Văn 12 Việt Bắc (Tố Hữu) và một số đề bài

Thảo luận trong 'Việt Bắc (Tố Hữu)' bắt đầu bởi xuanle17, 27 Tháng tám 2019.

Lượt xem: 147

  1. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế
    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    VIỆT BẮC – Tố Hữu

    PHẦN I: TÁC GIẢ
    I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ:
    - Tố Hữu (1920 – 2002): Là nhà thơ lớn trong nền thơ ca hiện đại.
    - Cuộc đời Tố Hữu là cuộc đời của một nhà thơ chiến sĩ bởi thơ ông: “Trăm năm thơ – Đảng nặng duyên tơ.”
    “Xin tạm biệt cuộc đời yêu quý nhất
    Còn mấy vần thơ và một nắm tro
    Thơ tặng đời và tro bón đất
    Sống là cho, chết cũng là cho”
    *Con đường thơ của Tố Hữu bắt đầu cùng lúc với con đường cách mạng, nó phát triển song hành với những chặng đường cách mạng Việt Nam.
    Hơn nửa thế kỉ lao động sáng tạo, Tố Hữu đã để lại 7 tập thơ lớn:
    - Từ ấy (1937 – 1946). Đây là tập thơ đầu tay gồm ba phần:
    + Máu lửa
    + Xiềng xích
    + Giải phóng
    Tập thơ không chỉ đánh dấu những bước đường trưởng thành trong nhận thức tư tưởng, nghệ thuật của người thanh niên trẻ tuổi mà nó còn phản ánh những bước đường trưởng thành của cách mạng Việt Nam.
    - Việt Bắc (1946 -1954) là đỉnh cao nghệ thuật thơ ca cách mạng Việt Nam trong những năm p:
    + Bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ mà anh dũng của dân tộc
    + Sự kết tinh những tình cảm lớn nhất của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến: tình yêu quê hương – đất nước, Đảng – lãnh tụ, miền ngược – miền xuôi, quân – dân.
    Nếu trong Từ ấy nhân vật trữ tình là cái tôi than thở, say mê với lí tưởng Cách mạng thì ở Việt Bắc, nhân vật trữ tình là cái ta cộng đồng, đông đảo quần chúng nhân dân kháng chiến.
    - Gió lộng (1955-1961)
    + Ca ngợi cuộc sống mới, con người mới,
    + Tình cảm hướng về miền Nam
    - Ra trận (1962 – 1971): tái hiện không khí cả dân tộc ra trận
    - Máu và hoa (1972 -1977): Nhiều bài mang âm hưởng anh hùng
    + Tái hiện tư thế, tầm vóc dân tộc tuyến đầu chống Mĩ
    + Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu
    Ra trận có hai bài thơ được coi như điếu văn bi hùng khóc thương, ca ngợi Hồ Chí Minh: Bác ơi! , Theo chân Bác
    - Một tiếng đờn (1978 – 1992)
    - Ta với ta (sau 1993)
    è Cảm hứng thế sự với giọng suy tư triết lí
    =>Con đường thơ Tố Hữu phát triển liên tục, phản ánh những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Dù ở chặng đường nào, thơ ông vẫn luôn tái hiện cái nhìn tư tưởng lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của cách mạng. Ông xứng đáng là “lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.”

    II. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT:
    - Thơ trữ tình chính trị: Lí tưởng cách mạng, đời sống chính trị của đất nước đã khơi nguồn cảm hứng sáng tác, trở thành đề tài phản ánh, chi phố những yếu tố còn lại trong thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu (nhân vật, không gian)
    - Mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn
    - Giọng điệu trong thơ Tố Hữu rất ngọt ngào, tha thiết. Đó là giọng thơ của tình thương mến.
    + Biểu hiện: âm điệu, cách xưng hô, những lời than gọi
    + Nguyên nhân:
    ++ Do ảnh hưởng của chất Huế
    ++ Do quan niệm của Tố Hữu về thơ
    - Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc
    + Nội dung: Phản ánh hiện thực đời sống, tâm tư, tình cảm, khát vọng của cả dân tộc
    + Hình thức: Tố Hữu sử dụng thể thơ dân tộc (lục bát), ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh so sánh, ví von,...
     
  2. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế

    PHẦN II: TÁC PHẨM (ĐOẠN TRÍCH VIỆT BẮC)

    I. TÌM HIỂU CHUNG
    1. Thể thơ :
    truyền thống của dân tộc: lục bát, gồm 92/150 câu
    2. Hoàn cảnh sáng tác
    - Việt Bắc là khu căn cứ của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến p.
    - Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7/ 1954 , hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng và đi lên xây dựng CNXH một trang sử mới của đất nước mở ra.
    - Tháng 10/ 1954 , trung ương Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội, những người kháng chiến (trong đó có Tác giả Tố Hữu) từ căn cứ miền núi về miền xuôi chia tay Việt Bắc, chia tay khu căn cứ Cách mạng trong kháng chiến.
    Nhân sự kiện có tính lịch sử này Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc” Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến p.
    3. Nội dung chính
    - Tái hiện những kỉ niệm Cách mạng, kháng chiến. Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Việt Bắc trong kháng chiến p.
    + Thiên nhiên Việt Bắc vừa nên thơ, trữ tình vừa hùng vĩ, tráng lệ.
    + Con người Việt Bắc hăng say lao động, sâu nặng ân tình với cách mạng, kháng chiến.
    - Gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước, ca ngợi công lao của Đảng và Bác Hồ trong kháng chiến p.
    - Thể hiện tình cảm của Tố Hữu đối với quê hương Cách mạng Việt Bắc: yêu mến, gắn bó, tự hào về truyền thống cao đẹp của dân tộc, đất nước.
    Việt Bắc là khúc hùng ca, tình ca về Cách mạng, về kháng chiến, về những con người trong kháng chiến p.

    II. ĐỌC HIỂU CHI TIẾT:
    Đoạn 1: (Hai mươi câu thơ đầu)

    Mình về mình có nhớ ta?
    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
    Mình về mình có nhớ không?
    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.
    Tiếng ai tha thiết bên cồn
    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
    Áo chàm đưa buổi phân ly
    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...
    Mình đi, có nhớ những ngày
    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
    Mình về, có nhớ chiến khu
    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
    Mình về, rừng núi nhớ ai
    Trám bùi để rụng, măng mai để già
    Mình đi, có nhớ những nhà
    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
    Mình về, còn nhớ núi non
    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
    Mình đi, mình có nhớ mình
    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?​
    - Tác giả đã tái hiện khung cảnh của buổi tiễn đưa và nỗi niềm với tâm trạng của người tiễn:
    Với hình ảnh ẩn dụ “Áo chàm đưa buổi phân li” nhà thơ đã gợi lên trước mắt người đọc cảnh chia tay đầy lưu luyến kẻ ở người về. Nhịp thơ chậm rãi, đều đặn gợi ta liên tưởng đến bước chân dường như nấn ná không muốn rời xa của những người trong buổi tiễn đưa. Cả hình ảnh, nhịp điệu câu thơ đều chứa chan.
    Hình ảnh “áo chàm” cũng có thể là vật kỉ niệm mà đồng bào Việt Bắc trao tặng cho người về xuôi thay cho một lời nhắn nhủ, lời khẳng định cho tình cảm thủy chung, bền chặt. Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến ấy, người dân Việt Bắc đã cất tiếng hỏi “Mình về mình có nhớ ta?...” Cách xưng hô mình – ta không chỉ tạo cho câu thơ âm điệu ngọt ngào tha thiết như một câu hát giao duyên mà nó còn thể hiện tình cảm gần gũi, gắn bó giữa người đi và kẻ ở.
    Những câu hỏi cứ liên tục vang lên với điệp ngữ “có nhớ” đã thể hiện dòng cảm xúc dâng trào, dồn dập trong tâm hồn người dân Việt Bắc. Phép điệp từ này một phần thể hiện rõ nỗi băn khoăn, day dứt của người hỏi mặt khác gợi lên vô vàn kỉ niệm một thời gắn bó với Việt Bắc. Đó là kỉ niệm về quãng thời gian “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Kỉ niệm về một vùng mưa nguồn suối lũ gắn với cội nguồn tình nghĩa “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Kỉ niệm về một thời kháng chiến sôi nổi mà hào hùng với những địa danh đi vào lịch sử dân tộc “Tân trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng, kháng chiến của dân tộc.
    Hỏi người về mà có lúc như không kìm được cảm xúc. Người ở lại đã bâng khuâng hỏi mình “Mình về, rừng núi nhớ ai / Trám bùi để rụng, măng mai để già.” Câu hỏi tu từ kết hợp với hình ảnh hoán dụ, nhân hóa “rừng núi nhớ ai” đã thể hiện rõ, diễn tả trọn vẹn nỗi nhớ thương da diết của người ở, kẻ về. Đây cũng là tình cảm chung của nhân dân đối với Việt Bắc, đối với cán bộ cách mạng về xuôi.
    Phải nhớ thương da diết, mãnh liệt thì người dân Việt Bắc mới tự hỏi mình như thế, người Việt Bắc mới không muốn lên nương, lên rẫy bởi mỗi con đường, mỗi sườn núi, mỗi quả đồi đều gợi lên bóng dáng của người đi. Vì chính lẽ đó mà cuộc chia tay đã để lại nỗi hụt hẫng, trống vắng, chơi vơi trong tâm hồn người dân Việt Bắc. Mỗi con đường, rừng núi tưởng chừng quá đỗi thân quen mà giờ đây đã trở nên xa lạ. Bởi vậy “Trám bùi để rụng, măng mai để già”.
    Cuộc chia tay đầy bịn rịn, nhớ thương nhưng không buồn, không đẫm lệ như những cuộc chia tay trong văn học cổ. Bởi lẽ đây là cuộc chia tay của những con người vừa làm nên chiến thắng. Đó là cuộc chia tay trong nhớ thương và cả trong niềm vui, niềm tin tưởng về ngày mai chiến thắng.
    *Thành công nghệ thuật:
    - Thể thơ lục bát của dân tộc rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm .
    - Lời thơ là lời hỏi – gợi nhớ với giọng điệu tha thiết, tâm tình.
    - Cách xưng hô ta – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
    - Điệp từ “ nhớ” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ thể hiện tình cảm sâu nặng.
     
  3. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế

    ĐOẠN 2: TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI VỀ ĐỐI VỚI VIỆT BẮC
    1. Thấu hiểu nỗi băn khoăn, day dứt của đồng bào Việt Bắc, Tố Hữu đã khẳng định tình cảm thủy chung, gắn bó và nghĩa tình sâu nặng với Việt Bắc bằng bốn câu thơ:
    “ Ta với mình, mình với ta​
    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
    Mình đi, mình lại nhớ mình​
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu...”​
    ð Sự vận dụng một cách sáng tạo, cách xưng hô ta – mình, mình – ta và lối so sánh quen thuộc trong ca dao, Tố Hữu đã giúp cảm xúc được bộc lộ một cách trọn vẹn.
    * Cảm xúc ấy được bộc lộ trước hết qua nỗi nhớ của nhà thơ đối với Việt Bắc:
    + Nỗi nhớ bắt đầu từ một điều rất chung, rất trừu tượng mà chính tác giả không xác định rõ là nhớ gì. Chỉ biết là nỗi nhớ ấy vô cùng sâu sắc, mãnh liệt nên mới được ví là nhớ gì như nhớ người yêu. Nỗi nhớ bao trùm cả không gian lẫn thời gian :
    “Trăng lên đồi núi, nắng chiều lưng nương”​
    + Nỗi nhớ xoáy sâu vào từng hình ảnh, từng kỉ niệm:
    “Nhớ từng bản khói cùng sương
    ...., suối lê vơi đầy”​
    è Điệp ngữ “nhớ từng” kết hợp với các hình ảnh liệt lê đã xoáy sâu vào những hình ảnh, những kỉ niệm gắn với một thời VB của tác giả để từng tên đất, tên làng, tên sông, tên suối cứ lần lượt sống dậy như những thước phim quay chậm trong kí ức nhà thơ. Đó là kỉ niệm về cảnh sắc, về con người Việt Bắc, là một kỉ niệm về thời gian kháng chiến “gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”?

    2. Khẳng định tình cảm thủy chung, bền chặt
    - Nỗi nhớ: nhớ gì(chung) >< nhớ người yêu (so sánh)
    + Trăng/ núi, nắng/ lưng nương
    + Bao trùm cả không gian và thời gian
    + Nhớ từng: “bản khói cùng sương”, “ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”
    - Không chỉ nhớ cảnh mà Tố Hữu còn nhớ người, đó là tất cả những ai đã từng “đồng cam cộng khổ”, chia ngọt sẻ bùi với nhà thơ. Đó là đồng đội, đồng chí, đồng bào Việt Bắc.
    - Những người đã cùng với tác giả “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”. Trong tất cả những hình ảnh đó, để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng nhà thơ là hình ảnh người phụ nữ lam lũ, tảo tần, chịu thương, chịu khó – đó là những con người hằng ngày, hằng giờ đối mặt với hoàn cảnh sống khắc nghiệt “nắng cháy lưng” để âm thầm, nhẫn nại “địu từng bắp ngô” => Câu thơ chỉ nói về nỗi nhớ mà ta còn đọc thấy cả niềm thương, sự thấu hiểu, cảm thông, trân trọng vô hạn của nhà thơ dành cho những người phụ nữ Việt Bắc.
    - Điệp ngữ “nhớ sao”: biến mỗi câu thơ thành một lời cảm thán, diễn tả nỗi nhớ càng lúc càng dâng trào mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.

    3. Nỗi nhớ cảnh, nhớ người (10 câu – 4 mùa Việt Bắc)
    "Ta về, mình có nhớ ta
    Ta về ta nhớ những hoa cùng người
    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
    Ngày xuân mơ nở trắng rừng
    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
    Ve kêu rừng phách đổ vàng
    Nhớ cô em gái hái măng một mình
    Rừng thu trăng rọi hoà bình
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung."​
    - Đoạn thơ bắt đầu bằng một câu thơ mang âm hưởng của một câu hát dao duyên “Ta về, mifnhc có nhớ ta”. Đó chỉ là cái cớ để tác giả khẳng định tình cảm của mình “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”. Hoa là hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp của TN VB và hai hình ảnh hoa và người đã hiện lên sóng đôi trong nỗi nhớ của nhà thơ. Trong nỗi nhớ ấy, tác giả đã dựng lên bức tranh tứ bình rất đẹp về Việt Bắc qua 4 mùa:
    + Mùa đông: cả núi rừng Việt Bắc bát ngát trong màu xanh của cây lá, nổi bật giữa sắc xanh ấy là màu đỏ tươi của những bông hoa chuối – cái màu đỏ như đốt lửa trời đông để cả không gian bừng lên sức sống mới. Không gian ấy đối lập hẳn với cảng u ám, lạnh lẽo của mùa đông ta vẫn thường gặp:
    “Lá đa lác đác trước lều​
    Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.”
    (Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)​
    + Nổi bật giữa khung cảnh mùa đông là hình ảnh “đèo cao nắng ánh, dao gài thắt lưng”. Hình ảnh thắt lưng là hình ảnh hoán dụ nghệ thuật gợi lên sự tự tin của người dân lao động Việt Bắc giữa núi rừng quê hương. Thế nhưng cái hay của câu thơ lại đọng lại trong hai từ “nắng ánh” – những tia nắng như đang ngời lên, đang lung linh tỏa sáng cả không gian khi nó chiếu vào lưỡi dao trần sáng quắc trên lưng người đi lên nương. Thật khó xác định là cảnh đẹp hơn nhờ người hay là người đang đẹp hơn trong cảnh bởi ở đây cảnh và người như đã hòa vào nhau, tôn nhau lên.
    + Xuân đến, cả núi rừng VB bừng lên trong màu sắc trắng thanh khiết, dịu dàng của nhưng cánh rừng mơ “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”. Không cần dùng sắc mai vàng rực rỡ hay màu hồng thắm tươi mới gọi là xuân bởi lẽ mùa xuân VB đã đi vào niềm thương, nỗi nhớ đặc trưng, riêng biệt của mình:
    “Ôi sáng xuân nay xuân 41
    Trắng rừng biên giới nở hoa mơ. ”​
    Câu thơ “ngày... rừng” với cách phối âm vô cùng nhẹ nhàng đã gợi lên cả không gian trong lành, mát dịu của mùa xuân nơi biên cương nơi có những rừng mơ đang bung nở những cánh hoa trắng muốt. Giữa không gian ấy thấp thoáng hiện lên hình bóng của những người dân ở một làng nghề làm nón đang lặng lẽ “chuốt từng sợi giang”. Một từ “chuốt” thôi cũng đã gợi lên sự chăm chỉ, cần mẫn, khéo léo của những người dân lau động Việt Bắc – những người đang âm thầm đóng góp chút công sức nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến dân tộc.
    - Nhớ mùa hè Việt Bắc : Nhớ mùa hè Việt Bắc với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, nhớ màu vàng của rừng phách , nhớ cô thiếu nữ đi hái măng một mình,...
    “Ve kêu rừng phách đổ vàng
    Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
    + Một chữ “đổ” tài tình, tiếng ve kêu như trút xuống, “đổ” xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng thiên nhiên Việt Bắc ngày hè thật tươi đẹp, sinh động .
    + Nhớ con người Việt Bắc, nhớ cô gái đi hái măng một mình “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Câu thơ độc đáo, giàu vần điệu, thanh điệu, giàu chất nhạc, chất thơ tạo một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc và âm thanh. Cô gái đi hái măng một mình nhưng vẫn không lẻ loi bởi cô gái ấy đang lao động giữa khúc nhạc rừng, hái măng để góp phần nuôi quân phục vụ kháng chiến. Hình ảnh cô gái hái mămg gợi nét đẹp trẻ trung, yêu đời và hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến của con người Việt Bắc.
    - Xa Việt Bắc vào mùa thu trước mắt tác giả hiện lên một khung cảnh không gian thanh bình của quê hương khi chiến tranh kết thúc thắng lợi:
    Rừng thu răng rọi hòa bình
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
    .”
    Nỗi nhớ của VB giờ đây không còn hướng vào một đối tượng cụ thể nữa mà là “nhớ ai”, hình như nỗi nhớ ấy đã bao trùm lên tất cả. Không nhớ, không thương sao được khi những con người ấy sống “ân tình thủy chung” -> là nét đẹp tâm hồn người dân Việt Bắc.
    =>“Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” khép lại đoạn thơ có lẽ chính là sự hòa điệu tâm hồn của cả người đi lẫn kẻ ở.
    Trăng Việt Bắc trong thơ Bác Hồ là “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Trăng Việt Bắc trong thơ Tố Hữu là “trăng rọi hòa bình”. Người Cách mạng về xuôi nhớ trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng rọi qua tán lá rừng xanh, trăng dịu mát nên thơ, trữ tình ,... khiến lòng người ngây ngất.
    4. Nhớ một thời kháng chiến gian khổ, hào hùng:
    - Với sáu câu thơ “Nhớ khi ... một lòng”: nhân hóa -> gợi tinh thần đoàn kết đánh giặc.
    - 12 câu tiếp: TG tái hiện lại bức tranh sôi nổi, hào hùng của dân tộc.
    + 4 câu đầu: Hình ảnh đoàn quân ra trận
    ->Với sức mạnh vật chất, tinh thần, con đường ra trận là con đường biểu dương lực lượng
    “Ánh sao... nan” là hình ảnh thơ lãng mạn, đó là sao trên trời ->nâng cao vẻ đẹp tầm vóc, vẻ đẹp tâm hồn con người
    + 4 câu tiếp: “bước chân nát đá”: nói quá – diễn tả sức mạnh, ý chí, tinh thần trong kháng chiến, chiến đấu; “nghìn đêm” >< “ngày mai” ->nổi bật lên niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai cách mạng.
    + 4 câu còn lại: NT liệt kê + Đtừ chéo (vui về, vui lên) gợi lên niềm vui chiến thắng của toàn dân tộc ->âm điệu thơ dồn dập hơn
    => Đoạn thơ giàu chất sử thi và cảm hứng lãng mạn: Thể hiện niềm tự hào của tác giả về sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc.
     
  4. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế

    ĐỀ SỐ 1: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Việt Bắc của Tố Hữu
    "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
    …Sông Mã gầm lên khúc độc hành
    ".
    (“Tây Tiến”- Quang Dũng, Ngữ văn Nâng cao 12
    Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr 69)​

    "Những đường Việt Bắc của ta
    ...Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
    "
    (“Việt Bắc”- Tố Hữu, Ngữ văn Nâng cao 12, Tập một,
    NXB Giáo dục, 2008, tr 85)​

    DÀN Ý CHI TIẾT
    1. Mở bài
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm và hai đoạn trích

    2. Thân bài
    a)
    Đoạn thơ trong bài Tây Tiến
    - Vị trí của đoạn thơ: là đoạn (khổ) ba của bài thơ. Sau khi khắc hoạ hình tuợng người lính trên con đường hành quân, nhà thơ đã khắc họa tượng đài tập thể của những người lính Tây Tiến.
    - Đặc điểm của hình tượng:
    + Hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên trong đoạn thơ mang vẻ đẹp vừa hào hùng vừa hào hoa:
    Vẻ đẹp hào hùng chủ yếu thể hiện ở các chi tiết tả thực: “không mọc tóc”,“ quân xanh màu lá”, mắt trừng” và chi tiết “dữ oai hùm”.
    Vẻ đẹp lãng mạn hào hoa chủ yếu thể hiện trong nỗi nhớ “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
    + Hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ còn mang vẻ đẹp đậm chất bi tráng qua các chi tiết nói về cái chết, sự hi sinh (Các từ Hán Việt cổ kính trang trọng: biên cương, viễn xứ, cách nói mang phong cách khẩu ngữ thể hiện lí tưởng tự nguyện xả thân của người lính “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” , từ ngữ Hán Việt áo bào, khúc độc hành, cách nói tránh “về đất” và hình ảnh “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”)
    +
    Cảm xúc: tiếc thương, đau đớn nhưng vẫn tràn đầy niềm tự hào.
    - Nghệ thuật biểu hiện: sắc thái cổ điển với thể hành, hình ảnh ước lệ, từ Hán Việt, màu sắc lãng mạn và bi tráng.

    b) Đoạn thơ trong bài Việt Bắc
    - Vị trí của đoạn: là lời người ra đi đáp lại người ở lại, thể hiện nỗi nhớ Việt bắc trong những ngày chiến dịch.
    - Đặc điểm của hình tượng:
    + Không gian: xuất hiện những con đường Việt Bắc. Thời gian: ban đêm cho thấy sự gian khổ, và sự bất thường của chiến tranh.
    + Hình tượng tập thể của những người lính: đông đảo và có sức mạnh lay trời chuyển đất, ánh sáng lí tưởng đẹp đẽ, tâm hồn lãng mạn. Chú ý các hình ảnh: “rầm rập như là đất rung”, “điệp điệp trùng trùng’’, “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”.
    + Hình tượng tập thể của đoàn dân công phục vụ cho chiến dịch được miêu tả trong ánh sáng của ngày hội kháng chiến và ánh sáng của tương lai, ở họ có trái tim cách mạng rực lửa và sức mạnh vượt qua mọi khó khăn. Chú ý các hình ảnh: “đỏ đuốc từng đoàn”, “bước chân nát đá”, “đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
    - Cảm xúc: tự hào tin tưởng, lạc quan: “Những đường Việt Bắc của ta”; “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
    - Nghệ thuật biểu hiện: những yếu tố thể hiện tính dân tộc trong thơ (thể thơ lục bát, vận dụng thành ngữ, từ láy, tiểu đối, hình ảnh ước lệ). Đổi mới thơ lục bát bằng cảm hứng anh hùng ca và giọng điệu hào hùng. Màu sắc sử thi: xây dựng hình tượng tập thể và bút pháp phóng đại.

    c) Những điểm tương đồng và khác biệt của hình tượng tập thể anh hùng trong hai đoạn thơ.
    Tương đồng:
    - Đều khắc họa hình tượng tập thể với phẩm chất anh hùng, dũng cảm, trái tim yêu nước nồng nàn và sẵn sàng hi sinh cho lý tưởng, tâm hồn lãng mạn. Khẳng định lẽ sống cao đẹp sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước.
    - Cảm xúc tự hào và ngợi ca.
    - Bút pháp lãng mạn và âm hưởng sử thi.
    Khác biệt:
    - Tập thể anh hùng trong bài thơ Tây Tiến hội tụ sức mạnh của tuổi trẻ Việt Nam và mang nét rất riêng của đoàn binh Tây Tiến, mang vẻ đẹp của thanh niên trí thức Hà Nội được khắc hoạ trong mất mát hi sinh nhưng vẫn đẹp, âm hưởng bài thơ là âm hưởng bi tráng.
    - Tập thể anh hùng trong đoạn thơ của bài Việt Bắc hội tụ sức mạnh của cả dân tộc, sức mạnh của quá khứ, được khắc họa trong không khí ra trận, âm hưởng anh hùng ca.

    3. Kết bài
    - Xây dựng hình tượng tập thể anh hùng, hai đoạn thơ góp phần thể hiện đặc điểm của thơ ca cách mạng là khuynh hướng sử thi, vẻ đẹp lãng mạn. Quan niệm nghệ thuật về con người: đề cao con người của ý thức tập thể, đề cao cái đẹp của sự gắn kết trong một khối đời.
    - Thể hiện lòng yêu nước, đề cao lí tưởng sống cao đẹp của con người
    - Góp phần khẳng định giá trị của hai bài thơ: bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến.
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->