xuân năm (Kiến Hưng) thứ bảy, Lượng sai Trần Thức tấn công Vũ Đô, Âm Bình cuối cùng thắng trận, an định được hai quận. Mùa đông (năm ấy), Lượng dời đại bản doanh ở nam sơn đến vùng bình nguyên, lại xây Hán - Nhạc hai thành" (trích Hậu chủ truyện). "Năm thứ bảy, Lượng sai Trần Thức tiến công Vũ Đô-Âm Bình. Thứ sử Ung Châu nhà Nguỵ là Quách Hoài dẫn quân muốn tập kích Thức, Lượng tự mình dẫn quân ra Kiến Uy, Hoài phải lui binh, Lượng lấy được hai quận ấy" (Gia Cát Lượng truyện)
    "Mùa thu năm (Kiến Hưng) thứ tám. Nguỵ đế sai Tư Mã Ý từ Tây Thành, Trương Cáp từ Tí Ngọ, Tào Chân từ Tà Cốc theo đường núi rất khoa trương tiến lại, muốn đánh Hán Trung. Thừa tướng Lượng phòng bị bằng cách bền thành và làm kế thanh dã ở các dốc núi. Trời mưa lớn cắt đứt đường xá, bọn Chân đều quay về. Cùng năm, Nguỵ Diên đánh bại Ung Châu Thứ Sử nước Nguỵ là Quách Hoài ở Dương Khê. Tháng hai mùa xuân năm (KiếnHưng) thứ chín, Lương lại ra quân vây Kỳ Sơn, lần đầu tiên dùng trâu gỗ vận tải. Nguỵ tướng Tư Mã Ý, Trương Cáp ra cứu Kỳ Sơn. Tháng sáu, mùa hạ (năm ấy), Lượng lương hết phải chuyển quân, Cáp đuổi theo đến chỗ núi hoang, giao chiến với Lượng, bị trúng tên chết " (Hậu chủ truyện). "Lượng vây Kỳ Sơn, cho vời vua rợ Tiên Ti là Kha Bỉ Năng, Bỉ Năng đến phía bắc Thạch Thành hưởng ứng Lượng. Bởi Đại tư mã Tào Chân nhà Nguỵ đang ốm, Tư mã Tuyên Vương từ Kinh Châu về triều, Nguỵ Minh nói: “Phương Tây có việc trọng đại, phi tướng quân không còn ai để phó thác nữa”. Rồi sai Tuyên Vương đi về Tây đến Trường An, đôn đốc bọn Trương Cáp, Phí Diệu, Đới Lăng, Quách Hoài. Tuyên Vương sai Diệu-Lăng giữ bốn nghìn tinh binh phòng thủ Thượng Nhai, còn lại đều sang tây cứu Kỳ Sơn. Cáp muốn chia binh đóng ở Ung-My, Tuyên Vương nói: “Ta đồ rằng để độc lập đảm đương việc nơi tiền tuyến, chỉ còn mỗi tướng quân vậy; nếu tướng quân chẳng gánh vác mà phân binh làm tiền hậu, lại giống như nước Sở chia quân làm ba cánh rồi bị Kình Bố đánh bại ngày trước (43) .” Rồi tiến binh. Lượng chia vây đánh, lại thân chinh đón đánh Tuyên Vương ở Thượng Nhai. Quách Hoài-Phí Diệu tập kích Lượng, bị Lượng đánh tan, nhân đó gặt hết lúa mạch ở ngoài đồng, gặp Tuyên Vương ở phía đông Thượng Nhai, Tuyên Vương thu binh cậy hiểm mà giữ, hai bên không giao chiến, Lượng đành dẫn quân quay về. Tuyên Vương bám theo Lượng đến Lỗ Thành. Trương Cáp nói: “Bên kia từ xa đến đánh ta, muốn đánh không được, ấy là ta không đánh mà có lợi, muốn dụng kế lâu dài để kiềm chế họ. Vả lại Kỳ Sơn biết rằng đại quân ở gần đây, cũng yên tâm cố thủ, ta có thể dừng viện đóng binh giữ vững thế này, nên chia một đội kỳ binh, bất ngờ vòng phía sau đánh tập hậu, chứ chẳng nên tiến quân mà không dám quyết đấu, ngồi yên một chỗ khiến người dân mất cả hy vọng. Nay Lượng ít quân thiếu lương, cũng phải rút vậy.” Tuyên Vương không nghe, vẫn bám theo Lượng. Đã vậy, lại lên núi lập doanh trại, nhất định không giao chiến. Giá Hủ-Nguỵ Bình mấy lần xin đánh, nhân đó nói: “Công sợ Thục như cọp, làm trò cười cho thiên hạ sao!” Tuyên vương lấy làm tức giận. Chư tướng đều xin đánh. Tháng năm ngày Tân Tị, mới sai Trương Cáp tấn công Hà Bình khi ấy đang canh giữ vòng vây phía Nam, còn tự mình ở trung quân đối đầu với Lượng. Lượng sai Nguỵ Diên-Cao Tường-Ngô Ban đến đánh, thắng lớn một trận, thu được ba ngàn thủ cấp cùng áo dầy, giáp đen năm ngàn bộ, cung cứng ba ngàn chiếc, Tuyên Vương quay về giữ vững doanh trại. Sau Lượng hết lương phải lui quân, cùng Nguỵ tướng Trương Cáp giao chiến, bắn chết Cáp (Gia Cát Lượng truyện)" (...). "Năm (Kiến Hưng) thứ mười một, Lượng ra lệnh cho các đơn vị chuyển lương, tập kết ở cửa Tà Cốc, sắp xếp các kho lẫm (chứa lương) ở đó. Cùng năm, Nam Di Lưu Trụ làm phản. Tướng quân Mã Trung đánh bại (Lưu Trụ) bình định vùng ấy (Hậu chủ truyện)".

    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Loạt tranh minh họa Gia Cát Lượng hai lần ra Kỳ Sơn, chạm mặt với quân Ngụy của Tư Mã Ý (nguồn tranh: Nghiên cứu Tam quốc)

    [​IMG]
    Bản đồ đường tiến quân của quân Thục của Gia Cát Lượng ra Kỳ Sơn hồi năm 228 (Khổng Minh 5 lần ra Kỳ Sơn thảo phạt Tư Mã Ý)

    [​IMG] quyền thần nước Ngụy Tư Mã Ý (nguồn tranh: Nghiên cứu Tam quốc)
    Chiến công lớn nhất của Gia Cát Lượng là bình định Mạnh Hoạch, giữ yên bờ cõi nước Thục Hán. Sách Tam quốc chí, phần Hậu chủ truyện và Gia Cát Lượng truyện chép rõ hơn, người viết tổng hợp và sắp lại ý: "Hán Tấn xuân thu chép: Lượng đến Nam Trung, thắng trận ở đó. Nghe tin Mạnh Hoạch, được người Di-Hán ở đó phục tùng, mới yết bảng cho người bắt sống đưa tới. Bắt được rồi, sai người dẫn Hoạch đi xem các nơi bầy doanh trại, hỏi rằng: “Quân của ta thế nào?”, Hoạch thưa rằng: “Trước không rõ hư thực, nên bại. Nay được coi xét rõ doanh trại, cũng chỉ đến thế, thắng cũng chẳng khó gì”. Lượng cười, thả ra cho đấu lại, bảy lần bắt bảy lần thả, mà Lượng vẫn sai thả Hoạch. Hoạch không bỏ đi nữa, nói: “Công, uy danh của ông như trời vậy, người Nam không phản lại nữa!”, rồi đến Điền Trì. Nam Trung bình định, đều dùng lại những thủ lĩnh ở đấy. Có người can Lượng, Lượng nói: “Ví như để người ở lại, ắt phải lưu quân, lưu quân lại chẳng có lương ăn, đó là một điều không nên; xứ Di mới bị tàn phá, cha anh mất con em, lưu quan mà không lưu binh, tất thành hoạ hoạn, đó là hai điều không nên; người Di mới luỵ mà phế bỏ hết đi là sai lầm, tự gây ra hiểu lầm lẫn nhau, nếu lưu người ở lại, chẳng tin được nhau, là ba điều không nên; nay ta chẳng lưu binh, không phải chuyển lương, như thế kỷ cương tạm ổn định, Hán-Di cùng yên ổn vậy.” (trích phần Gia Cát Lượng truyện).
    [​IMG]
    [​IMG]
    Tranh minh họa Gia Cát Lượng bắt Mạnh Hoạch
    * Về việc Gia Cát Lượng bảy lần bắt Mạnh Hoạch, "Điền khảo" (Khảo về đất Điền) của Phùng Tô (1628-1692) nhà Thanh chép: (trang Nghiên cứu Tam quốc sưu tầm, người viết trích lại toàn văn)
    "Năm thứ ba, Tiên chủ băng. Phương nam xáo động. Kì soái quận Ích Châu là Ung Khải có ân tín hơi rộng. Người Man bộ hạ là Mạnh Hoạch có dũng có mưu. Khải cậy vào đó mà kiêu ngạo rất đỗi.
    Ban đầu, Di soái ở Việt Tuyển là Cao Định sai quân vây huyện Tân Đạo. Thái thú Kiền Vi là Lý Nghiêm ruỗi quân đi cứu. Quân giặc đều bị phá tan chạy. Nghiêm nghe nói Ung Khải ngang bướng, bèn đưa thư hiểu dụ. Trước sau sáu lần, Khải đều không tỉnh ngộ, chỉ đáp một lá thư rằng:
    “Nghe nói trời không hai mặt, đất chẳng hai vua. Nay thiên hạ chia chân vạc, có ba chính sóc. Bởi thế nên người phương xa kinh hoàng nghi hoặc, không biết phải về đâu”.
    Sự kiệt hiệt ngạo mạn của y đến như thế. Ích Châu tòng sự Thường Kì dẫn quân tới Tang Ca, nghe nói Quận thừa Chu Bao có chí khác, bèn bắt Chủ bạ của quận tra khảo, giết đi. Bao nổi giận, nhân đó tiến đánh, giết Kì, vu cho là mưu phản. Khải cũng giết Thái thú Ích Châu là Thành Ngang, rồi thông đồng với Tôn Quyền, lại nói rằng Ngang bệnh tốt [chết]. Nhà Hán lại sai Trương Duệ làm Thái thú. Khải thấy Duệ tới, riêng cùng Mạnh Hoạch mưu giả làm quỷ. [Ung] Khải muốn dụ dỗ bọn Man, mà sợ họ không phục, bèn sai [Mạnh] Hoạch nói dối với bọn người Di, Tẩu rằng:
    - Quan trên muốn được ba trăm con chó đen, trước ngực phải đen tuyền, ba đấu mã não, ba ngàn khúc gỗ dựng nhà dài ba trượng. Các ngươi có thể kiếm được không?
    Người Di tin là thực, bèn theo làm phản. Cao Định ở Việt Tuyển, Chu Bao ở Tang Ca đều hưởng ứng. Ngô cho Khải dao lĩnh chức Thái thú Vĩnh Xương. Vĩnh Xương ở phía tây Ích Châu, đường sá cách tuyệt, mà Thái thú của quận mới đổi người. Công tào người huyện Bất Vi là Lữ Khải cùng Phủ thừa người quận Thục là Vương Kháng chỉ huy lại, sĩ, dân phong tỏa địa giới để chống cự. [Ung] Khải không tiến được, gởi hịch triệu gọi. [Lữ] Khải đáp lời hịch rõ ràng khích thiết, khuyên y thay đổi ý đồ. [Ung] Khải rốt cuộc không nghe, mấy lần đánh Vĩnh Xương. [Lữ] Khải cùng Kháng vốn có ân uy, được người trong quận tin phục, vì thế [Ung] Khải không vào được.
    Năm Kiến Hưng thứ nhất, Thừa tướng Vũ hương hầu Gia Cát Lượng lĩnh Ích Châu mục, cho rằng mới gặp đại tang, chưa tiện cất quân, nên trước tiên sai Đặng Chi sang Ngô thông hiếu, lại xin Thái thú trước là Trương Duệ. Duệ trở về, vẫn cho làm Tham quân, lĩnh Trị trung Tòng sự Ích Châu.
    Năm thứ hai, chăm lo nghề nông, đóng cửa quan, cho dân nghỉ.
    Năm thứ ba, mùa xuân, tháng ba, Thừa tướng Lượng dẫn quân Nam chinh. Hậu chủ đích thân tiễn ra ngoài cõi giao. Có chiếu ban cho một bộ phu việt bằng vàng, lọng cán cong một cây, nghi vệ bảo vũ , trống, sáo đều một bộ, sáu mươi quân Hổ Bôn. Thừa tướng sắp lên đường, bảo Tham quân Mã Tắc rằng:
    - Tuy cùng nhau mưu tính đã nhiều năm, nhưng nay hãy nói hết chủ trương tốt đẹp.
    Tắc nói:
    - Nam Trung cậy mình hiểm trở xa xôi, không phục đã lâu rồi. Ngày nay phá được, ngày sau lại phản thôi. Nay công muốn dốc nghiêng cả nước để Bắc phạt, để chống giặc mạnh. Họ xem xét thế lực ở bên trong của ta trống rỗng, thì sẽ mau phản thôi. Nếu tàn sát nòi giống chúng để trừ họa về sau, thì lại không phải là người có lòng nhân, mà cũng không thể vội vã được. Ôi, cái đạo dùng binh, công tâm là trên, đánh thành là kém. Xin công thu phục lòng họ mà thôi.
    Thừa tướng rất cho là phải. Đại quân theo Việt Tuyển vào, sai Môn hạ đốc Mã Trung làm Thái thú Tang Ca, đi bình Chu Bao; mà Lý Khôi từ huyện Bình Di chẹn đường hướng tới quận Ích Châu. Các huyện họp lại với nhau vây Khôi ở Côn Minh. Bấy giờ Khôi quân ít, địch đông, lại chưa được tin tức của đại quân. Khôi lừa bảo người Nam rằng:
    - Quan quân hết lương đã lui về. Ta từ lâu đã bị đuổi khỏi làng xóm, nay dù được trở về, cũng không thể quay về bắc nữa, muốn quay lại cùng các người chung mưu kế.
    Người Nam tin tưởng. Vòng vây hơi lỏng. [Khôi] đốc quân ra đánh, đại phá chúng, đuổi tới sông Bàn Giang, phía đông giao tiếp với Tang Ca, cùng đại quân của Thừa tướng nối liền thanh thế. Tù soái Tang Ca là Hỏa Tế cũng dẫn các bộ La Quỷ của mình vì quân Hán mà dọn núi thông đường để vận lương cấp cho quân. Thừa tướng hài lòng, phong làm La Điện quốc vương, sai giúp đỡ để bình các Man. Đại quân đã bình định Việt Tuyển, đánh đâu cũng thắng. Ung Khải đã bị bộ khúc của Cao Định giết chết. Mạnh Hoạch gom quân tàn của Khải để chống với Hán.
    Tháng năm, Thừa tướng vượt sông Lư Thủy. Quân kéo tới Bạch Nhai, nghe tin Mạnh Hoạch được người Man, Hán tin phục, bèn tìm cách bắt sống, đã bắt được Hoạch rồi lại bảo thả ra. Trong lúc xem trận doanh, bèn hỏi rằng:
    - Quân này như thế nào?
    Hoạch đáp rằng:
    - Lúc trước không biết hư thực, vì thế mới bại. Nay được đội ơn cho xem trận doanh, nếu chỉ như thế thì dễ thắng rồi.
    Thừa tướng cười mà thả cho đi, sai đấu lại.
    Hoạch dẫn bộ thuộc tới Ngân Khanh (hố bạc). Hố tên là động Hào Trư, ở Đặng Đông, bên dưới có đầm rồng vách đá mấy ngàn nhận, không thể dùng sức người là đến được. Thừa tướng tiến quân công phá, lại bắt được, rồi lại thả cho đi. Người Man động ấy cảm cái ơn không giết, bèn ở trên vách đầm tạo hình rồng và các tranh trời, trăng, sao, người ngựa rong ruổi, để ghi nhớ đức.
    Hoạch sau khi được thả, lui về giữ trại Phật Quang, chẹn chỗ hiểm giữ chắc. Quân Hán không vào được, bèn lén dẫn quân theo Dạng Tị Xuyên mà truy đuổi, gặp phải suối độc, tìm được thuốc giải, tiến tới phía sau trại. Hoạch kinh hãi, cho là thần, bèn lại bị bắt. Thừa tướng nhân đó dừng quân ở chân núi Điểm Thương, xem xét hình thế, thả Hoạch.
    Hoạch chạy tới lạch Lương Cừ. Lương Cừ có núi, thường xuất hiện hình hổ để tác quái. Thừa tướng cúng tế, sai quận xẻ núi ấy làm ba khúc, rồi tiến binh, gặp Hoạch, một hồi trống là bắt được. Còn chưa giải đến, đã sai người truyền lời rằng:
    - Ta không có mặt mũi nào gặp ngươi, nhưng vẫn thả cho đi.
    [Thừa tướng] ở trong lạch tế đỉnh núi Trảm Hổ, gọi là đài Tế Phong. Lại tới khe suối phía đông núi, khắc bia ma nhai trên vách đá để lưu lại cho đời sau. Hoạch nhân đó chạy về phía nam tới Khánh Điện
    Khánh Điện vốn tên là Bách Bộc, dòng dõi của Hoạch ở tại đó. Thừa tướng đuổi theo. Đường sá hiểm trở xa cách, không có lương thực, suýt nữa bị nguy khốn. May có người Man ở Di Châu từ Thiểm Bắc vận chuyển kiều mạch và đậu tới. Người Khánh Điện bàn mưu với nhau rằng:
    - Gia Cát Thừa tướng nhân đức lan xa, mấy lần bắt Hoạch mà không giết. Hoạch lại còn muốn phản loạn. Làm trái trời là không lành.
    Thế là mở cửa lũy cho quân ta vào. Hoạch lại bị bắt, bảo với Thừa tướng rằng:
    - Đây là thân thích làm phản thôi.
    Bèn lại thả đi.
    Hoạch toan vào Ai Lao để hội họp các Man, mà Khánh Điện đã bị hạ, đường Vĩnh Xương đã thông. Đại quân đều vượt sông cùng bọn Lữ Khải hội họp, dựng kỳ đài dựa theo tám cửa, nghỉ quân nuôi sĩ, sai người dạy cách thắng trâu vào cày thay cho sức người. Mọi người đều cảm động vui mừng. Mạnh Hoạch kế cùng, lại vào nước Phiếu, xua voi ra đánh. Quân Hán đã chuẩn bị sẵn hình nộm sư tử, bèn đội lên, dùng hỏa công. Voi đều chạy ngược trở lại. Thừa tướng dừng quân ở mé nước Nộ Giang, bắt Mạnh Hoạch lần thứ sáu.
    Hoạch lại được thả, không biết đi về đâu, bèn đem nhiều của hối lộ vào các nước Diến Di, Mộc Lộc để mượn quân của An Đô Lỗ, đều mặc áo giáp mây, không sợ đao kiếm. Quân Hán giao chiến, hơi lùi, thấy bọn Di vượt sông, thả giáp xuống làm bè. Thừa tướng nói:
    - Ta biết được cái thuật phá địch rồi. Lợi ở nước ắt bất lợi với lửa.
    Bèn dụ vào trong sơn cốc, nổi lửa thiêu đốt. Người Man chẳng sót lại một ai. Bắt được Hoạch đem tới, mà vẫn sai đi. Hoạch chỉ khấu đầu nói:
    - Thừa tướng thật có oai trời. Người Nam sẽ không phản nữa đâu.
    Bèn lập bia Nam Chinh ở Phổ Khảm, ghi công rồi thu quân. Đến Vĩnh Xương, chặt đứt mạch của núi Cửu Long để cắt đứt vương khí, quay về dừng quân ở Bạch Nhai, dựng trụ sắt để trấn các Man, lại bảo rằng: “Bia mà đổ, người Man thành nô cho người Hán”. Lại sai Biệt tướng lược định các đất Chu Đề.
    Thừa tướng ở Nam Trung, khuyên người Di đắp thành, bảo, chăm lo làm ruộng trồng dâu. Các Di cảm mộ đức hóa, đều từ núi rừng dời ra sống ở đất bằng màu mỡ. Nam Trung đã bình, đổi quận Ích Châu làm Kiến Ninh, chia đất Kiến Ninh, Vĩnh Xương đặt quận Vân Nam, lại chia đất Kiến Ninh, Tang Ca đặt quận Hưng Cổ, cùng với Việt Tuyển, Chu Đề cộng là bảy quận, đều chọn cừ soái ở đó để dùng. Cũng có người vì việc đó mà bàn luận. Thừa tướng nói rằng:
    - Ta đã tính toán kỹ càng. Nếu để người ở ngoài thì ắt phải để quân. Để quân lại thì không có gì ăn. Đó là một điều không dễ vậy. Người Man mới bị đánh phá, đau xót vì cha anh bỏ mạng. Nếu để người ở bên ngoài mà không có quân, thì ắt thành họa loạn. Đó là hai điều không dễ vậy. Lại thêm Man Di có tội đáng phế diệt, tự hiềm nghi mình có lỗi nặng. Để người lại ở bên ngoài rốt cuộc cũng chẳng thể tin nhau. Đó là ba điều không dễ vậy. Nay ta muốn không để quân, không chở lương mà kỷ cương vẫn hơi định, Di Hán cùng yên, vì cớ ấy thôi.
    Bèn dùng Mạnh Hoạch và bọn Thoán Tập ở Kiến Ninh, Mạnh Diễm ở Chu Đề đều làm quan thuộc. Tập làm quan Lĩnh quân, Diễm làm quan tới Phụ Hán tướng quân, Hoạch làm Ngự sử Trung thừa. Lại nhớ đến công của Lữ Khải, Vương Kháng, nên dâng biểu báo lên với triều đình rằng:
    “Quận lại Vĩnh Xương là Lữ Khải, Phủ thừa Vương Kháng nắm giữ trung nghĩa ở cõi đất cách tuyệt đã hơn mười năm. Ung Khải, Cao Định bức ép ở đông, bắc, mà bọn Khải giữ nghĩa chẳng cùng giao thông với chúng. Thần chẳng ngờ phong thổ Vĩnh Xương lại dạy người ta chính trực như vậy”.
    Bèn lấy Khải làm Thái thú Vân Nam, phong Dương Thiên đình hầu. Gặp lúc bị bọn người Di làm phản hại chết, con trai là Tường nối. Vương Kháng cũng phong đình hầu, làm Thái thú Vĩnh Xương. Lý Khôi công lao lại càng hơn, được phong Hán Hán đình hầu, gia An Hán tướng quân



