[Văn 10] Nghị luận về hai bài văn chình lớp 10

  • Thread starter hoang_tu_thien_than198
  • Ngày gửi
  • Replies 3
  • Views 17,100

N

nghgh97

Đề 2: Phân tích hình tượng nhân vật Từ Hải trong bài Chí khí anh hùng


Cảm ơn. %%-
Tìm hiểu chung:

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]Cuộc đời kiều tưởng như bế tắc hoàn toàan khi lần thứ 2 rơi vào lầu xanh thì Từ Hải bỗng xuất hiện và đưa Kều thóat khỏi cảnh ô nhục. Hai người sống hạnh phúc “trai anh hùng, gái thuyền quyên-phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc, chàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm đã từ biệt Kiều ra đi. Đọan trích (từ câu 2213-2230) bao gồm ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ đối thọai cho thấy chí khí của Từ Hải.[/FONT][/COLOR]

Tìm hiểu văn bản:

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]So với những cuộc chia tay khác trong tác phẫm, ở cuộc chia tay này, giữa kiều và từ hải, ta không thấy những lời dặn dò, những băn khoăn lo lắng, những bịn rịn lưu luyến vốn là tâm trạng phổ quát của kẻ ở, người đi. Đoạn trích tập trung khắc họa từ hải ở vẻ đẹp của chí khí anh hùng. Chí là mục đích cao cả, khí là nội lực mạnh mẽ của quyết tâm, nghị lực bên trong. Có lẽ vì vậy mà dường như Từ xem việc lên đường lập nghiệp lớn là tất yếu, không nghĩ đến việc cần có một cuộc chia tay với Thúy Kiều. Chỉ đến khi Từ đã lên ngựa, Kiều bày tỏ ước nguyện một lòng xin đi cho vẹn chữ tong, Từ Hải mới có dịp bày tỏ suy nghĩ của mình.[/FONT][/COLOR]

Hình ảnh Từ Hải:

a. Con người có chí khí, khát vọng lớn lao:

• Thể hiện ở thời điểm ra đi lập nghiệp lớn:

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]“Nửa năm hương lửa đương nồng,…”[/FONT][/COLOR]
[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]Từ dứt áo ra đi khi tình “trai anh hùng-gái thuyền quyên” đang vào độ mặn nồng nhất. (So sánh với Kim Trọng, Thúc Sinh).[/FONT][/COLOR]

• Qua hành động và lời nói:

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]Hành động nhanh chóng, dứt khóat, mạnh mẽ, không chút phân vân do dự. Đang “hương lửa” mặn nồng, vậy mà “thoắt” cái là sự giục giã của “lòng bốn phương”. Và ngay lập tức Từ ở tư thế lên đường “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” và sau những lời bày tỏ suy nghĩ là “Quyết lời dứt áo ra đi”. Thẳng rong là đi liền một mạch, chỉ một hướng, không bị chi phối bởi điều gì, đã “quyết lời” là “dứt áo” ra đi không chút vướng bận.[/FONT][/COLOR]

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]• Lời nói: khi Kiều bày tỏ mong muốn được “xin theo” để trọn đạo vợ chồng, cùng chia sẻ với Từ, Từ trách “tâm phúc tương tri,… sao chưa thóat khỏi nữ nhi thường tình”. Trong lời trách còn bao hàm sự động viên, khích lệ Kiều hãy vựot lên sự thường tình của một nhi nữ để làm vợ một anh hung. Trong lời chàng còn là một ước hẹn chắc chắn, vẽ ra một viễn cảnh hào hung, vẻ vang, một sự nghiệp xứng đáng với một anh hung. Nhưng tiếng gọi của sự nghiệp, hoài bão ấy không phải chỉ là lẽ sống của Từ Hải, mà hơn nữa đó là khao khát múôn có một sự nghiệp rỡ rạng để đón Kiều “nghi gia” trong vẻ vang.[/FONT][/COLOR]

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]• Qua hình ảnh không gian: hình ảnh không gian mênh mông, khóang đạt: không igan của biể rộng, trời cao, của bốn phương lồng lộng, của bể Sở sông Ngô tung hòanh. Không gian ấy nâng tầm vóc người anh hung, chắp cánh cho những ước mơ, hòai bão phi thường. Hình ảnh “gió mây bằng…” càng khẳng định tầm vóc Từ Hải: chàng như con chim bằng bay cao, bay xa ngoài biển lớn được thỏa chí tung hoành.[/FONT][/COLOR]

b. Thái độ, tình cảm của nhà thơ đối với nhân vật:

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]- Với Nguyễn Du, Từ Hải là “đấng trượng phu” ( chỉ duy nhất từ Hải được Ng Du gọi như thế), là “mặt phi thường”, là cánh chim bằng vượt gió. Từ là ước mơ của Ng Du về tự do, công bằn, công lý.[/FONT][/COLOR]

[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,]- Khắc họa chân dung Từ Hải, Ng Du dùng hình tượng ước lệ quen thuộc của văn học trung đại khi miêu tả người anh hùng ( lòng bốn phương, thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong, gió mây bằng…) và hình tượng vũ trụ ( đặt nhân vật trong không gian vũ trụ mênh mộng rộng lớn: trời bể mênh mông, tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường…)[/FONT][/COLOR]

Suy ra:[COLOR=#33033][FONT=tahoma, verdana, geneva, lucida,] Từ Hải là nhân vật được Ng Du xây dựng theo khuynh hướng lý tưởng hóa.[/FONT][/COLOR]
 
N

nghgh97


Đề 1: Phân tích các đoạn thơ trong bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Cảm ơn. %%-
Câu 1:Nghị luận về 8 câu thơ đầu trong đoạn trích ''Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ''

Mở bài: Giới thiệu về bài thơ.

Thân bài: phân tích về 8 câu thơ đầu:
''Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.''
-Mở đầu đoạn trích thấy hiện rõ lên khung cảnh vắng buồn, lặng thầm một mình của người chinh phụ''hiên vắng thầm gieo'' bước đi ngoài hiên.Sự lẻ loi, cô đơn, buồn bã với hành động''rủ thác đòi phen'' buông lên buông xuống nhiều lần mà không có mục đích...
''Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?''
-Người chinh phụ đang mong chờ, ở phía ngoài rèm sao con chim thước''chẳng mách tin'', con chim thước đó là chim khách, được coi là loài chim báo tin lành-có khách dến, người đi xa trở về, người chinh phụ đang chờ tin của chồng.''Trong rèm'' người chinh phụ ngồi bêb ánh đèn hỏi ''có đèn biết chăng?'', rằng đèn có hiểu được tâm tư mà người chinh phụ đang lo lắng, chờ đợi không?...
''Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.''
-Dẫu đèn có hiểu được tâm sự của nàng thì cũng''dường bằng chẳng biết'' vì không thể chia sẻ cùng được. Mà tâm tư, nỗi lòng của nàng, chỉ ''riêng bi thiếp mà thôi'' một mình nàng hiểu rõ mà thôi....
''Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.''
-Nỗi buồn sao mà sầu nặng khiến cho nàng''chẳng nói nên lời'' vì nhớ chồng, nàng ngồi nhìn đầu bấc đèn dầu đã cháy thành than nhưng lại được ngọn lửa nung đỏ lên trông như hoa, làm lòng nàng lại càng nhớ về chồng hơn''bóng người khá thương''....
...........
* Làm rõ nghệ thuật trong 8 câu thơ đầu:
-Miêu tả bằng những hình ảnh cụ thể mà thể hiện nỗi cô đơn, buồn khổ, khắc khoải, chờ đợi, hi vọng, day dứt không yên của người chinh phụ:hiên vắng, rủ thác, con chim thước, đèn,.....

Kết bài: đi khẳng định lại một lần nữa của 8 câu đầu: Nỗi cô đơn của người chinh phụ....Và nêu lên cảm nhận...




Câu 2:Nghị luận về 8 câu thơ giữa I trong đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Mở bài: giới thiệu về 8 câu thơ giữa I

Thân bài: nghị luận 8 câu thơ giữa I
''Gà eo óc gáy năm sương trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.''
-Tiếng gà cất lên nghe não nề, buồn''eo óc'', người chinh phụ đã thao thức cả đêm day dứt không ngủ''năm trống''.......... Hình ảnh cây hòe''rủ bóng'' sà xuống, sức sống không có mà tiều tụy đó ẩn hình ảnh của người chinh phụ....
''Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.''
-Một giờ dài lê thê làm co nỗi buồn càng não nề''khắc giờ đằng đẵng'' kèm theo nỗi sâu triền miên không bao giờ ngớt''mối sầu dằng dặc''.....
"Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.''
-Người chinh phụ đang cầu mong cho người chồng ở nơi xa được bình an nên đã đốt hương cầu mong, ''hương gượng đốt'' cho tâm hòn thanh thản nhưng đốt xong thấy buồn.Những sở thích của người con gái nay cũng cảm thấy ngượng ngùng, có cái gì đó buồn não nề''gương gượng soi'' soi thấy mình buồn chán, càng soi mà giọt ''lệ lại châu chan'' cứ tuôn trào ra.''Sắt cầm'' đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, được dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận,''gượng gảy'' đàn sắt đàn cầm vì người chinh phụ đang trong cảnh cô đơn.''Dây uyên kinh đứt'' người chinh phụ sợ làm đứt dây đàn uyên ương vì có thể báo hiệu điều không may của tình cảm vợ chồng, ''phím loan ngại chùng'' sợ dây đàn chùng là điềm gỡ, gợi nên sự không may mắn của lứa đôi đang xa nhau....
.......
*Nghệ thuật được sử dụng trong 8 câu thơ này:Bút pháp tả cảnh ngũ tình.....
''Người buồn cảnh cũng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.''
''Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.''

Kết bài:Cảm nhận về 8 câu thơ này....




Câu 3: Nghị luận về 8 câu thơ cuối trong đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Mở bài: giới thiều về 8 câu thơ cuối

Thân bài: nghị luận về 8 câu thơ cuối:
''Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng gửi đến non Yên.''
-Nỗi nhớ thương của người chinh phụ luôn hướng gửi tới chồng, nhờ''gió đông'' hãy đưa tới chồng, rằng tấm lòng được ví như ''nghìn vàng'' gửi đến ''non Yên'' nơi mà người chồng đang chinh chiến.
''Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.''
-Nơi đó rất xa không đến được''chẳng tới miền'', nỗi nhớ nhiều, dài, lâu ''nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời''......
''Trời tham thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.''
-Trời có hiểu được tấm lòng của người chinh phụ không? trời xa không hề hiểu được''khôn thấu'', nỗi nhớ đó''đau đáu'' không biết khi nào mới hết, người chồng nơi chiến trường có nào hay biết điều này?........
''Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.''
-Hai câu cuối nói cảnh buồn nhưng thực tâm trạng buồn của người chinh phụ, người và cảnh có nỗi niềm càng sâu hơn.Nỗi buồn sâu''thiết tha lòng'' thì khao khát hạnh phúc càng bấy nhiêu....

*Nghệ thuật ở đây sự dụng nói quá, so sánh nỗi nhớ của người chinh phụ: Nghìn vàng, nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời,....

Kết bài:Nêu lên cảm nhận về những câu thơ cuối của đoạn trích chính là nỗi nhớ chồng khi người chồng đi chinh chiến.......



*Nghị luận về đoạn trích ''Trao Duyên'', bạn tham khảo ở đây:http://diendan.hocmai.vn/showthread.php?t=301856









 
0

0872

Câu 1:


Trên thực tế, ngoại trừ giới nghiên cứu chuyên sâu, bạn đọc thường không mấy ai chú ý đến nguyên tác Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn - quê làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội) mà chỉ biết tới bản diễn Nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1748), người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

Tương đồng với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện khẳng định những giá trị nhân văn và phản ánh số phận người phụ nữ cũng như khả năng vận dụng nhuần nhuyễn thể loại ngâm khúc và thể thơ song thất lục bát, song bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm lại có phần giản lược những suy tưởng triết lý cao siêu và hướng nhiều hơn tới cuộc sống đời thường. Tâm tình người chinh phụ tiêu biểu cho nỗi nhớ mong chồng, khát khao cuộc sống gia đình bình dị và ước mong về một ngày đoàn tụ vợ chồng. Đặt trong tương quan chung, ước mơ của người chinh phụ cũng hiền hoà, dung dị, gần gũi hơn so với người cung nữ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng - Đoàn, trong đó phải kể đến nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Tâm trạng nổi bật trong đoạn trích gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình - người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 - 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ "ngồi rèm thưa" mà trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi "trong rèm" chính là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương... Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị "vật hoá" tựa như tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là "bóng người" trống trải, vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định, không dễ nắm bắt với những "gà eo óc gáy sương", "hoè phất phơ rủ bóng"... Bên cạnh đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng hoạt động của con người:
Khắc chờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ "đằng đẵng", "dằng dặc" tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng "Hương gượng đốt", "Gương gượng soi", "Sắt cầm gượng gảy" mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý "hồn đà mê mải", "lệ lại châu chan" và "Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng"...
¾ đoạn thơ tiếp theo (câu 17 - 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền "non Yên", "đường lên bằng trời", "xa vời khôn thấu"... Các từ "thăm thẳm", "đau đáu", "thiết tha" gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:

- Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
Hình ảnh so sánh "sương như búa", "tuyết dường cưa" là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.
Bước vào đoạn cuối (câu 29 - 36), người chinh phụ vươn tới không gian thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:

Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt gặp hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!
Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.
Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:

- Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng
- Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun
- Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi
Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông...) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ. Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải - Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển - Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:
Khắc chờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.
 
Top Bottom