Sử 9 Việt Nam trong những năm 1939- 1945

Thảo luận trong 'Việt Nam từ 1930- 1945' bắt đầu bởi Death Game, 12 Tháng ba 2020.

Lượt xem: 237

  1. Death Game

    Death Game Mod Vật Lí (nghỉ phép dài hạn) Thành viên

    Bài viết:
    2,017
    Điểm thành tích:
    619
    Nơi ở:
    Cần Thơ
    Trường học/Cơ quan:
    THPT Chuyên Lý Tự Trọng
    [TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn học. Click ngay để nhận!


    Bạn đang TÌM HIỂU về nội dung bên dưới? NẾU CHƯA HIỂU RÕ hãy ĐĂNG NHẬP NGAY để được HỖ TRỢ TỐT NHẤT. Hoàn toàn miễn phí!

    1. Trình bày tình hình thế giới và Đông Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai?
    2. Tai sao thực dân Pháp và phát xít Nhật cùng thỏa hiệp với nhau thống trị Đông Dương?
    3. Nguyên nhân, diễn biến khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, binh biến Đô Lương?
    4. Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thất bại, bài học kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa?
    5. Sử dụng lược đồ SGK trình bày diễn biến khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì
    Ai hỗ trợ mình với ạ ToT
     
  2. _Gumball_

    _Gumball_ Học sinh Thành viên

    Bài viết:
    166
    Điểm thành tích:
    36
    Nơi ở:
    Thái Nguyên
    Trường học/Cơ quan:
    HOCMAI

    1. Khởi nghĩa Bắc Sơn
    • Nguyên nhân: Ngày 22/9/1940 quân Nhật đánh chiếm Lạng Sơn, quân Pháp thua phải rút chạy về Thái Nguyên. Nhân cơ hội đó, Đảng bộ Bắc Sơn lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa.
    • Diễn biến:

      Tháng 9 - 1940, nhân dân Bắc Sơn nổi dậy chống Pháp và giành được chính quyền tại địa phương, lập nên đội du kích Bắc Sơn.
      Mấy ngày sau, Pháp câu kết với Nhật, chúng khủng bố cuộc khởi nghĩa.
    2. Khởi nghĩa Nam Kì
    • Thực dân Pháp và Thái Lan xảy ra xung đột. Thực dân Pháp bắt binh lính Việt Nam ra trận chết thay cho chúng. Nhân dân ta căm phẫn, phản đối việc làm đó của thực dân Pháp. Trước tình hình đó, tháng 11/1940 Xứ ủy Nam Kì quyết định khởi nghĩa.
    • Diễn biến:
      Tháng 11/1940, khởi nghĩa nổ ra từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ.
      Kế hoạch bị lộ, Pháp cho ném bom tàn sát nhân dân.
      Lực lượng khởi nghĩa còn lại phải rút về Đồng Tháp và U Minh.

      3. Binh biến Đô Lương
    • Nguyên nhân: Binh lính người Việt trong quân đội Pháp phản đối việc họ bị đưa sang Lào để đấu tranh với Thái Lan.
    • Diễn biến:
      Tháng 1/1941, binh lính đồn Chợ Rạng dưới sự chỉ huy của Đội Cung đã nổi dậy đấu tranh chiếm đồn Đô Lương rồi lên ô tô về Vinh để chiếm thành.
      Kế hoạch bất thành, toàn bộ binh lính nổi dậy bị bắt, Đội Cung và 10 đồng chí của ông bị xử bắn, nhiều người bị lưu đày.

    • Ý nghĩa lịch sử:
    - Khởi nghĩa Bắc Sơn:
    +) Mở đầu phong trào vũ trang giải phóng dân tộc.
    +) Giúp Đảng rút ra những bài học quý báu về khởi nghĩa vũ trang, chọn thời cơ khởi nghĩa.
    - Khởi nghĩa Nam Kì:
    Chứng tỏ tinh thần yêu nước, sẵn sàng đứng lên chống quân thù của nhân dân Nam Bộ.
    - Binh biến Đô Lương
    +) Là tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc.
    +) Bước đầu đấu tranh bằng vũ lực.
    • Nguyên nhân thất bại:
    - Khởi nghĩa Bắc Sơn: điều kiện thuận lợi mới chỉ xuất hiện tại 1 địa phương (Bắc Sơn), địch có điều kiện tập trung quân đàn áp.

    - Khởi nghĩa Nam Kì: kế hoạch bị bại lộ, thực dân Pháp khủng bổ khốc liệt phong trào, lực lượng còn lại phải rút về Đồng Tháp và U Minh, để củng cố lực lượng.
    - Binh biến Đô Lương: lực lượng chỉ gồm binh lính, thanh niên nên chưa có sự phối hợp với nhân dân.
    • Bài học kinh nghiệm: Ba cuộc khởi nghĩa trên thất bại là do kẻ thù còn quá mạnh, lực lượng cách mạng chưa được tổ chức và chuẩn bị đầy đủ.
    Lý do:
    • Phát xít Nhật muốn lợi dụng Pháp để kiếm lời và cùng chống phá cách mạng Đông Dương, vơ vét sức người, sức của phục vụ cuộc chiến tranh của Nhật, làm bàn đạp tấn công xuống các nước ở phía Nam Thái Bình Dương.
    • Thực dân Pháp đang rơi vào tình trạng yếu thế ở cả Pháp và Đông Dương, Pháp muốn dựa vào Nhật để chống phá cách mạng Đông Dương
     
    Death Game thích bài này.
  3. Bong Bóng Xà Phòng

    Bong Bóng Xà Phòng Cựu Mod Hóa|Cựu CN CLB Hóa học vui Thành viên

    Bài viết:
    3,706
    Điểm thành tích:
    809
    Nơi ở:
    Hưng Yên
    Trường học/Cơ quan:
    Nope

    Tháng 9 - 1939. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở châu Âu, tháng 6 - 1940, quân đội phát xít Đức kéo vào nước Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. Ở Viễn Đông, quân phiệt Nhật cũng đẩy mạnh xâm lược Trung Quốc và cho quân tiến sát biên giới Việt - Trung.

    Thực dân Pháp ở Đông Dương đứng trước hai nguy cơ : một là ngọn lửa cách mạng giải phóng của nhân dân Đông Dương sớm muộn sẽ bùng cháy : hai là phát xít Nhật đang lăm le hất cẳng chúng.
    Sau khi đầu hàng Nhật ở Lạng Sơn (9 - 1940), rồi mở cửa cho chúng vào Đông Dương, thực dân Pháp đã suy yếu rõ rệt. Nhật tiếp tục lấn bước để biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến tranh của chúng. Ngày 23 - 7 - 1941, tại Hà Nội, Chính phủ Pháp công bố kí kết một hiệp ước giữa Pháp và Nhật - Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương.
    Hiệp ước thừa nhận Nhật có quyền sử dụng tất cả sân bay và cửa biển ở Đông Dương vào mục đích quân sự. Khi phát động chiến tranh Thái Bình Dương (7 -12 - 1941). Nhật lại bắt thực dân Pháp ở Đông Dương kí thêm một hiệp ước cam kết hợp tác với chúng về mọi mặt (như tạo mọi sự dễ dàng cho việc hành binh, cung cấp lương thực, bố trí doanh trại, giữ gìn trật tự xã hội ở Đông Dương) để bảo đảm hậu phương an toàn cho quân đội Nhật. Kể từ đây, trong thực tế, Pháp và Nhật đã câu kết chặt chẽ với nhau trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân Đông Dương.
    Mặc dù bị Nhật ức hiếp, tước đoạt mọi bề, thực dân Pháp vẫn có nhiều thủ đoạn gian xảo để thu được lợi nhuận cao nhất. Trước hết, chúng thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy”, thực chất là lợi dụng thời chiến để nắm độc quyền toàn bộ nền kinh tế Đông Dương và tăng cường việc đầu cơ tích trữ để vơ vét bóc lột nhân dân ta được nhiều hơn. Thủ đoạn thứ hai là tăng các loại thuế. Riêng các khoản thuế rượu, muối và thuốc phiện từ năm 1939 đến năm 1945 đã tăng lên gấp ba lần.
    Thủ đoạn tàn ác của Nhật là thu mua lương thực, chủ yếu là lúa gạo, theo lối cưỡng bức với giá rẻ mạt, một phần để cung cấp cho quân đội Nhật, một phần để tích trữ, chuẩn bị chiến tranh. Chính thủ đoạn tàn ác này đã gây ra nạn khan hiếm lương thực nghiêm trọng làm cho khoảng 2 triệu đồng bào ta, chủ yếu là nông dân ở miền Bắc chết đói vào cuối năm 1944 - đầu năm 1945.
    Dưới hai tầng áp bức, bóc lột nặng nề của Pháp - Nhật, các tầng lớp nhân dân ta bị đẩy đến tình trạng cực khổ, điêu đứng.
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY