[Ngữ Văn 11] Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Thảo luận trong 'Nghị luận văn học' bắt đầu bởi shinichiconan1601, 4 Tháng mười 2009.

Lượt xem: 383,103

  1. ken_prince

    ken_prince Guest

    hình tượng người nghĩa sĩ ...

    bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc , cô cho làm về hình tượng người nghĩa sĩ nhưng......
    toàn bài copy trên google ko lọc dc cái nào, bạn nào cho mình xin cái dàn ý để mìh tự viết dc ko

    Bạn chú ý cách đặt tiêu đề!
     
    Last edited by a moderator: 30 Tháng mười 2009
  2. ken_prince

    ken_prince Guest

    mà phần này là cậu tự làm hả, khâm phục khâm phục.....cho mình xin nha
     
  3. thuha193

    thuha193 Guest

    Để phân tích được hình tượng người nghĩa sĩ trong "Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc" bạn cần làm rõ 3 luận điểm:

    * Luận điểm 1: Hình ảnh, vóc dáng đích thực của những người nghĩa sĩ
    - Họ xuất thân từ đồng ruộng, vốn dĩ là những người dân hiền lành, chân chất của một thời nông nghiệp lạc hậu xưa, có nghĩa là suốt cuọc đời "chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ", hoàn toàn xa lạ vs công việc binh đao "chưa quen cũng ngựa, đâ tới trường nhưng, tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó".
    - Nhấn mạnh điều này, NĐC đã tạo đc 1 thế đối lập để làm sáng rõ hơn nữa hình ảnh oai hùng của họ trong trân nghĩa đánh Tây.
    - Chú ý phân tích từ "cui cút" đẻ làm rõ niềm cảm thương của nhà thơ đối vs cuộc đời lam lũ, vất vả, khổ cực của những người "dan ấp, dân lân" dưới bao tầng áp bức, bóc lột.

    * Luận điểm 2: Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ khi quân giặc sang xâm lược
    - Tâm trạng của họ: Căm hờn đến "muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ" những kẻ đã giày xéo lên đất đai của ông bà, tổ tien, cướp đi bát cơm, manh áo của họ.
    - "Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ", giản dị vậy thôi mà hàm súc, gợi cảm biết bao! Tấm lòng yêu nc luôn tiềm ẩn trong tâm hồn họ.
    - Cùng vs lòng căm thù giặc là sự trỗi dậy của ý thức công dân "Một mối xa thư...treo dê bán chó". Chú ý phân tích lời lẽ, giọng điệu của NĐC.
    - Tinh thần tự giác của những người nghĩa sĩ "nào đợi ai đòi, ai bắt; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi", họ bất chấp khó khăn, thiếu thốn, mà đó là điều không thể thiếu đối với một đội quân có leax mới chỉ đc tập hợp trong vòng 2 ngày trc trận tập kích đồn quân Pháp. Chỉ 2 ngày, trong hoàn cahr phải hoàn toàn tự lực, ko trông mong j sự trợ giúp của triều đình "trông tin quan như trời hạn trông mây", ko có cả đến manh áo lính mà mặc nối j đến súng ống đạn dược, đến binh thư binh pháp,...Vậy mà họ vẫn hăm hở biết bao "nào đợi tập rèn, ko chờ bày bố; nào đợi mang...; chi nài sắm..."Những cụm từ có sắc thái biểu cảm mạnh mẽ ấy thẻ hiện quyết tâm cao độ của họ, "quyết ra sức đoạn kình; ra tay bộ hổ" đánh đuổi lũ giặc xâm lăng.

