văn 11 hay vô đối:'' nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng qua chương" hạnh phúc của một tang gia

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi h1iiang1ii, 21 Tháng một 2009.

Lượt xem: 6,924

  1. h1iiang1ii

    h1iiang1ii Guest

    [TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn học. Click ngay để nhận!


    Bạn đang TÌM HIỂU về nội dung bên dưới? NẾU CHƯA HIỂU RÕ hãy ĐĂNG NHẬP NGAY để được HỖ TRỢ TỐT NHẤT. Hoàn toàn miễn phí!

    ai co long thi giup minh nhe day la bai văn tết của minh dó




    ANH YÊU EM KHI NÀO ANH CÒN SỐNG Ở TRÊN ĐỜI
     
  2. Bạn chú ý viết có dấu nha bn

    Cho bn cái dàn ý nè:
    I.Mở bài
    Hạnh phúc của một tang gia là tựa đề chương XV của tiểu thuyết Số đỏ. Ở chương này, Vũ Trọng Phụng miêu tả đám tang của cụ cố tổ, qua đó dựng lên một màn hài kịch với mâu thuẫn trào phúng, chân dung biếm hoạ có giá trị tố cáo sâu sắc. Làm nên giá trị của chương XV chính là nghệ thuật trào phúng độc đáo của Vũ Trọng Phụng

    II. Phân tích

    1. Thuật ngữ nghệ thuật trào phúng

    Trào phúng là nghệ thuật gây ra tiếng cười mang ý nghĩa phê phán xã hội. Để gây được tiếng cười trào phúng, điều quan trọng nhất là tạo được tình huống mâu thuẫn và tổ chức truyện làm nổi bật mâu thuẫn.

    2. Mâu thuẫn trào phúng trong đoạn trích

    - Cuối chương XIV, theo lời nhờ vả của ông Phán, cháu rể cụ cố tổ, Xuân tóc đỏ đã chào ông Phán mọc sừng ! Lời chào đó đã khiến cụ cố tổ tức uất ức vì có cô cháu gái hư hỏng và lên cơn bệnh đến nỗi sắp chết. Xuân sợ hãi bỏ chạy như một thằng ăn cắp. Nhưng mọi người lại tưởng hắn là thầy thuốc chính hiệu vì giận nên đã quên hết lương tâm nghề nghiệp. Trong khi Xuân sợ hãi trốn tránh cả gia đình cụ cố tổ lại mang ơn Xuân vì làm cho cụ cố tổ chết. Cái chết của cụ đáp ứng sự chờ mong của mọi thành viên trong gia đình, vì từ đây họ có thể chia nhau cái gia tài kếch xù. Như vậy, một kẻ có tội như Xuân ngờ đâu lại trở thành có đại công với gia đình. Xuân càng trốn chạy sợ tội thì danh dự lại càng to thêm. Thật là đáng nực cười, đúng như tác giả viết, đó là một bài học cho những kẻ nào dám bảo một người như Xuân là con nhà hạ lưu, ma cà bông, vô học, vô lại, nhặt ban quần, v.v…
    - Mâu thuẫn trào phúng còn thể hiện ngay trong tựa đề của chương này Hạnh phúc của một tang gia. Tang gia gắn với đau khổ, mất mát nhưng ở đây lại diễn ra nghịch cảnh, mọi người trong đều hạnh phúc, mà niềm hạnh phúc ấy lại diễn ra muôn màu muôn vẻ :

    + Cụ cố Hồng vốn hiếu danh, thích được già để mọi người gọi là cố, sung sướng tưởng tượng ra cảnh được mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ, vừa ho khạc, vừa khóc mếu, để được khen : Úi kìa, con giai nhơn đã già thế kia à !

    + Vợ chồng Văn Minh và ông Typn vui mừng vì đây là dịp tốt để lăng xê các mốt quần áo tang và tờ chúc thư đã đi vào thực hành

    + Ông Phán nhận thấy cái sừng có giá trị vì ông sẽ được thêm vài nghìn đồng trong phần chia gia tài.

    + Cô Tuyết sung sướng có dịp mặc bộ váy ngây thơ, để chứng tỏ mình còn trong trắng và thể hiện khuôn mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt

    + Cậu Tú tân, nhân dịp này chứng minh hiệu quả của máy ảnh.