    "Tháng tám mùa thu (năm Kiến Hưng thứ 12) Lượng chết ở Vị Tân (Hậu chủ truyện)". Phần Gia Cát Lượng truyện chép rõ việc Gia Cát Lượng qua đời: "Nguỵ thư chép: Lượng thế cùng hết lương, lo buồn tức giận đến thổ huyết, một đêm đốt nhang trong doanh rồi xua binh trốn chạy, vào tới cốc, đã phát bệnh mà chết. Hán Tấn Xuân thu chép: “Lượng chết ở Quách thị ổ”. Tấn Dương thu (46) chép: “Có ngôi sao màu đỏ có sừng nhọn, từ phía đông bắc bay về tây nam, rơi xuống doanh trại của Lượng, ba lần rơi xuống rồi lại bay lên, loé sáng rồi vụt tắt (47) . Lát sau Lượng chết”. Thần Tùng Chi cho rằng Lượng mất ở bãi sông Vị, người Nguỵ lần theo dấu vết lén đuổi theo, cái hình thế được thua, chưa thể lường được, mà bảo rằng Lượng bị thổ huyết, chỉ là nhân việc Lượng chết mà tự khoa trương vậy. Người như Khổng Minh là bậc mưu lược, há vì Trọng Đạt mà thổ huyết hay sao?".

    [​IMG]
    Bản dịch văn bia của Lý Hưng soạn để biểu dương làng Long Trung của Gia Cát Lượng có câu khen Lượng: "giúp chúa quản mọi việc, lòng dân không tiếng oán". Nguyên văn là: phụ ỷ lị sự, dân ngôn bất lưu. Tám chữ này đều là điển tích, xuất xứ từ hai sách, mà cùng nói về Chu Công Đán lúc giúp đỡ Thành Vương. "Dựa ỷ lo việc" là xuất từ Tuân Tử, thiên Nho hiệu; còn "dân ngôn bất lưu" là lấy ý từ Kinh Thư, thiên Kim đằng, nói rằng Chu Công giúp Thành Vương, bọn Quản Thúc loan tin đồn (lưu ngôn) rằng Chu Công sắp làm hại đứa con thơ. Chu Công sợ phải lánh sang miền đông hai năm. Do đó mà sau này có câu thơ: "Chu Công khủng cụ lưu ngôn nhật" nổi tiếng. Vậy câu này phải hiểu là: "dựa ỷ lo việc, dân không đồn đại". Chữ ỷ còn có nghĩa hơi phức tạp. Mình chưa khảo xong nên khoan nói (nguồn ảnh và bài: Nghiên cứu Tam quốc)

    [​IMG] tướng Khương Duy
    [​IMG]
    Khương Duy ra hàng trong trận quân Thục đánh Kỳ Sơn lần thứ nhất (228), trở thành người kế thừa của Gia Cát Lương

    Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, nước Thục bắt đầu suy yếu do các tướng kế tục ông đánh lẫn nhau, loạn lạc liên tục và sự xâm nhập của quân Ngụy. Tam quốc chí - phần Hậu chủ truyện chép (tác giả không trích nhiều về phần triều đình và hậu cung Thục Hán, chỉ trích dẫn những việc làm ổn định lãnh thổ thời Hậu chủ - cho đến khi Thục Hán bị quân Ngụy tiêu diệt): "Tháng tư năm (Kiến Hưng) thứ mười bốn, Hậu Chủ đến Tiễn, trèo lên dốc núi quan sát, ngắm nước sông Vấn chảy qua, sau mười ngày quay về Thành Đô. Dời quốc quân người Đê là Phù Kiện cùng hơn bốn trăm hộ người Đê từ Vũ Đô về Quảng Đô (...). Tháng nhuận năm (Diên Hi) thứ bảy, Nguỵ Đại tướng quân Tào Sảng, Hạ Hầu Huyền tiến vào Hán Trung. Trấn Bắc Đại tướng quân Vương Bình cự địch ở quanh Hưng Thế (Sơn). Đại tướng quân Phí Y thống lĩnh chư quân ra cứu viện. Quân Nguỵ rút lui (...). Năm (Diên Hi) thứ mười, các Hồ Vương vùng Lương Châu là Bạch Hổ Văn, Trị Vô Đái dẫn bộ thuộc đến hàng. Vệ tướng quân Khương Duy đón tiếp phủ dụ, đưa về trú tại Phồn guyện. Năm ấy người Di Bình Khang ở Vấn Sơn làm phản, Duy đến đánh, phá được giặc, bình định vùng ấy. Tháng năm mùa hạ năm (Diên Hi) thứ mười một, Đại tướng quân Phí Y ra đóng đồn ở Hán Trung. Mùa thu (cùng năm) dân thuộc quốc Phù Lăng làm loạn, Xa Kỵ tướng quân Đặng Chi đến thảo phạt, đều phá được giặc, bình định được hết cả (...). Mùa thu (năm Diên Hi thứ 12), Vệ tướng quân Khương Duy xuất quân đánh Ung Châu, không thắng được bèn quay về. Tướng quân Cú An, Lý Thiều hàng Nguỵ. Năm (Diên Hi) thứ mười ba, Khương Duy lại dẫn quân ra Tây Bình, không thu được kết quả lại quay về" (...). Tháng tư mùa hạ (năm Diên Hi thứ 16), Vệ tướng quân Khương Duy lại xuất quân ra Nam An, không thắng được phải trở về. Tháng giêng mùa xuân năm (Diên Hi) thứ mười bảy, Khương Duy trở về Thành Đô. Đại xá. Tháng sáu mùa hạ (năm ấy), duy lại dẫn quyân ra Lũng Tây. Mùa đông, dời dân ba huyện Địch Đạo, (Hà Gian) (Hà Quan), Lâm Thao vào sống ở Miên Trúc và Phồn huyện" (...) "Năm (Diên Hi) thứ hai mươi, nghe tin Nguỵ Đại tướng quân Gia Cát Đản ở Thọ Xuân làm phản, Khương Duy lại dẫn quân ra Lạc Cốc, đánh đến Mang Thuỷ" (...). Năm Cảnh Diệu thứ năm. "Khương Duy lại dẫn quân ra Hầu Hoà, bị Đặng Ngải đánh bại, quay về đóng ở Đạp Trung".