    * Luận điểm 3: Hình ảnh oai hùng của người nghĩa sĩ trong trận đánh
    - Chỉ trong 3 câu (Hỏa mai...súng nổ) mà cả 1 trận công đồn theo kiểu du kích đã đc tái hiện thật hào hùng sôi nổi.
    - Lực lượng 2 bên rõ ràng ko cân sức vậy mà những con người "chưa quen cng ngựa" này đã vào trận đánh vs khí thế dũng mãnh "coi giặc cũng như ko; lièu mình như chẳng có", áp đảo kẻ thù bằng tất cả sức mạnh của lòng căm thù và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của mình.
    - Chú ý phân tích các động từ mạnh và các pháp đối như đối từ (trống kì/trống giục, lướt tới/xông vào,...), đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm vong/ địch: đạn to, đạn nhỏ, tàu sắt, tàu đồng,...), đối thanh bằng - trắc (kia/nọ, kì/giục,...) để làm nổi bật tinh thần chiến đấu bất khuất, dũng cảm của những người nghĩa sĩ.
    - Nhịp điệu câu văn sô nổi, hào hùng, nhanh, mạnh vừa gợi khí thế trận đánh vừa đặc tả hình ảnh những con người đầy lòng tự tin vào sức mạnh chính nghĩa.

    ~~~> Bức tượng đài nghĩa sĩ nông dân mộc mạc, chân chất, ko vàng son tô điểm, nhưng lông lộng giũa một bối cảnh hoành tráng, ngút trời khói lửa và rừng rực khí thế chiến đấu của cả dân tộc "súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ" lại đc soi chiếu bởi ánh sáng từ ngọn lửa tôn vinh đời đời ko bao h tắt "ngàn năm tiết rỡ". Quả là bức tượng đài có 1 không 2 trong lịch sử văn học trung đại.

    Ở đây chỉ là một vài ý chính, bạn cần lấy thên dẫn chứng để bài văn thêm đầy đủ và sinh động hơn.
    Chúc bạn là bài tốt:)
     
  4. truyen223

    truyen223 Guest

    Hình tương người nghĩa sĩ cần giuộc

    mình sắp làm bài viết số 3 va cần các bạn giúp đề bài nay

    Hình tượng nghĩa si trong Văn tế ....

    Hi vọng các bạn đừng copy , nếu ko mún viết cả bài thì giàn ý cũng dc ( tốt nhất là cho mình bài viết của mấy bạn :);) )
    mình thanks tất cả các bạn
    __________________
     
  5. Dàn bài sơ lược:

    Bài văn tế khóc thương ng nông dân CG vì nghĩa mà đứng lên đánh giặc Pháp và đã hi sinh. Đó là đỉnh cao sáng tác của NĐC, rất bình dị mà dựng lên tượng đài bi tráng về hình tượng người nông dân.

    *Người nông dân NB nghèo khó, “cui cút làm ăn” sống đời thầm lặng, cơ cực ở thôn ấp. Họ chỉ biết ruộng trâu, đã biết gì đến võ nghệ, võ khí, chiến trận. Nhưng tấm lòng của họ rất đẹp: yêu nước cao độ, k đội trời chung với bọn ngoại xâm và đã cầm gậy, cầm dao tự nguyện đứng lên đánh giặc trong thời đại “vĩ đại và khổ nhục” của cả dân tộc.

    *tượng đài đẹp:

    _ Về trang bị: k có áo giáo mà chỉ có “manh áo vải thô sơ”, “ngọn tầm vông” quen thuộc của quê hương. Lần đầu tiên “ngọn tầm vông” đã đi vào văn học với ý nghĩa cao đẹp và nét tạo hình giàu giá trị thẩm mỹ

    _ Về tinh thần, hành động: với trang bị thô sơ, thiếu thốn, người dân ấp dân lân dùng “rơm con cúi, lưỡi dao phay”, những vật dụng của quê hương, của gia đình mà chống lại với súng đạn, tàu thiếc, tàu đồng của giặc Tây. Đến đây, đoạn văn ngắt nhịp ngắn, khẩn trương cùng với hàng loạt từ ngữ đầy sức mạnh chiến đấu quật cường “đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược. Bọn hè trước, lũ ó sau…Tất cả làm hiện ra quần thể tượng đài người nông dân yêu nước trong tư thế tấn công mạnh mẽ hào sảng

    Những người nông dân chất phác đã tự dựng cho mình tượng đài anh hùng, cao cả, đầy nghĩa khí và nhà thơ mù đã xây dựng họ thành hình tượng nghệ thuật, quần thể tượng đài hào hùng cao đẹp trong áng văn tế bất hủ của mình.

    _kết quả chiến đấu: đốt đồn giặc, chém rớt đầu tên quan chỉ huy.

    _Tượng đài vừa bi vừa ái vừa tráng:

    + Đây là những người anh hùng thất thế, những người nông dân đã lấy gan đồng chọi với đạn sắt, lấy cái yếu chống cái mạnh, lấy vũ khí thô sơ chống phương tiện hiện đại.

    + Tuy đã chiến đấu ngoan cường, đánh một trận oanh liệt tưng bừng nhưng họ đã ngã xuống hi sinh trong chiến bại.

    + Giọt nước mắt của sông nước cỏ cây, của nhân dân và đặc biệt là nỗi đau của mẹ già, vợ yếu.

    _ Ý thức yêu nước mãnh liệt, lòng khâm phục và xót đau với người nghĩa sĩ trong trận CG đã tạo kiệt tác cho nhà thơ mù Đồ Chiểu

    Vẻ đẹp của hình tượng này vừa mới lạ mà xưa nay chưa có, chỉ có các chủ soái mới được đề cao như thế vừa rất đẹp, rất hào hùng, rất bi tráng, rất đáng tự hào. Đây là nước mắt của nhà thi sĩ anh hùng lau chẳng ráo, khóc thương những người anh hùng ngã xuống bất tử.


    Cũng muốn viết một bài hoàn chỉnh lắm, nhưng mà k có thời gian, kiểm tra tới tấp, lịch học thì dày đặc, mong bạn thông cảm. Hi vọng giúp được bạn phần nào, chúc bạn làm bài tốt.

     
  6. baphu_d3

    baphu_d3 Guest

    Bài làm
    Nguyễn Đình Chiểu ( 1822-1888) là một nhà nho yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc. Cuộc đời ông phải trải qua nhiều bi kịch đau khổ và bất hạnh. Có lẽ vì vậy mà hơn ai hết ông càng cảm nhận được nỗi đau mất nước khi thực dân pháp sang xâm lược nước ta. 1858 giặc pháp tràn vào sông bến nghé chiếm thành gia định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm. Về phía thực dân pháp sau khi chiếm được thành gia định chúng bắt đầu thực hiện quá trình mở rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận. Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bị giặc pháp tràn đến. Những người nông dan áo vải, chân lấm tay bùn đã đứng dậy đấu tranh. Họ gia nhập nghĩa binh sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt. Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên nhiều niềm cảm kích lớn trong nhân dân. Đỗ Quang tuần phủ Gia Định giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn 20 nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đêm ngày 16-12-1861. Với lòng cảm phục và tình cảm xót thương vô hạn. Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bìa văn tế không những thể hiện được tình cảm xót thương vô hạn của tác giả và của nhân dân đối với các nghĩa sĩ Cần Giuộc mà còn khắc họa lên vẻ đẹp chân thực bi tráng mà rất đỗi hào hùng của những người dân yeu nước đánh tây:
    Hỡi ôi !
    Súng giặc đất rền lòng dân trời tỏ
    Khi tổ quốc lâm nguy khắp đất nước rền vang tiếng súng. Chính sự từ gian nguy đau thương đó tình yêu đất nước của những người nông dân bình thường mới được thể hiện vẻ đẹp thực sự của tâm hồn trong họ mới được thể hiện bày tỏ cùng trời đất.
    Tấm lòng tình yêu giang sơn tổ quốc của những người nông dân bình dị càng được thể hiện một cahcs rõ rệt và sâu sắc hơn khi tác giả đã liên tục dùng biện pháp so sánh đối lập trong các câu văn tiếp theo
    Nhớ linh xưa
    cui cút làm ăn toan lo nghèo khó
    chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung
    chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ
    việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm
    tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó
    trước đây họ vẫn sống vẫn tồn tại nhưng chỉ là “cui cút làm ăn”. Họ vẫn sống vẫn tồn tại nhưng chỉ trong thầm lặng. Trong cuộc sống, họ có nỗi lo toan “miếng cơm manh áo” giản dị đời thường họ chỉ quen làm lụng việc nhà nông cày bừa cuốc hái làm bạn với con trâu với ruộng đồng. Họ chưa biết đến “cung ngựa trường nhung” chưa quen với “tập mác tập cờ”. Những người nghĩa sĩ ở đây là những nông dân áo vải, chưa quen chiến trận chưa được luyện rèn chỉ vì lòng yêu chính ghét tà mà đứng lên đánh giặc
    Khi mà “tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng”, họ ngóng trông mệnh lệnh của triều đình “trông tin quan như trời hạn trông mưa”
    Thì ra cái bi kịch xót xa là ở chỗ này: triều đình nhu nhược, không hiểu được lòng dân yêu nước. Lòng căm thù giặc của những người nông dân thì không thể kiềm chế :
    “mùi chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ…bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ.
    Hình tượng người nông dân, những người nghĩa sĩ yêu nước hiện lên thật đẹp. Lòng yêu đất nước tha thiết xuất phát từ chính trái tim của họ đã khiến cho họ trở lên đẹp đẽ lấp lánh
    Vẻ đẹp của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước được toát ra chính từ lòng căm thù giặc sục sôi. Chính lòng căm thù giặc đã biến thành hành động vùng lên quật khởi rất hào hùng:
    Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình
    Chẳng ai thèm trốn ngược trốn xuôi chuyến này dốc ra tay bộ hổ
    Trong những tác phẩm phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa trước đây, người nông dân khi phải đi tìm lính biên thú phương xa để bảo vệ cương thổ của nhà vua, họ ra đi với tâm trạng và thái độ “bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa” thì ở đây, người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu lại hoàn toàn khác. Họ tự giác tự nguyện đứng lên chiến đấu để bảo vệ giang sơn, tổ quốc, ấy là nét đẹp bản chất nhất trong hành động của người nông dân nghĩa sĩ cần giuộc. Đến đây không chỉ vẻ đẹp tâm hồn mà ngay cả vẻ đẹp trong hành động của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước được TG khắc họa lên 1 cách rõ rệt. Từ cái động lực tinh thần tự nguyện gánh vác trách nhiệm lịch sử mà đã tạo ra cho họ sức mạnh vô cùng lớn. Họ đã hành động đứng lên chống ngoại xâm. Không chờ bày binh bố trận mà chỉ “ngoài cật có 1 manh áo vải nào đợi mang bao tấu bầu ngòi trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắn dao tu nón gõ” Hình ảnh người nông dân được hiện lên trong tác phẩm khiến cho chúng ta vừa cảm thấy tự hào xen lẫn niềm xót xa. Những người nghĩa sĩ dường như đóng vai trò là hiện thân của cả một sức mạnh dân tộc. Đối mặt với kẻ thù lớn mạnh với đạn nhỏ đạn to tàu thiếc tàu đồng với đội quân xâm lược nhà nghề vậy mà vũ khí để họ dùng chống lại chỉ là “1 manh áo vải” “1 ngọn tầm vông” chỉ có “lưỡi dao phay” và chỉ là những “hỏa mai đánh bằng con rơm cúi” Thử hỏi rằng đem những sự thực phũ phàng đó như phô bày ra trước mắt ta thật xót đau biết mấy. Đó là tấm bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là tấm bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kì nghiệt ngã ấy. Tấm bi kịch này đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỉ
    Nhưng cũng chíh từ cái tấm bi kịch ấy mà đã làm sáng ngời lên bao vẻ đẹp hình tượng của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước, Bằng sự ngoan cường lòng yêu nước nồng n
     
  7. thuha_148

    thuha_148 Guest

    Dàn ý:
    * MB:
    - Giới thiệu giá trị đặc sắc của bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc": Lần đầu tiên hình tượng người nông dân VN thực sự đi vào văn học
    - Khẳng định : là bức tượng đài nghệ thuật của người nghĩa sĩ Cần Giuộc tái hiện chân thực và bi tráng hình tượng cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của nhân dân VN suốt nửa sau thế kỉ XIX
    *TB:
    - Hoàn cảnh đặc biệt sản sinh ra hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc:
    + Hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống đã làm bộc lộ trọn vẹn bản chất đẹp đẽ của những người dân bình thường:
    "Hỡi ôi!
    Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ"
    + Xuất thân là những người con tội nghiệp, sống thầm lặng, vất vả hầu như bị bỏ quên:
    "Nhỡ lính xưa:
    Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó"
    +Họ sống vs ước mong duy nhất là sống bình yên, đc lao động cần cù để tạo dựng cuộc sống:
    "Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ , mắt chưa từng ngó"
    - Người nông dân đã trở thành người lính ntn?
    + Giặc đến tàn phá cuộc sống bình yên, người có nhiệm vụ che chở nhân dân là triều đình thì ko hành đọng gì
    +Căm thù giặc ngút trời, cùng quyết tâm bảo vệ cuộc sống, ko còn ai chờ đợi, những người dân thường đã quyết phải cầm lấy vũ khí, bắt đầu cuộc chiến đấu tự nguyện
    "Bữa thấy bòng bong che trắng lốp..... ra tay bộ hổ"
    +Chiến đấu vs những điều kiện cực kì khó khăn: chưa hề có kiến thức hay kĩ năng gì về chiến trận:
    "Chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ"
    "Mười tám ban võ nghệ.....ko chờ bày bố"
    Hoàn toàn thiếu thốn mọi thứ trang bị và vũ khí mà phải đương đầu vs quân giặc có đủ mọi thứ tối tân nhất, họ chỉ có lòng căm thù giặc và ý chí bảo vệ quê hương đất nc
    "Thà thác mà đặng ......rất khổ"
    + Họ thực sự là những người anh hùng trong chiến trận: dũng cảm tuyệt vời, quyết liệt tấn công, chiến đấu quên mình
    "Chi nhọc quan quản....chẳng có"
    *KB:
    - Khẳng định phẩm chất của người nghĩa sĩ, họ sẽ sống mãi trong lòng dân tộc
     
  8. truyen223

    truyen223 Guest

    Ai vạch ra các luận điểm cho mình dc ko
    có bài nào tự viết cho mình tham khảo tí
     
  9. thanh1995qb

    thanh1995qb Guest

    Tác giả

    Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là ngôi sao sáng của nền văn nghệ đất nước ta trong nửa sau thế kỷ 18. Bị mù, vừa dạy học, làm thuốc và viết văn thơ. Sống vào thời kỳ đen tối của đất nước: giặc Pháp xâm lăng, đất Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay giặc. Tinh thần nhân nghĩa, lòng yêu nước thương dân và căm thù giặc Pháp xâm lược là những tư tưởng, tình cảm sâu sắc, mãnh liệt trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

    Tác phẩm:

    - Truyện thơ: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp.

    - Văn tế: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế Nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.

    - Thơ: Nhiều bài thơ Đường luật – cảm hứng yêu nước.

    Xuất xứ, chủ đề

    - Cần Giuộc thuộc Long An. Trận Cần Giuộc là một trận đánh lớn của quân ta, diễn ra đêm 14/12 âm lịch (1861). Hơn 20 nghĩa quân đã anh dũng hy sinh. Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu Đồ Chiểu viết bài văn tế này. Ngay sau đó, vua Tự Đức ra lệnh phổ biến bài văn tế trong các địa phương khác.

    - Bài văn tế ca ngợi những nghĩa sĩ – nông dân sống anh dũng, chết vẻ vang trong sự nghiệp đánh Pháp để cứu dân, cứu nước.

    Hình ảnh người nghĩa sĩ

    1. Nguồn gốc: Nông dân nghèo khổ “cui cút làm ăn”, cần cù lao động “chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”. Chất phác hiền lành:

    “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
    Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó:

    2. Tâm hồn: Yêu, ghét dứt khoát, rõ ràng: “ghét thói mọi như nhà ông ghét cỏ” “đâu dung lũ treo dê bán chó”. Căm thù quyết không đội trời chung với giặc Pháp:

    “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan,
    Ngày xem ống khói chạy đen sĩ, muốn ra cắt cổ”

    Yêu nước, yêu xóm làng quê hương, tự nguyện đứng lên đánh giặc: “Mến nghĩa làm quân chiêu mộ”, “phen này xin ra sức đoạn kình”, “chuyến này dốc ra tay bộ hổ”

    3. Trang bị

    - Không phải là lính chính quy của Triều đình, “chẳng phải quân cơ, quân vệ”, chẳng có “bao tấu, bầu ngòi”. Họ chỉ là “dân ấp dân lân”, vì “bát cơm manh áo” mà đánh giặc. Trang bị thô sơ, áo mặt chỉ là “một manh áo vải”, vũ khí là một ngọn tầm vông, một lưỡi gao phay, hoặc “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi” …

    Kẻ thù của họ là mã tà, ma ní, là thằng Tây “bắn đạn nhỏ đạn to”, có “tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

    4. Chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh:

    - Dũng mãnh tiến công như vũ bão, “đạp rào lướt tới”, “kẻ đâm ngang, người chém ngược”, “bọn hè trước lũ ó sau”.

    - Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lẫm liệt hiên ngang: “nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”, “trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

    - Chiến công oanh liệt: “đốt xong nhà dạy đạo kia”, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”, “làm cho mã tà, ma ní hồng kinh”

    - Hy sinh đột ngột trên chiến địa: “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ”.

    Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu đã ngợi ca, khâm phục và biết ơn các nghĩa sĩ. Ông đã dựng lên một tượng đài bi tráng về người nông dân đánh giặc cứu nước trong buổi đầu giặc Pháp xâm lăng đất nước ta.

    Tình cảm đẹp, tư tưởng rất tiến bộ

    “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hàm chứa những tình cảm đẹp, tư tưởng rất tiến bộ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

    - Ca ngợi lòng yêu nước, căm thù giặc và tinh thần tự nguyện đánh giặc để cứu nước của các nghĩa sĩ. Khẳng định vị trí và vai trò của người nông dân trong lịch sử chống xâm lăng vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

    - Tiếc thương những nghĩa sĩ đã anh dũng hy sinh (câu 18, 25)

    - Khẳng định một quan niệm về sống và chết: chết vinh còn hơn sống nhục. Không thể “theo quân tà đạo”, “ở lính mã tà” đánh thuê, làm bia đỡ đạn, sống cuộc đời bán nước cầu vinh “chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ”. Trái lại, phải sống anh dũng, chết vẻ vang: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”.

    - Tự hào về các nghĩa sĩ đã bỏ mình vì Tổ quốc. Tên tuổi họ, tinh thần họ bất tử: “danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen…”, “tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”, “cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm”… Tóm lại, lần đầu tiên trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc hoạ và ca ngợi người nông dân Nam Bộ và những anh hùng thời đại đã sống, chiến đấu và hy sinh vì đại nghĩa.

    Nghệ thuật

    1. Ngôn ngữ bình dị như cách nói, cách nghĩ và cách cảm của nhân dân miền nam. Các kiểu câu tứ tự, song quang, cách cú, gối hạc, câu nào cũng đặc sắc, khô ứng, đối chọi cân xứng đẹp.

    2. Chất chữ tình kết hợp với chất anh hùng ca tạo nên màu sắc bi tráng.

    3. Hình tượng người chiến sĩ nghĩa quân được khắc họa tuyệt đẹp trong tư thế lẫm liệt hiên ngang.

    Có thể nói, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một bài ca yêu nước chống xâm lăng, là kiệt tác trong kho tàng văn tế cổ kim của dân tộc.

    Bai2:
    A. GỢI Ý CHUNG

    Vẻ đẹp hiếm có của hình tượng người nông dân yêu nước, chống Pháp đựơc dựng lên trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) như một tượng đài mang tính bi tráng.

    B. GỢI Ý CỤ THỂ

    Dàn bài sơ lược

    Bài văn tế khóc thương người nông đân Cần Giuộc vì nghĩa mà đứng lên đánh giặc Pháp và đã hy sinh. Đó là đỉnh cao sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, rất bình dị mà đã dựng lên tượng đài nghệ thuật rất đẹp, mang tính bị tráng.

    1) Người nông dân Nam Bộ nghèo khó, “côi cút làm ăn” sống đời thầm lặng, cơ cực ở thôn ấp. Họ chỉ biết ruộng trâu, đã biết gì đến võ nghê, võ khí, chiến trận. Nhưng tấm lòng của họ rất đẹp: yêu nước cao độ, không đội trời chung với bọn xâm lăng và đã cầm gậy, cầm dao tự nguyện đứng lên đánh giặc trong thời đại “ vĩ đại và khổ nhục” của dân tộc.

    2) Tượng đài đẹp hùng tráng:

    a) Về trang bị: không có áo giáp mà với “manh áo vải thô sơ” với “ngọn tầm vông” quen thuộc của quê hương. Lần đầu tiên “ngọn tầm vông” đã đi vào văn học với ý nghĩa cao đẹp và nét tạo hình giàu giá trị thẩm mĩ.

    b)Về tinh thần, hành động : Với trang bị thô sơ, thiếu thốn, người dân ấp dân lân dùng “rơm con cúi, lưỡi dao phay”, nhưng vật dùng của quê hương, gia định – mà chống lại súng đạn, tàu thiếc tàu đồng của Tây. Đến đây, đoạn văn ngắt nhịp ngắn, khẩn trương cùng với hàng loạt từ ngữ đầy sức mạnh chiến đấu quật cường “đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược.Bọn hè trước, lũ ó sau…”. Tất cả làm hiện ra quần thể tượng đài người nông dân yêu nước trong tư thế tấn công mạnh mẽ hào sảng.

    Những người nông dân chất phác đã tự dựng cho mình tượng đài anh hùng, cao cả, đầy nghĩa khí và nhà thơ mù đã xây dựng họ thành hình tượng nghệ thuật, thành quần thể tượng đài hào hùng cao đẹp trong áng văn tế bất hủ của mình.

    c) Kết quả chiến đấu: Đốt đồn giặc, chém rớt đầu tên quan chỉ huy.

    d) Tuợng đài vừa tráng vùa bi: a) Đây là những người anh hùng thất thế: Những người nông dân đã lấy gan đồng chọi với đạn sắt, lất cái yếu chống cái mạnh, lấy vũ khí thô sơ chống phương tiện hiện đại.

    b) Tuy đã chiến đấy ngoan cường, đánh một trận oanh liệt tưng bừng nhưng họ đã ngã xuống hi sinh trong chiến bại.

    c) Giọt nước mắt của sông nước cỏ cây, của nhân dân và đặc biệt nỗi đau của mẹ già, vợ yếu.

    3) Ý thức yêu nước mãnh liệt, lòng khâm phục và xót đau với người nghĩa sĩ trong trận Cần Giuộc đã tạo ra kiệt tác cho nhà thơ mù Đồ Chiểu.

    Vẻ đẹp của quần tượng này vừa mới lạ xưa nay chỉ có các chủ soái mới được đề cao như thế) vừa rất đẹp, rất hào hùng, rất bi tráng, rất đáng tự hào. Đây là nước mắt của nhà thi sĩ anh hùng lao chẳng ráo, khóc thưiưng những anh hùng ngã xuống nhưng bất tử.

    - Bài thơ của Miên Thẩm khi đọc xong bài văn tế:

    Lại giởbài văn điếu chiến trường

    Tưởng nghe mồn một chuyện văn chương

    Chép ghi chân thật lời Mạnh Tả

    Ca ngợi hùng bi giọng Khuất Bường

    Gươm gỗ cờ lau gương vạn cổ

    Vượn sầu hạc oán mấy tinh sương

    Thư sinh đánh giặc bằng ngòi bút

    Báo nước từng này biết mấy thương.
    CHÚC CÁC BAN :p LÀM BÀI TỐT
     
  10. bài viết số 3

    vể đẹp của hình tượng người nông dân trong văn tế nghĩa sĩ CẦN GIUỘC của nguyễn đình chiểu
     
  11. heocon436

    heocon436 Guest

    [lớp 11] nghị luận văn học

    mọi người viết hộ em nha: vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong bài văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của nguyễn đình chiểu(không quá 4 mặt giấy)
     
  12. heodat_15

    heodat_15 Guest

    Thế kỷ XIX là thời ký lịch sử “đau thương nhưng vĩ đại” của dân tộc ta . Ở Thế kỷ ấy , có một nhà thơ mù nhưng tròng lòng sáng như gương ,người đã thấy kết những gì mà bao nhiêu người mắt sáng không nhận ra .Người đó là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu .Và, trong văn học Việt Nam ,cho đến Nguyễn Đình Chiểu ,chưa có một hình tượng nhân dân nào chân thực và cảm động hơn người nghĩa sĩ tử trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của ông.
    Hỡi ôi !
    Súng giặc đất rền lòng dân trời tỏ
    Khi tổ quốc lâm nguy khắp đất nước rền vang tiếng súng. Chính sự từ gian nguy đau thương đó tình yêu đất nước của những người nông dân bình thường mới được thể hiện vẻ đẹp thực sự của tâm hồn trong họ mới được thể hiện bày tỏ cùng trời đất.
    Tấm lòng tình yêu giang sơn tổ quốc của những người nông dân bình dị càng được thể hiện một cach rõ rệt và sâu sắc hơn khi tác giả đã liên tục dùng biện pháp so sánh đối lập trong các câu văn tiếp theo :
    Nhớ linh xưa
    cui cút làm ăn toan lo nghèo khó
    chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung
    chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ
    việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm
    tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó
    Trước ho là những người bình thường Bản tính hiền lành ,chất phác ,quanh năm suốt tháng “côi cút làm ăn ,toan lo nghèo khó” .Bên trong luỹ tre làng, họ “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”,thành thục với nghề nông trang: Việc cuốc cầy ,việc bừa ,việc cấy , tay vốn làm quen. Họ chưa biết đến “cung ngựa trường nhung” chưa quen với “tập mác tập cờ”. Những người nghĩa sĩ ở đây là những nông dân áo vải, chưa quen chiến trận chưa được luyện rèn chỉ vì lòng yêu chính ghét tà mà đứng lên đánh giặc
    Lòng yêu nước không độc quyền của ai .Huống chi ,với những người nông dân chân chất ,khi “mùi tinh chiến vấy vá đã ba năm” thì họ “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” .vì thế ,dù là trong tay chỉ còn một tầm vông ,họ đã sẵn sàng xả thân vì nghĩa cả:

    Hoả mai đánh bằng rơm con cúi , cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay,cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

    Chi nhọc nhằn quan quản gióng trống kỳ ,trống giục , đạp rào lướt tới ,coi giặc như không;nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ , đạn to ,xô cửa xông vào ,liều mình như chẳng có.

    Kẻ đâm ngang ,người chém ngựơc ,làm cho mã tà ,ma ní hồn kinh;bọn hè trước ,lũ ó sau ,trối kệ tàu thiếc ,tàu đồng đung nổ.

    Cuộc đối đầu một mất một còn giữa những người nông dân yêu nước với kẻ thù là cuộc đối đầu không cân sức .Họ thất thế ngay từ ban đầu khi tựgiác đúng lên ,không có ai tổ chức,chẳng có binh thư ,binh pháp .còn quân giặc thì chuẩn bị bài bản ,có quy mô , quy củ.Họ thất thế khi xing trận mà ngoài cật có một manh áo vải ,trong tay cầm ngon tầm vông ,còn kẻ thù lại có tàu sắt tàu đồng , đạn nhỏ , đạn to.Song chí căm thù ,lòng yêu nước đã khiến những người nông dân trối kệ tàu thiếc,tàu đồng súng nổ ,liều mình như chẳng có ai.Ai cũng biết cái giá cuối cùng của hành động ấy. Nhưng nghĩa sĩ nông dân càng biết rõ điều đó:

    Một giấc sa trường rằng chữ hạnh ,nào hay da ngựa bọc thây;trăm năm âm phủ ấy chữ quy,nào đợi gươm hùm trao mộ.

    Những nghĩa sĩ nông dân trở thành “những anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang”.Hình tượng người nghĩa sĩ chân đất lần đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam đã mang hình dáng đầy bi tráng.Nó như một tượng đài sừng sững tạc vào không gian lẫn với thời gian để nói với muôn đời rằng:Thác mà trả nước non rồi nợ ,danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ ,tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.
    Với tư tưởng yêu nước, thương dân sâu sắc, những bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu lúc đương thời đã kích động rất nhiều nhân dân miền Nam đứng lên đánh giặc cứu nước . Ngày nay, đọc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta vẫn như được thấy hình ảnh người bộ đội nông dân trong cách mạng, trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như trong cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống giặc Mĩ xâm lược để giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY