Về những phong tục tập quán ngày Tết, ở quê thường thể hiện rõ nhất. Trước Tết, nhà nào cũng sửa sang, quét dọn sạch đẹp để đón năm mới. Chiều 30 Tết, dù lạnh đến mấy mọi người cũng phải tắm gội sạch sẽ. Và trong ba ngày Tết ở quê, mọi nhà đều mở cửa suốt ngày cho khí xuân ùa vào, tất cả các ngóc ngách từ giường tủ, bàn ghế đều sáng bừng.
Đầu năm mới, dân quê luôn có phong tục treo tranh Tết với những hình ảnh sinh động, vừa để trang trí trong ba ngày xuân vừa mong ước quanh năm an lành, phát đạt. Mỗi bức tranh gửi gắm rất nhiều ước mơ cao đẹp. Thường thấy là tranh Mẹ con đàn gà lợn, quả lựu, bông sen thể hiện niềm vui đông con nhiều cháu, sự đầm ấm, sum vầy; Chăn trâu thả diều thổi sáo lại nói về niềm vui của tuổi thơ ngây, hồn nhiên; Hứng dừa ca ngợi tình yêu, sự cho nhận vô tư và trẻ trung; Đám cưới chuột miêu tả ngày vinh quy tưng bừng; Thầy đồ cóc phản ánh truyền thống hiếu học; Cá hóa rồng, quan trạng về làng, cuốn thư ngụ ý thăng tiến, đỗ đạt; Gà trống cho năm đức tính quý: văn, vũ, nhân, dũng, tín; Con ngựa, con hổ cho phẩm chất mạnh mẽ, can đảm, thông minh; Quả đào, con hạc, bầy hươu đem lại sự sống lâu.
Rồi những tranh múa rồng, đấu vật, đánh đu, thả diều, bơi chải, bịt mắt bắt dê,… thể hiện vẻ thanh bình, trữ tình, trù phú của làng quê. Người dân cũng thích treo những từ ngữ, chữ viết ghi trên giấy đỏ có ý nghĩa an lành. Chẳng hạn năm chữ ngũ phúc lâm môn: Phúc Lộc Thọ Khang Ninh hoặc Phúc Lộc Thọ Hỷ Tài… Chữ Phúc ngụ ý cho gia đình nhiều con cháu, hạnh phúc; Lộc là danh chức, quyền tước; Thọ: sống lâu; Khang: sức khỏe; Hỷ: niềm vui; Ninh: bình an và Tài: tiền bạc. Ngoài ra là những chữ thể hiện cốt cách nam nhi như Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín và nữ nhi Công Dung Ngôn Hạnh… Và những lời hay ý đẹp, những câu đối cũng được trưng dụng trong những ngày Tết, cho thấy rõ lối sống văn hóa, bác học.
Nhiều nhà còn trưng bày tượng và thờ cúng Thổ Địa, thần Tài - hai vị thần bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn và tiền bạc, hay ba vị thần cai quản số mệnh con người - Phúc Lộc Thọ. Thường thì những vị này đều được đặt ở trên cao, sâu trong nhà như để gìn giữ mãi niềm vui, hạnh phúc, bổng lộc, danh vọng và tuổi thọ.
Từ ngày 23 tháng Chạp trở đi, khắp các vùng quê nơi nào cũng sôi động những phiên chợ Tết. Chợ quê ngày thường khá vắng, buôn bán những đồ lặt vặt nhưng giờ đây bỗng nhiên náo nhiệt, mọi ngóc ngách đều trưng bày các loại hàng hóa, thực phẩm…. Vì sức cuốn hút của những sản phẩm đa dạng, người dân tứ xứ đều đổ về hội họp. Người mua gạo, kẻ mua mắm muối, tiêu đường, thịt cá, hàng khô hoặc dao kéo, bát đĩa, xoong nồi cùng nhiều thứ thiết yếu cho ba ngày Tết. Trẻ con cũng được ông bà, cha mẹ dắt đi chợ, cho ăn món ngon, mua áo đẹp. Ai nấy đều cố gắng sắm sửa với niềm tin đầu xuân trong nhà có mọi thứ thì cả năm sẽ no ấm, sung túc.
Niềm mong ước ấy thể hiện rất rõ trong tục “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Đầu năm mua muối để cuộc sống thêm đậm đà và cuối năm mua vôi để ông bình vôi, vị thần giữ của luôn khỏe mạnh. Với ý nghĩa tương tự, mong ước cho của cải nhiều như nước, cuối năm mọi nhà tự gánh nước hoặc thuê gánh nước đổ đầy các chum vại. Nhiều ao hồ, giếng nước trong làng ngày thường đã chộn rộn, áp tết càng tíu tít người dân gánh gồng, tắm gột, chuyện trò.
Cũng với niềm tin trong trời đất có linh khí, trên cao là thần tiên dưới thấp là ma quỷ chi phối dân gian, vào thời điểm cuối đông đầu xuân khi sắp bước sang năm mới, người dân quê thường cúng tế các vị thần như cúng thần bếp, thần lúa, thần nước, gia súc, vật dụng - những nhu yếu gần gũi thường nhật để cầu mong người an vật thịnh, gia cảnh khá giả, thuận đường vợ con, công việc.
Đặc biệt, ở quê, người dân rất coi trọng việc thờ cúng ông Táo hay thần bếp, vị thần trông coi nhà cửa, bếp núc. Thông thường, cứ đến ngày ông Táo về chầu trời tức ngày 23 tháng Chạp, mọi người lại viết sớ Táo quân, làm bữa cơm tiễn đưa. Trong đồ lễ, bao giờ cũng có một con cá chép bơi lội để ông Táo cưỡi lên Thiên đình. Nhiều nhà xem từ ngày ông Táo về trời đến khi trở lại là ngày nghỉ của gia tộc và Tết của cộng đồng.
Người quê thường đón Tết từ ngày 23 tháng Chạp đến mồng bảy tháng giêng âm lịch, mà trọng điểm là mồng một, mồng hai, mồng ba, được coi là ba ngày vui nhất đầu năm mới. Tuy vắng ông Táo song gian bếp quê luôn đỏ lửa, một phần bởi dân quê không mấy dụi tắt bếp và cũng để tạo không khí xuân ấm cúng.
Bên cạnh đó, để tri ân, tưởng nhớ tổ tiên, từ ngày 23 đến 30 tháng Chạp, người quê đều đi thăm mộ ông bà, cha mẹ, cung kính mời các vị tổ tiên về ăn tết.
Theo quan niệm dân gian, cuối năm cũng là thời điểm ma quỷ, cô hồn lai vãng quấy nhiễu, bởi vậy, người dân thường dựng một cây nêu bằng tre cao vút treo cờ ngũ sắc hoặc một mảnh vải vàng là tượng trưng của áo cà sa nhà Phật, cùng những chiếc khánh, chuông, nỏ, lá dứa nhằm xua đuổi ma tà. Hiện nay, số người trồng cây nêu tại nhà ít dần, và họ trồng chung một cây nêu cho cả làng tại sân đình hay chùa.
Cũng là việc thờ cúng, mâm ngũ quả không thể thiếu trên bàn thờ gia tiên, với năm thứ quả tượng trưng cho ngũ hành bát quái, sự đủ đầy, rực rỡ và thơm tho. Tùy điều kiện mâm quả có chuối, bưởi, cam, quýt, hồng, dưa hấu, na, táo, dừa... nhưng đều là quả tươi ngon, còn cuống, lá và tỏa hương. Mâm quả luôn hội tụ năm màu sắc là xanh, hồng, đỏ, tím, vàng tạo cho gian thờ vẻ ấm áp, tươi vui. Màu xanh và hồng được tin sẽ đem tới sinh lực, sự trẻ trung, khỏe khoắn cho gia chủ; màu đỏ và vàng cho phú quý, tiền tài và màu nâu, tím cho cuộc sống an nhàn, tĩnh tại cùng những đức tính trung thành, giản dị, chịu thương chịu khó.
Còn đối với mâm cỗ giao thừa, lúc nào cũng phải có một con gà trống mỏ ngậm bông hồng đỏ hay quả ớt đỏ tươi đặt cạnh mấy cặp bánh chưng, một đĩa xôi gấc, một chiếc chân giò, rồi oản quả, cau trầu, mứt, kẹo, rượu, chè, thuốc, gạo, muối…, lá sớ, vàng mã và một bộ mũ áo cho đại vương hành khiển - vị thiên tướng được trời cử xuống giám sát dân gian trong năm mới.
Không như ở thành thị, ở quê vào dịp Tết phần lớn mọi nhà đều tự nấu nướng chế biến các món ăn, điển hình là việc gói bánh chưng. Ngồi canh nồi bánh bên bếp lửa đêm xuân đã là một nét sinh hoạt văn hóa lâu đời cho thấy tính đoàn kết, hòa thuận, chung vui của người dân. Ngoài bánh chưng, còn có bánh dày, bánh giò, bánh bò,… Những thứ bánh này đều được dâng lên tổ tiên, bởi đây là sản vật có ý nghĩa linh thiêng nhất theo truyền thống cúng trời đất. Bên cạnh đó, người quê cũng tự làm các loại mứt, kẹo, ô mai...
Ở quê, bữa cơm tất niên rất quan trọng. Cả năm dù đi đâu xa, song đến Tết ai cũng đều cố gắng về với gia đình, để quây quần bên mâm cơm tất niên, đón chờ giờ khắc giao thừa. Đến khi đồng hồ gõ đủ 12 tiếng, mọi nhà đồng loạt thắp hương để cầu mong một năm mới bình an, may mắn và thịnh vượng.
Vào thời khắc này, nhằm đem dòng không khí xuân và cát vận vào trong nhà, người quê có tục xông đất. Người ta mời những người tốt đến thăm gia đình đầu năm. Việc mời này rất nghiêm ngặt, phải kiêng những người có bản mệnh xung khắc với gia đình họ. Nếu mời người trẻ thì người này cần còn đủ cả vợ chồng, con cái, có quý tử khôi ngô nhanh nhẹn, gia cảnh khá giả, yên lành. Nếu là người có tuổi thì tính nết điềm đạm, hòa nhã, đức độ…. Nếu không vừa ý ai, nhiều người sẽ tự xông lấy hoặc cho đứa con ngoan, giỏi, xinh xắn nhất đi ra ngoài một vòng rồi trở vào nhà. Nhân việc xông nhà, trai gái làng thường đi chơi đêm xuân, hái lộc cho khí huyết giao hòa với hơi sương phe phất đọng trên da thịt, cảm thấy tươi trẻ, yêu đời và chính họ sẽ đem khí xuân linh tụ về trong gia đình.
Vì ý nghĩ những gì xảy ra trong ngày Tết sẽ xảy ra cả năm nên từ giờ phút giao thừa, ai nấy đều kiêng nói nặng lời; kiêng nhăn nhó, phụng phịu; kiêng đánh chửi, đánh vỡ bát đĩa, kiêng va vấp; kiêng quét nhà và đổ rác; kiêng mặc áo trắng, áo ngắn quần cộc; kiêng ăn thịt vịt và các loại côn trùng…
Dân gian thường có câu “mồng một tết cha, mồng hai tết chú, mồng ba tết thầy”, bởi vây, sáng mồng một, sau bữa cơm đầu xuân, từ người già tới trẻ nhỏ đều ăn mặc sạch đẹp, diện đồ mới để đi chúc tết gia đình, họ hàng thân thích hay đi lễ chùa cầu may. Việc xuất hành đầu năm này cũng được cân nhắc kỹ lưỡng. Bản thân mỗi người thường tự chọn cho mình những thời khắc thích hợp, xem đó là giờ phút may mắn cho việc đi lại của cả năm. Đối với người có nghiệp văn chương thì mùng một cũng thường được chọn để khai bút.
Ngoài chúc Tết người thân, mọi người còn chúc Tết bà con láng giềng. Người ta chúc nhau những câu nói hết sức ngọt ngào, ý nghĩa. Với trẻ em ngoài lời chúc ăn nhanh, chóng lớn, ngoan ngoãn, học giỏi thì người lớn còn cho trẻ một chút tiền lì xì với hy vọng điều đó sẽ mang lại may mắn.
Vào dịp Tết, ở quê diễn ra rất nhiều lễ hội và trò chơi. Tại đây có sự góp mặt của đông đủ trẻ già lớn bé. Trong khi các cụ ông thích ngồi chơi bài đầu xuân, đánh cờ người, cờ thế thì thanh niên tham gia đấu vật, chọi gà, leo cột mỡ, kéo co, pháo đất, bơi chải, thanh nữ thi thổi cơm, thêu thùa, đan lát, trẻ con xem đánh đáo, đập niêu, bập bênh…
Tại những nơi trưng bày ẩm thực, các bà ngồi bổ cau, tiêm trầu, các ông thưởng trà xem hoa nở, thanh niên uống rượu đào. Ở một số làng văn nghệ có truyền thống ra đình hát, đầu tiên hát mừng Đảng, mừng xuân, sau đó hát chuyện làng, chuyện nhà và đôi lứa. Khi biểu diễn, đều mặc trang phục cổ truyền: người già diện áo nâu, áo cánh cổ tròn, thanh niên mặc áo the, đóng khăn xếp, nữ giới vận áo tứ thân, che nón quai thao.
Coi trọng mùa màng nên từ mồng hai trở đi, nhiều nông dân đã có thói quen ra thăm đồng lúa và những ruộng rau đang lên xanh. Đến mồng bốn, mọi người tụ họp tại đình dâng hương cầu mùa và tưởng nhớ công ơn của các vị tiền bối dựng làng hay khởi nghề. Mọi nhà cúng tế liên miên cho đến tận mồng bảy Tết.