Sử Niên biểu các sự kiện lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc

Thảo luận trong 'BẢNG TIN - PHÒNG SINH HOẠT CHUNG' bắt đầu bởi Thái Minh Quân, 8 Tháng tám 2019.

Lượt xem: 119

  1. Thái Minh Quân

    Thái Minh Quân Cố vấn Lịch sử Cố vấn chuyên môn

    Bài viết:
    2,479
    Điểm thành tích:
    416
    Nơi ở:
    TP Hồ Chí Minh
    Trường học/Cơ quan:
    THCS Nguyễn Hiền
    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    Lời người soạn: bài này liệt kê các sự kiện lịch sử (có chọn lọc) về quá trình xác lập, bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc từ thế kỷ XV cho đến nay. Các sự kiện trên được chọn lọc và sắp xếp từ một loạt các tài liệu tham khảo được nghiên cứu, chọn lọc kỹ để các bạn dễ hình dung, các tài liệu trên sẽ được liệt kê ở cuối trang này.

    - Đầu thập niên 30 của thế kỷ XVII, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho lập đội Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa ra đời ở Cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một tổ chức nhà nước, vừa mang tính chất dân sự, vừa mang tính chất quân sự; vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý nhà nước ở Biển Đông. Đứng đầu đội Hoàng Sa là một "cai đội", những thành viên trong Đội được gọi là "lính". Đó là những quân nhân đi làm nhiệm vụ do Vua, Chúa ban.
    - Năm 1631, người dân xã An Vĩnh (Quảng Ngãi) tâu xin chúa Nguyễn Phúc Lan lập thêm hai đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm. Nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày 15 tháng Giêng năm 1775, do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: “Nguyên xã chúng tôi xưa có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người…”.
    - Năm 1686, nhà địa lý học Đỗ Bá (tự Công Đạo) vẽ bản đồ xứ Quảng Nam trong tập bản đồ "Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư", trong đó có nói về việc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở quần đảo Hoàng Sa.
    [​IMG]
    Bản đồ có có đoạn văn viết bằng chữ Hán, nội dung như sau:
    Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (chữ khoanh đỏ, tức Hoàng Sa), dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm, đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đây, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc tiền tệ súng đạn”.

    - Đầu thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn Phúc Chu lập ra đội Bắc Hải, thuộc quyền cai quản của đội Hoàng Sa. Đội này có trách nhiệm khai thác hoá vật, kiểm tra, kiểm soát thực thi chủ quyền của Việt Nam ở khu vực “các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên”. Sách Phủ biên tạp lục chép: "Họ Nguyễn còn thiết lập đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm nhiệm vụ".
    - Tháng 11/1759, tranh chấp giữa hai làng liên quan đến một con thuyền và tiền trợ cấp cho đội thuyền phục vụ Hoàng Sa. Theo văn bản có nội dung xử lý việc kiện tụng của phường An Bằng (nay là làng An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang) và làng Mỹ Lợi, lập ngày 19-9 năm Cảnh Hưng 20 (6-11-1759) về việc tranh chấp giữa hai làng liên quan đến một con thuyền và tiền trợ cấp cho đội thuyền phục vụ Hoàng Sa; cho thấy cách đây 250 năm, chúa Nguyễn đã có quân trấn giữ quần đảo Hoàng Sa.
    - Tháng 7/1754, “dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa về. Chúa [Nguyễn Phúc Khoát] sai viết thư [cám ơn]” (theo Đại Nam thực lục, tr.164)
    - Năm 1775, dân Cù lao Ré nộp đơn xin vua Tây Sơn cho lập lại đội Hoàng Sa. Ngày 15 tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) cai hợp Hà Liễu ở phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) thuộc xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, đã làm đơn xin với chính quyền Tây Sơn được lập lại Đội Hoàng Sa và Quế Hương, sẵn sàng vượt biển ra các cù lao ngoài biển để làm nhiêm vụ theo thông lệ và sẵng sàng ứng chiến chống kẻ xâm phạm
    - Năm 1776, chúa Nguyễn đặt Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi (theo Phủ biên tạp lục). Theo sách vừa trích dẫn, Lê Quý Đôn chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi.
    - Năm 1786, dân Cù Lao Ré đã xin vua Thái Đức chính quyền Tây Sơn cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại (trích từ tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré)
    - Tháng 1/1786, vua Tây Sơn là Thái Đức hoàng đế Nguyễn Nhạc quyết định sai phái Hội Đức Hầu, cai Đội Hoàng Sa, cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt biển ra thẳng Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển.
    - Tháng 7/1803, vua Gia Long cho phép đội Hoàng Sa hoạt động trở lại. Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXII đã ghi rõ: “cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”
    - Tháng 1/1804, vua Gia Long giao cho đội Hoàng Sa có nhiệm vụ do thám và bảo vệ vùng biển Hoàng Sa; đồng thời chức cai Đội Hoàng Sa kiêm chức cai cơ Thủ Ngự mà Thủ Ngự lại có nhiệm vụ do thám ngoài biển. Đơn xin của phường An Vĩnh tách khỏi xã An Vĩnh ngày 01 tháng 02 năm Gia Long thứ 3 (1804) đã ghi rõ nhiệm vụ này. Ngoài ra, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển XXII ghi rõ: Võ Văn Phú được sai tái lập Đội Hoàng Sa, chính khi ấy là Thủ Ngự cửa biển Sa Kỳ.
    -
    Năm 1813, vua Gia Long cho xây Trấn Hải thành ở cửa biển Thuận An (thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày nay). Đây là một pháo đài quân sự kiên cố hình tròn, chu vi 285m, cao 6,3m, dày 4m; xung quanh có hào nước sâu bao bọc, trên đắp 99 ụ súng, ngoài đóng cọc, xây kè và cho trồng 4000 cây dừa để ngăn sóng biển. Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, trong thời Nguyễn đã có hàng chục tòa pháo đài, đồn bảo, cửa tấn được xây dựng kiên cố dọc theo vùng biển của đất nước bao gồm cả trên bờ và các đảo gần bờ từ Bắc chí Nam. Tại kinh đô Huế, ngoài tuyến phòng thủ từ xa và tuyến phòng thủ trung tâm trên đường bộ, triều Nguyễn còn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hệ thống đồn lũy, cửa tấn ven biển.
    - Năm 1815, vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa thăm dò đường biển (theo Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhất kỷ, quyển 50)
    - Năm 1816, nhà vua tiếp tục sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyển ra Hoàng Sa để thăm dò đường biển (Theo Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhất kỷ, quyển 52)
    - Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi, lập ra Nội các và các Bộ để thực thi việc bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Căn cứ vào các châu bản, các bộ, cơ quan được giao nhiệm vụ thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường gồm có cơ quan Nội các, bộ Công, bộ Hộ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Lại và các quan đầu tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định... Bộ Binh đảm nhiệm công việc điều quân, tuần tra cương giới lãnh thổ trên biển. Bộ Công đảm nhiệm công việc khảo sát, xây dựng, quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (trích theo hai tư liệu: (1) Tờ châu bản của quan tỉnh Quảng Ngãi đề ngày 15 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 15(1834) lưu giữ tại gia đình ông họ Đặng ở đảo Lý Sơn, hiện đã được trao tặng cho ủy ban Biên giới Quốc gia Bộ Ngoại giao; (2) Châu bản đề ngày 22 tháng 12 năm Tự Đức 22 (1869) có dòng châu phê: Việc này bộ Binh đã tâu trình. Điều này chứng tỏ bộ Binh vẫn được giao nhiệm vụ bảo vệ bờ cõi lãnh hải kể cả khi Pháp đã xâm chiếm Việt Nam)
    - Năm 1830, đội Hoàng Sa giải cứu thành công tàu buôn Pháp gặp nạn ở Hoàng Sa. Châu bản triều Nguyễn về việc cứu nạn tàu buôn nước Pháp ở khu vực Hoàng Sa: “Ngày 21 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (năm 1830), chủ thuyền buôn nước Pháp là Đô-ô-chi-ly cùng Tài phó Y-đóa và phái viên Lê Quang Quỳnh đi thuyền qua Philipinnes buôn bán. Thuyền qua phía Tây Hoàng Sa thì bị mắc cạn, nước ngập vào thuyền hơn 8 thước. Thương thuyền đã dọn gấp hai rương tiền bạc cùng một số dụng cụ, đồ ăn chia lên 2 chiếc thuyền nhỏ theo gió trở vào bờ. Thuyền của Tài phó Y-đoá về được bờ mà thuyền của thuyền trưởng Đô-ô-chi-ly cùng thuyền viên và hòm tiền bạc thì thất lạc”.
    Các Châu bản về việc cứu nạn này được tường trình chi tiết và được Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng báo cáo liên tục đến nhà Vua. Phía Việt Nam đã cho thuyền tuần tiễu của triều đình đi tìm kiếm và “đến giờ Ngọ thì gặp Đô-ô-chi-ly cùng phái viên, thủy thủ 15 người, hiện đã đưa về tấn, người và tiền bạc đều an toàn.”

    - Tháng 7/1833, vua Minh Mạng cử đội dân binh ra Hoàng Sa để trồng cây cối, giải cứu tàu mắc cạn. Đại Nam thực lục chính biên, quyển 150 viết rõ: “Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)... Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.
    - Năm 1836, vua Minh Mạng cử viên Chánh đội trưởng Thủy quân Phạm Hữu Nhật đi cắm mốc chủ quyền ở Hoàng Sa. Tờ châu bản đề ngày 12 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của bộ Công đã ghi nhận sự kiện này và thêm các dòng ghi chú là chỉ dụ của nhà vua: Một là, mỗi cọc gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, hai là thuyền nào đến đâu thì lập tức cắm cọc làm mốc.
    - Tháng 5/1838, nhà vua cử nhiều đoàn ra khảo sát Hoàng Sa. Mỗi đoàn đi khảo sát Hoàng Sa đều có báo cáo. Châu bản ghi ngày 21 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) cho biết kết quả của đoàn đi khảo sát quần đảo Hoàng Sa năm 1838: đoàn đã khảo sát được 25 đảo (trong đó đoàn đã đi khảo sát lại 12 đảo mà các đoàn trước đã đến, và khảo sát được 13 đảo chưa có đoàn nào đến).
    - Tháng 6/1838, vua Minh Mạng miễn thuế với các thuyền công vụ đi Hoàng Sa và Trường Sa. Việc kê khai xin miễn thuế cho thuyền đi công vụ ở Hoàng Sa được ghi rõ trong văn bản ngày 19 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) do quan Bố chính tỉnh Quảng Ngãi tấu trình. Bản tấu ghi rõ kích cỡ, nguồn gốc các loại tầu thuyền, số lượng, quê quán từng người trên tầu thuyên. Bản tấu cũng đã được nhà vua chuẩn y.
    - Năm 1847, vua Thiệu Trị chuẩn y bản tâu của Bộ Công về việc hoãn cử thuyền ra thăm dò và giữ vững biển đảo Hoàng Sa. Bản tâu của Bộ Công có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình".
    -



    Tài liệu tham khảo thêm:
    1. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục.
    2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục. T.1, Bản dịch của Nxb KHXH Hà Nội, 1977.
    3. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí.
    4. Châu bản triều Nguyễn, lưu trữ ở Trung tâm lưu trữ Quốc gia 1
    5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên.
     
    Last edited: 8 Tháng tám 2019
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->