    [​IMG]
    Tranh minh họa quân Ngụy tiến đánh và tiêu diệt quân Thục Hán năm 263

    [​IMG]

    * Nước Thục Hán bị Ngụy đánh tan năm 263 (trích đoạn theo Ngụy chí và Thục chí của sách Tam quốc chí):
    + Thục chí, Hậu chủ truyện: "Mùa hạ năm (Cảnh Diệu) thứ sáu, Nguỵ cất đại quân, lệnh cho Chinh Tây tướng quân Đặng Ngải, Trấn Tây tướng quân Chung Hội, Ung Châu Thứ Sử Gia Cát Tự mấy đường cùng tấn công. Vì thế (Hậu Chủ) sai Tả Hữu Xa Kỵ tướng quân Trương Dực, Liêu Hoá; Phụ Quốc tướng quân Đổng Quyết ra chống địch. Đại xá, đổi niên hiệu thành Viêm Hưng. Mùa đông năm ấy, Đặng Ngải đánh bại Vệ tướng quân Gia Cát Chiêm ở Miên Trúc. (Hậu Chủ) dùng kế sách của Quang Lộc Đại phu Tiếu Chu, ra hàng Ngải, dâng thư rằng: ”Giới hạn phân chia Giang - Hán, nhìn rõ mới thấu thâm sâu. Đất Thục đẳng bậc ở ngoài rìa, nhỏ bé riêng một góc, lỗ mãng trái với mệnh trời, một thời dần dần đã trôi qua, cùng với kinh kỳ cách xa hàng vạn dặm. Thường nghĩ đến những năm Hoàng Sơ (15) Văn Hoàng Đế (16) chọn lấy Hổ Nha tướng quân là tiên phụ mà ban lệnh, tuyên bố mật chiếu, trình bày ân điển, (cho) thiết lập đất đai môn hộ, tỏ rõ đại nghĩa. Chỉ vì đức bạc tài hèn, tham việc tư riêng bỏ sót sự nghiệp, cúi xuống ngẩng lên làm hại phép nước, chưa thuận theo được kỷ cương. Thiên oai chấn động khắp nơi, thần người đều vì thuận với số mệnh mà theo về, việc khiếp hãi vương sư thần vũ chỉ là thứ yếu. Mạo muội cũng chẳng dám vắng mặt, xin quy phụ mà nghe theo mạng lệnh! Nay lập tức răn bảo các tướng quẳng thương cởi giáp; quan lại gắng sức gìn giữ kho tàng, một thứ cũng không huỷ hoại. Aó vải bình dân lương thực có dư cho phép nghỉ ruộng để đợi ân trạch sau này mà bảo toàn tính mạng cho trăm họ. Cúi mong Đại Nguỵ ban bố ân đức, thiết trí giáo hoá. Như bậc tể phụ Y, Chu (17) bao dung người thua cuộc, chứa chấp kẻ khốn cùng. Kính sai bọn bọn liêu thuộc ở tư gia là Thị Trung Trương Thiệu, Quang Lộc Đại phu Tiếu Chu, Phụ Mã Đô Uý Đặng Lương mang ấn tín đến dâng lên, thỉnh cầu mệnh lệnh, trình báo lòng thành, dâng nộp điều trung. Sống chết ban cho, chỉ tuỳ phán xét. Xe áo quan đang ở sát bên, không dám rườm lời mà phân bua cặn kẽ.”
    Hán Tấn Xuân Thu chép: Hậu Chủ thuận theo kế sách của Tiếu Chu. Bắc Địa Vương Kham giận nói: ”Nếu như lý đuối lực tàn, hoạ hoạn khó tránh, dù cho cha con vua tôi dựa lưng vào tường thành mà đánh một trận, chết cùng xã tắc, cũng có thể gặp mặt Tiên Đế vậy.” Hậu Chủ không chấp thuận, rút cuộc sai đưa ấn tín đi (dâng nộp). Hôm ấy, Kham khóc trong Chiêu Liệt miếu, rồi trước giết vợ con sau tự sát chết. Tả hữu không ai không rơi lệ khóc. Thiệu, Lương cùng Ngải gặp nhau ở Lạc huyện. Ngải nhận được thư (hàng) rất mừng, lập tức viết thư hồi đáp
    .
    Thiện lại sai Thái Thường Trương Tuấn, Ích Châu Biệt Gía Nhữ Siêu nhận lấy phù tiết. Sai Thái Phó Trương Hiển đem mệnh lệnh ra răn bảo Khương Duy. Lại sai Thượng Thư lang Lý Hổ đem hộ khẩu sổ dân đến nộp. Tổng cộng hai mươi tám vạn hộ, nam nữ chín mươi tư vạn người, giáp binh tướng sĩ mười vạn hai nghìn, quan chức bốn vạn người. Gạo hơn bốn mươi vạn hộc; vàng bạc các loại hai nghìn cân; gấm, lụa hoa, lụa màu, lụa sống các loại hơn mươi vạn thếp và nhiều thứ khác. sai Thiệu Lương về trước. Ngải đến cửa bắc thành, Hậu Chủ khiêng quan tài, tự trói đến cửa quân môn. Ngải đốt quan tài, cởi trói (cho Hậu Chủ) mời vào gặp mặt. Tấn Chư Công Tán chép: Lưu Thiện cưỡi xe la đến yết kiến Ngải không kể đến lễ số của kẻ vong quốc. (Ngải) Nhân đó thuận theo quy chế phong Hậu Chủ làm Phiêu Kỵ tướng quân. Những người tiết tháo xung quanh, gặp phải lời răn bảo của Hậu Chủ, về sau phải chịu khuất phục. Ngải an trí Hậu Chủ trong cung cũ, tự mình qua lại thăm hỏi, chỗ nương nhờ chưa có gì khe khắt. Tháng giêng năm sau, Ngải bị bắt. Chung Hội từ Phù đến Thành Đô gây loạn. Chẳng được bao lâu Hội chết, trong Thục quân binh cướp bóc giết tróc, người chết ngổn ngang mất vài ngày mới an ổn lại. Cả nhà Hậu Chủ bị chuyển sang đông, không lâu đến được Lạc Dương (....). Thực ấp vạn hộ, lụa được ban vạn thếp, nô tì một trăm người, ngoài ra các vật đều xứng đáng. Con cháu có ba người làm Đô Uý, được phong Hầu hơn năm mươi người. Bọn Thượng Thư Lệnh Phàn Kiến, Thị Trung Trương Thiệu, Quang Lộc Đại phu Tiếu Chu, Bí Thư Lệnh Khích Chánh, Điện Trung Đốc Trương Thông thảy đều được phong làm Liệt Hầu".
    [​IMG] tướng Đặng Ngải (tranh đời Thanh)
    + Phần Ngụy chí - truyện Đặng Ngải: "Mùa thu năm Cảnh Nguyên thứ tư, triều đình xuống chiếu lệnh cho ba quân phạt Thục, Đại tướng quân Tư mã Văn vương nhận chỉ dụ điều tiết mọi mặt, Chiêu sai Ngải cầm giữ quân của Duy; Ung châu thứ sử Gia Cát Tự đón bắt Duy. Ngải phái Thiên Thuỷ thái thú Vương Kỳ đánh trực diện vào doanh luỹ của Duy, Lũng Tây thái thú Khiêm Hoằng đón lõng Duy ở mặt trước, còn Kim Thành thái thú Dương Hân tiến thẳng đến Cam Tùng. Duy nghe tin đại quân của Chung Hội đã xâm nhập vào Hán Trung, mới dẫn quân lui về giữ. Bọn Hân gấp rút đuổi theo Duy đến Xuyên khẩu, đại chiến ở đấy, Duy thua trận bỏ chạy. Lại nghe đồn rằng quân Ung Châu đã đóng giữ chiếm đầu cầu, Duy mới theo cửa Hàm Cốc tiến thẳng về Bắc, có ý tiến ra lấy Ung Châu. Gia Cát Tự thấy thế, vội vã lui về 30 dặm. Duy tiến về Bắc được 30 dặm, nghe tin Tự đã lui quân, liền quay lại, vượt qua bên kia cầu Âm Bình, Tự đuổi theo đánh Duy, hết ngày vẫn không đuổi kịp. Duy kéo quân về phía Đông, lui giữ cửa Kiếm Các. Chung Hội tấn công Duy không sao thắng được. Ngải dâng biểu lên bề trên rằng: “Nay quân giặc đã bị bẻ gẫy, nên nhân cơ hội này, dẫn quân theo lối Âm Bình men đường hẻm vượt qua Đức Dương Đình tiến tới Phù Thành, nơi đó cách Kiếm Các về phía Tây chừng 100 dặm, tiến về Thành Đô cũng có 300 dặm. Kỳ binh của ta đã đóng ở đó, quân địch đang giữ ở Kiếm Các tất phải lui về cứu Phù Thành, ắt Hội sẽ rộng đường mà tiến; bằng như quân ở Kiếm Các chẳng lui về, ắt quân giữ ở Phù Thành sẽ đơn độc. Ở Binh pháp, thiên Quân Chí có nói rằng: ‘Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý’. Nay nên giấu kín ngay việc ấy, phá địch ắt chỉ có như thế thôi vậy.” Mùa Đông tháng 10, Ngải từ Âm Bình tiến sâu vào đất không dấu chân người đến hơn 700 dặm, đào núi mở đường, xây cầu bắc ván. Núi cao vực sâu, tận cùng gian hiểm, lại còn lương thực mang theo chẳng đủ dùng, mối nguy nan luôn rình rập. Ngải quấn chăn khắp mình, lăn từ trên cao xuống. Tướng sĩ đều vin cây bám chặt vào vách núi, đính liền nhau như xâu cá, cứ thế mà tiến. Khi Ngải tiến quân đến Giang Du, Thục tướng là Mã Mặc ra hàng. Vệ tướng quân nhà Thục là Gia Cát Chiêm từ Phù Thành lui về Miên Trúc, bày trận đợi Ngải ở đó. Ngải phái con yêu là Đình hầu Đặng Trung tiến ra mé hữu, Tư mã Sư Toản tiến ra mé tả đón đánh Chiêm. Trung, Toản đánh nhau không được lợi, đều phải lui binh về, bẩm với Ngải rằng: “Giặc chưa thể đánh được trong lúc này”. Ngải nổi giận mắng: “Cái lẽ được mất đã rõ ràng rồi, chỉ một lần này là xong việc, sao không biết gắng hết sức?” Lại quát mắng bọn Trung-Toản, muốn chém. Trung-Toản vội quay lại đánh tiếp, phá được quân Thục, chém chết Chiêm và quan Thượng thư Trương Tuân (19) cắt lấy đầu, rồi tiến quân đến lấy Lạc Thành.
    Lưu Thiện phái sứ giả đem dâng nộp tỉ thụ Hoàng đế cho Ngải và xin hàng. Ngải đến Thành Đô, Thiện đem Thái tử và các vương hầu cùng quần thần hơn sáu chục người cúi mặt khiêng áo quan đến quân môn chịu tội, Ngải cởi trói đỡ dậy, lại sai đốt bỏ áo quan, nhận cho hàng. Rồi kiểm xét danh sách các tướng sĩ trong cung, không bỏ sót người nào, vỗ về kẻ ra hàng, cho giữ nguyên công việc như trước, vì thế người Thục đều yên bụng cả. Ngải riêng ý chiếu theo việc của Đặng Vũ ngày trước, thừa mệnh phong cho Thiện chức Hành Phiêu kỵ tướng quân, cho Thái tử giữ chức Phụng xa, các vương hầu được ban chức Phụ mã Đô uý. Quần thần nước Thục tuỳ theo thứ bậc cao thấp đều được cho làm quan cả, hoặc nhận các chức tước phụ thuộc trong quân doanh của Ngải. Ngải lại lấy Sư Toản làm Ích châu thứ sử, Lũng Tây thái thú Khiêm Hoằng đốc xuất các quận ở Thục trung. Lại sai đắp một đài lớn ở Miên Trúc làm sở quan, nhằm ca tụng chiến công của mình. Những binh sĩ bị chết vì việc nước, kể cả Thục binh đều được mai táng như nhau cả. Ngải có ý khoe công của mình, bảo với các đại phu nước Thục rằng: “Các ngươi may gặp được ta, mới có được ngày hôm nay vậy, ví bằng gặp phải bọn tướng khác, ắt là chết cả rồi”. Lại nói: “Khương Duy tự cho chỉ có mình là anh hùng, cùng với ta tương tranh, giờ đã cố cùng rồi vậy”. Bậc thức giả đều cười chê lời ấy".
    +
    Phần Ngụy chí - Tào Hoán truyện: "Mùa hạ, tháng năm năm Cảnh Nguyên thứ tư, vua Ngụy hạ chiếu nói: “Thục là nước bé tí, đất hẹp dân ít, vậy mà Khương Duy ngỗ ngược điều dùng quân dân nước ấy, chưa từng bỏ chí; năm ngoái sau khi phá được quân giặc, nay vẫn trồng trọt ở Đạp Trung, cắt xén rợ Khương, lao dịch không nghỉ, dân chẳng chịu nổi. Đánh yếu phá kém là cách hay của việc quân, dắt người mà không bị người dắt là phép đầu của nhà binh vậy. Kẻ mà người Thục dựa cậy là chỉ có Duy mà thôi, nhân lúc hắn rời xa khỏi hang ổ mà đem quân đánh thì dễ. Nay sai Chinh tây Tướng quân Đặng Ngải đốc lĩnh các quân đến các xứ Cam Tùng, Đạp Trung để bắt lấy Duy, sai Ung Châu Thứ sử Gia Cát Tự đốc lĩnh các quân đến các xứ Vũ Đô, Cao Lâu, đầu đuôi đánh dẹp. Nếu bắt Duy thì nên cùng đi hai phía đông tây, tất quét dẹp được đất Ba Thục vậy”. Lại sai Trấn tây Tướng quân Chung Hội theo đường Lạc Cốc đi đánh Thục (...). Từ khi Đặng Ngải, Chung Hội đem quân đánh Thục, đến đâu thắng đó. Tháng ấy, vua Thục là Lưu Thiện đến chỗ Ngải hàng, đất Ba Thục đều bình" .






    * Nước Ngụy (từ khi Tào Phi lên cầm quyền cho đến thời điểm quyền thần Tư Mã Ý lũng đoạn chính quyền)
    Tam quốc chí - phần Ngụy chí (bản dịch) có lẽ đã lược mất quyển 2 - Văn đế kỷ (Tào Phi), mà chỉ giới thiệu từ quyển 3: Tào Phương truyện trở đi. Người viết trích đoạn từ Thục chí và Ngô chí (hay Ngô thư), đoạn về Tào Phi - Ngụy Văn đế để các bạn hình dung nhé:
    - Năm 220, Tào Tháo qua đời, con trưởng là Tào Phi lên ngôi Tào công; vài tháng sau thì lên ngôi Hoàng đế - hiệu Ngụy Văn đế:
    + Ngô thư chép: "Tháng giêng mùa xuân năm thứ hai mươi lăm, Tào Công hoăng, Thái tử Phi thay làm Thừa tướng Ngụy Vương, đổi niên hiệu là Diên Khang. Mùa thu, Tướng Ngụy là Mai Phu sai Trương Kiệm đến xin được thu nạp. Năm nghìn hộ dân của năm huyện Âm, Tán, Trúc Dương, Trúc âm trục. Sơn Đô, Trung Lư thuộc quận Nam Dương đến nương dựa. Mùa đông, Vương nối tự của nhà Ngụy xưng tôn hiệu, đổi niên hiệu là Hoàng Sơ (...). Từ thời Ngụy Văn Đế lên ngôi vị, Quyền vâng lệnh xưng thần, lại sai bọn Vu Cấm về. Tháng mười một, ra lệnh cho Quyền nói: “Phép tắc của vua hiền là xét đức để ban chức tước, xét công để thưởng bổng lộc. Người có công lớn thì thưởng bổng lộc nhiều, người đức dày thì ban lễ hậu. Cho nên Thúc Đán có công giúp dỡ, Thái Công có công gây dựng, đều được ban cho đất đai, đấy là để khen ngợi công to, tỏ cái khác lạ của bậc hiền triết vậy. Gần đây vào đầu thời Hán Cao Tổ nhận lệnh, chia đất màu mỡ phong Vương cho tám họ, đấy là cái hay của đời trước, là tấm gương cho bậc Vương đời sau vậy. Trẫm là kẻ không có đức, theo vận mà sửa đổi, trông coi muôn nước, vâng giữ mệnh trời, suy nghĩ việc đời trước, ngồi mà đợi sáng. Chỉ có ông bản tính trung trinh, có tài giúp đời, hiểu sâu lịch số, soi thấu thịnh suy, ở xa mà sai khiến được người khác, qua cả vùng sông Tiềm sông Hán, Vũ cống chép: Đà, Tiềm đã đào. Chú rằng: “Xuất từ sông Giang là sông Đà, xuất từ sông Hán là sông Tiềm”. kẻ nghe qua đều đến nương dựa, dâng sớ xưng thần, thu nạp tơ lụa, vật cống của phương nam, đều sai các tướng đến cống cho triều đình. Trong lòng trung trinh thì kẻ ngoài thành thật, tín khắc lên vàng đá, nghĩa trùm cả sông núi, trẫm rất khen ngợi. Nay phong ông làm Ngô Vương, sai Sử trì tiết Thái thường Cao Bình Hầu là Trinh đến trao cho ông các đồ ấn thao chiếu thư, hổ phù từ hạng nhất đến hạng năm, tả trúc sứ phù từ hạng nhất đến hạng mười, cho làm Đại Tướng quân, cầm cờ tiết trông coi Giao Châu, lĩnh việc Kinh Châu Mục, ban cho ông đất xanh, cờ mao trắng, nêu rõ lệnh của trẫm, để coi xét miền đông của Hoa Hạ. Trao lại ấn thao chiếu thư Phiếu kị tướng quân Nam Xương Hầu trước đây. Nay lại ban thêm cho ông mệnh cửu tích, nên kính nghe lệnh của trẫm. Cho ông vỗ về miền đông nam, lập phép tắc ở vùng Giang Ngoại, khiến cho dân vui vẻ dựng nghiệp, không có ai mang hai lòng, ban cho ông một cỗ xe lớn, một cỗ xe binh, bốn con ngựa đực đen. Ông làm ra của cải khuyến việc trồng trọt, kho tàng chất đầy, cho nên ban cho ông dùng áo cổn miện, kèm theo dày đỏ. Ông dùng đức dạy dân, lễ giáo trôi chảy, cho nên ban ông dùng lễ nhạc hiên huyền. Ông nêu cao phong tục tốt đẹp, vỗ về người Bách Việt, cho nên ban cho ông dùng nhà cửa đỏ. Ông dùng mưu hay của mình, dùng quan hiền tài, cho nên ban cho ông được dùng bệ cao. Ông trung dũng hăng hái, dẹp trừ kẻ gian ác, cho nên ban cho ông dùng trăm người dũng sĩ. Ông diễu oai nơi biên giới, tỏ sức đến miền Kinh Nam, diệt trừ kẻ xấu xa, kẻ có tội bị phạt, cho nên trao ông dùng một lưỡi phủ việt. Ông được quan văn ở trong hòa mục, tướng võ ở ngoài tin cậy, cho nên cho ông một cây cung đỏ, trăm cây tên đỏ, mười cây cung đen, nghìn cây tên đen. Ông lấy trung trinh làm nền, cung kính làm đức, cho nên cho ông một hũ rượu nếp đen, kèm theo ngọc khuê. Gắng lên! Kinh bày huấn điển để theo lệnh của trẫm, để giúp đỡ nhà nước ta, để ngươi mãi được rạng rỡ”.
    Năm đó, Lưu Bị đem quân đến đánh, đến huyện Vu Sơn, Tỉ Quy, sai sứ giả dụ dỗ người Man Di ở quận Vũ Lăng (...). Quyền lấy Lục Tốn làm Đô đốc, sai bọn Chu Nhiên, Phan Chương đến chống quân Thục. Sai Đô úy Triệu Tư đi sứ đến nhà Ngụy. Ngụy Đế hỏi rằng: “Ngô Vương là chủ thế nào”? Tư đáp rằng: “Thông minh, có nhân, có trí, là vị vua hùng lược vậy”. Đế hỏi tình trạng, Tư nói: “Nạp Lỗ Lúc ở chỗ bọn phàm tục, đấy là cái thông đạt của Vương vậy; cử Lữ Mông ở chỗ đánh trận, đấy là cái sáng suốt của Vương vậy; bắt được Vu Cấm mà không làm hại, đấy là cái nhân của Vương vậy; lấy Kinh Châu mà mũi đao không vấy máu, đấy là cái trí của Vương vậy; dựa vào ba châu như hổ ngồi xem thiên hạ; đấy là cái hùng của Vương vậy; nhún nhường với bệ hạ, đấy là cái tài lược của Vương vậy”.
    Năm Hoàng Vũ nguyên niên, "Nhà Ngụy bèn sai Thị trung Tân Bì, Thượng thư Hoàn Giai đến cùng thề ước, cùng mời con đến nhận chức, Quyền từ chối không nhận. Tháng chín mùa thu, nhà Ngụy lại lệnh Tào Hưu, Trương Liêu, Tang Bá ra Đồng Khẩu; Tào Chân ra Nhu Tu; Tào Chân, Hạ Hầu Thượng, Trương Cáp, Từ Hoảng vây Nam Quận. Quyền sai bọn Lữ Phạm lĩnh năm quân, đem quân thuyền chống bọn Tào Hưu; sai Gia Cát Cẩn, Phan Chương, Dương Xán cứu Nam Quận; Chu Hoàn ở Nhu Tu coi việc chống Tào Nhân" (...). Quyền bèn đổi niên hiệu, đến sông chống giữ. Tháng mười một mùa đông, có gió lớn, quân của bọn Lữ Phạm chết đuối mấy nghìn người, quân còn lại về phía nam sông. Tào Hưu sai Tang Bá đem năm trăm chiếc thuyền nhẹ, vạn quân liều chết đánh úp thành Từ Lăng, đánh đốt xe trong thành, giết cướp mấy nghìn người. Tướng quân Toàn Tông, Từ Thịnh đuổi chém tướng Ngụy là Doãn Lư, bắt giết mấy trăm người (...). Nhưng vẫn kết thân với Ngụy Văn Đế, đến năm sau mới dứt.
    Khi Lưu Bị mất ở thành Bạch Đế, "Nhà Ngụy lấy làm Kì Xuân Thái thú, nhiều lần phạm cõi biên. Tháng sáu, Quyền sai Tướng quân Hạ Tề đem bọn Mi Phương, Lưu Thiệu đánh úp quận Kì Xuân, bọn Thiệu bắt sống Tông (...).Tháng chín, Ngụy Văn Đế đến quận Quảng Lăng, đứng nhìn sông lớn từ xa, nói: “Bên ấy có người, chưa đánh lấy được vậy”. Rồi về" (...). Tháng bảy mùa thu năm Hoàng Vũ thứ năm," Quyền nghe tin Ngụy Văn Đế băng, liền đánh quận Giang Hạ, vây huyện Thạch Dương, không thắng mà về".
    +
    Thục chí chép thêm: "Năm thứ hai mươi lăm, Nguỵ Văn Đế xưng tôn hào, cải niên hiệu là Hoàng Sơ. Có người đưa tin Hán Đế bị hại, Tiên Chủ bèn mặc áo trắng cử tang, truy thuỵ hiệu là Hiếu Mẫn Hoàng Đế (...). Bọn Thái phó Hứa Tĩnh, An Hán tướng quân Mi Trúc, quân sư tướng quân Gia Cát Lượng, Thái thường Lại Cung, Quang lộc huân Hoàng Quyền, Thiếu phủ Vương Mưu dâng lời rằng: “Tào Phi thí chúa soán ngôi, chôn vùi ngôi Hán thất, cướp lấy thần khí, bức hiếp kẻ trung lương, tàn ác vô đạo. Quỷ thần căm giận, đều nghĩ đến họ Lưu. Nay ở trên không có thiên tử, hải nội bàng hoàng, không có chỗ ngóng trông. Quần hạ trước sau dâng sớ hơn tám trăm người, đều nói rõ có điềm lành, và những lời đồ sấm làm chứng cớ rõ ràng. Gần đây có rồng vàng hiện ra ở Xích Thuỷ núi Vũ Dương, suốt chín ngày mới tan. Hiếu kinh (41) dẫn lời của Thần Tiết (42) rằng ‘Ân đức đến cùng cực ắt có rồng vàng hiện ra’, rồng, là hình tượng của vua vậy. Hào thứ chín mươi lăm trong quẻ Càn ở sách Chu Dịch (43) nói ‘rồng bay ở trên trời’, mà đại vương đang như rồng bay lên, xứng nhận lấy ngôi đế" (...). Nguỵ thư chép: Bị nghe tin Tào Công chết, sai phó quan là Hàn Nhiễm dâng điếu thư, lại gửi đồ lễ phúng viếng. Văn Đế ghét cái việc nhân lễ tang cầu thân, mệnh cho Thứ sử Kinh Châu chém Nhiễm, tuyệt đường sứ mệnh".

    [​IMG] Ngụy Minh đế Tào Duệ (nguồn: trong hình)
    - Ngụy Minh đế Tào Duệ lên ngôi. Ngụy chí chép: "Năm Hoàng Sơ thứ bảy, mùa hạ, tháng năm, Văn Đế bệnh nặng bèn lập Đế làm Hoàng Thái Tử. Đến ngày Đinh Tỵ thì lên ngôi hoàng đế, đại xá thiên hạ, Tôn Hoàng Thái Hậu làm Thái Hoàng Thái Hậu, tôn Hoàng Hậu làm Hoàng Thái Hậu. Mọi thần tử đều được gia phong theo thứ bậc (...). Tháng tám (năm Hoàng Sơ nguyên niên), Tôn Quyền đánh quận Giang Hạ. Thái Thú Văn Sính kiên cường phòng thủ. Triều đình bàn luận muốn phát quân cứu viện (...). Trước hết sai Trị Thủ Thị Ngự Sử Tuân Vũ ra uý lạo quân dân biên giới. Vũ đến nơi, ở Giang Hạ dẫn quân sở tại cùng binh sĩ bộ kỵ đi theo hơn nghìn người lên núi đốt lửa. Quyền lui quân bỏ chạy (...). Năm Thái Hòa nguyên niên, "Người ở Tây Bình là Khúc Anh làm phản, giết chết quan Lệnh ở Lâm Khương và quan Trưởng ở Tẩy Đô. Sai tướng quân Hác Chiêu, Lộc Bàn đánh dẹp chém được. Tháng hai năm ấy, ngày Tân Mùi, Đế cày ruộng tịch điền" (...). Mùa đông cùng năm, Thái Thú Tân Thành là Mạnh Đạt làm phản. Ban chiếu sai Phiêu Kỵ Tướng Quân Tư Mã Tuyên Vương (tức Tư Mã Ý) đi đánh dẹp
    [​IMG] quyền thần nước Ngụy Tư Mã Ý (hiệu Tuyên vương)
    [​IMG] Tạo hình Tư Mã Ý trên phim
    [​IMG]
    Năm Thái Hòa thứ hai, "Đại tướng nước Thục là Gia Cát Lượng quấy phá ở biên giới. Kẻ lại thứ dân ba quân Thiên Thuỷ, Nam An, An Định làm phản phụ hoạ với Lượng. Nguỵ Thư chép: Lúc bấy giờ triều thần chưa biết đưa ra sách lược gì. Đế nói: ”Lượng vân dựa vào núi non cách trở, nay lại tự đến, đã hợp với kế sách trong binh thư của bậc trí giả. Vả chăng Lượng tham ba quận, chỉ biết tiến mà không biết thoái, nay nhân cơ hội này tất sẽ phá được.” Bèn bố trí binh mã bộ kỵ năm vạn thống lĩnh ra chống Lượng. Sai Đại Tướng Quân Tào Chân giám sát toàn bộ Quan Hữu, cùng nhau tiến binh. Hữ Tướng Quân Trương Cáp công kích Lượng ở Nhai Đình, đại thắng. Lượng thua trận bỏ chạy, ba quận được bình định. Ngày Tân Mùi, tổ chức ăn mừng ở Trường An (...) Mùa thu, tháng chín, Tào Hưu thống lĩnh chư quân tiến vào đất Hoàn, giao chiến với tướng Ngô là Lục Nghị (28) ở Thạch Đình, thất bại"
    [​IMG] Tư Mã Sư, quyền thần nước Ngụy - hiệu Cảnh vương
    Ngày mậu dần, Thái úy Tư Mã Tuyên Vương hoăng, lấy Vệ tướng quân Tư Mã Cảnh Vương (tức Tư Mã Sư) làm Phủ quân Đại tướng quân, Lục thượng thư sự (...). Năm thứ tư (niên hiệu mới), "Mùa đông tháng mười một, hạ chiếu sai bọn Chinh nam Đại tướng quân Vương Sưởng, Chinh đông Tướng quân Hồ Tuân, Trấn nam Tướng quân Quán Khâu Kiệm đánh quân Ngô. Tháng mười hai, Đại tướng quân của nước Ngô là Gia Cát Khác đánh chống, đại phá quân ấy ở Đông Quan. Không lợi mà về" (...). Năm thứ năm, mùa hạ tháng tư, đại xá. Tháng năm, Thái phó của nước Ngô là Gia Cát Khác vây huyện Tân Thành quận Hợp Phì, hạ chiếu sai Thái úy Tư Mã Phu chống lại (...). Ngày canh tuất, bọn Trung thư lệnh Lí Phong cùng cha của Hoàng hậu là Quang lộc Đại phu Trương Tập mưu phế đổi đại thần, muốn lấy Thái thường Hạ Hầu Huyền làm Đại tướng quân. Việc lộ, những người liên quan đều bị kể tội giết (...). Mùa thu tháng chín, Đại tướng quân Tư Mã Cảnh Vương mưu muốn phế Đế, báo cho Hoàng thái hậu (...) . Ngày giáp tuất, Thái hậu lệnh nói: “Hoàng đế là Phương tuổi đời đã lớn, không mưu vạn việc, say mê gái đẹp, chìm đắm nữ sắc, ngày càng càn rỡ, phóng túng bừa bãi; đón người nhà sáu cung giữ ở phòng trong, bỏ bậc luân lường, loạn tiết trai gái; hiếu thuận kém xấu, lỗi lầm thêm nặng, không đáng nối theo mệnh trời cúng tế tông miếu. Sai quan Thái úy Cao Nhu vâng chiếu, dùng lễ vật to lớn tế ở tông miếu, sai Phương về làm vua phiên ở đất Tề để nhường ngôi quý”

    Phụ lục hình ảnh và bản đồ nước Ngụy Tam quốc:
    [​IMG]
    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    Ảnh minh họa Gia Cát Lượng chống đánh quân của Tư Mã Ý

    [​IMG]
    Tây Môn Báo làm Nghiệp lệnh (tức huyện lệnh đất Nghiệp), đã dẹp bỏ nạn mê tín Hà Bá. Sau này Tào Tháo làm quốc tướng nước Tế Nam cũng rất tích cực đánh phá vào những lễ nghi cúng tế kiểu này. Sau khi tiêu diệt Viên Thiệu, Tháo trú chân luôn ở Nghiệp Thành. Ông ta từng dẫn chuyện "Tây Môn Báo đeo miếng da mềm bên mình để răn tính nóng nảy" để khuyên răn Từ Dịch. Trước khi chết ít lâu, Tào Tháo đã tự chọn khu đất ở gần đền thờ Tây Môn Báo làm lăng mộ cho mình. Một bề tôi khác là Điền Dự cũng trối lại với vợ con rằng hãy chôn mình ở gần Tây Môn Báo, vì cớ muốn làm bạn với Báo sau khi chết.
    Ảnh: Thác bản trụ đá trong đền thờ Tây Môn Báo. Nghe nói nhờ minh văn này mà xác định được mộ của Ngụy Vũ vương Tào Tháo.

    [​IMG]
    Hòn đá trong chùa Cam Lộ ở núi Bắc Cố, Trấn Giang, Giang Tô. Tương truyền là chỗ Lưu Bị, Tôn Quyền bói quẻ hỏi trời xem mình có lập thành bá nghiệp hay không. Thời Tống, đá này có tên là Đá Căm Hờn (hận thạch). Hiện nay nó được gọi là Đá Thử Kiếm (thí kiếm thạch).

    [​IMG]
    tướng Ngụy Đặng Ngải. Tranh trên sách cổ Trung Hòa, Nghiên cứu Tam quốc chụp lại

    [​IMG]
    Ảnh: Gia Cát chém sứ Tào - tranh minh họa Toàn tướng Tam quốc chí cố sự thời Nguyên Thế Tổ (1294).

    [​IMG]
    Ảnh: Shokatsu Komei (Gia Cát Khổng Minh), tranh của Katsushika Hokusai (1760-1849). Niên đại: 1820.

    [​IMG]
    Ảnh: Quan Vũ - tranh thangka Mông Cổ, khoảng năm 1600.


    [​IMG]
    Ngụy đế Tào Phi, tranh thời Mãn Thanh



    [​IMG]
    Ảnh: Gia Cát Lượng bảy lần bắt Mạnh Hoạch - tranh của nhóm Henri Oger (và các nghệ nhân người Việt) in trong cuốn Kỹ thuật của người Annam [1908-1909].

    [​IMG]
    Ảnh: Bích họa Quan Vũ trong một ngôi đền đổ nát thời nhà Thanh ở huyện Yiyang, Lạc Dương.


    [​IMG]
    Ảnh: Hình người có cánh trong lăng mộ Tào Tháo.

    [​IMG]
    [​IMG]
    Ảnh trích từ Tam quốc chí diễn nghĩa, nhà in Phúc Bồ, Hà Nội (không rõ năm xuất bản)

    [​IMG]
    Ba anh em Lưu - Quan - Trương kết nghĩa ở vườn đào. Ảnh trích từ sách Tam quốc chi diễn nghĩa.

    [​IMG]
    Ảnh: Tào Tháo dâng thất tinh bảo ... kiếm cho Đổng Trác (tranh minh họa thời Minh)



    Tào Tháo trước trận Xích Bích. Tranh của hoạ sĩ Nhật Bản vẽ năm 1883

    3. Tam quốc quy Tấn
    Ở sách Tam quốc chí, tác giả có trình bày nước Thục Hán đã đầu hàng nước Ngụy rồi (xem phần 2) và nước Ngụy là đã trình bày đến đời của Tư Mã Sư (thời Ngụy đế Tào Duệ). Vậy ở phần này, tác giả lược trích tư liệu gốc từ thời Ngụy đế Tào Duệ cho đến khi Tư Mã Viêm thống nhất được Trung Hoa; gồm hai nước là Ngụy và Ngô:

    * Nước Ngụy:
    - Sau khi đã trừ bỏ thế lực của Tào Sảng và lật đổ ngai vàng của Ngụy đế Tào Phương, Tư Mã Sư (hiệu là Tư Mã Cảnh vương) đưa Cao Quý Hương công Tào Mao lên ngôi vua Ngụy. Tam quốc chí - phần Ngụy chí ghi lệnh của Thái hậu: “Đông Hải Vương là Lâm, là con của Cao Tổ Văn Hoàng Đế. Trong các con của Lâm, có tình thân với nhà nước, Cao Quý Hương Công là Mao có khí độ lớn lao, nay lấy làm người nối tự của Minh Hoàng Đế”. Để biện minh cho sự lựa chọn vua mới này, Ngụy thư có chép: "Cảnh Vương lại cùng tấu với bầy tôi ở cung Vĩnh Ninh rằng: “Bọn thần nghe nói rằng đạo làm người là gần gũi người thân thì tôn kính tổ tiên, tôn kính tổ tiên thì tôn kính họ hàng. Theo lễ, nếu dòng cả không có người nối tự thì chọn người hiền của dòng thứ; làm dòng dõi cho người, làm con cho người vậy. Con của Đông Hải Định Vương là Cao Quý Hương Công, là cháu của Văn Hoàng Đế, nên được nối dòng lớn để nối tự làm dòng dõi của Liệt Tổ Minh Hoàng Đế. Cả nước được nhờ, muôn cõi may lắm! Bọn thần xin gọi ngài đến cung Lạc Dương”. Tấu cho làm".
    [​IMG] Ngụy đế Tào Mao (tranh vẽ)
    Tào Mao lên ngôi chỉ là Hoàng đế bù nhìn, mọi việc do Tư Mã Sư quyết định. Ngụy chí viết: "Ngày quý tị, ban búa vàng cho Đại tướng quân Tư Mã Cảnh Vương, vào chầu không cần đi nhanh, tấu việc không xưng tên, được đeo kiếm lên điện". Năm Chính Nguyên thứ hai, Tư Mã Sư dẹp yên cuộc mưu phản của Trấn đông Tướng quân Quán Khâu Kiệm, Dương Châu Thứ sử Văn Khâm. Phần Ngụy chí lại viết vụ dẹp loạn này: "Tháng nhuận ngày kỉ hợi, phá Khâm ở huyện Lạc Gia. Khâm chạy trốn, bèn sang Ngô. Ngày giáp thìn, An Phong Hoài tân Đô úy chém Kiệm, chuyển đầu đến kinh đô. (...). Ngày giáp tí, bọn Đại tướng Tôn Tuấn của nước Ngô đem quân phao tin là có chục vạn đến Thọ Xuân, Gia Cát Đản đánh được chúng, chém Tả tướng quân Lưu Tán của nước Ngô, bao tin thắng trận đến kinh đô (...). Tháng tám ngày tân hợi, Đại tướng quân Khương Duy của nước Thục ra cướp huyện Địch Đạo, Ung Châu Thứ sử Vương Kinh đánh với Duy ở Thao Tây, Kinh thua to, về giữ thành Địch Đạo. Ngày tân mùi, lấy Trường thủy Hiệu úy Đặng Ngải làm An tây Tướng quân, hợp sức với Chinh tây Tướng quân Trần Thái cùng chống Duy (...). Ngày giáp thìn, Khương Duy rút về (...).
    Về phần mình, Ngụy đế Tào Mao rất chăm lo cho dân. Ông đã cho "xem xét phong tục, vỗ về quân dân, xét hỏi những kẻ bị oan uổng hoặc làm trái việc quan" (...). Trong trận chiến chống quân Thục Hán, Ngụy đế hạ chiếu nói: “Trẫm vì đức mỏng, không ngăn chặn được giặc cướp mới khiến cho giặc Thục hung hăng vào biên thùy. Ở trận Thao Tây dẫn đến thua vỡ, tướng sĩ chết chóc kể đến hàng nghìn, có người bỏ mạng trên chiến trường, hồn oan chẳng về, có kẻ bị tay giặc bắt giữ, lưu lạc nơi xứ lạ, ta thật là thương xót, vì thế mà đau lòng. Nay sai các quan Điển nông, An phủ Di Hộ quân và quan lại quận ấy cứu giúp người nhà của tướng sĩ, không thu thuế lao dịch một năm; những người gắng sức chết trận đều theo phép cũ mà truy tặng, chớ có bỏ sót” (...). Tháng mười một ngày giáp ngọ, thấy bốn quận miền Lũng Hữu và quận Kim Thành nhiều năm gặp địch, có kẻ trốn phản theo giặc, người thân thích còn ở lại quê cũ chẳng yên lòng, đều tha thứ cho. Ngày quý sửu, hạ chiếu nói: “Lúc trước ở trận phía tây sông Thao, tướng lại quân dân có kẻ chết ở trong trận, có người bị chìm dưới sông Thao, chẳng nhặt được xương cốt, vứt ở đồng rẫy, ta vẫn đau xót. Nay báo cho Chinh tây, An tây Tướng quân đều sai quân bản bộ đến chỗ cũ cùng bờ sông thu nhặt thây tang, liệm mà chôn cất để an ủi người con sống”. (...). Năm Cam Lộ nguyên niên, Ngụy đế tranh luận với các phương sĩ về các bộ kinh Nho gia. Phần Ngụy chí chép khá dài, trích một đoạn tham khảo: "Ngày bính thìn, Đế đến nhà Thái học, hỏi các nhà Nho rằng: “Thánh nhân nghĩ điềm của thần minh, ngưỡng nhìn xem xét, bắt đầu lập ra tám quẻ, sau lại chồng lên lập thành sáu mươi tư quẻ, lập từng hào để đoán số, như ý nghĩa của nó, không gì không đầy đủ. Vậy mà nhà Hạ có kinh Liên sơn, nhà Ân có kinh Quy tàng, nhà Chu có kinh Chu dịch, các sách dịch kia có nguyên cớ làm sao”? Bác sĩ Thuần Vu Tuấn nghiên cứu về kinh dịch đáp rằng: “Bào Hi noi theo bản đồ của Toại Hoàng mà lập ra tám quẻ, Thần Nông suy thành sáu mươi tư quẻ, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn đều hiểu cái biến dịch của nó, Tam đại tùy thời mà bàn rõ lời bói các quẻ. Cho nên dịch là biến chuyển vậy, đặt tên là Liên sơn như khí sinh ở trong núi, nối liền trời đất vậy; Quy tàng là vạn vật chẳng gì không náu ở trong dịch vậy”. Đế lại nói: “Nếu đúng Bào Hi noi theo Toại Hoàng mà tạo ta kinh Dịch, cớ sao Khổng Tử không nói là Toại Nhân thị diệt thì Bào Hi thị lên thay”? Tuấn không đáp được. Đế lại hỏi rằng: “Khổng Tử chép lời thoán, tượng; Trịnh Huyền chép lời chú, dẫu thánh hiền chẳng giống nhưng lời mà họ giải thích kinh nghĩa cùng là một vậy. Nay lời thoán, tượng không liên quan với lời văn của kinh mà lời chú lại liên quan, sao vậy”? Tuấn đáp nói: “Trịnh Huyền hợp lời thoán, tượng và lời văn của kinh, muốn khiến cho người học dễ tìm xét thôi vậy”. Đế nói: “Nếu Trịnh Huyền hợp lại, đối với người học thì tiện lợi, vậy thì Khổng Tử sao không hợp lại cho người học được dễ hơn”? Tuấn đáp nói: “Khổng Tử sợ lời văn của mình lẫn lộn với lời của Văn Vương, cho nên không hợp lại, thánh nhân không hợp lại là vì khiêm nhường vậy”. Đế nói: “Nếu thánh nhân không hợp lại là vì khiêm nhường, vậy thì chỉ riêng Trịnh Huyền không khiêm nhường sao”? Tuấn đáp nói: “Nghĩa của lời kinh sâu rộng, ý của thánh nhân xa kín, thần không thể hiểu rõ hết được”. Đế lại hỏi rằng: “Hệ từ chép: ‘Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn bỏ áo quần mà thiên hạ yên ổn’. Đấy là vào thời Bào Hi, Thần Nông không có áo quần vậy. Nhưng thánh nhân giáo hóa thiên hạ, sao lại khác lạ với thời ấy”? Tuấn đáp nói: “Vào thời Tam hoàng, người ít mà cầm thú nhiều, cho nên chỉ lấy lông da của cầm thú thì thiên hạ cũng đủ dùng. Đến thời Hoàng Đế, người đông mà cầm thú thưa, cho nên làm ra quần áo để hợp với thời buổi thay đổi vậy”. Đế lại hỏi: “Càn là trời, mà lại chọn các vật bằng kim loại, ngọc, ngựa già, vật nhỏ cùng một nhóm là sao”? Tuấn đáp nói: “Thánh nhân chọn lấy hình tượng, hoặc gần hoặc xa, gần thì chọn ở các vật, xa thì chọn ở trời đất”. Giảng kinh Dịch xong, lại sai giảng kinh Thượng thư...."
    "Tháng tám ngày canh ngọ năm Cam Lộ nguyên niên, bái Đại tướng quân Tư Mã Văn Vương (Tư Mã Chiêu - tác giả chú; sách này giấu không cho biết Tư Mã Sư mất ở đâu) thêm chức Đại đô đốc, tấu việc không nói tên, trao búa vàng. Ngày quý dậu, lấy Thái úy Tư Mã Phu làm Thái phó (...). Tháng năm ngày tân mùi, Đế đến miếu Tích Ung, mở hội sai bầy tôi làm thơ phú. Bọn Thị trung Hòa Du, Thượng thư Trần Khiên làm thơ thô xấu, quan chủ việc tấu xin bãi chức (...). Ngày ất hợi, Gia Cát Đản không chịu vâng mệnh, phát binh phản, giết Dương Châu Thứ sử Nhạc Sâm (...). Vua cử tướng ra thảo phạt, "Năm Cam Lộ thứ ba mùa xuân tháng hai, Đại tướng quân Tư Mã Văn Vương hãm thành Thọ Xuân, chém Gia Cát Đản
    Tháng năm năm Cam Lộ thứ ba, vua "bái Đại tướng quân Tư Mã Văn Vương làm Tướng quốc, phong Tấn Công, thực ấp tám quận, lại tặng lễ ‘cửu tích’, Văn Vương trước sau nhường chín lần lại thôi (...). Năm Cam Lộ thứ năm, mùa xuân đầu tháng giêng, Mặt trời có chỗ khuyết. Mùa hạ tháng tư, hạ chiếu quan coi việc theo phép cũ, lại bái Đại tướng quân Tư Mã Văn Vương làm Tướng quốc, phong Tấn Công, thêm lễ ‘cửu tích’".
    Tháng năm ngày kỉ sửu (2/6/260), Cao Quý Hương Công chết, bấy giờ hai mươi tuổi. Hán Tấn xuân thu chép lại sự việc này: "Đế thấy oai quyền ngày càng rời, không kìm nổi giận. Bèn gọi Thị trung Vương Thẩm, Thương thư Vương Kinh, Tán kị Thường thị Vương Nghiệp đến bảo rằng: “Lòng dạ của Tư Mã Chiêu, người đi ngoài đường còn biết. Ta không thể ngồi mà chịu nhục nữa, ngày nay sẽ cùng các khanh tự ra đánh hắn”. Vương Kinh nói: “Ngày xưa Lỗ Chiêu Công không nhịn được họ Quý mà thua chạy mất nước, bị thiên hạ chê cười. Nay quyền thế của họ ở trước cửa, cũng đã lâu ngày. Ở bốn phương và triều đình đều vì họ mà liều chết, không màng đến cái lí thuận hay nghịch, đấy chẳng phải là do ở một ngày vậy. Vả lại quân vệ thiếu vắng, binh giáp yếu kém, Bệ hạ làm sao dùng được? Vả lại nếu một sớm như thế, chẳng phải muốn trừ bệnh mà bệnh càng nặng sao! Họa nạn khó lường, chỉ nên giữ điều lành thôi”. Đế bèn đem tấm lệnh trong người ra ném xuống đất, nói: “Ta quyết làm rồi. Dẫu bị chết, há sợ gì? Huống chi không hẳn là tất chết”! Do đó vào bẩm Thái hậu. Thẩm, Nghiệp chạy trốn báo cho Văn Vương, Văn Vương sắp đặt phòng giữ. Đế bèn đem mấy trăm lính hầu gõ trống mà ra. Em họ của Văn Vương là Đồn kị Hiệu úy Trụ vào, gặp Đế ở cửa Chỉ Xa phía đông, tả hữu mắng Trụ, quân của Trụ bỏ chạy. Trung hộ quân Giả Sung lại chặn đánh Đế ở dưới cửa khuyết phía nam, Đế tự cầm kiếm. Quân muốn rút, Thái tử Xá nhân Thành Tế hỏi Sung rằng: “Việc gấp rồi, nên làm sao”? Sung nói: Nuôi chứa các ngươi, làm ở ngày nay. Việc ở ngày nay, còn hỏi gì nữa”? Tế liền đến đâm Đế, mũi đao thâu qua lưng. Văn Vương nghe tin, cả kinh, tự lăn xuống đất nói: “Thiên hạ sẽ nói ta thế nào”! Thái phó Phu chạy đến, ôm thây Đế mà khóc rất thảm thương, nói: “Giết Bệ hạ là tội của thần vậy”". Sau đó, Chiêu dùng danh nghĩa Hoàng thái hậu bịa ra các tội của Tào Mao và phế ông làm thứ nhân. Tuy nhiên về sau, Chiêu nghe theo lời ông chú Phu, quyết định khôi phục tước vị Cao Quý Hương công cho Tào Mao, an táng theo vương lễ. Sau đó thấy nhiều người bất bình việc mình giết vua, Tư Mã Chiêu theo kế Giả Sung, làm như không biết việc giết Tào Mao, bèn bắt Thành Tế trị tội giết vua. Ngụy chí chép: "Ngụy thị xuân thu chép: Anh em Thành Tế không trị tội ngay, lúc bị cởi trần lên điện, nói lời khinh nhờn; (Đại tướng quân Văn Vương) liền tự lấy cung bắn, bèn chết"


    [​IMG] Ngụy Nguyên đế Tào Hoán
    - Năm 260, Ngụy Nguyên đế (cháu trai của Tào Tháo) lên ngôi, đổi niên hiệu là Cảnh Nguyên. Sách Tam quốc chí - Ngụy chí viết: "Năm Cảnh Nguyên thứ nhất, mùa hạ tháng sáu ngày bính thìn, bái Đại tướng quân Tư Mã Văn Vương (Tư Mã Chiêu - tác giả chú) làm Tướng quốc, phong Tấn Công, tăng thực ấp hai quận, cùng thực ấp lúc trước là đầy mười quận, ban lễ ‘cửu tích’ như chiếu lệnh lúc trước; trong các con em những ai chưa phong Đình hầu thì ban cho nghìn vạn xâu tiền, vạn thất gấm, Văn Vương cố từ, lại thôi (...). Mùa thu tháng bảy, người rợ Hàn, Uế, Mạch ở ngoài quận Lạc Lãng đều đem thân thuộc đến chầu cống (...). Mùa hạ tháng tư, người quận Liêu Đông báo là vua của nước Túc Thận sai sứ giả phiên dịch vào cống, dâng ba mươi cây cung dài ba thước năm tấc, cây tên làm bằng gỗ cây hộ dài một thước tám tấc, ba trăm cây tên đá, hai mươi bộ áo giáp làm bằng xương da và sắt tạp, bốn trăm tấm da chồn. Mùa đông tháng mười, Đại tướng quân Khương Duy của nước Thục vào cướp miền Thao Dương, bị Trấn tây Tướng quân Đặng Ngải chống lại, phá Duy ở huyện Hầu Hòa, Duy trốn chạy. Mùa hạ tháng năm, Ngụy đánh tan quân Thục Hán. "Từ khi Đặng Ngải, Chung Hội đem quân đánh Thục, đến đâu thắng đó. Tháng ấy, vua Thục là Lưu Thiện đến chỗ Ngải hàng, đất Ba Thục đều bình". Từ lúc sau khi bình Thục, giặc Ngô đóng đồn ép gần Vĩnh An, bèn sai các quân miền Kinh, Dự hai đầu đến cứu. Tháng bảy, giặc đều rút lui (...). Năm Hàm Hi thứ nhất, mùa xuân tháng giêng ngày nhâm tuất, đem xe cũi đến bắt Đặng Ngải (...). Tháng ấy, Chung Hội phản ở đất Thục, bị quân sĩ đánh; Đặng Ngải cũng bị giết (...). Ngày kỉ mão, phong tước Vương cho Tấn Công, thực ấp mười quận, cùng lúc trước là hai mươi quận.
    Sau khi diệt Thục Hán, Tư Mã núp dưới danh nghĩa Ngụy đế chuẩn bị chinh phạt Ngô. Sách Tam quốc chí - Ngụy chí viết: "Ngày tân mùi, hạ chiếu nói: “Giặc Ngô chính trị bạo ngược, tô thuế chẳng cùng. Tôn Hưu sai sứ là Đặng Câu đến lệnh Giao Chỉ Thái thu điều động dân trong quận ấy, phát để làm lính (phần nội tình nước Âu Lạc cũ rất dài, xin không trích dẫn; đại khái là vua Ngụy ban chiếu vỗ về cuộc nổi dậy của Lữ Hưng ở Giao Chỉ). Ngày mậu ngọ, sai Phủ quân Đại tướng quân Tân Hương Hầu là Viêm làm Thế tử của Tấn Vương. Năm đó, chiêu mộ người Thục dời vào Trung Quốc, cấp cho thóc lúa dùng trong hai năm, lại miễn thuế hai mươi năm (...). Ngày canh tuất, vì lính hổ bôn là Trương Tu ngày xưa ở tại Thành Đô ruổi ngựa đến các trại cáo dụ Chung Hội phản nghịch, dẫn đến bỏ mạng, bèn ban cho em Tu là Kì lĩnh tước Quan nội hầu. Nước Ngô sai sứ là Kỉ Trắc, Hoằng Cầu đến xin hòa.
    Năm 266, Ngụy Nguyên đế nhường ngôi cho Tấn vương Tư Mã Viêm. Phần Ngụy chí tường thuật rõ: "Tháng mười hai ngày nhâm thìn, lộc trời mãi dứt, lịch số chuyển sang nhà Tấn. Hạ chiếu công khanh bầy tôi sắm bày lễ nghi đắp đàn ở chỗ ngoài phía nam thành, sai sứ giả dâng ấn thao của Hoàng đế, truyền ngôi cho Vương nối tự của nhà Tấn, theo như việc cũ của nhà Hán truyền ngôi cho nhà Ngụy. Ngày giáp tí, sai sứ giả đem chiếu đến. Bèn đổi phong ở huyện Kim Dung, rồi lại dựng quán ở đất Nghiệp, bấy giờ hai mươi tuổi. Ngụy thế phả chép: Phong Đế làm Trần Lưu Vương. Đến năm Đại An thứ nhất, vào lúc năm mươi tám tuổi thì băng, thụy là Nguyên Hoàng Đế.



    * Nước Đông Ngô:
    [​IMG] vua Đông Ngô Tôn Lượng
    - Sau khi Ngô Đại đế Tôn Quyền vừa qua đời, nước Ngô bắt đầu đi xuống. Con út của ông là Tôn Lượng lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Hưng và sắc phong cho hoàng hậu, phong chức cho quần thần và đại xá thiên hạ. Thắng nhuận năm Kiến Hưng nguyên niên, "Ngụy sai bọn Tướng quân Gia Cát Đản, Hồ Tôn đem bảy vạn quân kị bộ vây Đông Hưng, Tướng quân Vương Sưởng đánh Nam Quận, Quán Khâu Kiệm đến Vũ Xương. Ngày giáp dần, Khác dẫn đại quân đến chống. Ngày mậu ngọ, quân đến Đông Hưng, giao tranh, đại phá quân Ngụy, giết bọn Tướng quân Hàn Tống, Hoàn Gia" (phần Ngô chí). Phần Ngô chí có viết một đoạn về Gia Cát Khác bị giết chết ở năm Kiến Hưng thứ hai, xem: "Ngày canh ngọ, bọn Vương Sưởng đều rút quân. Tháng hai, đem quân từ Đông Hưng trở về, phong thưởng to lớn. Tháng ba, Khác đem quân đánh Ngụy. Tháng tư mùa hạ, vây Tân Thành, mắc bệnh dịch lớn, quân sĩ chết đến quá nửa. Tháng tám mùa thu, Khác dẫn quân về. Tháng mười mùa đông, mở hội yến lớn. Vũ vệ Tướng quân Tôn Tuấn ém quân giết Khác ở sảnh điện".
    [​IMG]
    Gia Cát Khác

    Niên hiệu Ngũ Phượng thứ hai, "Tháng giêng mùa xuân năm thứ hai, Trấn tây Tướng quân Quán Khâu Kiệm, Tiền Tướng quân Văn Khâm của nước Ngụy đem quân vùng Hoài Nam vào phía tây, đánh ở huyện Lạc Gia. Ngày nhâm thìn tháng nhuận, Tuấn cùng Phiếu kị Tướng quân Lữ Cứ, Tả Tướng quân Lưu Tán đem quân đánh úp Thọ Xuân, đem quân đến Đông Hưng, nghe tin quân bọn Khâm thua. Ngày nhâm dần, đem quân đến ở Thác Cao, Khâm đến gặp Tuấn hàng, mấy vạn quân vùng Hoài Nam con lại bỏ chạy. Tướng Ngụy là Gia Cát Đản vào Thọ Xuân, Tuấn dẫn quân về". Chiến tranh liên miên làm "Dân đói, quân sĩ oán giận, kinh đô bị cháy".
    Năm Thái Nguyên nguyên niên, "Tuấn dùng kế của Chinh bắc Tướng quân Văn Khâm, sắp đánh Ngụy" (...). Trước tình hình này, các tướng Ngô lại chống đánh lẫn nhau; trong khi thời tiết ngày càng thất thường vào năm Thái Nguyên thứ hai "Ngày giáp dần tháng hai mùa xuân năm thứ hai, có mưa to, sấm sét. Ngày ất mão, có tuyết, rét đậm (...). Tháng tư mùa hạ, Lượng đến điện giữa, đại xá, bắt đầu coi chính sự ".
    "Tháng năm, Chinh tây Đại Tướng quân của Ngụy là Gia Cát Đản đem quân vùng Hoài Nam giữ thành Thọ Xuân, sai Tướng quân Chu Thành dâng sớ xưng thần, lại sai con là Tịnh và các con em trong nhà của Trưởng sử Ngô Cương làm tin. Tháng sáu, sai bọn Văn Khâm, Đường Tư, Toàn Đoan đem ba vạn quân kị cứu Đản. Chu Dị từ Hổ Lâm đem quân đánh úp Hạ Khẩu, Hạ Khẩu Đốc là Tôn Nhất chạy sang Ngụy. Tháng bảy mùa thu, Sâm đem quân cứu Thọ Xuân, đến ở Hoạch Lí, Chu Dị bèn từ Hạ Khẩu đến đấy, Sâm sai Dị làm Tiền bộ đốc, cùng bọn Đinh Phụng đem năm vạn quân mang giáp giải vây. Tháng tám, người phía nam quận Cối Kê làm phản, giết quan Đô úy (...). Tháng mười một, con của Toàn Tự là Y, Nghi đem mẹ của mình trốn sang Ngụy. Tháng mười hai, bọn Toàn Đoan, Toàn Dịch từ thành Phú Xuân đến chỗ Tư Mã Văn Vương (...). Tháng giêng mùa xuân năm thứ ba, Gia Cát Đản giết Văn Khâm. Tháng ba, Tư Mã Văn Vương chiếm Thọ Xuân, Đản cùng tả hữu chết trận, các quan tướng thuộc hạ đều hàng"
    Năm 258, vua Tôn Lượng bị thừa tướng Tôn Sâm phế truất làm Cối Kê vương. Phần Ngô chí viết: "Lượng thấy Sâm chuyên quyền, bèn cùng Thái thường Toàn Thượng, Tướng quân Lưu Thặng mưu giết Sâm. Ngày mậu ngọ tháng chín, Sâm đem quân bắt Thượng, sai em là Ân giết Thặng ở ngoài cửa Thương Long, gọi các đại thần đến hội ở cửa cung, phế Lượng làm Cối Kê Vương, bấy giờ mười sáu tuổi."


    - Năm 258, Tôn Hưu lên ngôi và có hiệu là Đông Ngô Cảnh đế. Tam quốc chí - phần Ngô chí chép lại sự kiện ông lên ngôi như sau: "Tôn Lượng bị phế, ngày kỉ mùi, Tôn Sâm sai Tông chính Tôn Khải cùng Trung thư lang Đổng Triều đón Hưu. Hưu lúc đầu nghe tin, có ý ngờ, Khải, Triều kể rõ ý mà vì sao mà Sâm muốn đến đón Hưu, ở lại một ngày hai đêm, rồi đi. Ngày mậu dần tháng mười, đi đến Khúc A, có ông già gặp Hưu rập đầu nói: “Việc để lâu tất sinh biến, thiên hạ đang trông đợi, mong Bệ hạ đi nhanh”. Hưu khen hay, hôm đó kịp đến đình Bố Tắc. Vũ vệ Tướng quân Ân tạm làn việc quan Thặng tướng, dẫn trăm quan lấy xe kiệu đi theo đón ở đình Vĩnh Xương, dựng cung, lấy trướng võ làm điện tạm, đặt chỗ ngồi. Ngày kỉ mão, Hưu đến, từ xa thấy điện mới bèn dừng lại, sai Tôn Khải gặp Ân trước. Khải về, Hưu ngồi xe đến, bầy tồi cúi lạy xưng thần. Hưu lên điện tạm, nhún nhường không ngồi vào ngay, dừng lại ở gian phía đông. Hộ tào Thượng thư liền đến dưới thềm tấu biểu, quan Thặng tướng dâng ấn phù. Hưu ba lần nhường, bầy tôi ba lần xin. Hưu nói: “Các quan lớn chư hầu đều bầu quả nhân, quả nhân dám không nhận lấy ấn phù sao”? Sau đó bầy tôi dẫn vào, rồi Hưu ngồi xe, trăm quan đi theo, Sâm đem nghìn quân đón ở Bán Dã, bái ở bên đường, Hưu xuống xe bái lại. Liền hôm đó ngồi ở điện chính, đại xá, đổi niên hiệu".
    [​IMG] Đông Ngô Cảnh đế Tôn Hưu.
    Vừa lên ngôi, vua phong em là Tôn Hạo làm Ô Trình Hầu. Năm Vĩnh An thứ hai, vua ban chiếu cho "mở rộng ruộng cày, giảm nhẹ tô thuế, xem xét giàu nghèo mà thu thuế ruộng đất, khiến cho cân bằng, quan lại cũng được lợi, nhà cửa được cấp đầy đủ, vừa giúp nuôi lẫn nhau, vậy thì thân nhận mệnh lớn, không phạm phép cấm, do đó không cần dùng hình phạt mà phong tục cũng được sửa. Nếu quan lại hiền lương, dốc hết lòng giúp đời, dẫu là giáo hóa thời xưa cũng không bằng, sự yên bình thời Hán Văn Đế (6) cũng chẳng theo kịp (...). Các quan Thượng thư nên cùng chăm lo, chọn làm việc hay. Ruộng vườn đã đến mùa, không nên chậm trễ. Việc này phải làm ngay, để làm đẹp ý trẫm”.
    Năm Vĩnh An thứ ba, phế đế là Tôn Lượng tự sát. Sách ghi lại: "Mùa thu, người quận Cối Kê nói phao Vương là Lượng sắp về làm Thiên tử, rồi cung nhân của Lượng báo là Lượng sai người cầu đảo ở miếu thờ, có lời nói xấu. Quan coi việc tấu lên, liền giáng làm Hầu Quan Hầu, sai đến đất ấy. Trên đường đi Lượng tự sát, người đi theo hộ tống đều bị kể tội"
    Tháng năm mùa hạ năm Vĩnh An thứ tư, có mưa to, nước suối cuồn cuộn. Tháng tám mùa thu, sai Quang lộc Đại phu Chu Dịch, Thạch Vĩ đi tuần tra phong tục, xem xét các quan tướng trong sạch hay nhơ bẩn, xem điều mà dân khổ sở, do đó hạ chiếu bãi truất và cất nhắc quan lại (...). Tháng mười mùa đông, lấy Vệ Tướng quân Bộc Dương Hưng làm Thặng tướng, Đình úy Đinh Mật, Quang lộc huân Mạnh Tông làm Tả, Hữu Ngự sử Đại phu. Hưu vì Thặng tướng Hưng và Tả Tướng quân Trương Bố có ân cũ, trao việc cho họ, Bố coi việc trong cung, Hưng nắm việc quân cả nước

    * Nhà Đông Ngô với nước Âu Lạc cũ (quận Giao Chỉ): "Năm thứ năm mùa đông, sai quan Sát chiến đến quận Giao Chỉ thu chim khổng tước, heo lớn (...). Tháng năm năm thứ sáu, quan lại của quận Giao Chỉ là bọn Lữ Hưng làm phản, giết Thái thú Tôn Tư. Lúc đầu Tư bắt hơn nghìn thợ khéo trong quận đưa đến Kiến Nghiệp, vừa lúc quan Sát chiến đến, sợ lại bị bắt, cho nên bọn Hưng nhân đó phát động quân dân, chiêu dụ người rợ vậy (...). Lữ Hưng đã giết Tôn Tư, sai sứ đến nước Ngụy, xin Thái thú và quân sĩ đến. Thặng tướng Hưng dâng tấu chọn vạn người làm ruộng cho làm quân sĩ" (...). Năm Vĩnh An thứ bảy, "lại chia Giao Châu đặt ra Quảng Châu"
    Mùa xuân năm thứ bảy, Trấn quân Tướng quân Lục Kháng, Phủ quân Tướng quân Bộ Hiệp, Chinh tây Tướng quân Lưu Bình, Kiến bình Tướng quân Thịnh Mạn đem quân vây tướng giữ thành Ba Đông của đất Thục (9) là La Hiến. Tháng tư mùa hạ, tướng vừa hàng phục nước Ngụy là Vương Trĩ vượt biển vào Câu Chương, đánh cướp trưởng lại là Thưởng Lâm cùng hơn hai trăm trai gái. Tướng quân Tôn Việt chặn đánh thu được một chiếc thuyền, bắt ba mươi người. Tháng bảy mùa thu, giặc biển phá bãi làm muối biển, giết Tư diêm Hiệu úy Lạc Tú. Sai Trung thư lang Lưu Xuyên phát quân ở Lư Lăng đi đánh. Người quận Dự Chương là bọn Trương Tiết làm loạn, có hơn vạn người. Ngụy sai Tướng quân Hồ Liệt đem hai vạn quân kị bộ vào Tây Lăng để cứu La Hiến, do đó bọn Lục Kháng dẫn quân rút về".
    Ngày quý mùi, Hưu hoăng, Giang Biểu truyện viết: Hưu mắc bệnh, miệng không nói được lời, bèn tự tay viết thư gọi Thặng tướng Bộc Dương Hưng vào, sai con là Loan ra bái đón. Hưu nắm tay Hưng, chỉ tay vào Loan để trao gửi. bấy giờ ba mươi tuổi, thụy là Cảnh Hoàng Đế.



    [​IMG]

    Ngô Mạt đế Tôn Hạo
    - Năm 264, Ô Trình Hầu Tôn Hạo lên ngôi, miếu hiệu Đông Ngô Mạt đế. Lúc đầu, Hạo cũng chăm lo cho đất nước Đông Ngô. Giang Biểu truyện chép: "Hạo vừa lập, ban chiếu lệnh cấp phát cho quân dân, mở kho thóc, cứu chẩn người nghèo thiếu, lại cho cung nữ ra gả cho người không có vợ, chim thú bị bắt nhốt trong vườn đều thả ra. Người bấy giờ đều xem là vua sáng". Nhưng ít lâu sau, Hạo đổi tính và trở thành vua tàn bạo. Sách ghi: "Hạo đã được chí, bèn sinh kiêu ngạo tàn bạo, làm nhiều việc sai trái, ưa rượu và gái đẹp, lớn nhỏ đều thất vọng. Bộc Dương Hưng, Trương Bố lặng lẽ hối tiếc, có kẻ gièm pha lên Hạo, tháng mười một, giết Hưng, Bố (...). Tân vương Đông Ngô "phế Thái tử Loan của Hưu làm Dự Chương Vương, con thứ làm Nhữ Nam Vương, con thứ làm Lương Vương, con thứ làm Trần Vương" (...). Năm đó, nhà Ngụy đặt quan Giao Chỉ Thái thú sai đến quận". Tấn vương Tư Mã Viêm sai tướng Ngô đã hàng Ngụy về nước khuyên dụ Hạo (về sau Hạo dùng mưu giết chết hai sứ giả này).
    Hạo đổi niên hiệu mới, rồi "ép giết Cảnh Hoàng hậu Chu thị, không chết tại điện chính, chết ở ngôi nhà nhỏ trong vườn, mọi người biết chết không phải vì bệnh tật, chẳng ai không đau xót. Lại đem bốn con của Hưu đến ở thành nhỏ thuộc quận Ngô, rồi lại ép giết hai con lớn của Hưu". Tấn vương lên ngôi vua Tây Tấn, năm Bảo Đỉnh nguyên niên Hạo sai sứ đến chúc mừng. Cùng năm này, "Tháng mười mùa đông, giặc núi ở huyện Vĩnh An là bọn Thi Đãn tụ mấy nghìn quân, Ngô lục viết: Vĩnh An là huyện Vũ Khang ngày nay. cướp em thứ của Hạo là Vĩnh An Hầu Khiêm đến huyện Ô Trình, lấy các đồ trống sao ô lọng trên lăng Tôn Hòa. Lại đến Kiến Nghiệp, có hơn vạn quân. Đinh Cố, Gia Cát Tịnh chặn ở Ngưu Đồn, đánh lớn, bọn Đãn thua chạy. Bắt Khiêm đi, Khiêm tự sát". Năm Bảo Đỉnh thứ ba, "sai bọn Giao Châu Thứ sử Lưu Tuấn, Tiền bộ đốc Tu Tắc vào đánh quận Giao Chỉ, bị tướng Tấn là bọn Mao Quýnh phá, đều chết, quân tan về quận Hợp Phố".
    Tháng mười một năm Kiến Hành thứ nhất, " Sai Giám quân Ngu Tỉ, Uy nam Tướng quân Tiết Hủ, Thương Ngô Thái thú Đào Hoàng đi từ đường Kinh Châu, Giám quân Lí Úc, Đốc quân Từ Tồn đi từ đường biển Kiến An, đều đến quận Hợp Phố đánh quận Giao Chỉ" (...). Mùa xuân tháng hai, Vạn Úc về Kiến Nghiệp. Lí Úc theo đường Kiến An không được lợi, giết tướng dẫn đường là Phùng Phỉ, dẫn quân về. Tháng ba, trời gây cháy đốt hơn vạn ngôi nhà, chết đến bảy trăm người (về sau vua cho giết cả nhà Vạn Úc và Từ Tồn). Mùa xuân năm Kiến Hành thứ ba, "bọn Tỉ, Hoàng phá quận Giao Chỉ, bắt giết tướng giữ thành mà nhà Tấn đặt, do đó các quận Cửu Chân, Nhật Nam đều thu về". Vua Đông Ngô nhân đó "chia quận Giao Chỉ lập quận Tân Xương".
    Tháng tám mùa thu năm Phượng Hoàng thứ nhất, gọi Tây Lăng Đốc là Bộ Xiển về. Xiển không theo, giữ thành hàng nhà Tấn. Sai Lạc Hương Đô đốc Lục Kháng vây bắt Xiển, quân Xiển hàng cả. Xiển cùng mấy trăm người cùng mưu đều bị giết cả ba họ (...). Năm Phượng Hoàng thứ hai, vua phong tước vương cho 11 tướng, cho mỗi người 3.000 quân. "Vợ yêu của Hạo có kẻ sai người đến chợ cướp hàng hóa của trăm họ, Tư thị Trung lang tướng Trần Thanh vốn là bầy tôi được Hạo tin sủng, cậy được Hạo sủng ái, dùng hình pháp bắt trói. Vợ đem việc này gièm với Hạo, Hạo cả giận, mượn việc khác mà bắt chém đầu Thanh, treo thân Thanh ở dưới bốn cửa" (...). Năm thứ ba, người quận Cối Kê nói ngoa Chương An Hầu là Phấn sắp làm Thiên tử. Lâm Hải Thái thú Hề Hi gửi thư cho Cối Kê Thái thú Quách Đản, không bàn việc nước". Ngô đế sai "Đô đốc của ba quận là Hà Thực bắt Hi, Hi phát quân tự giữ, cắt đứt đường biển. Bộ khúc của Hi giết Hi, đem đầu đến Kiến Nghiệp, giết ba họ. Tháng bảy mùa thu, sai hai mươi lăm sứ giả chia nhau đến châu quận, dò xét kẻ phản loạn. Từ lúc đổi niên hiệu đến năm đó, liền năm có bệnh dịch lớn".
    Mùa hạ năm Thiên Kỉ thứ nhất, Hạ Khẩu Đốc là Tôn Thận ra Giang Hạ, Nhữ Nam, cướp đốt nhà dân. Lúc trước, người huyện Sô Tử là Trương Thục nhiều lần nói gièm, dần chuyển làm Tư trực Trung lang tướng, phong tước Hầu, rất được yêu sủng, năm đó việc gian phát lộ, bắt giết (...). Năm Thiên Kỉ thứ ba, Quách Mã làm phản. Triều đình sai tướng ra đánh; giữa đường bị quân của Mã đánh thắng vài trận, "Hạo lại sai Từ Lăng Đốc là Đào Tuấn đem bảy nghìn quân từ đường phía tây đến, sai Giao Châu Mục là Đào Hoàng đem quân bản bộ cùng quân của các quận Hợp Phố, Uất Lâm và quân đường phía tây cùng đi đánh Mã"
    Mùa đông năm Thiên Kỉ thứ ba, Tấn đế cử tướng chuẩn bị đánh Ngô. Vua Tây Tấn "sai Trấn đông Tướng quân Tư Mã Trụ hướng đến Đồ Trung, An đông Tướng quân Vương Hồn, Dương Châu Thứ sử Chu Tuấn hướng đến Ngưu Chử, Kiến uy Tướng quân Vương Nhung hướng đến Vũ Xương, Bình nam Tướng quân Hồ Phấn hướng đến Hạ Khẩu, Trấn nam Tướng quân Đỗ Dự hướng đến Giang Lăng, Long tương Tướng quân Vương Tuấn, Quảng vũ Tướng quân Đường Bân theo sông Giang đi xuống phía đông, Thái úy Giả Sung làm Đại Đô đốc, tùy thế mà xử đoán, nắm hết việc quân sĩ".
    Trong khi đó ở Kiến Nghiệp, Hạo lại ăn chơi sa đọa. Phần Ngô chí chép rõ: "Hạo hễ hội yến với bầy tôi, không hôm nào không sai uống rượu say. Đặt mười hai quan Hoàng môn lang ở bên, riêng không cho uống rượu, đứng hầu suốt ngày để xét lỗi sai của quan lại. Sau khi bãi hội yến, đều tấu báo lỗi sai của quan lại, lỗi sai mà mình xem được, nói ra lỗi của họ, không được không nói ra. Tội nặng thì liền ra oai phạt, tội nhỏ cũng liền khép tội. Cung nữ có mấy nghìn người mà vẫn chọn lựa không ngừng. Lại dẫn nước vào cung, cung nhân có ý không thích thì liền giết bỏ trôi trong nước. Có người bị rạch mặt hoặc đục mắt. Sầm Hôn là kẻ hiểm ác mà được quý sủng, làm quan đến bậc cửu khanh, ưa bày lao dịch, quân dân khổ sở. Cho nên trên dưới mất lòng, chẳng ai gắng sức giúp Hạo, đại khái là vì Hạp góp việc ác đã quá nhiều, không ai chịu nổi được nữa vậy".

    Tận dụng nước Ngô quá suy đồi, Tấn quyết định xuất quân. Tấn kỷ của Can Bảo chép: "Thặng tướng Quân sư Trương Đễ, Hộ quân Tôn Chấn, Đan Dương Thái thú Thẩm Oánh của nước Ngô đem ba vạn quân vượt sông, vây Thành Dương. Đô úy Trương Kiều của Tấn ở cầu Dương Hà, quân có bảy nghìn người, đóng rào tự giữ, kéo cờ trắng xin hàng (...). Đễ không nghe, vỗ về quân ấy rồi đi lên. Dàn trận chống với Thảo Ngô Hộ quân Trương Hàn, Dương Châu Thứ sử Chu Tuấn. Thẩm Oánh lĩnh năm nghìn quân tinh nhuệ mang đao khiên của quận Đan Dương, gọi là ‘quân khăn xanh’, trước sau thường vào đánh vỡ trận vững, do đó đến đuổi quân của vùng Hoài Nam, ba lần xông vào đều không động. Bèn rút, tan toạn, Tiết Thắng, Tưởng Ban nhân loạn mà đuổi đánh, sau đó quân Ngô vỡ lở, tướng súy không ngăn được, Trương Kiều lại ra ở phía sau, đại phá quân Ngô ở Bản Kiều, bắt được bọn Đễ, Chấn, Oánh (...). Ngày mậu thìn, quân Tấn từ đất Thục tiến đánh Đông Ngô. Phần Ngô chí chép: "tụ quân, trao tiết việt cho Tuấn. Ngày sau sắp đi, đêm ấy quân sĩ chạy trốn cả. Thế rồi Vương Tuấn thuận dòng sắp đến, bọn Tư Mã Trụ, Vương Hồn đều đến gần cõi.". Tấn kỷ lại viết tiếp: "Vương Tuấn sửa thuyền ở đất Thục, Ngô Nhan lấy tấm gỗ viết chữ lên cho trôi sông đến báo cho Hạo rằng: “Tấn tất có kế đánh Ngô, nên tăng quân ở quận Kiến Bình. Nếu không hạ được quận Kiến Bình thì rút cuộc không dám vượt sông đâu”. Hạo không nghe. Lục Kháng đánh thắng Bộ Xiển, ý Hạo càng kiêu căng, bèn sai Thượng Quảng bói xem khi nào chiếm cả thiên hạ, gieo được quẻ ‘đồng nhân’ và quẻ ‘di’ (18) đáp nói: “Tốt. Vào năm canh tí sẽ ngồi dưới lọng xanh mà vào thành Lạc Dương”. Do đó Hạo không sửa chính trị mà thường có ý nhóm ngó phương bắc. Năm đó cũng đúng là năm canh tí". Hạo nghe tin quân Tấn sắp tới, bèn cử người chuẩn bị xin hàng Tấn.
    [​IMG]
    Quân Tấn xâm nhập vào nước Đông Ngô, năm 280.
    Ngày nhâm thân, Ngô đế Hạo đầu hàng tướng Tấn là Vương Tuấn. Sách Tấn Dương thu viết: "Tuấn thu được bản đồ sổ hộ, lĩnh bốn châu, bốn mươi ba quận, ba trăm mười ba huyện, nắm hai hai vạn ba nghìn hộ, ba vạn hai nghìn quan lại, hai mươi ba vạn quân, hai trăm ba mươi trai gái, hai trăm tám mươi vạn hộc thóc gạo, hơn năm nghìn chiếc thuyền, hơn năm nghìn cung nhân". Tuấn sai người đưa Hạo đi, "Hạo đem người nhà về phía tây, đến ngày đinh hợi tháng năm năm Thái Khang thứ nhất hội ở kinh sư. Ngày giáp thân tháng tư, hạ chiếu nói: “Tôn Hạo thế cùng theo hàng, trước đây hạ chiếu cho không chết, nay Hạo đã đến, ý vẫn thương xót, phong cho hiệu là Quy Mệnh Hầu, cấp cho áo mặc xe ngựa, ba mươi khoảnh ruộng, mỗi năm cấp năm nghìn hộc lúa, năm mươi vạn tiền, năm trăm thất lụa, năm trăm cân gấm”. Thái tử Cẩn của Hạo được bái làm Trung lang, các con lúc trước làm Vương đều bái làm Lang trung"


    4. Những thành tựu về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa thời Tam quốc
    a. Tổ chức nhà nước

    - Tào Phi lên thay nhà Đông Hán, ông ta quyết định đổi chức Thừa tướng thành Tư đồ; đặt thêm Trung thư lệnh và Trung thư giám trực thuộc Hoàng đế Ngụy. Vua Ngụy đặt thêm chức Ngự sử đài, lấy chức Ngự sử đại phu để giám sát các quan - nhưng địa vị của ông nay thấp hơn Ngự sử đại phu thời Lưỡng Hán. Bách quan được chia ra 9 cấp bậc. Đồng thời, chức Chiêm sự phủ chủ quản các sự vụ có quyền lực lớn hơn so với thời Hán
    - Ngô và Thục Hán vẫn giữ chức Thừa tướng
    b. Quân đội
    - Thời Ngụy, chế độ thế binh (tức cha con đời đời làm lính, do quận phủ quản lý) tiến thêm bước mới. Vua Ngụy đặt ở kinh sư hai quân Nam Bắc, năm quân Trung ương; do Trung lãnh quân và Trung bộ binh thống suất. Đô đốc nắm giữa quân đội ở các châu. Nhà vua cũng tăng chức vị cho các tướng của quân trấn giữ biên giới, quân viễn chính như Chinh đông, Chinh tây, Trấn nam....
    - Vua Thục Hán đặt Ngũ quân, Vua Đông Ngô đặt nhiều châu sư (quân đi thuyền)
    c. Tổ chức nhà nước ở các địa phương
    - Vua Ngụy, Thục và Ngô đều chia nước thành châu, quận, huyện. Hoàng đế Ngụy chia nước thành 13 châu; Thục Hán được Ích Châu; Đông Ngô tới 4 châu (Kinh châu, Dương châu, Giao châu, Quảng Châu)
    d. Pháp luật: Pháp luật của Tào Ngụy hơi thiên về sự nghiêm khắc. Đến thời Ngụy Minh đế Tào Tuấn, pháp luật được hiệu đính, về sau trở thành cơ sở pháp luật của một số triều đại khác
    e. Nông nghiệp: chiến tranh xảy ra liên miên khiến nông nghiệp bị phá hoại nghiêm trọng. Tuy nhiên, các vua Tào Ngụy cũng có thi hành chính sách đồn điền và thủy lợi để giúp ít nhiều cho nông dân. Tuy nhiên, về trình độ phát triển thì miền Nam lạc hậu hơn miền Bắc
    f. Thủ công nghiệp:
    - Nghề luyện sắt phát triển ở một trình độ mới: người dân dùng ống bễ đẩy bằng sức nước và dùng than đá làm chất đốt
    - Về nghề dệt lụa, ở nước Thục Hán dệt được gấm vóc
    - Về nghề đóng thuyền, nước Ngô đóng được loại thuyền lớn cao 5 tầng, có thể chứa được 3.000 người
    g. Thương nghiệp: nhờ kỹ thuật đóng thuyền tiến bộ, người nước Đông Ngô vượt biển sang buôn bán ở Giao châu, Lâm Ấp và Phù Nam. Nhưng do chiến tranh liên miên nên thương nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
    h. Dân số:
    - Lãnh thổ của ba nước Ngụy, Thục, Ngô rộng hơn thời Đông Hán trở về trước. Ba nước không thể thôn tính được nhau nên tính tới chuyện cùng phát triển ra bên ngoài, thu thập các bộ tộc láng giềng nhỏ yếu hơn và văn hóa kém phát triển hơn. Ngụy thu phục người Tiên Ti, Ô Hoàn; Thục thu thập người Di và người Khương ở Thanh Hải; Ngô thu phục người Việt ở vùng núi ba tỉnh Giang, Chiết, Hoãn.
    - Về dân số, nhà Ngụy là mạnh nhất. Khi nhà Ngụy mất (265), quốc gia này có hơn 663.423 hộ gia đình và 4.190.891 người trong phạm vi biên giới của mình. Nhà Thục có 280.000 hộ dân số 940.000 người. Đông Ngô có 523.000 hộ, 2.558.000 người. Như vậy, nhà Ngụy chiếm hơn 58% dân số và khoảng 40% diện tích. Với những nguồn lực này, nhà Ngụy có thể có tới hơn 400.000 quân trong khi nhà Thục và Ngô có thể có 102.000 và 230.000 quân tương ứng: khoảng 10% dân số. Liên minh Thục-Ngô chống lại nhà Ngụy là một liên minh quân sự ổn định; biên giới của ba quốc gia này gần như không thay đổi trong hơn 40 năm
    i. Văn hóa, nghệ thuật và khoa học:
    - Thơ ca: Ba cha con Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực được đời sau xếp vào hàng những nhà thơ tiêu biểu cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc. Ngoài thơ ca, Tào Thực còn nổi tiếng với bài phú đài Đồng Tước. Tào Phi tuy kém Tào Thực một bậc nhưng chính là người mở đầu cho thể thơ thất ngôn. Về tiểu thuyết, thời Tam Quốc có Lục dị ký và truyện ma quỷ Sưu thần ký, cũng được cho là của Tào Phi.
    - Văn học: nổi bật là cổ văn. Có ý kiến cho rằng chính Vương Túc chứ không phải Khổng An Quốc, mới là tác giả của bộ Cổ văn Thượng thư truyện. Con Vương Túc là Vương Bật được đánh giá là thiên tài, người đã chú giải Lão tử, sau đó lại dùng Lão tử giải thích Kinh dịch. Thời này có thể hịch của Trần Lâm, biểu của Tào Thực. Ở nước Thục Hán có Gia Cát Lượng với tác phẩm "Xuất sư biểu" thể hiện chí cao và thành khẩn, ngôn ngữ thiết thực, cảm động
    - Nghệ thuật: Trong nghệ thuật kiến trúc, các chùa Phật giáo, miếu của Đông Ngô rất phát triển: Vũ Xương có chùa Tuệ Bảo, Kiến Nghiệp có viện Thủy Tướng và chùa Bảo Ninh, Ngô huyện có chùa Thông Huyền, huyện Cần có chùa Đức Nhuận. Ở nước Ngụy có đài Đổng Tước của Tào Tháo.
    - Về khoa học, thời Tam Quốc đã bắt đầu ứng dụng ma túy và dùng thủ thuật lấy sỏi mật ra. Người nước Ngụy là Mã Quân có công phát minh ra xe chỉ nam, xe bắn đá; đồng thời cũng được xem là người phát minh ra guồng nước. Ngoài ra, còn có nhà toán học Lưu Huy, tác giả của bộ Hải đảo toán kinh.
    k. Tư tưởng:
    Thời Ngụy, nhiều nhà sư xuất gia và kinh Phật dịch ra tiếng Hán rất nhiều.
    l. Tiền tệ: Tào Ngụy sau khi dùng tiền Ngũ thù và thi hành trở lại chính sách hàng đổi hàng. Tại Tây Thục thực hiện chính sách tiền tệ tốt hơn, một thời gian phát hành tiền lớn nhưng sau đó khôi phục tiền Ngũ thù. Thời Gia Cát Lượng chấp chính luôn dùng chính sách thủ tín với nhân dân nên đời sống ở Thục tương đối ổn định. Tôn Quyền cũng phát hành tiền lớn và sau đó lại phát hành tiền lớn ăn 1000 đồng đổi lấy tiền nhỏ của dân.. Về sau, Tôn Quyền thu hết tiền lớn lại

    Ảnh minh họa cho văn hóa thời Tam quốc:
    [​IMG]
    đài Đổng Tước

    [​IMG]
    Xe chỉ nam

    [​IMG] nhà toán học Lưu Huy
     

    Các file đính kèm:

    Last edited: 19 Tháng chín 2019
  2. Tư mã tương như

    Tư mã tương như Học sinh mới Thành viên

    Bài viết:
    143
    Điểm thành tích:
    11
    Nơi ở:
    Hải Dương
    Trường học/Cơ quan:
    Thcs việt hồng

    Mình vô cùng thích đọc Tam quốc đặc biệt là nhân vật Tư Mã Ý thể hiện đỉnh cao trí tuệ chờ thời cơ, lấy thủ làm công, vô cùng ấn tượng
    ''Ta sẽ đứng xem các người đánh nhau cuối cùng thiên hạ vẫn thuộc về ta''

    Cảm ơn em. Sẽ có một phần về Tư Mã Ý ở mục 3 của bài viết này, trích dẫn từ Ngụy chí để em tham khảo nhé

    em cảm ơn ạ cho em hỏi ở mục 2 là gia cát lượng ạ

    Mục 2 sẽ trình bày theo từng nước, theo thứ tự là Ngô, Thục và Ngụy. Chắc chắn sẽ có Gia Cát Lượng qua các phần Thục chí và Ngô chí, cộng với một ít Ngụy chí của sách Tam quốc chí (đã dịch sang tiếng Việt)
    Mục 2 này là giai đoạn 221 - 250, trước khi Tư Mã Ý lũng đoạn nước Ngụy. Mục 3 là sau năm 250 cho đến khi Tư Mã Viêm thống nhất Trung Quốc năm 280, đây là thời điểm họ Tư Mã chính thức mạnh lên, đánh tan hai nước kia để thống nhất đất nước
     
    Last edited by a moderator: 24 Tháng chín 2019
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->