Sử 10 Thời dựng nước

Thảo luận trong 'Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV' bắt đầu bởi lenamarita, 28 Tháng chín 2007.

Lượt xem: 2,679

  1. lenamarita

    lenamarita Guest

    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    I. Nước Văn Lang - Họ Hồng Bàng (2879 (?) - 258 tr.CN)

    Đây là giai đoạn mang tính chất nửa lịch sử nửa thần thoại khi con người Việt cổ còn chưa có chữ viết. Lịch sử chỉ được ghi nhớ lại qua truyền khẩu mà thôi.

    Dựa vào truyền thuyết, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên viết rằng Lộc Tục lên làm vua vùng đất phía Nam núi Ngũ Linh (Quảng Đông) vào năm 2879 trước Công Nguyên. Lộc Tục lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Cương vực Xích Quỷ khá rộng lớn, phía Bắc là núi Ngũ Linh, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (sau này là vương quốc Champa), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên) và phía Đông là biển Nam Hải.

    Kinh Dương Vương lấy nàng Thần Long, con gái của chúa hồ Động Đình sinh được một người con là Sùng Lãm. Sùng Lãm lên làm vua thay Kinh Dương Vương lấy hiệu là Lạc Long Quân. Tương truyền rằng Lạc Long Quân có gốc rồng từ dòng họ của mẹ nên thường ở dưới động nước. Khi người dân có việc cần giải quyết, thường đến trước động nước kêu to lên: "Bố ơi, ở đâu? Hãy đến với ta". Thế là Lạc Long Quân liền lên cạn giải quyết mọi việc khó khăn cho dân chúng.

    Lạc Long Quân gặp được Âu Cơ và lấy nàng làm vợ. Họ sinh ra một trăm người con trai (hoặc 100 trứng).

    Một hôm, khi các người con trai đã trưởng thành Lạc Long Quân nói với nàng Âu Cơ: "Ta là giống rồng, sống dưới nước, nàng là tiên, sống trên cạn. Thủy hỏa khắc nhau, không sống lâu bền với nhau được".

    Thế là hai người chia tay. Năm mươi người con ở lại với cha dưới động nước. Năm mươi người con kia theo mẹ lên cạn. Họ đến sống ở đất Phong Châu (Vĩnh Phú), tôn người con cả lên làm vua và cùng nhau xây dựng cơ đồ. Cũng từ truyền thuyết này mà người Việt vẫn cho rằng tổ tiên của mình là tiên rồng.

    Người con cả lên làm thủ lĩnh vùng đất mới. Đó là Hùng Vương thứ nhất. Bắt đầu một thời đại mà sử sách gọi là thời đại Hùng Vương. Hùng Vương đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Bạch Hạc (Việt Trì, Vĩnh Phú). Vua chia nước ra làm 15 bộ. Đa số các em của vua cai trị các bộ này. Họ được gọi là Lạc tướng và có quyền cha truyền con nối.

    Dưới các bộ là các công xã nông thôn có các Bố chính tức là các già làng đứng đầu. Vua có một hàng ngũ quan chức để giúp mình trị nước. Các quan ấy được gọi là Lạc hầu. Các con trai của vua gọi là Quan lang còn con gái thì gọi là Mị Nương (mệ). Đó là tổ chức nhà nước sơ khai đầu tiên của dân tộc Lạc Việt.
     
  2. lenamarita

    lenamarita Guest

    II. Nước Âu Lạc và Thục An Dương Vương (258-207)

    Có nhiều giả thuyết về trường hợp An Dương Vương lên làm vua nước Âu Lạc. Theo một số sách sử như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên), Việt Sử Tiêu án (Ngô Thời Sỹ), An Dương Vương tên là Thục Phán, nguyên là thủ lĩnh xứ Thục (hiện nay chưa xác định được xứ Thục ở đâu). Vào năm 257 trước Công Nguyên, Thục Phán đem quân đánh Hùng Vương thứ Mười Tám. Hùng Vương cậy mình có binh hùng tướng mạnh, không lo phòng bị, chỉ ngày đêm uống rượu, đàn hát. Quân Thục Phán tấn công bất ngờ, Hùng Vương không chống cự được, phải nhảy xuống giếng tự tử.

    Nhưng, lại có giả thuyết cho rằng Thục Phán là thủ lĩnh người Tây Âu, cư trú trên địa bàn phía Bắc nước Văn Lang. Vào năm 214 tr. CN. Tần Thủy Hoàng (Hoàng Đế Trung Hoa) sai tướng là Đồ Thư sang đánh đất Bách Việt. Người Tây Âu và người Lạc Việt cùng nhau đứng lên chống quân Tần. Sau khi thành công đuổi được quân xâm lăng, Hùng Vương thứ Mười Tám nhường ngôi cho Thục Phán.

    Dù tình huống lên ngôi của Thục Phán chưa được xác định rõ ràng, nhưng tất cả đều công nhận sự việc Thục Phán hợp nhất vùng đất của mình vào Văn Lang mà lập nên nước Âu Lạc.

    Thời An Dương Vương được chép lại vẫn nhiều tính chất hoang đường, truyền thuyết. Như truyền thuyết thần Kim Quy giúp vua xây thành Cổ Loa và tặng chiếc nỏ thần để giữ cơ đồ.

    Triệu Đà là quan úy quận Nam Hải, cho quân tiến đánh Âu Lạc nhiều lần nhưng không thành vì Âu Lạc có thành Cổ Loa hiểm yếu cùng chiếc nỏ thần diệu trấn giữ. Triệu Đà bèn hòa hoãn, cầu hôn con gái của An Dương Vương cho con trai của mình là Trọng Thủy. An Dương Vương đồng ý. Trọng Thủy ở rể tại Âu Lạc ba năm để do thám và tráo được lấy nỏ. Vì thế khi quân Triệu Đà kéo đến thì nỏ thần mất hiệu nghiệm. Quân Âu Lạc tan vỡ. An Dương Vương đem M?Châu lên ngựa chạy loạn. Đến núi Mộ Dạ (Nghệ An), thần Kim Quy hiện lên, lên án M?châu là giặc. An Dương Vương liền chém chết con gái và nhảy xuống bể tự tử. Dân Việt mất nền tự chủ từ đấy cho đến ngàn năm sau.
     
  3. lenamarita

    lenamarita Guest

    THỜI BẮC THUỘC

    Từ Bắc thuộc chỉ thời kỳ Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình Trung Quốc, nghĩa là thuộc địa của Trung Quốc. Có ba thời kỳ Bắc thuộc:

    1. Bắc thuộc lần thứ nhất (110 TCN - 541)
    2. Bắc thuộc lần thứ hai (602 - 905)
    3. Bắc thuộc lần thứ ba (1407 - 1427)

    Thông thường, người ta hay dùng từ Bắc thuộc để chỉ giai đoạn hơn một nghìn năm từ khi Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương (207 TCN) cho đến khi Ngô Quyền giành lại độc lập từ nhà Nam Hán (938); nghĩa là gộp hai lần Bắc thuộc thứ nhất và thứ hai. Trong thời gian này Việt Nam (Giao Chỉ) bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình: nhà Triệu, nhà Tây Hán, nhà Đông Hán, nhà Ngô, nhà Tống, nhà Tấn, nhà Tề, nhà Lương, nhà Tùy, nhà Đường, Nam Bắc triều phân tranh của Trung Quốc, và chỉ có vài thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai Bà Trưng (40-43), thời kỳ Lý Bí với nước Vạn Xuân (541-602).

    Trong suốt các thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc không ngừng thực hiện đồng hóa người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu thuế cho triều đình phía bắc. Ngoài số thuế của nhà nước, một số quan cai trị địa phương vì ở xa nên cũng bòn vét thêm của dân.

    Cũng có một số quan cai trị nghiêm minh, đứng đắn, nhưng số này có thể ít hơn. Nền văn minh Trung Quốc cũng du nhập vào Việt Nam thời kỳ này. Nhâm Diên và Tích Quang được cho là hai thái thú nhà Hán có công truyền bá kỹ thuật khai khẩn và trồng cấy. Sĩ Nhiếp, thái thú nhà Hán (187-226) được các nhà nho thời phong kiến coi là có công truyền bá chữ nho và đạo Khổng vào Việt Nam, được coi là người mở đầu nền nho học của giới quan lại phong kiến ở Việt Nam. Nhiều người Trung Quốc đã di cư đến Việt Nam, họ ở lại, dần dần kết hôn với người Việt và hòa nhập vào xã hội Việt Nam, và con cháu trở thành người Việt Nam.[b[/b]
     
  4. lenamarita

    lenamarita Guest

    THỜI BẮC THUỘC LẦN 1
    Năm 111 TCN, nhà Hán đã chiếm được Việt Nam và chia làm chín quận là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ có trị sở tại Long Biên.

    Năm 39, thái thú Giao Chỉ là Tô Định tàn ác,giết chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa đánh được 65 thành ở Lĩnh Nam. Hai Bà lên ngôi vua.

    Năm 43, nhà Hán sai Phục ba tướng quân Mã Viện đem quân sang tái chiếm, Hai Bà Trưng chống không nổi phải rút về giữ Cấm Khê rồi tự vẫn ở sông Hát. Dân địa phương lập đền thờ ở Hát Giang.

    Năm 248, có người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Thị Trinh họp dân chúng đánh đuổi các quan lại đô hộ ở các quận huyện, sau bị Lục Dận là thứ sử đàn áp phải chịu thất bại.
    NHÀ NƯỚC VẠN XUÂN
    Năm 541, vì chính sự hà khắc của quan lại địa phương, Lý Bí, với sự giúp đỡ của Tinh Thiều, Phạm Tu và Triệu Túc,... nổi lên đánh đuổi quan lại, rồi xưng là Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.

    Năm 545, nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem quân sang tái chiếm. Nam Đế đem ba vạn quân chống cự, thua trận phải rút lui về động Khuất Lạo. Ông sai tướng là Triệu Quang Phục cầm binh chống giữ. Quang Phục đem quân về đầm Dạ Trạch, dựa vào hình thế nhiều bụi rậm, lau lách ở đó để kháng chiến. Triệu Quang Phục là con Triệu Túc theo Nam Đế đánh dẹp được phong làm Tả tướng quân.

    Năm 548, Nam Đế mất. Triệu Quang Phục bèn xưng làm Triệu Việt Vương.

    Năm 550, nhà Lương có loạn phải triệu Trần Bá Tiên về. Bá Tiên giao quyền cho phó tướng Dương Sàn. Triệu Quang Phục ra đánh giết Dương Sàn, đóng đô ở thành Long Biên.

    Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo trước đó ở đất người Di Lạo, lập nước Dã Năng xưng làm Đào Lang Vương. Năm 555 Lý Thiên Bảo chết không có con nối dõi, tướng của ông là Lý Phật Tử nối ngôi.

    Năm 557, Lý Phật Tử đem quân đánh Triệu Việt Vương không thắng được. Hai bên chia đôi đất giảng hoà. Lý Phật Tử vào thành Ô Diên sai con là Nhã Lang sang xin cưới con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương. Triệu Việt Vương yêu con bèn cho Nhã Lang ở rể.

    Năm 571, bị Lý Phật Tử đánh úp, Triệu Việt Vương thua trận chạy ra cửa biển Đại Nha tự vẫn. Lý Phật Tử xưng làm (hậu) Lý Nam Đế vẫn đóng đô ở Ô Diên sau đổi lên Phong Châu.
     
  5. lenamarita

    lenamarita Guest

    THỜI BẮC THUỘC LẦN 2
    Thuộc Tùy - Đường


    Năm 602, nhà Tùy cho quân sang xâm lược, Lý Phật Tử chưa đánh đã hàng, bị bắt về bắc rồi chết ở đó.

    Năm Nhâm Tuất (722) tức năm Khai Nguyên thứ mười, đời Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, Mai Thúc Loan đã khởi nghĩa tại Hoan Châu, chọn Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn là căn cứ chính chống quân chiếm đóng nhà Đường.

    Năm 791, Cao Chính Bình làm An Nam đô hộ phủ bắt dân đóng góp nặng nề, Phùng Hưng dấy binh vây phủ. Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết. Phùng Hưng vào thành chưa được bao lâu thì chết, con là Phùng An lên thay và tôn hiệu cha làm Bố Cái Đại Vương. Nhà Đường sai Triệu Xương sang dụ, Phùng An đem quân ra hàng.
    Họ Khúc tự chủ

    Năm 905, hào trưởng người Việt ở Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ chiếm giữ châu trị, xưng là tiết độ sứ, có ý khôi phục nền độc lập. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo lên thay tiếp tục làm Tiết độ sứ.

    Năm 917, Khúc Hạo chết, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay.
    Nam Hán chiếm đóng

    Năm 923, vua Nam Hán sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Khúc Thừa Mỹ đem về bắc, Lý Khắc Chính ở lại giữ Giao Châu.

    Năm 931, Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Thừa Mỹ đem quân đánh phủ thành Đại La, lại đánh tan quân Nam Hán do Trần Bảo dẫn sang cứu viện, giết Trần Bảo và tự xưng là Tiết Độ Sứ
    Dứt họa Nam Hán

    Năm 937, bộ tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết ông để thay chức.

    Năm 938, bộ tướng khác, đồng thời là con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân giết Kiều Công Tiễn, rồi đánh tan đạo quân xâm lược Nam Hán do Hoằng Tháo dẫn đầu sang tiếp ứng cho Công Tiễn, lập ra nhà Ngô, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc này.

    Cách phân chia thời gian trên đây căn cứ vào sử sách vì các sử gia cho rằng: đến năm 939, khi Ngô Quyền chính thức xưng vương, Việt Nam (bấy giờ gọi là "Tĩnh Hải quân") mới được coi là tách ra khỏi Trung Quốc. Trên thực tế, người Việt đã tự quản từ năm 905, sau đó chỉ bị Nam Hán chiếm đóng trong thời gian ngắn. Bắc thuộc lần thứ hai trên thực tế chấm dứt năm 931 với chiến thắng của Dương Đình Nghệ.
     
  6. lenamarita

    lenamarita Guest

    THỜI BẮC THUỘC LẦN 3
    Năm Bính Tuất (1406), nhà Minh đem quân sang, lấy lý do là để khôi phục nhà Trần, nhưng thực chất đã sát nhập Việt Nam thành quận huyện của Trung Quốc và cử quan lại người Hán sang cai trị.

    Năm 1407, Giản Định vương, con thứ của vua Trần Nghệ Tông xưng làm Giản Định Đế (1407-1409) để nối nghiệp nhà Trần (thành nhà Hậu Trần) và bắt đầu một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh, đến năm 1413 thì hoàn toàn thất bại.

    Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam Sơn, Thanh Hóa.

    Năm 1427, cuộc khởi nghĩa thành công, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba, và mở đầu một triều đại mới của Việt Nam: nhà Hậu Lê.Theo truyền thuyết,Lê Lợi thắng do nhờ có kiếm thần của Long Quân.

    So với giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc, thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba tuy không dài bằng nhưng chính sách đồng hóa và bóc lột được thực hiện mạnh mẽ hơn. Nhà Minh bắt người Việt phải theo kiểu người Trung Quốc, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Các tài sản quí như người tài, sách vở, đồ quí đều bị đem về Trung Quốc. Trong số đó có các cuốn sách văn học, lịch sử, binh pháp,... có giá trị và đã được truyền lại từ nhiều đời, hầu hết đã trở thành thất truyền ở Đại Việt kể từ đó. Khoảng 7600 thương gia và nghệ nhân Việt Nam (trong đó có nghệ nhân chế tạo súng, như Hồ Nguyên Trừng) đã bị bắt đưa sang Nam Kinh, thủ đô Trung Quốc thời bấy giờ. Ngoài ra, nhà Minh còn áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng (bao gồm cả thuế muối) cùng với việc đẩy mạnh khai thác các sản vật quí phục vụ việc cống nộp.
     
  7. phanhuuduy90

    phanhuuduy90 Guest

    làm sao học thuộc hết đoạn sử trên bạn,?
    thank you very much
    trong thời kì này tôi thích lí bí nhất, ông là người mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng lại ham học
     
  8. Trong lịch sử việt nam còn nhiều người giỏi hơn nhiều nữa em à. Từ từ em sẽ thấy. Mà anh nghĩ em không nên học thuộc hết cả làm gì cả, chỉ cần xem những vấn đề gì chính ở đó rồi nhớ thôi.
     
  9. meo_beo

    meo_beo Guest

    LÍ bí tên thật là:Lý bôn
     
  10. tôi rất rát sợ học lịch sử vì nó rất khó thuộc nhưng dân ta phải biết sử ta nên tôi cố gắng học chương dựng nước và giữ nước của các vua, học hoài cũng thấy li kì lắm đó.
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->