    - Cái chết của cụ cố tổ không chỉ làm cho người trong gia đình cụ cố Hồng vui sướng mà còn mang hạnh phúc đến cho những người ngoài gia đình. Cảnh sát bỗng có việc làm và có tiền. Bạn bè của cụ cố có dịp khoe các huy chương và đủ kiểu râu ria. Gia đình, phố phường tưng bừng huyên náo như ngày hội. Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thoả thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…

    - Với những mâu thuẫn trên, đặc biệt là việc miêu tả tỉ mỉ niềm hạnh phúc của mọi người trước cái chết của cụ cố tổ, Vũ Trọng Phụng đã lột bộ mặt thật của xã hội lố lăng, chuộng hình thức, không chút tình người, vạch chân tướng của những hạng người mang danh thượng lưu trí thức, văn minh nhưng thực chất là cặn bã đạo đức giả. Đó là chưa kể đến việc lợi dụng đám tang để giải quyết việc hôn nhân cho cô Tuyết hòng xoa đi tiếng xấu hư hỏng một nửa của cô.

    3. Chi tiết trào phúng

    - Để tô đậm ý nghĩa trào phúng, nhà văn đã xây dựng và chọn lọc được nhiều chi tiết ấn tượng :

    + Đó là cảnh đám ma được tổ chức rất đông rất to nhưng tất cả mọi người đi đưa ma không hề có ai quan tâm đến người chết. Người thì trò chuyện về vợ con, nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới mua, người thì tận dụng cơ hội đưa ma để chọc ghẹo, cười tình hoặc bình phẩm, chê bai nhau. Nhà văn đã phải đau lòng mà bình luận : Đám ma to tát có thể làm cho người chết trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu. Miêu tả hình thức đám tang với mọi nghi thức long trọng, tác giả làm nổi bật lên cái cần có mà lại không có của đám tang này là tình người.

    + Phải trẻ la ó, cậu Tú tân điên người, bà Văn Minh sốt ruột, ông Typn bực mình… Mọi người điên lên. Hoá ra người ta sốt ruột không vì người chết mà vì cái xác chết ấy sao không mau chóng được chôn để họ được hưởng Hạnh phúc của một tang gia

    + Mỉa mai thay là cảnh cậu Tú tân bắt mọi người phải đóng kịch để chụp hình : người phải chống gậy, gục đầu, người phải lau nước mắt… Nếu coi đoạn trích là một tấn bi hài kịch thì mỗi người là một vai hề trình độ.

    + Cuối cùng phải nói đến cảnh ông Phán oặt người đi, khóc thảm thiết trên tay Xuân. Mỉa mai thay, đúng lúc xót thương lên đến cao đọ cũng là lúc ông Phán tranh thủ thanh toán sòng phẳng số tiền thuê Xuân bằng cách dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư…

    4. Ngôn ngữ trào phúng, bút pháp phóng đại :

    Góp phần cho tiếng cười đầy mỉa mai còn phải kể đến ngôn ngữ của tác phẩm. Khi kể chuyện, bao giờ Vũ Trọng Phụng cũng có sự kết hợp những ngôn từ trái ngược nhau trong một câu văn để làm bật lên sự vô nghĩa lý của cuộc đời. Chẳng hạn, tác giả gọi nhà đám là bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ…, hoặc tác giả miêu tả : Thật là một đám to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!

    III. Kết luận

    Đám tang cụ cố tổ đã được miêu tả bằng một nghệ thuật trào phúng điêu luyện khiến cho người ta phải mỉm cười nhưng là nụ cười xót xa cho sự lừa dôi. Đoạn trích đã vạch trần bộ mặt đạo đức giả của giới thượng lưu đương thời
     
  3. Đoạn trích có hai phần rõ rệt : phần đầu là cảnh bàn soạn chuẩn bị cho đám tang, phần hai là cảnh đám tang. Đặc sắc nhất là phần hai. Ở đây nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ rất sắc nét. Một tác phẩm trào phúng nếu chỉ gây cười theo lối pha trò ở cấp độ chi tiết không thôi giỏi lắm cũng chỉ như “cù” cho người ta một cách dễ dãi nông cạn mà thôi. Tài năng trào phúng phải thể hiện ở các cấp chi tiết cho đến toàn cục. Muốn thế, người viết phải tạo được mâu thuẫn trào phúng bao trùm, trên cơ sở đó lại phải tạo ra được những chân dung trào phúng cùng những pha trào phúng thích đáng.

