Sử 12 Chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965 -1968)

Mộ Dung Thu Vũ

Cựu Mod Sử
Thành viên
25 Tháng hai 2022
1,024
6
759
166
17
Lào Cai
Lào Cai
[TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn
Chắc suất Đại học top - Giữ chỗ ngay!!

ĐĂNG BÀI NGAY để cùng trao đổi với các thành viên siêu nhiệt tình & dễ thương trên diễn đàn.

CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUÔC MĨ Ở MIỀN NAM (1965 - 1968)
1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam
a. Hoàn cảnh

- Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mĩ phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.
b. Đặc điểm
- Là loại hình chiến tranh kiểu mới.
- Nằm trong chiến lược phản ứng linh hoạt.
- Dựa vào viện trợ kinh tế và quân sự của Mĩ.
- Được tiến hành bằng quân Mĩ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn.
c. Âm mưu
- Đẩy quân giải phóng miền Nam lâm vào thế phòng ngự bị động rồi lụi tàn.
d. Thủ đoạn
- Mỹ nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo quân chủ lực ta bằng chiến lược: “tìm diệt”, giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy ta về phòng ngự, buộc ta phải phân tán nhỏ…làm cho chiến tranh tàn lụi dần.
- Với ưu thế về quân sự, Mĩ cho mở cuộc hành quân “tìm diệt” vào Vạn Tường và 2 cuộc phản công 2 mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 nhằm “tìm diệt” và “bình định” vào vùng căn cứ kháng chiến (vùng “đất thánh Việt Cộng”) hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến của ta.
2. Chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ”của Mĩ
Quân dân ta chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” bằng sức mạnh cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương với ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược.
a. Quân sự
- Trận Vạn Tường (Quãng Ngãi):
+ Ngày 18/08/1965: Mĩ huy động 9000 quân tấn công Vạn Tường.
+ Kết quả: Sau 1 ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến 900 địch, nhiều xe tăng, nhiều máy bay…..
+ Ý nghĩa: Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với Mĩ, mở đầu cho cao trào “tìm Mĩ đánh, lùng Ngụy diệt” trên khắp miền Nam.
- Cuộc tấn công 2 mùa khô:
+ Mùa khô thứ nhất 1965 - 1966:
* Mĩ huy động 72 vạn quân (22 vạn Mĩ và đồng minh), mở 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn, nhằm vào hai hướng chiến lược chính: Liên khu V và Đông Nam Bộ với mục tiêu đánh bại quân chủ lực giải phóng
* Ta tấn công khắp nơi, giành nhiều thắng lợi, loại khỏi vòng chiến 104.000 địch (có 45.500 Mĩ và đồng minh), bắn rơi 1430 máy bay.
+ Mùa khô thứ hai 1966 - 1967:
* Mĩ huy động 98 vạn quân (44 vạn Mĩ và đồng minh), mở 895 cuộc hành quân, có 3 cuộc hành quân “bình định” và “tìm diệt” lớn, lớn nhất là Gian-xơn Xi-ti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh) nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta.
* Ta tấn công khắp nơi, đập tan cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của Mĩ.
b. Chính trị
- Từ thành thị đến nông thôn, nhân dân nổi dậy đấu tranh trừng trị ác ôn, phá “Ấp chiến lược”, đòi Mĩ rút về nước, đòi tự do dân chủ.
- Uy tín Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên cao. Cương lĩnh của mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức khu vực ủng hộ.
3. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
a. Hoàn cảnh lịch sử

- Mùa xuân 1968, trên cơ sở nhận định và so sánh lực lượng đã thay đổi có lợi cho ta. Đồng thời lợi dụng mâu thuẫn trong bầu cử Tổng thống Mĩ ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam.
- Mục tiêu:
+ Tiêu diệt bộ phận quan trọng quân Mĩ và đồng minh.
+ Đánh đòn mạnh vào chính quyền Sài gòn, buộc Mĩ phải tiến hành đàm phán rút quân về nước.
b. Diễn biến: 3 đợt
- Đợt 1: Từ 30/1/1968 đến 25/02/1968
+ Ta đồng loạt tấn công và nổi dậy ở hầu hết các tỉnh, đô thị, quận lị.
+ Tại Sài Gòn, ta tấn công các vị trí đầu não của địch (Dinh Độc lập, Toà đại sứ Mỹ, Bộ tổng tham mưu Ngụy, Tổng nha cảnh sát Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh…).
+ Ta loại khỏi vòng chiến 147.000 địch (43.000 Mĩ), phá hủy khối lượng lớn vật chất và các phương tiện chiến tranh của địch.
+ Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình được thành lập.
- Đợt 2 (tháng 5, 6) và đợt 3 (tháng 8, 9)
Đây là một đòn bất ngờ làm cho địch choáng váng, nhưng do lực lượng của địch còn mạnh, nên chúng đã nhanh chóng tổ chức phản công giành lại những mục tiêu bị ta chiếm và đồng thời cũng đã làm cho ta bị tổn thất khá nặng nề, trong đợt 2 (tháng 5, 6) và đợt 3 (tháng 8, 9):
* Hạn chế: Do ta “chủ quan trong đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa sát với thực tế…, không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm để đánh giá tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời, chậm thấy những cố gắng mới của địch và khó khăn lúc đó của ta”.
c. Ý nghĩa
- Chuyển cuộc kháng chiến sang giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”.
- Làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ.
- Buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mĩ hoá” chiến tranh (tức thừa nhận thất bại chiến tranh cục bộ) và chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến bàn hội nghị Paris đàm phán về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
- Mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
 
Last edited:
Top Bottom