Hàn Mặc Tử

Thảo luận trong 'Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)' bắt đầu bởi leminhchi, 4 Tháng ba 2008.

Lượt xem: 1,638

  1. leminhchi

    leminhchi Guest

    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    Có ai biết gì về nhà thơ Hàn Mặc Tử không giúp mình với?
     
  2. 0ops

    0ops Guest

    Hàn Mặc Tử (1912 1940) tên thật là Nguyễn Trọng Trí, người làng Lệ Mỹ, TX Đồng Hới, Quảng Bình. Ông sinh ra trong 1 gia đình công giáo nghèo, có 6 anh chị em: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu. (Tên giáo của Tử là Francos Trí). Ông có rất nhiều bút danh như: Phong Trần, Lệ Thanh, Minh Duệ Thị, Hàn Mạc Tử, Hàn Mặc Tử. Cuộc đời của Hàn là 1 cuộc đời bị đau khổ nung nấu, có tài, đã từng được Phan Bội Châu rất khen ngợi, nhưng lại bị bệnh phong, nên đường công danh của Hàn sớm bị dừng lại. Khi phát hiện mình bị bệnh, Hàn gần như phát điên lại cộng thêm Mộng Cầm- người yêu ông - bỏ đi lấy người khác nên Hàn càng điên loạn, tâm hồn mãnh liệt nhưng luôn đau đớn, quằn quại. Trong Hàn luôn có cuộc vật lộn giằng xé giữa linh hồn và thể xác, linh hồn luôn muốn thoát tục để bay tới cõi thơm tho, sáng láng nhưng vẫn luôn gắn bó thiết tha với đời, vẫn yêu đời cháy bỏng. Hàn tạo ra cho mình 1 thế giới nghệ thuật ma quái, xa lạ với đời thực, trong thế giới đó luôn có 2 hình tượng điển hình: hồn và trăng, biết khóc, biết cười, biết gào thét.
    Các tập thơ của Hàn: Gái quê, thơ điên, Thượng thanh khí, Cẩm Châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội. ( 2 tập cuối là kịch thơ, viết về mối tình tưởng tượng giữa Hàn và Thương Thương)
    Hàn qua đời tháng 11 năm 1940 ở trại phong Quy Hoà, ko có người thân, bạn bè, chỉ có 1 người bạn ở trại duy nhất là Nguyễn Văn Xê
    À quên,những người phụ nữ kinh qua đời Hàn Mặc Tử: Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Ngọc Sương, Thương Thương và Mai Đình. Nhưng chỉ có Mai Đình là chung thủy thương nhớ Hàn trọn đời của bà.
    Thôi, còn nhiều lắm, nhưng mỏi tay mà nói nhiều quá thì ý này lộn ý kia.
     
  3. huongdiep

    huongdiep Guest

    Nhà thơ có cuộc đời đau thương có một không hai này, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đồng Hới). Ông làm thơ từ thuở nhỏ, lấy hiệu là Phong Trần và Lệ Thanh trong những năm 16 tuổi. Vốn ở Quy Nhơn từ nhỏ, cha mất sớm, nhà nghèo. Học đến năm thứ ba ở trường Quy Nhơn, kế đó bị mắc bệnh hủi, đưa vào nhà thương Quy Hoà rồi mất ở đó, ngày 11-10-1940.

    Ông từng chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử.

    Đã đăng thơ: Phụ Nữ tân văn, Sài Gòn, Trong khuê phòng, Đông Dương tuần báo, Người mới.

    Đã xuất bản: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường luật, Gái quê, Đau thương, Xuân như ý.

    Tất cả các thi phẩm này đều được nhà xuất bản Tân Việt in lại (1959). Càng ngày thơ Hàn Mặc Tử càng được phổ biến rộng và được nhiều người say sưa. Phần nhiều những người mê thơ Hàn Mặc Tử, lớp thanh niên ngày nọ... thường lê thê lếch thếch ở các hè quán dơ bẩn và điên loạn. Họ điên loạn để tỏ ra giống Hàn Mặc Tử, họ bày đặt đau thương khốn đốn, thơ thì dùng chữ cho sáo, cho kêu, tiếc rằng không tìm được một Hàn Mặc Tử thứ hai để cho mình chiêm ngưỡng.

    Ngày nào còn bình tĩnh tôi chỉ thích đọc thơ Xuân Diệu, thơ Lưu Trọng Lư với những linh hồn sầu mộng muôn đời đó, cũng như những người làm thơ hôm nay... cái nhẹ và cao sâu của Trần Dạ Từ, Đỗ Qui Toàn và những bài thơ lục bát của Trần Đức Uyển vậy... nhưng, lúc tỉnh cũng như lúc điên... giòng thơ Việt với đôi hình sắc lạ thường rẽ thành hai nẻo... cùng hướng vọng về ân sủng của Thượng Đế, chỉ có Huy Cận ngày xưa, không cầu mong Thượng Đế điều gì, vì thi nhân mang cả cái linh hồn trần gian này mà trả lại cho Người. Nhưng đến lúc sầu hận điên đảo khôn nguôi, tôi trở về với Ôn Như Hầu... với Chế Lan Viên... và nhất là với Hàn Mặc Tử. Thơ không vốn để vỗ về lấy đau thương của ai cũng không phải để nói lên cái đau khổ, mà để tạo lập một vũ trụ một cõi mới lạ... điều nói của Loài Người cả đấy thôi... thì dù ở đâu, ở hoang đảo nào, ở một thế giới nào đi nữa, chúng ta vẫn cắm lều cô độc, chúng ta vẫn đến cái đỉnh chót vót của tâm hồn tẻ quạnh của ta và chừng đó hoặc là trở về cô độc bằng thái độ sống, nếu không, thì chúng ta sẽ điên, điên như Chế Lan Viên, kinh dị như Hàn Mặc Tử và sau này trên một nguồn đó còn có nhà thơ Viên Linh với Hoá Thân xuất bản vừa rồi.

    Nhà thơ đi lọc ánh sáng để reo vần, đơn độc đẫm mình trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cõi siêu hình đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của tình nhân gian sầu mộng - đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế - đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trở thành huyền hoặc lý lẽ cõi đời không có đất nảy mầm, cõi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một vị Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt.

    Từ lắng nghe niềm đau thương vọt máu của sự tình đến khao khát ân ái của nhục thể, từ lang thang cô đơn trong xã hội gọi gọi là chỗ hợp quần này tương trợ và thông cảm này... rốt lại chỉ còn vò võ từng đêm, hoảng hốt và đau buồn buốt xương da từng đêm trong bệnh viện Quy Hoà. Từ cõi bị đày này, thi nhân xưa vẫn là người tiên ở thượng giới cho đến cõi tạm bợ đày đoạ này, rồi lại bị đày thêm lần nữa ở một vũng cô liên cũ vạn đời...

    Với niềm đau thương của Hàn Mặc Tử người đời còn có thể nhắc tới. Nhưng tiếc rằng nhắc tới để cảm thấy một cuộc đời rất là say đắm... rất là khốn cùng... rất là thơ mộng !!! Chứ nào có ai đã cảm nhận một người đó vượt qua cái âm u, hoang lạnh của hư vô của bầy trùng điệp... đen tối mịt mù như thứ mê hồn trận. Những giờ phút tê điên hồn phách, sượng sùng xương da, ở giữa một căn nhà với ngọn nến, trông ra bốn bể đêm tối bủa vây, bãi tha ma hoang lạnh. Linh hồn kinh dị đến tột cùng, choán ngộp cơ hồ nghẹt thở... đau đớn bốc dậy cùng từng sớ thịt, từng đường gân, từng mạch máu, từng phút lo âu và khẩn nguyện.

    Như một kẻ lâm vào ác mộng, vũ trụ quay cuồng, vang vọng đến tiếng gọi rùng người của tử thần rình rập. Cựa quậy khôn thoát, cuối cùng thể xác đành ngã gục, đành tê điên đành tan rã, nhưng linh hồn Người đã đến một nơi cư ngụ bình yên...

    Trong đời ta, ít nhất là ta đã va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, ta mê cuồng và thét gọi; ta điên đảo bấu víu vào đời sống này một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế... ta mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vương đến chụp xuống đầu cổ, vò bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệt, cuộc chiến giữa thể xác tanh hôi ghì kéo linh hồn chìm ngập trong đó, và ý chí thì bay vượt lên, điểm linh hồn với cõi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của thơ Người.

    Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc bình tĩnh vì nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo, hít làn tinh khí trăng sao, của hoa trái thanh tân, nhìn thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường, cảm giác lạnh tê. Đó, ta chịu hồn ta vào cõi vô cùng nọ, ta cùng lùa ánh sáng như lùa một thứ tình mộng, như lùa những làn sóng trong ngần của bầu trời tinh mơ, của biển vàng rực rỡ. Ta sẽ vơi bớt nỗi đau đớn mà cảm thấy một hồng ân, bánh mật của Thượng Đế. Và kẻ nào từ chối thứ bánh mật đó, từ chối mọi ân sủng thiêng liêng đó... cũng đứng lên than vãn cõi đời ô trọc làm chi nữa, đừng tìm làm chi nữa hạnh phúc ở trong cõi trần này. Nếu có gan liều phó mặc với triều sóng thời gian đẩy ra khơi mãi thì đừng đọc thơ Hàn Mặc Tử nữa, sẽ tự dựng lấy một thế giới riêng, ở đó mặc tình vùng vẫy.

    Nói về thơ Hàn Mặc Tử, ngẫm nghĩ lại, mình không nói được gì cả... bao nhiêu lời từ trước đến giờ như là cây mục, như là cỏ khô... bởi vì thơ người quá ư tràn trề ánh sáng, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoắt nó lại biến mất... lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương thì thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ... lúc ta nắm được linh hồn, nắm được bản chất thơ của Người ở cõi đời này... thì thơ chàng đâu có... mà ta cầm nắm đâu, vì:

    Người thơ chưa thấy ra đi nhỉ ?
    Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
    Và chân lý mà ta thấy được ở tận cõi xa mù nào... không thể hiểu nổi nữa !

    Trích Thi nhân Việt Nam hiện đại, quyển I - Trần Tuấn Kiệt
     
  4. huongdiep

    huongdiep Guest

    Bây giờ Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng, đối diện với bể Đông, bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời anh. Nằm với trăng sao như Anh từng mơ ước .
    Với sao sương anh nằm chết như trăng.
    Dưới kia là thành phố Quy Nhơn (những thành phố miền Trung thường có các nhà thơ ở trong và biển mé ngoài. Thành phố của mẹ già nuôi anh “cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế” của chi Lễ “Chi cũng trăng mà em cũng trăng” của em Hành đem cơm đem cơm cho anh suốt bốn năm trời Anh phong hủi và trước khi vào Quy Hòa, để qua đời trong đó, nghe đâu, Tử đã sụp lạy cảm ơn em, Quy Nhơn thành phố của bạn bè, của bóng dáng tên tuổi những người yêu, cũng là nơi Tử phải trốn chui trốn nhủi để khỏi bị bắt đưa vào trại cùi trong núi. Nhưng Quy Nhơn đối với Nghĩa Bình, đối với cả nước là nơi anh viết những trang thơ ngời chói, máu và nước mắt đời Anh đã khúc xạ đã biến hóa, đã hóa kiếp, thăng hoa. Kết tụ thành trăng sao:
    Chỉ có trăng sao là bất diệt
    Cái gì khác nữa thảy đi qua
    Thôi cả cuộc đời bi thảm của Tử, dù bi thảm đến đâu cũng đã qua rồi. Cái còn lại là những bài thơ đã từ thời Anh đi thẳng vào “thời đại lớn”
    (chữ của Bác - tin) rồi hôm nay từ “thời đại lớn” về với chúng ta.
    Một mai kia ở bên kia nước ngọc
    Với sao sương anh nằm chết như trăng
    Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
    Đến hôn anh và rửa vết thương tâm
    Bậy nào, sao lại không? Hôm nay có hàng vạn rồi hàng vạn chục tấm lòng đến cùng Tử đấy.
    Tôi không trở lại đời riêng của Tử, ai đã yêu Anh ngắn ngày ai đã yêu Anh dài hạn, và ai Anh chỉ yêu cái bóng, ai Anh yêu cái tên vì chưa thấy mặt bao giờ. Tôi nghĩ bây giờ sống dậy, gặp tất cả những người đẹp ấy, chắc có lẽ Anh đều biết ơn, người này cho Anh ơn nghĩa, người kia cho Anh vết thương, và chính vì vết thương mà con trai đáy bể làm ra viên ngọc.
    Tôi cũng không vào cuộc đời (gọi là cách mạng đi) của Tử. Cách mạnh chứ sao! Chính Tử đã dùng hai chữ ấy ở Gái quê in năm 1936 tả “Một nhà cách mạng bị tống giam” viết thư cho vợ:
    Thương em không dám nghĩ
    Đương lúc nước nhà nguy

    Sống chung cùng kẻ nghịch
    Hổ thẹn đến ngàn cây
    Cuộc đời cách mạng, mà Anh không tự biết là Cách mạng ấy còn dài hơn cả thời gian Rim-bô, Véclen, Bô-đơ-le (Rimbaud, Ver-laine, Baudelaire) và cả Huygô tham gia Ba-lê Công xã Pháp. Tử, dưới biệt hiệu Phong Trần, từ những năm 30-31 đã được cụ Phan Bội Châu ca ngợi, họa thơ cùng. Cụ viết đại ý: “Từ về nước đến nay, được xem nhiều thơ văn quốc âm song chưa được bài nào hay đến thế. Hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ bắt tay cười to một tiếng cho thỏa hồn thơ đó.” Tử đã ra Huế thăm cụ, bị mật thám Pháp theo dõi, và do thế bị gạch chân trong danh sách những người được đi Pháp học. Vào Sài Gòn làm báo Tử dịch thơ tình của Mác, bênh vực Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Về Quy Nhơn, khi chớm có bệnh hiểm nghèo, cuối 1936 Tử đã cộng tác cùng anh Nguyễn Minh Vỹ, đảng viên cộng sản vừa ở tù ra, in giai phẩm Nắng xuân, trong đó có bài Ông Nghi gật, Tử đánh vào Viện Dân biểu thời Pháp thuộc (vừa đăng lại ở sông Hương).
    Cho dù Hàn Mặc Tử có cuộc đời bệnh tật, cuộc đời tình duyên, cuộc đời cách mạng ly kỳ, giữ dội gấp trăm lần, nhưng ba hòn núi cao ấy cụm lại không đẻ ra được một cái cây, một bóng mát thơ nào, ba trái núi ấy không đẻ ra được con chuột nhắt thơ nào, thì việc gì ở đây ta phải dông dài. May thay Tử là một đỉnh cao, lòa chói trong văn học trong văn học của thế kỷ. Cho nên cũng không mất công đâu khi vì văn Anh mà tìm hiểu thân thế, đời Anh:
    Hàn Mặc Tư có tài rất sớm. Tản Đà đã định khen thơ Anh trên báo nhưng rồi tiên sinh qua đời. Làm một bài như bài Cửa sổ đêm khuya, đọc lui, đọc ngược sáu cách, Tử rất giỏi:
    Hoa cười nguyệt rọi cửa lòng gương
    Lạ cảnh buồn tham nợ vấn vương
    Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
    Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
    Xa người nhớ cảnh tình lai láng
    Vắng bạn ngàn thơ rượu bẽ bàng
    Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
    Hoa dàn sẵn có dế bên tường
    Đọc xuôi, đọc ngược, bỏ hai chữ đầu đọc xuôi, bỏ hai chữ cuối dọc xuôi, bỏ hai chữ đầu đọc ngược, bỏ hai chữ cuối đọc ngược. Tử làm bài ấy lúc 17,18 tuổi, cũng là một cách xem thường tài vua Tự Đức “chả mấy giỏi” hơn mình. Sau này, có lúc Tử tự xem mình là “vua nhà Nguyễn” (Nguyễn Trọng Trí là tên anh) “bay trên mây”, cái mầm mống phạm thượng biết đâu không bắt đầu từ lúc làm thơ thuận-nghịch độc ấy.
    Tử có rất sớm, trong khuôn khổ gò bó trói voi bỏ rọ của thơ Đường luật mà có, cái khả năng Thượng thanh khí hoá, (tên một tập thơ của anh về sau) tâm tưởng tâm hồn hoá:
    Tương tư, mộng thấy năm canh mộng
    Luyến ái trời vương bốn phía trời
    Cái khả năng thế tục hoá, da- thịt- hoá:
    Bóng nguyệt leo song, sờ sẫm gối
    Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
    Khả năng kỳ ảo, ma-quái-hoá cũng xuất hiện rồi:
    Mở cửa nhìn trăng trăng tái mặt
    Khép phòng đốt nến nến rơi châu
    Đấy không phải là thủ thuật, kỹ thuật, những cách bên ngoài. Hoặc, nếu là thế thì cũng nhờ có một cái cốt thế nào đó, một cấu trúc tâm hồn thế nào đó ở bên trong. Hàn Mặc Tử, lúc đó còn lấy tên Phong Trần, tên Lệ Thanh đi về, qua lại giữa trời và đất, cảnh và người, thực và hư… rất thoải mái. Hơi văn lúc thì thu cả cảnh vật vào trong dúm chữ: “Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt” lúc thì văn chương chữ nghĩa tuột ra khỏi lòng như một tiếng kêu, một ngọn gió, nhát dao: “Vội vàng cánh nhạn bay đi tuốt”. Năng lực đàn hồi ấy cũng khá rõ ràng. Nhưng phải có cơn bão máu, trận hồng thủy tai ương, những động đất tâm – hồn, những phun lửa tình yêu kinh khủng về sau thì các khả năng kia mới lên cái thế bình phương, rồi lập phương như ta thấy. Từ năm 1936 đến năm 1940, nghĩa là sau khi rời Sài Gòn ra Gái Quê, về Quy Nhơn thọ bệnh, cho đến lúc vào Quy Hòa và mất, Anh đã làm quá trình một thế kỷ về thơ (1935- 1939 cũng là thời kỳ tôi học ở Quy Nhơn, giới thiệu, dìu dắt tôi vào thơ là công anh lúc đó). Từ một nhà thơ biến ngẫu theo lối cổ phương Đông, anh đã hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất Châu Âu, (chỉ so với Ang-đrê Brơtông, ông tổ siêu thực không thôi cũng đủ thấy rõ). Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lời, còn anh thì bằng máu :
    Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
    Sáng dậy điên cuồng mưa máu ra
    Văn học cần những vấn đề chung, phổ biến cho nhân loại. Nhưng oái oăm chưa, nó lại đòi cái người nói nó đó là một cá nhân, một bản lĩnh, một sắc thái riêng, không giống ai chỉ có một bản duy nhất, không lặp lại hai lần (nói thế chứ trong văn học người ta vẫn na ná nhau khối ra đấy!). Hàn Mặc Tử thì không. Anh chỉ có một, thật. Như một Rimbô của Pháp, một Holderlin của Đức, một Et-ga-pô của Mỹ, một Bồ Tùng Linh của Trung Quốc, một Mai-a-kốp-xki (trước cũng như sau cách mạng tháng Mười) của Liên Xô.
    Chúng ta cần có người đã trăng là trăng. Nhưng cũng cần có người vượt lề thói tập toàn mà còn xẻ trăng ra làm hai nửa. Vầng trăng ai xẻ làm đôi (Kiều). Cần truyền thống lại cần biến dị, cần nói điều chưa ai nói (nguời ấy không nói thì ta mất đi, ta nghèo đi cái điều đặc biệt duy nhất người ấy nói ra).
    Hôm nay có một nửa trăng thôi
    Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
    Ta nhớ mìnhxa thương đứt ruột
    Không phải ma thuật kỹ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là một thâm sử gì làm trử kim, làm đảm bảo, thì mới có thể phát ra các từ kia.
    Người Trung Quốc xưa đánh giá thơ nào thâm, nào chân, nào viên, nào cao, nào tân…nhiều thứ lắm. Tân là (mới).
    Nhưng sau tân lại còn tân của tân nữa, đó là kỳ (lạ).
    Tóc dài ba nghìn tượng
    Vì sầu nên hoá dài
    (Lý Bạch)
    Bốn dây ứa máu tỳ bà
    Và đêm nay hồn anh về ngủ thắt lưng em
    (Dân ca H’ mông)
    Mái nhà dài như một tiếng chiêng. Tóc nàng dài đến nỗi thả ra thì xuốâng tận đất như một thác nước và che bóng râm như một cây K’ nia (Dân ca Tây Nguyên) hay khi Nguyễn Du tả ma: dấu giầy từng bước in rêu rành rành thì đều là “kỳ” đấy, đều là siêu đấy! Mà nào ta có mất thực đi đâu. Ta được có một cách khác ở một cường độ khác.
    Người Châu Âu đẩy cái kỳ đến cái cùng, và kỳ cùng chữ thì yếu tố nó thành chủ nghĩa thành ra “isme”. Chủ nghĩa siêu thực còn có tên là romatisme jus quáu bout (chủ nghĩa lãng mạn đến cùng) rượu trên 100 độ. Thế thì chết! Chúng ta chống chủ nghĩa siêu thực. Chống siêu thực ở dạng chủ nghĩa, ở độ 100 ấy, trương lên thành ngọn cờ tướng chỉ huy. A-ra gông. E-luy-a, các vị tổ sư , vị tướng từng phất ngọn cờ ấy đã vứt nó, để trở thành đều là người lính, rồi sau là chủ soái trên thi đàn hiện thực xã hội chủ nghĩa, khi đã thành nguyên soái của thi đàn sau này, các ông vẫn sử dụng các yếu tố siêu thực, sử dụng siêu thực như yếu tố, cho cái hư ảo nó phục vụ hiện thực mình. Và sung mãn hơn lên vì vậy. Chân chân chân, thật thật thật nhưng lại còn đi với ảo ảo ảo nữa. Diệu ơi. Hàn Mặc Tử không phải là một nhà thơ siêu thực. Trước sau Anh vẫn là lãng mạn, dùng nhiều yếu tố hiện thực, dùng nhiều yếu tố siêu thực. Đó cũng là điều trước đây cha ông đã dùng. Nhưng chưa có ai dùng đậm đặc như Anh. Dù đó là Lê Thánh Tông ở Di Thảo, Nguyễn Dữ ở Truyền Kỳ Mạn Lục, Nguyễn Du ở Chiêu hồn hay lúc tả Đạm Tiên, nên nhìn trước nhìn sau Anh là của hiếm ở đất nước nên luôn luôn cần tỉnh thức nên hóa ra quá tỉnh táo là đất nước mình. Trên thế giới thì lại khác? Cần chống lại với cái không khí duy lý đến cùng, duy lý đến cùn, duy lý quá quắt của thời đại máy móc, kỹ thuật, biểu đồ, thống kê, công thức này các nhà văn Châu Aâu rất mê chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo (réalism fantas-ma gori-que) của Châu Mỹ La Tinh, trong đó các yếu tố kỳ, hư, ảo, ma quái, huyền thoại, siêu thực đã được phát huy để nuôi hiện thực. Au-tu-ri-as. Các-pên-chi-ê, Mác-két (Astui-as, Car-pentier, Marquiez) đã được đánh giá cao và hâm mộ ở Liên Xô. Tử trong thời gian chúng tôi chỉ thấy anh nói vềBaudel-lare, chớ Lô-trê-a-mông, G-ra dơ Néc-van (Lautréamont. Gé-rard de Nerval). Anh cũng ít nói đến, chỉ nói là Brơtông (Brơton). Anh có biết hay không chủ nghĩa siêu thực? Chắc là không. Giờ bảo anh có xa gần với cái họ hàng đầy biến động, thích biến động, luôn biến hóa đó, có khi anh giận cũng nên! Anh chỉ nói “Một mai tôi chết lên khe Ngọc Truyền! Bây giờ tôi dại tôi điên. Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”
    Hay Tôi điên tôi nói như người dại
    Van lạy không gian xóa những ngày
    Và anh giải thích vì đâu mà điên, bởi đâu mà dại:
    “Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú”.
    Càng chứng tỏ là siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ Châu Aâu đến mà từ thảm kịch của anh mà ra. “Nàng” ở đây không phải cô con gái nào đâu! Nàng đau thương đấy. Tử thường đọc Bô-đơ-le:
    Sois sage ô ma douleur et tiens-toi plus traquille
    (Hãy ngoan hỡi em đau thương và em đứng yên nào)
    Tử bảo anh khóc, anh gào, anh rú, Tử quên mất (và chúng ta cũng quên heo) là anh cười nữa chứ:
    Ha ha! Ta đuổi theo trăng
    Ta đuổi theo trăng
    Trăng rơi lả tả ngã ngã trên cành vàng
    Hoặc:
    Hôm nay vui quá, anh Phùng ơi
    Cười nói làm sao cho hả hơi
    Mà cười được thế là không điên đâu, chả dại chút nào! Anh chả thèm làm thơ của sự chết, của hư vô, như những người viện Heiddeger, viện Jas-pers, rồi dán cho anh nhãn hiệu có dấu âm, có hơi âm ấy.
    Đầu câu bên này là tiếng cười ha hả, đầu câu bên kia lại là cuộc đời bi thảm vào bậc nhất. Giá tiếng cười ấy đắt lắm, chứ đâu phải thứ nhởn nhơ cười, hể hả cười của chúng ta đâu.
    Xin dâng này máu đang tươi
    Này đây tiếng khóc giọng cười chen nhau
    Ta có chịu nghe tiếng cười đắt giá đó không? Và có khôn lõi ném tiếng khóc kia đi hắt cái máu kia đi, chỉ loc lấy tiếng cười đưa vào tuyển tập, đã vô trùng hóa? Nhưng nghe tiếng khóc kia thì ta có bị nhiễm độc gì không? Ngược lại giữ gìn bịt tai không nghe nó, thì ta có bị thiệt thòi gì…
    Ồ mấy chục năm trời đánh nhau với những tên giặc quỷ sứ khổng lồ, ta lắm lúc phải trị lấy ta, rồi mới đánh được giặc. Luyện chúng ta từ bùn, từ bùn thành ra sắt thép là vô cùng cần thiết. Nhưng xong giặc rồi, cậu bé Phù Đổng phải nhanh chóng trở lại làm hồn nhiên con trẻ chứ. Thế thì mới đủ sức hóa thành sắt thép lần sau. Đó là quy luật ức chế và hưng phấn của Páp lốp thôi, chả có gì lạ.
    Những năm tháng trọng đại đó, ta cần tỉnh thức nên sợ cả mộng mơ thiếp ngủ. Chỉ chợp mắt một tí thôi, có khi đê vỡ, giặc tràn. Huống nữa là cái đê tư tưởng!-Đồng chí Lê Duẩn bảo: “Nhiều người, hai người, một người, cá nhân, lứa đôi, tập thể”. Nhưng những năm ấy, không có tập thể, nhiều người thì mất mạng, nên có khi ta cảnh giác lúc chỉ có hai người, lúc trơ trọi một người. Tố Hữu viết “Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn” thì đã có nhiều người không muốn có riêng và một ấy. “Con người”, ta hích nó giữa đội hình đồng đội, tập đoàn, hơn thế, lại là đội hình đang chiến đấu và tập đoàn đang sản xuất. Ta ưa nó ở thế động, hành động, lao động với tất cả ý chí, reo hò, vỗ tay đôm đốp và ta ngại nó khi tĩnh lặng, khi xúc cảm. Có xúc cảm thì cũng là xúc cảm phấn khởi, chứ hay chi cái xúc cảm buồn? Ôi! Tử ơi, thế mà Tử lại cùng cực đau buồn
    Ta trút linh hồn giữa lúc đây
    Gió sầu vô hạn thổi trong cây
    Còn em sao chẳng hay gì cả
    Ta không hay, hoặc là không muốn hay, không dám hay. Ta không hay rằng các con người ngoài vấn đề xã hội lịch sử mà ta quan tâm, trước tiên là rất đúng, lại còn mỗi người có một thân phận, một cuộc đời riêng. Mác hơn Karl Gia-xpe chỉ biết con người trong đau khổ, trong chiến đấu, trong tội lỗi và đối diện với cái chết. Theo ông đó là cái điểm “cực” của kiếp người. Con người theo ông chỉ giao động thăng trầm giữa yêu đương và thù hận. Mác cũng cao hơn Phật, chỉ thấy sinh, lão, bệnh, tử và giao động, thăng trầm bởi vô-thể tham sân si. Ôi, chết mà có tiền thì cũng sướng đấy. Bệnh mà thuộc một giai cấp quý tộc giàu sang thì cũng khỏi bệnh ngay. Trăm năm trong cõi người ta, “hữu” tại thế, tại cõi thế này thì không phải chỉ sinh khổ, bệnh khổ, lão khổ, tử khổ mà còn không tiền nên khổ, khổ vì Tư bản và tột cùng của chủ nghĩa tư bản là đế quốc là nơ-tơ-rôn. Nhưng chỉ biết “tổng hòa các quan hệ xã hội” thì không hiểu Mác. Mác bảo “cái gì thuộc về người, với tôi đều không xa lạ”. Thế mà Tử yêu, Tử đau, Tử bệnh tật, Tử ở trong cô đơn, Tử đối diện cùng cái chết lại xa lạ với ta ư? Thảo nào A-ra-gông hỏi “Trăm năm sau người ta có thể biết Bô-đơ-le không nhỉ? Và ông nổi cáu “nếu người ta không biết Bô-đơ-le thì tôi cần cóc gì biết đến người ta”.
    Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng
    Những sợi hào quang vạn thước vàng
    Bắt bắt thơ bay trong gió loạn
    Để xem tình tứ nặng bao cân
    Ồ, tại sao tôi lại hình dung ra những nhà phi hành vũ trụ của ta như Phạm Tuân có thể đọc các câu ấy. Ở cái thời điểm này của nhân loại mà cái chết khinh khí nhiệt hạch có thể đến mọi nhà, mà chuyện các thiên hà trăng sao cùng chuyện của các cháu bé cấp một, thế thì Hàn Mặc Tử đau có lạc lõng gì.
    Trở lại vấn đề con người một tí. Vì nói gì thì nói, ở đâu, thơ văn nào cũng là chuyện về nó đấy thôi. Một quyển sách nổi tiếng trên thế giới là “Người, kẻ chưa ai biết ấy”. Cố nhiên là biết, nhưng mới ở vòng ngoài. Nhìn ngoài nó liền một cục. Nhưng mà nó có một đâu. Khoa học bảo nó là hai ghép lại An na de Noailles thì bảo nó là vô số. Coeur Innombrable nữa kia. Cố nhiên là ở nội tâm. Nơi Cao Bá Nhạ tìm thấy “trong một mình bảy tám biệt ly”. Nghĩa là vẫn không phải là một. Ở người, dưới nó, còn nó, bên cạnh nó, lại nó, đằng sau nó, còn có nó (mà nó ngỡ yêu tinh).
    Bóng ai theo rõi bóng mình
    Bóng nàng yêu tinh
    Nụ cười như tiếng vỡ pha lê
    Hãy đi sau vào thơ Tử, vào một tế bào của thơ Anh một chút. Gần 50 năm nay ta đã động gì đến anh đâu. Không khéo, thì đây là lần đầu tiên mất… về vấn đề mình và ai, một mình, hay hai mình đó, có lúc Tử viết:
    Ai đi lẳng lặng trên làn nước
    Với lại ai ngồi khít cạnh tôi
    Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng
    Không nói không rằng nín cả hơi
    L’homme-cetinconnu, người, cái kẻ bí mật ta chưa biết hết ấy rồi đây. Hàn Mặc Tử đã kể cho Quách Tấn, và họ Quách đã viết lên trên báo đây là một hiện tượng rất thật. Một đêm khuya vắng một mình Tử còn ngồi ngắm trăng bên bể. Bổng anh thấy có một ai đó ngồi khít rịt bên anh. Rồi từ người đó lại hiện ra người nữa. Rồi biến đi. Rồi thấy mặt bể đông lại như tuyết. Trên bể có một người vạm vỡ mặc áo lông gánh hai thùng thiết chạy băng băng. Từ hai thùng tung tóe ra những máu là máu. Tử hoảng sợ chạy về nhà.
    Rainer Maria Rilke, thi hào Tiệp của cả thế giới thế kỷ này, khi viết Bi-ca ở Đuy-nô (Elégie de Dui-no) đã chú thích “đọc bởi một kẻ vô hình”. Hoàng Trung Thông năm ngoái bảo tôi “mình uống rượu nhiều nên bị bệnh huyện tưởng, mình nghe ai nói trong quạt máy” (xin nói anh vẫn viết hay như thường) Bệnh tâm thần, ta vội kết luận và đưa nó cho các nhà y học, phân tâm học. Hãy dừng lại đa.õ Tôi nhớ đến một ví dụ mà các nhà hiện tượng luận đồ Huýt-xéc hay nhắc. Có một bệnh nhân nghe tiếng nói kiểu ấy. Bác sĩ không tin. Người bệnh cáu ‘tin hay không mặc ông nhưng rõ ràng tôi nghe thấy”. Các vở kịch viết về Gian đa của Pháp đâu có loại việc nữ anh hùng “nghe” như trên. Mặt kệ y học, về thơ ta hãy thử đếm xỉa đến hiện tượng ấy. Nó là gì. Vì Tử đau yếu chăng! Không, theo tôi chính là Anh rất khỏe cái hồn thơ anh rất khỏe. Chả là cô đơn, chả là hư vô, chả là cái chết chập chờn ở trong phòng bệnh, và ở giữa đêm trăng này muốn thủ tiêu Anh mà không được. Anh là một. Nó muốn Ze-rô-hóa Anh, hư-vô hóa Anh cho không còn dấu vết. Nhưng Anh đau chịu thua. Anh hóa hai hoá ba mình ngồi cạnh mình, hơn theá mình mình lại vạm vỡ ra, nở nang lên gánh chạy, gánh cái máu đời mình, chạy trên cái bể thảm kịch của đời mình. Cũng là một cách đối chọi! Hơn gấp trăm lần cái phương pháp ngắm bóng mình dưới giếng của Nác-xít đến héo mòn, hủy diệt đi không còn tồn tại ở kiếp người.
    Nếu ta hiểu cho sự đối phó ấy của Tử thì Hồn của anh chả có gì hồn ma, hồn ma bóng quỷ hay là cái linh hồn của Chúa thổi vào trong đất sét là ta… “ta khạc hồn ta ngoài cửa miệng”… Hồn đó là sản phẩm anh tạo ra. Tạo ra, lại dắt nó đi chơi nữa: “dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay”. Anh có bạn. Hàn Mặc Tử không còn thụ động là sản phẩm trong bàn tay thượng đế, hơi phạm thượng đấy, nhưng vui chứ, đỡ cô đơn chứ. “Khạc hồn ra cho hồn cao vang đến muôn trượng”.
    Và bỗng dưng từ thơ tôi nhớ đến khoa học, đến nhà khoa học vĩ đại của nhân loại Anh-xtanh. Ông nói: “Cái điều đẹp nhất mà ta có thể cảm giác được chính là cái khía huyền bí của một đời. Đó là tình cảm sâu xa ở trong nôi của nghệ thuật và khoa học thật sự”. Nhà khoa học thật sự thì tương đối yêu sự diệu huyền và nuôi đứa trẻ ấy trong nôi, thế sao ta, nhà văn nghệ còn bấp bênh lại muốn tuyệt đối chỉ yêu cái một là một, hai là hai rõ ràng, chớ không thể một vẫn hai được?.
    Đi công tác ở các nước phương Tây, tôi thường gặp anh chị em Việt kiều xa nước lâu ngày, gặp anh chị em di tản nữa, các anh chị hỏi “cách mạng đối với Hàn Mặc Tử ra sao?” ra sao ư? Cách mạng đã đón di hài của vua Duy Tân về nước vừa rồi; cách mạng cũng đón thơ của Tử như vậy! Cách đây từ những ba muơi năm, tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai năm 1957 lúc đất nước mới chỉ có tự do một nửa thù trong giặc ngoài làm cho Tổ quốc ta ở trong thế ngặt nghèo, thế mà nói về vấn đề tiếp thu di sản, đồng chí Trường Chinh đã nói:
    “Cần nhận ra rằng văn nghệ cách mạng của chúng ta là kẻ kế thừa tất cả những giá trị văn nghệ do các thời đại trước tạo ra. Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển tất cả di sản của dân tộc và cũng có chúng ta mới làm nổi công việc đó”.
    Hai lần đồng chí dùng đến chữ tất cả, 57-87. Ba mươi năm chiến tranh cũng chiến tranh rồi, hòa bình cũng hòa bình rồi, nếu không tiếp thu Tử bây giờ còn đợi đến lúc nào! Giao cho con cháu tiếp thu thì cháu con sẽ lên án chúng ta thôi, sao cái gì cũng dồn cho chúng nó. Chúng nó còn bao nhiêu việc. Huống nữa tiếp thu Tử là lợi cho ta chứ lợi gì cho Tử đã chết đầy nửa thế kỷ.
    Anh Trường Chinh dặn tiếp : “Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi máy móc đối với những giá trị văn nghệ cũ không những có tác dụng sửa chữa những thái độ bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời”. Thực là chí tình đạt lý. Và tôi tin là việc tiếp thu Tử, như anh Trường Chinh nói đó, với văn nghệ hiện thời sẽ có tác dụng mở rộng con đường. Hỡi những người mỗi bước đi cứ sợ nhầm đường.
    Sự thừa kế tác phẩm của Tử sẽ làm cho tim ta nhân tính hơn, óc ta co dãn đàn hồi hơn, và cái nhìn ta không đơn giản mà trở nên đa dạng và phong phú.
    Ô kìa, bây giờ đối diện với bể Đông trên điểm cao Gành Ráng, mộ Tử bỗng dưng ngời chói, vua nhà Nguyễn gần đó đang lụi tàn. Nguyễn Trọng Trí là Tử đâu có thừa nhận thứ vua ấy. Dù cơ cực đến mấy, Tử vẫn tin ở cái ngôi sáng tạo của mình. Anh mới là vua chứ và anh bay tìm gặp:
    Ta đi tìm mộng tầm xuân
    Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây
    Rượu nắng uống vào thì say
    Rực rỡ như một vị vua
    Đầy mình lốm đốm những hào quang
    Nghĩa là anh không chấp nhận sự huỷ diệt, sự cát bụi hoá anh như lời nguyền rủa: “Từ cát bụi mi trở về cát bụi”. Nghĩa là anh tin ở sức sáng tạo bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng của anh. Đồng thời tin chúng ta sẽ đánh giá đúng tài năng “siêu” ấy.

    (Văn Nghệ Bình Định.- 1998.- Số 18 (Xuân Mậu Thìn); KHPL: BĐ.04(91))

    Nguồn: http://vnthuquan.net/dien....aspx?m=56421&mpage=2
     
  5. conmuatuyet

    conmuatuyet Guest

    tui thich nghe thơ Hàm Mặc Tử lắm
    đọc thử 1 bài nghe coi
     
  6. yukiko1411

    yukiko1411 Guest

    mua quyển thi nhân Việt nam, có tất cả các nhà thơ mới !
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->