    1.Mẫu thuẫn trào phúng ở đây nằm ngay trong nhan đề của chương truyện : Hạnh phúc của một tang gia. Thông thường tang gia phải là bất hạnh, bao trùm lên một gia đình có người chết, phải là cảnh buồn đau nhưng ở đây, cái chết của cụ tổ lại đem đến cho toàn gia một niềm hạnh phúc hoan hỉ. Điều này thật trái khoáy ngược đời ! Cả cái đại gia đình ấy, ai cũng nóng lòng sốt ruột mong đợi cái chết ấy. Và người ta chỉ chờ đợi phát tang để mà được thểhiện. Người ta tíu tít ffi đi đưa cáo phó, thuê xe tang, tung tăng tung tẩy đặt thứ này, sắm thứ khác....Mặt khác đây là một đám tang thật to tát, thật gương mẫu “to nhất tất cả”. Đám có mấy trăm người cả tai to mặt lớn cho đến nam thanh nữ tú, có lợn quay đi lọng vàng, kiệu bát cống, với hàng trăm vòng hoa, rồi cờ, trướng, câu đối. Riêng âm nạhc cũng đã đủ kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu, từ bát âm cho đến bú dích, lốc bốc xoảng...Tất cả cứ tưng bừng náo nhiệt. Đám đi đến đâu cũng nở mày nở mặt ! Sự to tát nếu không làm người chết nhổm lên thì cũng phải gật gù đầu. Nhưng sự nực cười là ở chỗ, cái đám tang vào loại to nhất Hà thành, có đầy đủ các thức chỉ thiếu duy nhất một thứ : ấy là lòng xót thương dành cho người chết. Không có một ai thương xót cho người trong quan tài. Mà thiếu điều này thì tất cả trở thành vô nghĩa, thành lừa bịp ,giả dối. Mâu thuẫn trào phúng này đã giúp Vũ Trọng Phụng vạch trần, lật tẩy được bộ mặt giả dối, hào nhoáng, bên ngoài thì phô trương ồn ào, ầm ĩ mà bên trong thì thối nát.

    2. Cùng với mâu thuẫn trào phúng, Vũ Trọng Phụng cũng dựng lên nhiều chân dung trào phúng sắc sảo. Có thể thấy các nhân vật và những nhóm nhân vật, người ngoài thì thấy cảnh sát Min Đơ và Min Toa mừng ra mặt, vì lâu nay thất nghiệp bỗng dưng có vịêc làm, đến đám tang để giữ trật tự một cách mẫn cán. Sư cụ Tăng Phú thì đến đây để có dịp phô trương thanh thế của báo Gõ mõ vì sự nghiệp “chấn hưng Phật Giáo”...Người trong nhà thì vợ chồng ông Văn Minh phấn khởi vì có dịp lăng xe những mốt áo tang lố lăng. Cô Tuyết – cô cháu gái rượu của người chết – thì đợi ngày này để mặc bộ thơ ngây hở hang để muốn chứng minh cho thiên hạ rằng mình vẫn còn một nửa chữ trinh trên mặt mang một nỗi buồn lãng mạn rất đúng mốt. Cô cũng có chút buồn, nhưng không phải vì người chết mà vì chỉ nhìn mãi mà không thấy Xuân Tóc Đỏ - “bạn giai” của cô đâu cả vv.... Đám tai to,mặt lớn thì đến đám tang để trưng ra cacs huân chương lấp lánh, thôi thì đủ loại : Bắc đẩu bội tinh, Vạn Tượng bội tinh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh.... đồng thời để trình diễn râu ria, hoặc dài ngắn, hoặc đen hoặc hung hung hoặc lún phún hoặc rầm rậm....Họ có cảm động nhưng không phải vì tiếng kèn Xuân nữ ai oán mà vì làn da trắng trên ngực cô Tuyết thập thò sau làn áo mỏng. Đám nam thanh nữ tú thì đến đánh tay, đánh mắt chim chuột, đú đởn nhau. Ai cũng giữ bộ mặt nghiêm trang, nhưng kì thực họ nói toàn những chuyện đồi bại : “Con kia kháu thế ! Con này xinh hơn”. “Gớm cái gnực đầm quá đi mất”, “Chồng gầy thế, vợ béo thế thì đến mọc sừng mất”, “Thằng ấy bặc tình bỏ mẹ”, “Mỏ đồng hay mỏ chì” vv... Đám cứ đi, ai cũng nghiêm trang, nhưng kì thực là một sự trống rỗng đến kinh khủng. Đó chẳng qua là một sự đồi bại, núp dươi cái vẻ bề ngoài ồn ào, hợm hĩnh, là một thứ rỏm đời, thối nát mà thôi.

    3. Cuối cùng, còn phải kể đến những “pha” trào phúng, như chộp đwoj cái thần của từng đối tượng. Nào cậu Tú thì cầm máy ảnh, chỉ lo bắt bẻ mọi người phải khom lưng chống gậy cho đúng tư thế để cậu chụp cho nghệ thuật. Trong khi các bạn hữu của cậu thì rầm rộ nhảy lên các ngôi mả bên cạnh để chụp cho ảnh khỏi trùng nhau. Đắt giá nhất là “pha” ông Phán mọc sừng khóc. Ông lả người đi đến nỗi hàng phố phải nức nở khen người chết có được ông rể quý hoá. Nhưng kì thực, trong khi khóc rống lên những tiếng “Hứt ! Hứt ! Hứt !” chẳng mấy êm tai, ông ta đã bí mật dúi vào tay thằng Xuân Tóc đỏ năm đồng để trả công cho thằng này vì công bố vịêc mọc sừng của ông, nhờ đó mà cụ cố Tổ đã lăn ra chết...Nếu như dựng ra cảnh “đám cuới đi” có thể ví như dùng máy quay lia ống kính để bao quát toàn cảnh, thì việc dựng chân dung, chộp các pha trào phúng là ghé ống kính vào đặc tả, đã cho thấy cái thần thái mỗi nhân vật được hiện nguyên hình.

    Với nghệ thuật trào phúng già dặn, đặc sắc, Vũ Trọng Phụng đã phanh phui với tất cả bộ mặt ghê tởm của cái xã hội thượng lưu, lưu trưởng giả ở đô thị thời bấy giờ. Tất cả quả là một tấn trò hề, là một vở đại kịch , một xã hội “vô nghĩa lí” , “chó đểu” mà thôi.


    Đã copy thì copy cho chót luôn,bn tham khảo đi
     
  4. Từ lâu nhiều người đã kể Số đỏ của Vũ Trọng Phụng vào hàng những tác phẩm xuất sắc của thể loại tiểu thuyết trào phúng. Số đỏ như chính là hiện thân của nghệ thuật trào phúng trong văn xuôi Việt Nam. Với Số đỏ, người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê, thoải mái. Nhưng cũng với Số đỏ người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời, cái xã hội gì, cái lũ người gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân bạc ác đến thế. Đọc Số đỏ, người ta nghĩ: đây đúng là đất sở trường của Vũ Trọng Phụng, đây thật là ngón võ sở trường của Vũ Trọng Phụng. Trong tác phẩm này, ngón võ ấy được sử dụng một cách cực kỳ lợi hại trong một chương, chương XV, có nhan đề là Hạnh phúc của một tang gia. Ngón võ ấy là ngón gì? Ấy chính là nghệ thuật tạo mâu thuẫn. Thật ra thì không phải Vũ Trọng Phụng tạo ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn vốn nó tự có trong bản chất xã hội, và nhà văn Vũ, với cái nhìn sắc như dao của mình, với cái tài của một nhà trào phúng bẩm sinh, đã nhận ra nó, chỉ nó ra, nâng nó lên cho cả bàn dân thiên hạ nhìn thấy, để cười, để căm ghét và khinh bỉ nó. Cách đặt nhan đề chương sách của Vũ Trọng Phụng đã lạ lùng, đầy mâu thuẫn: Hạnh phúc của một tang gia. Tang gia mà cũng hạnh phúc à? Tang gia mà cũng có thể hạnh phúc được ư? Cái chết, cái chết của người thân gia đình có thể đem lại cho người ta hạnh phúc được sao? Nếu chỉ đọc nhan đề, người ta có thể nghĩ là nhà văn đã bịa ra, bịa ra một cách ác ý sự kết hợp của hai khái niệm hoàn toàn đối lập ấy. Nhưng không, đó không phải là ác ý của nhà văn, đó là sự thật của đời sống, sự thật của một xã hội mà nhà văn muốn mổ xẻ ra để mọi người nhìn thấy nó tận mặt. Mọi sự bắt đầu từ cái chết của một ông già. Ông già ấy là cha, là ông của một gia đình đông đảo và “đáng kính” của một xã hội “thượng lưu”. Cả gia đình ấy đã nhao lên, “nhao lên mỗi người một cách”. Nhưng nhao lên vì đau khổ, vì đau đớn, vì lo lắng… trước cái chết của người thân chăng? Không phải, chúng đã nhao lên vì … hạnh phúc! “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Câu văn tưởng chừng ngược đời kia của Vũ Trọng Phụng đã thâu tóm cả một thứ “thế thái nhân tình”. Nhận định ấy không hề là một sự bịa đặt cho vui của nhà văn. Sự thật rành rành rất cụ thểnày đây: Ông phán mọc sừng, sau cái chết của ông bố vợ, bỗng thấy cái “sự mọc sừng” của mình đột nhiên tăng giá lên thêm vài nghìn đồng. Cụ cố Hồng sung sướng “mơ màng đến cái lúc mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để được người ta ngợi khen “một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế…”. Còn ông Văn Minh, cháu đích tôn, nhà cải cách xã hội? Ông ta sung sướng tột đỉnh, bởi vì, với cái chết của ông nội, ông ta thấy rằng cái tờ di chúc đã được thực hiện, nghĩa là cái ao ước cho ông nội mình chết đi, để chia của, đã trở thành sự thật. Bà Văn Minh sung sướng theo đúng cách của một phụ nữ tân thời, bà ta nhận ra từ cái chết của ông nội chồng một dịp may hiếm có để có thể mặc “tang phục tân thời”, đồ xô gai tân thời, “dernìeres créations” của tiệm may Âu Hóa! Tâm địa cái lũ người kia tưởng đến thế đã là tởm. Nhưng chưa hết. Đến đây, Vũ Trọng Phụng còn đầy mâu thuẫn lên một tầng nữa. Bởi bọn con cháu bất hiếu bất mục nhất trần đời đó còn muốn tỏ ra mình là những kẻ có hiếu có thảo cũng nhất trần đời nữa kia. Thế là dưới ngòi bút của nhà văn trào phúng, sự bịp bợm cao nhất, đáng phỉ nhổ nhất cũng bộc lộ ra. Những kẻ mong cho ông già mau chết đã tổ chức một đám ma thật to để bày tỏ lòng hiếu thảo, nghĩa tiếc thương đối với người đã chết! Chính vì thế, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng đã tập trung sức mạnh, như có thần, trong phần thứ hai của chương sách, nghĩa là phần tả cảnh đám ma. Trước hết, nhà văn tả cô Tuyết, một cô gái hư hỏng như chỉ “hư hỏng một nửa”, một thứ thiếu nữ đang rất tiêu biểu trong xã hội “tân thời ngày ấy”. Tuyết mặc bộ tang phục “ngây thơ” nửa kín nửa hở, với nét mặt có “vẻ buồn lãng mạn” (vì nhớ nhân tình chứ không phải vì thương người chết) đã gây một hiệu quả lạ lùng: các vị tai to mặt lớn đi đưa đám chỉ nhìn vào vẻ khêu gợi của Tuyết để mà cảm động, cứ như thực sự cảm động trước nỗi buồn tang tóc vậy. Đám ma thật to, to đến nước “có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng”. Người ta đã lợi dụng đám ma đến mức cao nhất để khoe giàu khoe sang và khoe lòng hiếu thảo giả vờ của mình! Nếu như mong muốn của tất cả đám con cháu của người chết kia là, trong đám ma này, đưa sự giả dối, bịp bợm đồng thời cũng là sự tàn nhẫn, bất nhân, đểu giả của mình lên đến mức hoàn toàn, thì quả thật chúng đã đạt được một cách trọn vẹn, xuất sắc. Nhưng chưa hết đâu, dưới mắt Vũ Trọng Phụng, cái lũ người giả dối không chỉ bao gồm một nhóm nhỏ ấy đâu. Chúng đông đảo lắm. Chúng là toàn xã hội. Bắt đầu là đại diện bộ máy cảnh sát, nghĩa là đại diện của Nhà nước: thầy Min Đơ và thầy Min Toa. Tác giả đã nói đến vẻ mừng rỡ hí hửng của hai thầy khi được nhà chủ đám ma thuê làm người giữ trật tự. Lí do của sự mừng rỡ duy nhất chỉ là vì họ đang không có việc gì để làm, và đang “buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nơ”. Thứ đến là các vị tai to mặt lớn, lớp “tinh hoa” của giới thượng lưu xã hội, mặt mũi long trọng, ngực đeo đầy đủ thứ “bội tinh”. Trong đám ma này, sự cảm động của họ không phải vì tưởng nhớ đến người đã khuất, cũng không vì tiếng kèn đưa ma não ruột bi ai, mà chỉ vì… được ngắm không mất tiền làn da trắng thập thò trong làn áo mỏng của cô Tuyết. Sự xuất hiện của hai tên đại bịp trong dịp này lại khiến người ta “cảm động” đến cực điểm: Xuân Tóc Đỏ và sư cụ Tăng Phú. Vì sao? Vì với sáu chiếc xe kéo và những vòng hoa đồ sộ, hai kẻ này đã làm cho đám ma thêm long trọng, to tát. Đến bà cụ cố Hồng, có lẽ người lương thiện nhất trong cái gia đình vừa hư hỏng vừa đại bịp ấy, cũng cảm động đến hớt hãi lên. Những người đi đưa đám thật đông đảo. Bằng điệp khúc “Đám cứ đi…” được nhắc lại đến mấy lần, tác giả như muốn nói: đám ma thật là to, thật là đông, thiên hạ tha hồ màchiêm ngưỡng để thấy rõ sự to tát của nó. Nhưng cứ tìm thử xem trong đám người đông đảo ấy có ai là người đang thực sự “đi đưa đám”, nghĩa là thực sự có chút tiếc thương đối với người chết mà họ đang đưa tiễn? Không có ai cả. Tất cả mọi người đàn ông cũng như đàn bà, già cũng như trẻ, tuy đang giữ một vẻ nghiêm chỉnh, nhưng đều đang nói một điều gì đó, làm một điều gì đó, nghĩ một điều gì đó không dính dáng đến người chết và đám ma cả. Trai thanh gái lịch thì chim nhau, bình phẩm, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau… nhưng tất cả đều “bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma”. Thật là nhẫn tâm, thật là vô liêm sỉ. Ta sẽ nghĩ thế. Nhưng với Vũ Trọng Phụng, có nghe được những lời mà bọn họ nói với nhau mới thấy sự vô liêm sỉ ấy còn trơ tráo đến mức nào. Và nhà văn đã đưa ra một số lời ấy. “Đám cứ đi…” nghĩa là sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn kéo dài. Đến lúc đám không “cứ đi” nữa mà dừng lại để hạ huyệt. Vũ Trọng Phụng còn hiến cho người đọc hai chi tiết đặc sắc, đẩy cảnh đưa đám này lên đến đỉnh điểm. Chi tiết thứ nhất là cảnh cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm những động tác, giữ những tư thế đau buồn để cho cậu ta.. chụp ảnh. Chi tiết thứ hai là ông phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong gia đình này, đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta đã giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đồng vì đã có công gọi ông ta là “người chồng mọc sừng” (chính là cái công gián tiếp khiến cho ông già đã chết). Thật là những kịch sĩ thượng hạng của những tấn trò đời. Hai chi tiết ấy đóng lại một cách trọn vẹn và sắc sảo chương sách nói về sự giả dối của người đời. Những điều Vũ Trọng Phụng viết trong chương sách là chuyện thật ư? Lẽ nào… Những diều ấy toàn là hư cấu ư? Nhưng những điều ấy đều hợp lí lắm mà, và hình như đều có thật cả. Ngòi bút Vũ Trọng Phụng đúng là sắc như dao. Đằng sau những lời nói như đùa, sự thật của đời sống cứ hiện ra lồ lộ trên đó nổi lên hai điều lớn nhất: sự tàn nhẫn và sự dối
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY