Văn 12 Kiến thức trọng tâm về tác giả, tác phẩm lớp 12

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
[TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn
Chắc suất Đại học top - Giữ chỗ ngay!!

ĐĂNG BÀI NGAY để cùng trao đổi với các thành viên siêu nhiệt tình & dễ thương trên diễn đàn.

Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh
Phần 1: Tác giả
I. Vài nét về tiểu sử

- Hồ Chí Minh: sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 2/9/1969.
- Tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung.
- Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Sen (hay làng Kim Liên), xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Người là nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20, một chiến sĩ cộng sản quốc tế.

II. Sự nghiệp văn hoá
1. Quan điểm sáng tác
- Văn học là vũ khí phục vụ cách mạng
- Chú trọng tính chân thật và tính dân tộc
- Mỗi khi đặt bút viết, coi đối tượng, mục đích quyết định nội dung và hình thức
2. Di sản văn học
a) Văn chính luận
- Mục đích:
  • Đấu tranh với kẻ thù
  • Thức tỉnh quần chúng
- Tác phẩm: Tuyên ngôn độc lập, Bản án chế độ thực dân Pháp
b) Truyện và kí
- Mục đích:
  • Lên án, tố cáo tội ác kẻ thù
  • Ca ngợi tấm gương yêu nước
c) Thơ ca
- Mục đích:
  • Phản ánh hiện thực xã hội
  • Ghi lại tình cảm, suy nghĩ của Bác
=> Bức chân dung tự họa về bậc "đại nhân, đại trí, đại dũng"
3. Phong cách nghệ thuật:
- Độc đáo, đa dạng
- Từ ngữ trong sáng, giản dị, dễ nhớ và dễ hiểu

Phần II: Tác phẩm
I. Tiểu dẫn

- Hoàn cảnh sáng tác: Cách mạng tháng Tám thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội, tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người soạn thảo "Tuyên ngôn độc lập". Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập trước hàng chục vạn đồng bào, chính thức khai sinh nước Việt Nam mới
- Giá trị
+ Giá trị lịch sử: là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gần 100 năm của dân tộc ta để có thể có được quyền thiêng liêng và chính đáng ấy. Bản "Tuyên ngôn độc lập" đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng cho dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta.
+ Giá trị văn học: Là áng văn chương yêu nước lớn của thời đại cách mạng. Khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập của dân tộc, gắn độc lập dân tộc với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, truyền thống dân tộc Việt Nam. Là áng văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép giàu sức thuyết phục, chứng cứ cụ thể, xác thực.
- Đối tượng: nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đặc biệt là lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế (Pháp)
- Mục đích
+ Tuyên bố nền độc lập chủ quyền của Việt Nam
+ Bác bỏ luận điệu xảo trá, bịp bợm của thực dân Pháp
+ Khẳng định ý chí quyết tâm giữ gìn nền độc lập

II . Đọc hiểu văn bản
1. Cơ sở pháp lý
- Mở đầu : Trích dẫn nội dung cơ bản
+ Tuyên ngôn độc lập ( Mĩ ) năm 1776
+ Tuyên ngôn nhân quyền ( Pháp ) năm 1721
-> Cả 2 bản tuyên ngôn đều nói về quyền của con người : Quyền sống , quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc
-> Quyền của dân tộc
=> Đây là điểm sáng tạo của Bác
- Khẳng định 1 cách mạnh mẽ về lẽ phải
- Nghệ thuật lập luận: khôn khéo , kiên quyết
+ Chiến thuật sắc bén gậy ông đập lưng ông
+ Bác tỏ ra tôn trọng những tư tưởng tiến bộ ,tích cực của loài người -> kéo tất cả mọi người ủng hộ
+ Nhắc nhở khôn khéo thực dân Pháp, đế quốc Mĩ: Nếu nhất định xâm lược Việt Nam tức là phản bội tổ tiên, vấy bùn lên 2 cuộc cách mạng nhân đạo
+ Kín đáo gọi niềm tự hào dân tộc kế thừa tư tưởng tiến bộ:
  • 3 cuộc cách mạng ngang nhau
  • 3 bài tuyên ngôn ngang nhau
  • 3 nền độc lập ngang nhau
+ Luận điểm suy rộng ra : (quyền dân tộc): là phát súng lệnh mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỉ XX
=> Bằng lí lẽ sắc sảo , dẫn chưng xác thực , cụ thể , giọng điệu mạnh mẽ , trầm trí tuệ văn hóa lớn đã tạo ra cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn
2. Cơ sở thực tế
a. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp
- Lí lẽ : Pháp khoe "công" khai hóa
-> Thực chất là xâm lược và cướp bóc
=> Hành động trái với nhân đạo và chính nghĩa
- Dẫn chứng
* Chính trị:
+ Triệt tiêu mọi quyền lực tự do dân chủ
+ Đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa
* Kinh tế:
+ Bóc lột ,cướp không ruộng đất nhà cửa
+ Độc quyền xuất cảng và nhập cảng
+ Đặc biệt,đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý
* Văn hóa - xã hội:
+ Thi hàng chính xác ngu dân,đầu độc dân ta bằng rượu cồn,thuốc phiện
+ Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học
- Kết quả:
+ Dân cực khổ, nghèo nàn, đất nước xơ xác, tiêu điều, 2 triệu người chết đói
- Nghệ thuật lập luận :
+ Liệt kê được tội ác chồng chất của kẻ thù
+ Điệp từ “chúng“ nhấn mạnh thái độ khinh bỉ, căm thù đối với kẻ thù
+ Động từ mạnh
+ Ẩn dụ “tắm” -> đàn áp dã man
+ Câu văn, đoạn văn ngắn tạo nên giọng điệu mạnh mẽ,hào hùng,đanh thép
=> Tóm lại, bằng lý lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, giọng văn mạnh mẽ, Bác đã tố cáo tội ác của giặc, gợi sự căm phẫn, đồng thời thể hiện sự đau sót đối với toàn thể đồng bào
b, Khẳng định thực tế lịch sử:
- Pháp khoe công “bảo hộ", Bác khẳng định đó là tội bán Việt Nam 2 lần cho Nhật
+ 1940: Nhật xâm lược, Pháp đầu hàng -> VN là thuộc địa của Nhật
+ 1945: Nhật thắng Pháp -> Pháp chạy -> Việt Nam chống Nhật -> Việt Nam giành độc lập từ tay Nhật
+ Nghệ thuật:
  • Điệp ngữ "sự thật là"
  • Liệt kê "Pháp chạy...."
  • Điệp cấu trúc "Dân ta".
-> Khẳng định mạnh mẽ sự thật lịch sử, thái độ nhân đạo, khoan hồng.
- Tuyên bố:
  • Thoát li hẳn quan hệ thuộc địa Pháp.
  • Xóa bỏ hết những hiệp ước Pháp đã kí về nước Việt Nam.
  • Xóa bỏ tất cả mọi quyền của Pháp với Việt Nam.
-> Từ phủ định tuyệt đối, xóa bỏ mọi ràng buộc của Pháp với nước Việt Nam.
- Lời kêu gọi:
+ Nhân dân Việt Nam đoàn kết chống thực dân Pháp.
+ Kêu gọi các nước đồng minh công nhận quyền độc lập của Việt Nam.
- Lời khẳng định (Tăng cấp):
+ Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập.
+ Việt Nam xứng đáng được hưởng (bởi truyền thống nhân đạo)
-> Mạnh mẽ, hùng hồn.
3. Lời tuyên ngôn
- Tuyên bố Việt Nam có quyền hưởng độc lập.
- Khẳng định ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập.
III. Tổng kết:
- Lí lẽ, dẫn chứng xác thực với trí tuệ (văn hóa) và khát vọng độc lập tự do cháy bỏng. Bác Hồ làm nên một bản tuyên ngôn đầy sức thuyết phục và xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn.
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Vì bài rất dài nên mình xin phép chia ra để đăng

TÂY TIẾN ( QUANG DŨNG)
(Phần 1)

A. Vài nét khái quát về tác giả, tác phẩm
I. Tác giả
- Quang Dũng (1921-1988): tên khai sinh là Bùi Đình Diệm (tên gọi khác là Dậu)
- Quê quán: làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)
- Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Với tư cách là một nhà thơ, thơ ông hồn nhiên, phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa
- Trước năm 1945, ông học trung học ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông gia nhập quân đội, sau năm 1954, làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Văn học
- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
II. Tác phẩm
- "Tây tiến" là bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng

1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947 với nhiệm vụ vừa đánh tiêu hao sinh lực địch vừa tuyên truyền vận động nhân dân kháng chiến. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến khá rộng, bao gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa và dọc biên giới Việt - Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, Quang Dũng là đại đội trưởng của trung đoàn Tây Tiến. Sau một thời gian hoạt động ở Lào, đoàn binh Tây Tiến trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52. Cuối năm 1948, Quang Dũng được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa lâu, khi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc ở Phù Lưu Chanh (tỉnh hà đông cũ), trong nỗi nhớ thương bồi hồi, Quang Dũng viết bài thơ "Nhớ Tây Tiến" nằm trong tập "Mây đầu ô", sau này tác giả đổi tên bài thơ thành "Tây Tiến"

2. Bố cục: 4 phần

3. Nhan đề:
  • Ban đầu, bài thơ có tên "Nhớ Tây Tiến": đây là một trạng thái cảm xúc của tác giả khi nhắc đến đơn vị cũ từng gắn bó sâu đậm, từ "nhớ" làm dòng cảm xúc ấy trở nên cụ thể, nổi bật, trở thành xúc cảm chủ đạo trong bài thơ
  • Sau khi in lại, tác giả đổi tên thành "Tây Tiến": bỏ đi chữ "nhớ" nhưng giá trị bài thơ không hề giảm đi mà còn tăng thêm, tình cảm, cảm xúc không chỉ gói gọn là nỗi nhớ nữa mà nó trở nên rộng hơn, khái quát hơn
-> Sau gần 10 năm tác giả mới đổi tên, điều ấy chứng tỏ ông vẫn còn nhớ, còn lưu luyến với những kỉ niệm cũ, cũng còn tình cảm, sự quan tâm tới "đứa con tinh thần" này

4. Tóm tắt tác phẩm
Bài thơ là nỗi nhớ khắc khoải: một nỗi nhớ chơi vơi không đầu không cuối, một nỗi nhớ trải rộng cả về không gian lẫn thời gian. Nỗi nhớ ấy vừa dạt dào sâu lắng vừa gầm gào mãnh liệt.
Nhớ Tây Tiến là nhớ về thiên nhiên Tây Bắc dữ dội mà lại thơ mộng, trữ tình đến nao lòng. Thiên nhiên đẹp, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người, khó mà phôi pha.
Nhớ Tây Tiến còn là nhớ con người. Nhớ về những kỉ niệm đẹp đẽ thấm đượm tình quân - dân. Nhớ cả hình ảnh người lính hiên ngang chiến đấu không ngại hi sinh.
VĂN BẢN "TÂY TIẾN"
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu, anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi."

B. Tìm hiểu văn bản
I. Đoạn 1:

1. Hai câu đầu
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi"

- Mở đầu là tiếng gọi tha thiết, bồi hồi đầy tiếc nuối
- Điệp từ "nhớ" nhắc lại 3 lần nhằm khắc sâu nỗi nhớ
- Nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ "chơi vơi": nỗi nhớ bề bộn, không hình không lượng, nhẹ tênh mà nặng vô cùng. Chữ "Chơi vơi" là từ láy vần với 2 thanh không, gợi độ cao phiêu du, bay bổng, là một từ láy thật phù hợp để miêu tả nỗi nhớ hướng về vùng núi cao miền Tây
- Kỉ niệm ùa về xôn xao, thức dậy trong lòng, nỗi nhớ qua không gian, thời gian vọng về trong tâm tưởng
=> Hai câu thơ đầu đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ, cũng là của cả bài thơ, đó là nỗi nhớ tha thiết của người cựu chiến binh Tây Tiến hướng về miền Tây, trung đoàn Tây Tiến và những năm tháng quá khứ không thể nào quên.

2. Mười câu thơ tiếp:

"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người."


*) Bức tranh thiên nhiên: Thông qua những nét vẽ tài hoa vừa chân thực vừa thấm đẫm chất lãng mạn, Quang Dũng đã làm hiện lên bức tranh thiên nhiên miền Tây heo hút, hiểm trở nhưng cũng hùng vĩ thơ mộng và xiết bao kỳ thú.
- Những địa danh Tây Tiến đã qua "Sài Khao, Mường Lát,..." cùng với cái khắc nghiệt của thiên nhiên "sương lấp". thiên nhiên miền Tây trong kí ức Quang Dũng chính là màn sương rừng mờ ảo: sương phủ dày ở Sài Khao, sương bồng bềnh ở Mường Lát. Bút pháp hiện thực trong câu trên đã miêu tả chân thực sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Tây qua hình ảnh một đoàn quân dãi dầu mệt mỏi, thấp thoáng ẩn hiện trong sương.
- Tới câu thơ sau, hiện thực khắc nghiệt đã được thi vị hoá bởi cảm hứng lãng mạn: đêm sương thành đêm hơi bồng bềnh, những ngọn đuốc soi đường di chuyển dọc con đường hành quân được nhìn như những đoá hoa chập chờn, lung linh, huyền hoặc… Cũng có thể hiểu "hoa" ở đây là những chiến sĩ
- Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào từ lấp – một động từ có sức gợi tả màn sương rừng miền Tây mênh mông, dày đặc che kín cả một đoàn quân, trùm phủ, khuất mở rừng núi khiến con đường hành quân của các chiến sĩ thêm vất vả gian nan.

"Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm"
- Sự phối hợp dày đặc của 5 thanh trắc đã tạo ra âm hưởng gập ghềnh cho một câu thơ 7 chữ, khiến người đọc có thể hình dung ra phần nào cuộc hành quân gian truân, vất vả vô cùng của chiến sĩ Tây Tiến trong một địa hình mà sự hiểm trở hiện hữu ngay trong nhạc điệu của câu thơ.
- Từ "dốc" điệp lại ở đầu hai vế câu thể hiện sự hiểm trở, gập ghềnh, trùng điệp, chồng chất, nối tiếp như tới vô tận của những con dốc; cũng phần nào gợi ra sự nhọc nhằn của người lính trên đường hành quân: con dốc này chưa qua, con dốc khác đã tới
- Từ láy gợi hình "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút": không gian được mở rộng ở cả ba chiều: độ cao, độ rộng, độ sâu. Từ láy "khúc khuỷu" miêu tả sự gồ ghề, gập ghềnh của dốc núi ngay dưới chân chiến sĩ; còn từ láy "thăm thẳm" lại gợi độ cao hun hút, độ xa vời vợi khi đưa mắt nhìn tiếp con đường hành quân vẫn cheo leo, ngút ngàn như không cùng. Còm từ láy "heo hút" vừa gợi cao, vừa gợi xa, vừa gợi vắng, được đào lên đầu câu thơ nhấn mạnh sự hoang sơ, xa vắng, thăm thẳm như vô tận của dốc núi miền Tây

"Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống"
- Điệp ngữ ngàn thước là một ước lệ nghệ thuật có tính định lượng khắc hoạ vẻ đẹp hùng vĩ, chênh vênh kì thú của núi rừng miền Tây
- Đối lập: ngàn thước lên cao >< xuống -> địa hình chập trùng, hiểm trở, hùng vĩ, dữ dội

"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"
- Hình ảnh "mưa xa khơi" có thể coi là một ẩn dụ cho thấy cả thung lũng mờ mịt như loãng tan trong biển mưa, không gian bỗng như mênh mang, xa vời hơn... Giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, hình ảnh ngôi nhà gợi cảm giác ấm áp, bình yên làm trào dâng nỗi nhớ nhung, xao xuyến lòng người xa quê.

"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người."

- "Thác gầm thét" và "cọp trêu người" là hai hình ảnh nhân hoá làm tăng thêm sự dữ dội hoang sơ đầy bí hiểm của núi rừng miền Tây. "Thác gầm thét": chảy mạnh, tiếng chảy rất lớn, "cọp trêu người": thú dữ luôn rình rập, đe doạ tính mạng con người.
- Bút pháp đối lập của cảm hứng lãng mạn đã được Quang Dũng sử dụng trong phép đối thanh rất tinh tế ở hai câu thơ này. Nếu câu trên có các tiếng thác, thét mang thanh trắc ở âm vực cao thì câu dưới là các tiếng Hịch, cọp cũng mang thanh trắc nhưng thuộc âm vực thấp.
- "Chiều chiều" và "đêm đêm" là những trạng ngữ chỉ dòng thời gian lặp lại miên viễn, vĩnh hằng. Những sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trị nơi núi rừng miền Tây không phải một chiều, một đêm mà là chiều chiều, đêm đêm - sự ngự trị muôn đời!

*) Cuộc hành quân của người chiến sĩ Tây Tiến
- Họ hành quân trong sương, đêm, mưa, núi cao, thác sâu, dốc thẳm, thú dữ luôn rình rập
- Địa hình heo hút, hiểm trở làm tăng thêm những gian truân vất vả cho người lính trên đường hành quân; nhưng bằng cách nói tếu táo, hóm hỉnh, đầy chất lính trong hình ảnh nhân hoá “súng ngửi trời”, Quang Dũng đã cho thấy tâm hồn trẻ trung của những người lính phong trần coi thường mọi gian lao, vất vả. -> Cho thấy vị thế cao, khiến các anh hiện ra trong dáng vẻ ngang tàng, kiêu dùng của những chàng trai chinh phục độ cao!
- Thông qua bức tranh thiên nhiên đặt trong sự trải nghiệm của chiến sĩ Tây Tiến trên đường hành quân, có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn những người lính Tây Tiến; họ lạc quan, mạnh mẽ coi thường mọi gian truân vất vả, những thử thách của thiên nhiên chỉ càng làm rõ hơn ý chí, sức mạnh, tâm hồn trẻ trung và tự chất nghệ sĩ của họ.
- Họ đã hành quân qua những vùng đất hoang sơ, dữ dội vắng bóng con người, họ đã in dấu chân mình trên những vùng đất tưởng chỉ là vương quốc riêng của mây trời heo hút, của thiên nhiên bí ẩn thâm u, họ đã vượt qua những gian truân vất vả bằng khí phách kiên cường và lòng dũng cảm

"Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời"

- Từ láy "dãi dầu" đã thể hiện tất cả những vất vả, nhọc nhằn của các anh khi hành quân
- "Không bước nữa", "gục lên súng mũ", "bỏ quên đời": biện pháp nói giảm nói tránh nhằm làm vơi nhẹ đau thương, khiến cho cái chết trở nên nhẹ nhàng, thanh thản như bỏ quên một vật gì bình dị trong đời chứ không còn là cái chết khốc liệt, đau thương tột cùng
[tex]\rightarrow[/tex] Hai câu thơ tựa như một bức kí hoạ đầy ấn tượng về người lính Tây Tiến
[tex]\Rightarrow[/tex] Tóm lại, đó là cuộc hành quân gian khổ mà oai hùng

3. Hai câu tiếp:
"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi."

- Con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến không chỉ có gian truân vất vả mà còn có cả những kỉ niệm ngọt ngào, thắm thiết ân tình. Người lính Tây Tiến đến bản làng được người dân tiếp đón rất nồng hậu, chu đáo bằng những "cơm lên khói", "thơm nếp xôi"
- Mở đầu bằng cụm từ cảm thán "Nhớ ôi", câu thơ bộc lộ cảm xúc nhớ nhung dâng trào mãnh liệt
- Hai câu thơ là những cụm từ ngữ đã được xoá đi những yếu tố kết nối, trở thành một tập hợp từ những ấn tượng của thị giác, khứu giác, xúc giác, thính giác ...
- Câu thơ "Mai Châu mùa em thơm nếp xôi" gợi ra nhiều cách hiểu.
  • Có thể hiểu các chiến sĩ Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín, đón nhận bát xôi ngào ngạt hương nếp đầu mùa từ bàn tay dịu dàng của các em – những cô gái Mai Châu.
  • Cũng có thể hiểu câu thơ theo một nét nghĩa thật lãng mạn từ hai chữ "mùa em", Mai Châu còn gợi nhớ tới hình ảnh các sơn nữ sóng sánh ánh mắt, rạng rỡ nụ cười, nồng nàn hương sắc...

[tex]\Rightarrow[/tex] Đó là hương vị tình thân, tình dân - quân ấm áp.


Còn tiếp....
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
TÂY TIẾN (QUANG DŨNG)
Phần 2
II. Đoạn 2
1. Bốn câu đầu
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ"

- Câu thơ đầu tiên như một tiếng reo vui của đêm hội liên hoan văn nghệ. Đây là lần thứ hai, lửa và "đuốc" được liên tưởng tới "hoa". Nếu trong đêm sương Mường Lát, chiến sĩ Tây Tiến nhìn đuốc soi đường lung linh huyền ảo như thấy hoa về trong đêm hơi thì ở đây, nghệ thuật ẩn dụ và cảm hứng lãng mạn đã khiến ánh lửa bập bùng nơi đóng quân trở thành đêm hội đuốc hoa
- Từ "bừng lên": ánh sáng chói loà, đột ngột của lửa, soi sáng và xua đi cái tăm tối, lạnh lẽo của núi rừng, đồng thời cũng khiến cuộc sống như bừng tỉnh, tưng bừng
- Từ "kìa" và cụm từ "tự bao giờ" bộc lộ thái độ vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên vừa ngưỡng mộ, trìu mến.
- Các cô gái hiện lên với hai ấn tượng bởi bút pháp mĩ lệ hoá trong xiêm áo lộng lẫy và nét e ấp, nữ tính. Nét nữ tính ấy khiến các cô đẹp hơn trong mắt đoàn quân xanh màu lá, duyên dáng hơn trước người lính dữ oai hùm. Nét tương phản này phần nào làm dịu đi sự khắc nghiệt của chiến tranh
- Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng, thú vị trước vẻ đẹp của sơn nữ mà còn mơ màng trong man điệu núi rừng. Có thể hiểu "man điệu" là vũ điệu uyển chuyển của các sơn nữ, cũng có thể hiểu là giai điệu say đắm, ngọt ngào, vừa hoang sơ vừa bí ẩn, mới mẻ, lay động lòng người
- Một đêm hội với đầy đủ âm thanh (khèn, nhạc), ánh sáng (lửa, đuốc hoa), màu sắc (xiêm áo) và con người. Tất cả đã tạo nên đêm hội tưng bừng nhộn nhịp, chan hoà mọi vật, người chiến sĩ Tây Tiến đắm say trước vẻ đẹp xứ lạ, hồn tràn đầy ý thơ mơ tưởng tới ngày chiến thắng

2. Bốn câu sau
"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?"

- Tới đoạn thơ sau, những kỉ niệm rực rỡ và sống động về một đêm trại tưng bừng đã được thay bằng những bâng khuâng trong nỗi nhớ da diết về cảnh sắc, con người Tây Bắc
- Nỗi nhớ miền Tây được gửi vào lời nhắn với người đi.
- Đại từ chỉ định "ấy" đem lại sắc thái xa xôi mơ hồ cùng nỗi nhớ nhung, tiếc nuối, bâng khuâng
- Sau lời nhủ thầm xao xuyến, nhà thơ lên những tiếng hỏi mà phép điệp trong cấu trúc "Có thấy…" đã thể hiện nỗi nhớ đầy trăn trở hướng về cảnh và người miền Tây.
- Câu hỏi thứ nhất hướng về những hàng lau xám buồn bên bờ sông hoang dại "Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?". Hồn lau là hồn mùa thu, hoa lau nở trắng, lá lau xào xạc trong gió thu nơi bờ sông, bờ suối. Thân lau vốn mềm, khẽ lay trong gió tựa như sinh thể vô tri ấy được thổi hồn khiến cái xào xạc càng thêm miên man, lay động
- Câu hỏi thứ hai dành cho người miền Tây "Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa". Dáng người ấy vừa cứng cỏi, kiên cường trên con thuyền độc mộc đè thác lũ băng băng lướt tới, vừa mềm mại uyển chuyển trong hình ảnh ẩn dụ "hoa đong đưa"

III. Đoạn 3
  • Thông qua nỗi nhớ về chiến đấu gian khổ và hi sinh anh dũng của những chiến binh Tây Tiến, đoạn thơ đã trở thành một bức tượng đài về hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến
1. Trong bốn câu đầu, nhà thơ đã tái hiện chân thực cuộc sống chiến đấu gian khổ, hào hùng cùng chiến sĩ Tây Tiến trong những năm tháng kháng chiến.
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm."

- Cụm từ "Đoàn binh" vang lên khiến âm hưởng câu thơ mạnh hơn, đồng thời cho thấy sự sẵn sàng chiến đấu của những người lính
- Trong kí ức của Quang Dũng, Tây Tiến là một đoàn binh có vẻ ngoài rất khác lạ: đầu trọc, da xanh. Nét vẻ ngoại hình này xuất phát từ một hiện thực trong cuộc sống của lính Tây Tiến:
+ Họ phải cạo trọc đầu để giảm bớt những bất tiện trong cuộc sống ở rừng, hoặc tạo thuận lợi hơn cho đánh cận chiến
+ Cũng có thể đó là hậu quả của những trận sốt rét liên miên nơi rừng thiên nước độc khiến tóc bị rụng, da bị xanh
+ Dù hiểu theo cách nào, đó cũng là hình ảnh gợi lên sự gian khổ, thiếu thốn khắc nghiệt của chiến tranh.
- Nhưng với cách diễn đạt độc đáo, ngang tàn, bốc tếu của Quang Dũng, câu thơ đã chuyển hoàn toàn từ thế bị động sang chủ động, người lính Tây Tiến vì thể hiện lên không tiều tụy, nheo nhếch mà kiêu dũng, ngang hàng.
- Màu xanh "xanh màu lá" - "dữ oai hùm" có thể hiểu là màu xanh áo lính hay màu xanh lá ngụy trang khiến cả đoàn quân xanh màu lá. Nhưng theo mạch thơ, nên hiểu đây là câu thơ miêu tả những gương mặt xanh xao, gầy ốm vì sốt rét, vì cuộc sống gian khổ ở rừng.
- Quang Dũng đã có cách diễn đạt rất tinh tế khi miêu tả một đoàn quân xanh lá chứ không phải xanh xao, gầy ốm vì sốt rét, vì cuộc sống cam khổ ở rừng.
- Cũng ngay trong vế sau của câu thơ là một tương phản độc đáo giữa màu xanh lá với dữ oai hùm - trên những gương mặt xanh xao gầy ốm của người lính vẫn toát lên nét dữ dội kiêu hùng, vẻ uy nghi lẫm liệt
- Hình ảnh ẩn dụ dữ oai hùm còn gợi liên tưởng tới "cọp trêu người" ở đoạn trên - một liên tưởng thú vị, trìu mến, tự hào: dường như ở miền đất có bóng hổ rình rập đe doạ với cọp trêu người thì người lính cũng phải có oai hùm dữ dội, uy nghi để chế ngự và chiến thắng!
- "Mắt trừng" là ánh mắt mở to, hướng thẳng về phía trước, ánh mắt ngời lên ý chí chiến đấu và khát vọng chiến thắng, khát vọng gửi trong mộng chiến trường cao đẹp
- Câu thơ đã khắc hoạ nét đẹp lãng mạn trong tâm hồn những người lính có lí tưởng và khát vọng lớn lao, ra đi vì nghĩa lớn như những tráng sĩ xưa. Những chàng trai Hà nội ra đi vì sức vẫy gọi mãnh liệt của lí tưởng, song, trái tim họ vẫn luôn dành một góc lưu luyến nhớ nhung về Hà Nội dáng kiều thơm.
- Đó là những nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thế hệ người Việt Nam dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.

2. Đoạn thơ sau trực tiếp miêu tả sự hi sinh anh dũng của chiến sĩ Tây Tiến, tôn lên vẻ đẹp lí tưởng:
"Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu, anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành."

- Câu thơ đầu đem đến một cảm giác buồn bã về cái chết. Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào chữ "mồ", một âm tiết mang thanh bằng ở âm vực thấp, một từ gợi ý nghĩa hiện hữu của cái chết, câu thơ vì thể đem đến cảm giác trầm buồn và ảm đạm. Trong một câu thơ và đoạn thơ dùng rất nhiều từ Hán Việt thì mổ là một từ thuần Việt có giá trị biểu đạt và biểu cảm thật xúc động. Không sử dụng từ "mộ", mồ là một danh từ miêu tả chính xác thực tế chiến trường lúc đó khi các anh hi sinh trên đường hành quân, việc chôn cất sơ sài, vội vã, đồng đội xót lòng để các anh lại trong những nấm đất hoang lạnh, hiu hắt, đơn sơ trên đường.
- Bản thân cái chết đã gợi lên sự buồn bã, càng lạnh lẽo hơn khi các anh không được nằm bên nhau, những nấm mồ cứ rải rác trên từng chặng đường hành quân gian khổ, những nấm mồ thiếu hơi ấm của gia đình, quê hương, đất nước, sự hi sinh của các anh càng làm đau lòng người sống.
- Một loạt các từ Hán Việt (biên cương, viễn xứ, chiến trường) gợi sự cổ kính, trang trọng, trang nghiêm -> Nâng những nấm mồ vùi vội trở thành những mồ chí tôn nghiêm
- Tuy nhiên, Tây Tiến bi mà không lụy, ảm đạm mà không yếu mềm, cảm hứng bi tráng đã trở thành âm hưởng chủ đạo của đoạn thơ, bài thơ, đem đến sự mạnh mẽ hào hùng cho đau thương, mất mát.
- Những chiến sĩ nhìn những nấm mồ một cách bình thản bởi đã xác định mục đích, lý tưởng sống, sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho dân tộc "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh"
- "Đời xanh"
là một hình ảnh ẩn dụ cho tuổi thanh xuân, thời gian đẹp nhất trong cuộc đời, quãng thời gian một đi không trở lại
- Như vậy, sau câu thơ đầu nói về cái chết, về những nấm mồ, câu thơ tiếp theo lại khẳng định ý chí, lí tưởng và khí phách của chiến sĩ Tây Tiến.
- Vượt lên trên hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh, trong cảm nhận của Quang Dũng, những đồng đội thân yêu của ông khi ngã xuống vẫn được khâm liệm trong tấm áo bào trang trọng vốn chỉ dành cho những tráng sĩ anh hùng xả thân vì đất nước.
- "Áo bào": tấm chiếu bào của những vị tướng thời xưa. Người lính Tây Tiến khi hi sinh một manh chiếu bó thây cũng không có nhưng với cảm hứng ngợi ca, trân trọng, tác giả nâng những tấm áo sờn vai, bạc màu trở thành những tấm chiếu bào sang trọng. Sự bi thảm của cái chết đã được xóa đi không chỉ vì lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng mà còn bởi cách nói giảm khi coi chết chỉ là về đất.
- Từ âm thanh của tiếng sông Mã, nghệ thuật nhân hóa trong cụm từ "gầm lên" đã thể hiện trọn vẹn tính chất dữ dội trong những cung bậc cảm xúc mạnh mẽ và sâu sắc nhất với những bi phẫn, xót đau, những tiếc thương , cảm phục…..

IV. Đoạn 4: Lời thề của người chiến sĩ Tây Tiến
"Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi."

- Trở về hiện tại, miền Tây và Tây Tiến đã lùi xa trong kí ức, trong nỗi nhớ nhung
- Tác giả nhắc đến hình ảnh người đi trong những nét nghĩa mơ hồ: có thể hiểu nhà thơ nhắc đến những chiến binh Tây Tiến, cũng có thể nhà thơ nhắc tới thời điểm cuối năm 1948, khi ông đang ở Phù Lưu Chanh, bâng khuâng nhớ về việc mình đã chia xa trung đoàn Tây Tiến không hẹn ước ngày về.
- Những năm tháng ngắn ngủi sống trong đoàn binh Tây Tiến đã để lại trong lòng nhà thơ những kỉ niệm không thể phai mờ. Bài thơ kết lại bằng lời nhắn nhủ thiết tha:
"Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi"

- Dù có thể chia xa nhưng tâm hồn những người lính Tây Tiến sẽ mãi đi về với miền Tây, với những Sầm Nứa, Pha Luông, Mường Hịch …những vùng đất xa xôi đựng đầy kỉ niệm với đồng đội, với trung đoàn Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ
- Hoặc có thể hiểu: mặc dù đã hi sinh nhưng các anh vẫn muốn sống cùng đồng đội, sống trong đồng đội, cùng thực hiện lý tưởng chiến thắng
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
VIỆT BẮC
(TRÍCH - TỐ HỮU)
(Phần 1)
Phần I. Tác giả
I. Vài nét về tiểu sử

-Nguyễn Kim Thành (1920 - 2002) quê ở Thừa Thiên Huế
- Xuất thân trong một gia đình nho nghèo
- Hăng hái hoạt động Cách mạng

II. Đường Cách mạng, đường thơ
- Ông là nhà thơ lớn của thi ca Việt Nam hiện đại. Tố Hữu đến với thơ và Cách mạng cùng một lúc -> chặng đường thơ luôn song hành, gắn bó và phản ánh chân thực những chặng đường Cách mạng

III. Phong cách thơ Tố Hữu
-Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, đó là nguyên nhân của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn rất đậm nét trong thơ ông
- Thơ ông đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và hình thức thể hiện

Phần II. Tác phẩm
I. Tiểu dẫn

- Hoàn cảnh sáng tác: Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc của Cách mạng Việt Nam từ những năm 40 tới khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và mộ thời kì mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10 - 1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ "Việt Bắc".
- "Việt Bắc" là đỉnh cao thơ Tố Hữu, một trong những thành công xuất sắc của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp
- "Việt Bắc" là tiếng lòng của kẻ đi, người ở, là khúc hùng ca và bản tình ca về Cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.
- Hai phần:
+Phần 1: 20 câu đầu -> lời của người ở lại
+ Phần 2: còn lại -> lời của người ra đi
-Đoạn trích trong sgk nằm trong phần 1

II. Đọc hiểu văn bản
* Cảm nhận chung:
-Thể loại: thơ lục bát tạo nên giọng điệu ngọt ngào, đằm thắm
- Kết cấu: viết theo lối hát đối đáp giao duyên -> dùng ngôn ngữ của tình yêu để nói chuyện cách mạng
- Xưng hô: mình - ta -> thể hiện mối quan hệ gần gũi, gắn bó, thân thiết sâu nặng, mình với ta tuy hai mà một, không thể tách rời

1. Hai mươi câu đầu: Lời của người ra đi
a. Bốn câu thơ đầu: là khúc dạo đầu ân tình chung thuỷ và niềm trăn trở, nhớ thương của người ở lại với người ra đi.
- Nội dung chủ yếu của hai cặp câu lục bát này chính là những nỗi niềm da diết được thể hiện trong hai câu hỏi:
"Mình về mình có nhớ ta?
... Mình về mình có nhớ không?"
+"Mình" và "ta" là những đại từ nhân xưng quen thuộc trong ca dao xưa, là cách xưng hô bình dị, thương mến vô cùng của tình yêu đôi lứa. "Mình" là người ra đi, người về xuôi, "ta" là người ở lại, người dân Việt Bắc. Hai câu hỏi trong đoạn mở đầu đã gợi nhắc tới những câu ca dao nói về cảnh chia tay bịn rịn nhớ nhung của lứa đôi: "Mình về có nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười". Tố Hữu đã mượn một hình thức ngôn từ quen thuộc của văn hoá dân gian để gửi gắm những nội dung tình cảm lớn lao của thời đại mới, những câu ca ngọt ngào của tình yêu đã trở thành những câu hỏi xao xuyến của nghĩa tình cách mạng, thể hiện nỗi nhớ nhung của người ở lại với người về xuôi. Họ lo lắng, băn khoăn, nhớ thương, không biết người đi có nhớ mình hay không bởi hoàn cảnh sống thay đổi, lòng người dễ đổi thay
+ Đoạn thơ sử dụng phép lặp quen thuộc trong ca dao xưa khiến nỗi nhớ trở nên miên man, da diết, không thể nguôi ngoai; cũng đồng thời tạo nên âm hưởng day dứt, trăn trở
+ Hai câu thơ lục bát có tới bốn chữ "mình" và chỉ có một chữ "ta". Việc sử dụng ngôn từ ấy đã đem lại cảm giác hình ảnh người ra đi tràn ngập không gian, đầy ắp trong nỗi nhớ của người ở lại, cũng đồng thời gợi một chút đơn côi, lặng thầm cho hình ảnh người ở lại nơi núi rừng hoang vắng, hắt hiu...
-Nỗi niềm người ở lại được thể hiện trước hết trong câu hỏi hướng về thời gian:
"Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng"
+ Trong tiếng Việt, đại từ "ấy" luôn khiến những danh từ chỉ thời gian đứng trước nó bị đẩy về một quá khứ thật xa xăm, trở thành khoảng thời gian gợi nỗi nhớ thương, ngậm ngùi, tiếc nuối. "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng" 15 năm được nhắc tới là khoảng thời gian họ cùng chiến đấu, gắn bó kháng chiến, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi
+ Nếu câu hỏi thứ nhất hỏi rằng "mình" có nhớ "ta" thốt lên xao xuyến lòng người khi phảng phất bóng dáng những câu ca về tình yêu thì câu hỏi thứ hai "Mình về mình có nhớ không?" lại khiến người nghe trăn trở, suy ngẫm vì sự tha thiết, nghiêm nghị trong giọng điệu thơ.
- Câu hỏi này hướng tới không gian:
"Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
."​
+ Hai vế của câu thơ đan xen những hình ảnh của cả miền xuôi như cây sống và miền núi như núi, nguồn. Hoàn cảnh chia xa, nỗi nhớ và sự gắn bó khăng khít đã hiện ngay trong cả chia tách và đan xen hoà quyện của ngôn từ. Nhìn cây, nhìn sông là những hình ảnh nhắc tới một thực tế chắc chắn trong tương lai khi người kháng chiến đã về xuôi, đã sống với quê hương, với đồng bằng, vì thế cũng có thể coi là biểu tượng cho việc trở về của người kháng chiến với chốn đô hội phồn hoa; còn nhớ núi, nhớ nguồn là để tâm hồn trở về với quá khứ, với Việt Bắc.
+ Trong câu hỏi thứ hai, bên cạnh nỗi nhớ nhung, niềm trăn trở của người ở lại, ý thơ còn đem đến những suy ngẫm sâu xa về nghĩa tình, đạo lí, về cội nguồn chung thuỷ, về nét đẹp trong đời sống tinh thần của một dân tộc luôn nhắc nhau: uống nước nhớ nguồn.
b. Bốn câu tiếp: cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến nhớ nhung của người đi kẻ ở.
"Tiếng ai tha thiết bên cồn
....
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..."
- Câu thơ đầu nhắc tới "Tiếng ai tha thiết bên cồn" cho thấy những nhớ nhung xao xuyến, những day dứt trăn trở trong lòng người ở lại đã được người ra đi thấu hiểu, cảm nhận.
- Dùng lời của người ở lại để trả lời, phía trên là "thiết tha" thì tới đây là "tha thiết" tạo sự hô ứng, đồng vọng về tình cảm. Cũng từ "tha thiết" ấy là từ láy, diễn tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay (nửa vui nửa buồn, vui vù chiến thắng, buồn vì phải xa Việt Bắc; có cả tâm trạng lưu luyến, bịn rịn, nhớ thương, phấp phỏng và lo lắng....)
- "Ai" chính là người ở lại, nhưng tính chất phiếm chỉ đã đem lại cảm giác những câu hỏi tha thiết ở 4 câu đầu là tiếng của ai đó chưa nhìn rõ mặt, mới chỉ như những âm thanh vọng từ cỏ cây, núi rừng Việt Bắc, là tiếng lòng của người ở lại. Tuy nhiên, sự tri ân tri kỉ, đồng thanh tương ứng đã khiến họ thấu hiểu lòng nhau, người ở lại thiết tha, người ra đi tha thiết, hô ứng, đồng cảm, đồng vọng. Những âm thanh ấy cứ quấn quít, vương vấn theo từng bước chân khiến người đi: "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi". "Bâng khuâng" là từ láy gợi ra những trạng thái cảm xúc mơ hồ khó tả bởi sự đan xen buồn vui, luyến tiếc, nhớ nhung khiến con người như ngơ ngẩn. "Bồn chồn" là tâm trạng thấp thỏm, nôn nao khiến con người không yên, tuy cũng là từ láy miêu tả trạng thái cảm xúc nhưng bồn chồn nhiều khi không dừng lại ở những nỗi niềm trọng tâm tưởng mà còn có thể biểu hiện trong ánh mắt, dáng vẻ, hành động... Vì thế, câu thơ không chỉ thể hiện nỗi bịn rịn, nhớ nhung trong lòng mà còn gợi tả cả những bước chân ngập ngừng, lưu luyến của người đi.
"Áo chàm đưa buổi phân li"
- Đây là biểu tượng đơn sơ mà xúc động về những người dân Việt Bắc nghèo khổ, nghĩa tình. Hình ảnh hoán dụ về chiếc áo chàm vừa gợi ra trang phục đặc trưng, thân thuộc của người Việt Bắc lại khắc hoạ tính cách mộc mạc, giản dị của họ.
- Sự ngập ngừng đặc biệt hiện ra trong nhịp thơ ngắn 3/3/2, nhịp điệu chậm, buồn như bước chân ngập ngừng, lưu luyến của người đi:
"Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..."
+ Hành động "cầm tay" nhưng lại chẳng nói gì: cái bắt tay không lời nhưng chứa bề sâu cảm xúc
+ Dấu ba chấm: khoảng lặng thay lời muốn nói
=> Bốn câu thơ vừa là sự đồng vọng, nhớ nhung của người về xuôi với người ở lại, vừa tái hiện cảnh tiễn đưa bịn rịn, lưu luyến sâu nặng nghĩa tình trong ngày chiến thắng.
c. 12 câu tiếp: Những nỗi niềm băn khoăn trăn trở của người ở lại

* Câu 6 (câu lục)
- Nếu hai câu hỏi ở phần đầu mới chỉ gợi ra hình ảnh khái quát của quá khứ mười lăm năm ấy với những gắn bó thiết tha, của chiến khu Việt Bắc với núi với nguồn thân thuộc thì những câu hỏi trong đoạn thơ sau đã hướng tới những kỉ niệm thật cụ thể, xúc động.
- Những câu hỏi của người ở lại với người ra đi, những câu hỏi dồn dập, gấp gáp bởi nỗi nhớ trào dâng khi giờ phút chia tay đang đến gần.
- Điệp ngữ "mình đi" - "mình về": "đi" - "về", hai từ luân phiên nhau tránh đớn điệu nhàm chán và cũng là cặp từ trái nghĩa
nhưng trong trường hợp này đều chỉ về cùng một hướng: Hà Nội.
- Câu "Mình đi mình có nhớ mình" có tới 3 từ "mình", vừa chỉ người cán bộ về xuôi vừa chỉ người dân ở lại, cách dùng ấy khiến mình và ta tuy hai mà một
- Những câu hỏi tha thiết của người ở lại đã làm rõ cội nguồn tạo nên sự gắn bó sâu nặng giữa mình và ta, giữa đồng bào Việt Bắc và những người kháng chiến. Họ đã cùng nhau chia sẻ từ những gian khổ thiếu thốn khi nhường nhau miếng cơm chấm muối đến những tâm tư nỗi niềm khi chung nhau mối thù nặng vai, họ
đã sát cánh bên nhau trong những năm tháng ác liệt hào hùng từ thời Mặt trận Việt Minh tới 9 năm kháng chiến chống Pháp... Sự chia sẻ trong quá khứ tạo nên sự gắn bó trong hiện tại và nghĩa tình thuỷ chung trong tương lai.

* Câu 8 (câu bát)
- Sự đăng đối trong hai vế của các câu 8 với nhịp 4/4 , đó là những yếu tố tạo nên nhạc điệu ngân nga, dìu dặt ngọt ngào cho đoạn thơ. Nhịp điệu trữ tình ấy đã góp phần thể hiện tinh tế nỗi vấn vương xao xuyến giăng mắc trong lòng kẻ ở lẫn người đi để từ đó, quá khứ đầy ắp kỷ niệm ko ạt trở về.
- Trong những lời nhắc nhở da diết của người ở lại với người ra đi, Việt Bắc hiện lên thật sống động từ những khắc nghiệt của thiên nhiên với ta nguồn, suối tử, lau xám, mây mù..tới cuộc sống kháng chiến gian khổ, thiếu thốn với miếng cơm chấm muối, từ những trang sử hào hùng khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh tới những sự kiện trọng đại của cách mạng và kháng chiến nơi Tân Trào, Hồng Thái...
- Câu 8 gồm hai vế đối xứng nhắc đến trám bụi và măng mai là những sản vật quen thuộc và quý giá của núi rừng.
- Phép điệp trong cấu trúc "để rụng...", "để...." gợi lên hình ảnh cuộc sống như ngưng trệ, núi rừng như hoang phế sau lưng người đi cùng cảm giác buồn bã, hẫng hụt, trồng trai trong lòng người ở lại. Người ra đi đã để lại một khoảng trống mênh mông trong lòng người Việt Bắc giữa heo hút núi rừng.
- Phép tương phản trong hai tiểu đối của câu 8 đã trở thành những nét khắc hoạ đặc trưng nhất cho cuộc sống và con người Việt Bắc, "Hắt hiu lau xám" vừa là hình ảnh thực gợi tả không gian hoang vắng, tiêu sơ, buồn bã của núi rừng, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ cho cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi đây. "Nhà" là hoán dụ cho con người, "đậm đà lòng son" là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi tấm lòng trung hậu, nghĩa tình của những người dân Việt Bắc nghèo khổ. Và có lẽ chính màu lau xám hắt hiu của núi rừng càng làm đậm thêm những tấm lòng son sắt, thuỷ chung.
- Sau câu hỏi "Mình đi, mình có nhớ mình", câu 8 khẳng định lại một lần nữa tấm lòng gắn bó sắt son của Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến, lí do của tình yêu, nỗi nhớ và địa lí thuỷ chung trong lòng người đi:
"Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa"
+ Vế thứ nhất là hai danh từ riêng: Tân Trào, Hồng Thái, đó là những địa danh gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc và kháng chiến
+ Vế sau là hai danh từ chung trong đó: mái đình, cây đa chính là những hình ảnh bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam, là nơi tụ họp, hẹn hò, là không gian gần gũi thân yêu với cả cộng đồng và đôi lứa.
-> Hai tiểu đối trong câu thơ đã thể hiện sự gắn bó sâu sắc của người dân với cách mạng và kháng chiến: khi Việt Bắc trở thành quê hương cách mạng, khi người dân Việt Bắc một lòng đi theo cách mạng thì những sự kiện lớn lao của cách mạng sẽ trở thành sự quan tâm sâu sắc, thiêng liêng, thành những tâm tư sâu nặng trong lòng người, những địa danh gắn với các sự kiện quan trọng của cách mạng và kháng chiến cũng trở nên gần gũi như cây đa, bến nước, con đò, tình cảm của người dân Việt Bắc dành cho những người kháng chiến cũng trở nên thân yêu như tình làng nghĩa xóm hay tình yêu lứa đôi


Còn tiếp....
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Việt Bắc (Trích - Tố Hữu)
(Phần 2)
2. Phần hai (còn lại): Lời của người ra đi
*) Bốn câu đầu
''– Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…''
- Có thể nhận ra ngôn ngữ giao đối trong đoạn thơ đầu, khi sau những câu hỏi trăn trở của người ở lại là những đồng vọng xao xuyến của người ra đi. Và bây giờ, sau rất nhiều câu hỏi băn khoăn, nhớ nhung của người Việt Bắc, 4 câu cuối của đoạn thơ tiếp tục khẳng dịnh nỗi nhớ, sự thủy chung son sắt của người ra đi khi từ biệt quê hương cách mạng về xuôi
- Câu thơ đầu gồm hai tiểu đối, trong đó nhà thơ sử dụng phép lặp đan xen giữa ta-mình cùng từ “với” như một thứ keo gắn kết “ta với mình, mình với ta”. Kết cấu ngôn ngữ đặc sắc ấy đã gợi tả sự quấn quýt. Giao hòa giữa người đi, kẻ ở khăng khít không thể tách rời
- Sau câu thơ thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa “mình” và “ta” là một lời khẳng định : tình cảm không thay đổi , không bao giờ vơi cạn như nước trong nguồn. Nghĩa tiếng Hán của cụm từ “sau trước” nghĩa là thủy chung, sống có trước có sau, đạo lý thủy chung truyền thống của người Việt Nam từ bao đời nay. Ý thơ không chỉ dừng lại ở việc khẳng định sự thủy chung mà còn lí giải sự thủy chung một cách sâu xa thuyết phục
- Hai câu cuối như một lời thề thủy chung: nếu người ở lại băn khoăn, trăn trở trong một câu hỏi hàm chứa bao ý nghĩa sâu xa: mình đi, mình có nhớ mình thì người đi cũng trả lời trong một sự hô ứng đồng vọng, đồng cảm: mình đi mình lại nhớ mình. Từ “mình” ở cuối câu thơ có nhiều nét nghĩa: vừa là người ở lại, vừa là người ra đi, thể hiện nỗi nhớ da diết, có sự gắn kết giữa ta với mình. Đó còn là lời khẳng định của người ra đi: ánh đèn thành phố và cuộc sống hòa bình kkhoong bao giờ khiến người trở về quên đi quá khứ đẹp đẽ, nghĩa tình
- Dùng lời của người ở lại để trả lời “Có nhớ”, “lại nhớ” tạo sự hô ứng đồng vọng về tình cảm

*) Mười tám câu tiếp
''Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ
Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều.
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…"
- Người ra đi khẳng định nỗi nhớ như nhớ người yêu (thường trực). Nhớ người yêu là nỗi nhớ ám ảnh, thường trực, không thể nguôi ngoai, vơi cạn, một nỗi nhớ nhiều khi mãnh liệt đến phi lí. Có thể coi đây là một so sánh thể hiện sắc thái đặc biệt nhất và mức độ cao nhất cho nỗi nhớ của con người. Qua so sánh ấy, Tố Hữu đã bộc lộ sự gắn bó sâu nặng và nỗi nhớ thương của người về xuôi với mảnh đất và con người Việt Bắc
- Bức tranh thiên nhiên
+ Trăng núi, nắng nương, khói sương
+ Rừng nước, bờ tre, ngòi Thia, sông Đáy
+ Âm thanh: mõ, chày đêm
- Thiên nhiên được nhắc tới ở mọi thời gian khác nhau, mọ không gian quen thuộc, bình dị, ấm áp, thơ mộng, lãng mạn. Từng cảnh vật thiên nhiên của Việt Bắc liên tiếp, dồn dập hiện ra trong nỗi nhớ của người ra đi. Nếu trong câu thơ đầu, người Việt Bắc mới chỉ hiện lên trong nỗi nhớ nguòi yêu thì tới câu thơ sau, họ đã thực sự trở thành người thương trong lòng người về xuôi. Những cảnh vật ở Việt Bắc dù có tên như nào hay không tên đều in đậm trong nỗi nhớ của người ra đi, đó là nỗi nhớ không thể nguôi ngoai, vơi cạn dù cho nước sông lúc cạn, lúc đầy
- Từ “nhớ” và cụm từ “nhớ từng” điệp lịa nhiều lần trong đoạn thơ cho thấy nỗi nhớ da diết sâu đậm của người đi không chỉ với những cảnh vâth cụ thể, thân thuộc mà còn là nỗi nhớ bao trùm, toàn vẹn với tất cả những gì thuộc về Việt Bắc
*) Hình ảnh con người kháng chiến
- Người thương (gợi sự gần gũi, thân thương) “bếp lửa sớm khuya” -> cần cù, chăm chỉ
- “Sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa”, “chăn sui”: là những hình ảnh cụ thể và chân thực cho thấy cuộc sống kháng chiến gian khổ và thiếu thốn vô cùng. Đối diện với người kháng chiến không chỉ có kẻ thù mà còn cả cái đói, cái rét, họ đã cùng đồng bào Việt Bắc vượt qua những khó khăn, thử thách không chỉ bằng sức mạnh của lòng dũng cảm mà còn bằng sức mạnh của tình thương
- Hình ảnh cuộc sống gian khổ, đói nghèo và sự vất vả, cực nhọc của người dân Việt Bắc trong những công việc thầm lặng hàng ngày góp phần phục vụ cách mạng và kháng chiến đã trở thành nỗi nhớ xót x trong lòng người đi
- Người mẹ “cháy lưng” (vừa gợi hình vừa gợi cảm)
+ Lao động vất vả, cực nhọc
+ Thương cảm, xót xa
- Người đồng đội, đồng chí: chia sẻ bát cơm, củ sắn, chung chăn -> đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi
- Sinh hoạt kháng chiến: lớp học kháng chiến, cơ quan. Người ra đi không chỉ nhớ những hình ảnh của cuộc sống đói nghèo hay gian nan vất vả, tâm trí họ còn in đạm những kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương, những nếp sống yen bình, thơ mộng của cuộc sống núi rừng thời kháng chiến -> tình dân quân ấm áp, tuy khó khăn gian vẫn lạc quan, yêu đời
- Điệp từ “nhớ sao” khắc sâu nỗi nhớ
[tex]\Rightarrow[/tex] Tóm lại, trong bức tranh thiên nhiên Việt Bắc và con người hiện lên sinh động, ấm áp, nghĩa tình

*) Mười câu tiếp
"Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung."
- Dùng lời của người ở lại để ướm hỏi “Ta về mình có nhớ ta”. Thực ra câu hỏi chỉ là cái cớ để bộc lộ cảm xúc. Đây là câu hỏi đầu tiên từ phía người đi, một câu hỏi ngọt ngào, phảng phất hương vị của tình yêu. Có thể thấy người ra đi hỏi mà không chờ lời đáp, không có sự băn khoăng, trăn trở, hỏi chỉ để bộc lộ nỗi bồi hồi xao xuyến phút chia xa. Và có lẽ cũng vì thế nên ngay câu sau câu hỏi đã là lời khẳng định: ta về, ta nhớ những hoa cùng người
- Xưng hô: ta (người đi) – mình (người ở lại)
- Người ra đi khẳng định : nhớ về “hoa”: kết tinh vẻ đẹp của thiên nhiên, “người”: con người. “hoa” có thể hiểu theo nghĩa cụ thể với “hoa chuối đỏ tươi” hay “hoa mơ nở trắng rừng”.... nhưng cũng có thể hiểu “hoa” là hình ảnh hoán dụ cho vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, hai đối tượng ấy không hề thực sự tách rời mà luôn hòa quyện, gắn bó, đan xen
- Bức tranh thiên nhiên trong nỗi nhớ: không theo quy luật
+ Các câu 6 nói về thiên nhiên, câu 8 nói về con người: đan xen, hòa quyện
+ Mùa động: rừng xanh – hoa chuối – đỏ tươi: màu đỏ tươi nổi bật trên nền rừng xanh -> ấm áp, xua tan lạnh lẽo mùa đông. Miêu tả mùa đông vừa mở rộng không gian nghệ thuật mênh mông vừa đưa không gian ấy lên chiều cao ngút ngàn. Trên nên xanh thăm thẳm, hùng vĩ của rừng đại ngàn là sắc đỏ tươi của hoa chuối nổi bật, vừa tạo cảm giác chói chang, ấm áp, mỗi bông hoa như một ngọn lửa thắp sáng và xua tan đi cái lạnh lẽo của núi rừng. Sự phôis hợp khéo léo giữa ánh sáng và màu sắc khiến bức tranh mùa đông càng trở nên rực rỡ
+ Mùa xuân: mơ nở trắng rừng -> tinh khiết -> không gian lãng mạn, thơ mộng, huyền ảo. Thiên nhiên mùa xuân được miêu tả trong những gam màu dịu mát, trẻ trung. Phép đảo ngữ trong cụm từ “trắng rừng” đem lại ấn tượng về những khu rừng Việt Bắc mênh mông, trắng xoa sắc hoa mơ. Đọng từ “nở” cho thấy sức sống sinh sôi, nảy nở của núi rừng mùa xuân.
+ Mùa hè: có âm thanh của tiếng ve râm ran, inh ỏi “rừng phách đổ vàng”: sự chuyển màu rất nhanh, đột ngột, cả không gian ngập tràn màu vàng, ánh vàng rực rỡ. Tiếng ve vang lên báo hiệu mùa hè đã tơus gợi ra cái náo nức của thời gian qua một tín hiệu rộn rã của khôngn gian. Động từ “đổ” miêu tả sự chuyển màu đột ngột, nhanh chóng của bức tranh thiên nhiên, đưa đến cảm giác ngỡ ngàng, choáng ngợp trong lòng người. Câu thơ đem đến cho chúng một tương quan kì diệu khiến cảnh vật như có linh hồn và sự giao cảm
+ Mùa thu: “trăng rọi”, màu vàng dịu nhẹ, yên ả -> Một không gian tràn ngập ánh trăng trở nên huyền ảo, yên ả, thơ mộng (hình ảnh quen thuộc trong thơ). Mùa thu kết thúc đoạn tứ bình cũng là thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến gian nan, oanh liệt, thời điểm chia li giữa Việt Bắc và những người kháng chiến. Bức tranh mùa thu được pgacs họa trong gam màu dịu mát của ánh trăng thanh bình. “rọi” là động từ miêu tả nguồn ánh sáng tập trung soi chiếu xuống một điểm hẹp trong không gian. Cách dùng từ này không chỉ giúp nhà thơ miêu tả chính xác ánh trăng lọt qua vòm cây, kẽ lá mà còn thể hiện tinh tế những cảm xúc của người
[tex]\rightarrow[/tex] Kết thúc ở mùa thu bởi mùa thu gắn liền với mặt trận cách mạng, chiến thắng
[tex]\Rightarrow[/tex] Bức tranh thiên nhiên rất đẹp, rực rỡ sắc màu, tràn đầy sức sống, mang đặc trưng của thiên nhiên Việt Bắc, thiên nhiên động (không tĩnh), ấm áp nghĩa tình, đã đẹp lại càng đẹp hơn bởi có hình ảnh con người
- Hình ảnh con người Việt Bắc
+ Người lên nương rẫy : hình ảnh đẹp, khỏe khoắn, chăm chỉ. Trên nền thiên nhien khoáng đạt, con người xuất hiện càng làm tăng thêm vẻ đẹp ấm áp, thơ mộng cho mùa đông Việt Bắc. Người dân Việt Bắc hiện ra với nét vẽ đơn sơ mà đầy ấn tượng của bút pháp chấm phá trong hội họa. Với con dao đi rừng lấp lóa gài ngang lưng, với vóc dáng trên đèo cao đầy nắng, tầm vóc con người như lớn lao, mạnh mẽ, rắn rỏi hơn
+ Người đan nón: chuốt từng sợi tỉ mỉ, khéo léo. Động tác “chuốt từng sợi giang” cho thấy rõ hơn vẻ đẹp của những người lao động cần mẫn, tinh tế và khéo léo nơi núi rừng -> nét đáng yêu, đáng nhớ của Việt Bắc
+ Cô gái hái măng một mình: một mình những không cô đơn mà vẫn tìm được niềm vui trong lao động bởi họ phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến. “em gái” là cách gọi thân thương trìu mến trong quan hệ gia đình, động tác hái măng gợi dáng vẻ cắm cúi, thầm lặng khiến cô gái càng nhỏ bé hơn giữa mênh mông rừng núi. Cảnh phảng phất buồn nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp tĩnh lặng và trong sáng
+ Tiêng hát ân tình, thủy chung. Âm thanh của tiếng hát rộn vang trong đêm trăng cũng cho thấy đó là tiếng hát của đám đông, của tập thể, của người ở lại đang trào dâng nỗi nhớ nhung, lưu luyến. Miêu tả tiếng hát gợi ân tình của người ở lại, nhắc gượi sự thủy chung có lẽ là dụng ý của tác giả khiến kết đoạn tứ bình hàm chứa một tâm nguyện đinh ninh: những thay đổi trong cuộc sống hòa bình sẽ không bao giờ có thể thay đổi lòng dạ con người
[tex]\rightarrow[/tex] Tóm lại, con người luôn xuất hiện trong tư thế lao động sản xuất, là những con người lao động chăm chỉ, chịu thương, chịu khó, phục vụ cách mạng, kháng chiến, nét đẹp nhất ở họ là tình nghĩa thủy chung
[tex]\Rightarrow[/tex] Đoạn thơ cũng thể hiện quan niệm tiến bộ của Tố Hữu về thiên nhiên và con người

*) Hai mươi hai câu tiếp: Việt Bắc kháng chiến hào hùng
''Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…
Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.''
- Nhịp điệu câu thơ nhanh hơn, mạnh hơn : âm hưởng hào hùng -> không khí kháng chiến sôi nổi, khẩn trương
- Cách xưng hô: mình – ta -> ta, chúng ta. Có thể nhận ra sự trùng điệp của ngôn ngữ đa tái hiện sinh động sự trùng điệp của địa hình núi rừng. Những vị ngữ “đánh”, “giăng”, “che”, “vây” đem đến sắc thái nhân hóa cho rừng núi, tạo cảm giác như rừng núi cũng góp sức vào cuộc kháng chiến, cùng con người tạo nên sức mạnh to lớn, ngăn chặn và vây hãm kẻ thù
- Đoạn trước: nỗi nhớ, đoạn sau: kháng chiến
- Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện
- Điệp từ “nhớ’ + liệt kê: khẳng định nỗi nhớ kỉ niệm. Những từ “nhơ” điệp lại liên tiếp trong các dòng thơ đã cho thấy nỗi nhớ hòa quyện với niềm phấn khích của chiến thắng đang ào ạt trào dâng trong dòng hoài niệm
- “Của ta” khẳng định chủ quyền -> tâm trạng sung sướng, tự hào
- Từ láy: sức mạnh, khí thế hào hùng, rung chuyển cả đất trời
- Các hình ảnh cường điệu: nát đá
- Ẩn dụ: “sương dày”: khó khăn, “đèn pha bật sáng”: niềm tin
- Liệt kê những chiến thắng liên tiếp, dồn dập (Đồng Tháp, An Khê....) thể hiện tâm trạng tươi sáng
[tex]\Rightarrow[/tex] Tóm lại, đoạn thơ tái hiện lại những kỉ niệm ngày tháng kháng chiến hào hùng, cảm xúc vui sướng, tự hào

*) Mười sáu câu cuối
''Ai về ai có nhớ không?
Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.
Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
Ðiều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường
Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.''
- Nhớ Việt Bắc: lao động kháng chiến, căn cứ kháng chiến, niềm tin chiến thắng
- Không gian của cuộ họp là hang núi chật hẹp, vậy mà vẫn lồng lộng gió núi, vẫn rực rỡ cờ đỏ sao vàng, vẫn chan hòa ánh nắng.... Cảnh đẹp trang nghiêm và phóng khoáng trong ngọn gió thời đại mới, con đường của cách mạng Việt Nam đã thực sự chuyển biến từ đêm tối sang ngày mai tươi sáng
- Kết thúc đoạn thơ lại là hình ảnh Việt Bắc, Thủ đô kháng chiến, nơi có Đảng và Bác Hồ, nơi qui tụ niềm tin và hi vọng của người Việt Nam từ mọi miền đất nước
 

Trần Tuyết Khả

Cựu Mod Văn | Cựu phó CN CLB Địa
Thành viên
13 Tháng hai 2018
2,356
6,268
616
18
Hà Nội
Trường THPT Hoài Đức A
Tiếng hát con tàu

(Chế Lan Viên)

I. Khái quát về tác giả, tác phẩm
- Chế Lan Viên (1920 – 1989): là nhà thơ lớn của thi ca hiện đại Việt Nam
- Thơ Chế Lan Viên có phong cách riêg độc đáo và sắc nét, đó là chất trí tuệ và sự tài hoa trong những suy tưởng, triết luận sâu sắc cùng thế giới hình ảnh đa dạng , tinh tế và gơi cảm
- Bài thơ ‘Tiếng hát và con tàu’’ rút từ tập “ánh sáng và phù sa’’ – tập thơ đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của Chế Lan Viên trên hành trình thơ cách mạng
- Cũng như cả tập thơ, bài thơ “Tiếng hát con tàu” đã thể hiện sự gặp gỡ kì diệu giữa cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh vơi cảm hứng về sự hồi sinh của chính tâm hồn nhà thơ, đó cũng là ngọn nguồn của lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của Chế Lan Viên với cuộc đời, nhân dân, đất nước
- Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu
Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia
Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân
Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con
Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư
Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chi là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương
Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương
Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga
Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng
Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào
Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến
Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao
Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta
Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân
II. Tìm hiểu bài thơ
1. Hai khổ thơ đầu
‘’Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?
- Câu thơ mở đầu đã bộc lộ đồng thời cả những khát khao lẫn niềm trăn trở. Biểu tượngcow bản trong bài thơ là “con tàu” và “Tây Bắc”. Thực tế lúc đó chưa hề có đường tàu lên Tây Bắc nên hình ảnh “con tàu” trong bài thơ hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa ẩn dụ cho khát vọng lên đường, được đi xa. Tây Bắc là tên gọi vùng núi cao ở Tây Bắc Tổ quốc, nơi ghi lại những kỉ niệm không thể nào quên trong kháng chiến chống Pháp
- Đại từ nhân xưng “anh” là một đại từ dùng ở ngôi thứ hai, đó không phải câu hỏi với ai khác mà chính là sự phân thân của nhà thơ, tạo ra một vị thế thích hợp cho những trăn trở, băn khoăn bằng dòng độc thoại nội tâm
- Hình ảnh đối lậo “bạn bè đi xa” – “anh giữ trời Hà Nội”, “đất nước mênh mông” – “đời anh nhỏ hẹp” làm rõ hơn hoàn cảnh và tâm trạng bức bối, bồn chồn của nhà thơ lúc đó. Khi biết bao người đang hăng say lao động xây dựng đất nước ở nhiều vùng đất mới nhưng Chế Lan Viên thì chưa thể, vì thế cũng chưa tìm được cảm hứng sáng tác ca ngợi cuộc sống mới.
- Khát vọng lên đường mãnh liệt đã thể hiện qua một loạt những câu hỏi dồn dập vừa nhắc nhở, chất vấn vừa giục giã, hối thúc.
[tex]\Rightarrow[/tex] Cả đoạn thơ là nỗi trăn trở day dứt của một tâm hồn khao khát mãnh liệt được hòa nhập với cuộc đời, với nhân dân, với đất nước, khao khát được đi xa để tìm cảm hứng sáng tác thơ ca, tìm lại bản thân
2. Khổ 3 và 4
- Trước hết, Tây Bắc được gợi nhớ như một xứ sở thiêng liêng, anh hùng, nơi lưu giữ những kỉ niệm sâu sắc thời kháng chiến, nơi giúp Chế Lan Viên tìm lại chính mình khi nhận thức được sự vĩ đại của đất nước, nhân dân qua kháng chiến
- Cụm từ “Trên Tây Bắc” là sự nối tiếp với cau thơ ở cuối đoạn 2. Sự nối tiếp ấy cho thấy tâm hồn nhà thơ đã thực sự đến với Tây Bắc. Những từ “thiêng liêng”, “anh hùng” đã thể hiện niềm cảm phục và thành kính vô cùng của nhà thơ đối với Tây Bắc, con người nơi đây, cũng là với nhân dân
- “máu rỏ tâm hồn”: ẩn dụ cho nỗi đau đớn trong tâm hồn nhà thơ – nỗi đau của nhận thức, quá trình tự chiến đấu với cái tôi vị kỉ trong chính con người mình để thay đổi, trưởng thành
- Thời gian là một khái niệm vô hình, trừu tượng, thời gian “mười năm” của cuộc kháng chiến được hữu hình hóa qua hình ảnh so sánh với ngọn lửa thiêng bất diệt.
- Hình ảnh so sánh với “ngọn lửa” thể hiện nhân dân ta, dân tộc ta sống hết mình, cháy hết mình trong ngọn lửa của lòng yêu nước và căm thù giặc. Ngọn lửa thiêng soi đường cho dân tộc ngàn năm sau, cũng là ngọn lửa dẫn lối cho nhà thơ về với nhân dân, cho tha ca về với cuộc đời
[tex]\Rightarrow[/tex] Đoạn thơ đã bộc lộ niềm thành kính và lòng biết ơn sâu nặng của Chế Lan Viên với miền đất thiêng Tây Bắc và những năm tháng kháng chiến hào hùng, oanh liệt
3. Khổ 5
- Sau tâm nguyện tha thiết “Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương” ở cuối khổ 4, khổ 5 đi vào lí giải tâm nguyện ấy bằng việc khẳng định vai trò to lớn, vĩ đại của nhân dân đối với cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ
- “con gặp lại nhân dân”: lời bộc bạch khẳng định đây là sự trở về với những kỉ niệm thiêng liêng trong niềm biết ơn vô hạn
- Lòng biết ơn và niềm hạnh phúc được trở về với Mẹ nhân dân đã được cụ thể hóa qua 5 hình ảnh so sánh đầy ý nghĩa: nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc noi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
- Những hình ảnh giàu sắc thái biểu tượng cùng những động từ liên tiếp lặp lại trong cả khổ thơ, tất cả đều cho thấy Mẹ nhân dân đã xuất hiện kịp thời, đúng lúc, bao dung, nhân hậu nâng bước đứa con xa trở về
4. Khổ 6, 7, 8, 11
- Cụm từ “con nhớ” liên tiếp lặp lại trong các khổ thơ như một điệp khúc da diết, thể hiện nỗi nhớ sâu nặng khôn nguôi, đó là nỗi nhớ bắt nguồn từ những kỉ niệm cụ thể, xúc động trong quá khứ
- Trong nỗi nhớ của nhà thơ, nhân dân hiện lên trong những con người cụ thể, qua những kỉ niệm xúc động tình nghĩa
+ Đầu tiên, “người anh du kích” qua kỉ niệm về “chiếc áo nâu vá rách” – biểu tượng của sự bình dị, nghèo khổ, lam lũ. Chiếc áo nâu anh “cởi lại cho con”: sự đùm bọc ấm áp, sự ủy thác thiêng liêng, lời nhắc nhở thế hệ sau
+ “em liên lạc” dũng cảm, kiên cường, bất chấp mọi khó khăn để ‘’mười năm tròn chưa mất một phong thư”
+ Hình ảnh “người mẹ Tây Bắc”: được khắc họa trong một hình ảnh đẹp kì ảo: lửa hồng soi tóc bạc. [tex]\rightarrow[/tex] Sự biết ơn, cảm kích và tấm lòng yêu thương vô cùng của nhà thơ khi dõi theo bóng mẹ
+ Hình ảnh người em gái nuôi quân dịu hiền, thơm thảo.
- Các khổ thơ 6,7,8 đều xuất hiện những từ ngữ chỉ thời gian thuộc hai phạm trù đối lập hoặc những thời điểm gắn với kỉ niệm cụ thể về nhân dân là những cụm từ chỉ khoảng thời gian dài
[tex]\Rightarrow[/tex] Đoạn thơ đã tái hiện lại những kỉ niệm ân nặng nghĩa tình giữa nhà thơ với nhân dân Tây Bắc trong kháng chiến, qua đó, khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của nhân dân, góp phần lí giải cảm hứng chủ đao của bài thơ: khát vọng hướng về nhân dân
5. Khổ 9, 10
- Mở đầu khổ 9 lại là nỗi nhớ với điệp từ “nhớ” điệp lại ở đầu hai vế câu khiến nỗi nhớ trở nên da diết, miên man, đầy ám ảnh
- Nhịp ngắt 4/4 tạo ra kết cấu đối xứng của hai vế câu, tạo sự nhịp nhàng, đăng đối
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”

- Hai câu thơ giản dị mà thể hiện những trải nghiệm sâu sắc. Tác giả đã miêu tả sự chuyển hóa kì diệu trong mối quan hệ giữa “ta” và “đất” trong thời điểm tương phản “đi” và “ở”
- Tới khổ thơ sau, mạch cảm xúc thơ dường như có sự chuyển đổi đột ngột: từ nỗi nhớ và tình yêu với con người, tình cảm lớn lao hướng về đất nước, suy nghĩ, triết lí về tình cảm con người, nhà thơ bất ngờ hướng tới tình yêu lứa đôi. Đó là sự gặp gỡ và hòa quyện tuyệt vời giữa cái chung và cái riêng, giữa cuộc đời rộng lớn của nhân dân, đất nước với tình yêu sâu sắc, riêng tư của tình yêu lứa đôi
[tex]\Rightarrow[/tex] Đoạn thơ tiếp tục sử dụng thành công thủ pháp trùng điệp trong các điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp và đặc biệt là hệ thống các hình ảnh so sánh, ẩn dụ đặc sắc. Qua đó, Chế Lan Viên bộc lộ nỗi nhớ, tình yêu với cảnh và người Tây Bắc
6. Bốn khổ thơ cuối
- Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường sôi nổi, say mê. Tiếng gọi của đất nước, nhân dân, của hiện thực vĩ đại của đời sống đã trở thành sự thoi thúc bên trong, thành lời giục giã của chính lòng mình nên không thể chần chừ
- Trong đoạn cuối, cùng âm hưởng sôi nổi, lôi cuốn của các câu thơ là các hình ảnh phong phú, biến hóa sáng tạo, mang đậm tính biểu tượng
- Kết cấu trùng điệp các yếu tố ngon từ từ cuối khổ trên xuống đầu khổ dưới tạo ra một âm hưởng liền mạch đầy lôi cuốn, tạo cảm giác nhà thơ đang cùng con tàu khát vọng băng băng đi tới cuộc đời, tới với nhân dân và đất nước, cũng là tới với cội nguồn sáng tạo
 

baochau1112

Cựu Phụ trách nhóm Văn | CN CLB Khu vườn ngôn từ
Thành viên
6 Tháng bảy 2015
6,547
13,968
1,304
Quảng Nam
Vi vu tứ phương
SÓNG
- Xuân Quỳnh -
I. Khái quát về tác giả, tác phẩm.
1. Tác giả.

- Xuân Quỳnh tên là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942 –1988) quê Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình công chức, sớm mồ côi mẹ. Cuộc đời bất hạnh, luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.
- Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống mĩ.
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.
- Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng giải thưởng nhà nước về VHNT.
2. Các tác phẩm chính: Tơ tằm – Chồi biếc ( 1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974)...
3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Sóng:
Bài thơ sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền ( Thái Bình), in trong tập Hoa dọc chiến hào.
II. Nội dung & nghệ thuật bài thơ:
1. Cảm nhận chung.

- Âm điệu của bài thơ:
+ Thể thơ 5 tiếng , khổ chẵn tạo trạng thái nhịp nhàng, đều đặn.
+ Từ đầu đến cuối bài thơ không hề có dấu chấm câu tạo âm hưởng miên man không dứt.
= > Âm hưởng đó của ngôn ngữ thơ ca cũng là nhịp điệu của sóng (lúc dịu êm, lúc sôi nổi, nhịp nhàng sóng đôi triền miên bất tận) đồng thời cũng vừa là nhịp điệu bên trong tâm hồn người đang yêu (những đợt sóng cảm xúc sôi nổi, lắng sâu).
- Hình tượng sóng :
+ Sóng và em là hai hình tượng tồn tại song song trong bài thơ. Có lúc tách ra trong kết cầu song hành. Có lúc hòa nhập trên một dòng thơ. Song hành để soi chiếu, hòa nhập để thấu tỏ.
+ Sóng trong bài thơ có tính thẩm mỹ là hình tượng ẩn dụ cho nhân vật trữ tình.
2. Nội dung & nghệ thuật.
2.1. Phần 1:
(bảy khổ thơ đầu): Sóng và em – những nét tương đồng:
a. Khổ 1: Trạng thái của sóng và tình yêu.
- Trạng thái đối lập, đa dạng của sóng: dữ dội – dịu êm, ồn ào –lặng lẽ. trạng thái đối cực phức tạp, trong tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.
- Sóng khát khao vươn ra biển lớn để nhận thấy sức mạnh của mình.(Sông - không hiểu mình - Sóng - tìm ra bể)
Người phụ nữ trong tình yêu không cam chịu, nhẫn nhục mà dứt khoát, quyết liệt từ bỏ cái tầm thường, nhỏ hẹp để đến với cái lớn lao khoáng đãng, bao dung.
b. Khổ 2: Sự vĩnh hằng của sóng và tình yêu
- Sóng: ngày xưa, ngày sau: vẫn thế trường tồn của sóng trước thời gian.
- Khát vọng tình yêu - bồi hồi trong ngực trẻ: tình yêu là khát vọng lớn lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại.
c. Hai khổ 3,4: Sự bí ẩn của sóng và tình yêu.
- Sóng bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ đâu? Thiên nhiên cũng đầy bí ẩn.
- Người phụ nữ dựa vào sóng để truy tìm khời nguồn của tình yêu. Tình yêu là tình cảm chỉ có thể cảm nhậ không thể lí giải rạch ròi. Đây cũng chính là sức hấp dẫn của tình yêu.
- Điệp ngữ “em nghĩ” được lặp lại 2 lần đứng đầu dòng thơ thể hiện nhu cầu khám phá tự nhận thức của người phụ nữ.
d. Khổ 5: Đặc điểm của sóng và tình yêu.
- Quy luật của sóng là luôn vận động hướng về bờ cũng như nỗi nhớ là tâm trạng thường trực của tình yêu.
- Nỗi nhớ da diết kéo dài qua thời gian chảy tràn qua không gian, chiếm lĩnh tâm hồn con người lúc mơ lúc tỉnh, cả vô thức lẫn tiềm thức.
- Điệp ngữ “con sóng” lặp lại 3 lần, số lượng câu thơ tăng như muốn phá tung giới hạn của bờ cũng là giai điệu da diết về tình yêu và nỗi nhớ.
e. Khổ 6,7: Sự thủy chung son sắt và nghị lực vượt lên gian khổ
- Sóng vượt qua mọi chướng ngại để đến với bãi bờ cũng như tình yêu luôn vượt qua mọi chướng ngại để bảo vệ lòng chung thủy.
2.2. Phần 2: Những suy tư lo u trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu.
- Khổ 8: Giọng thơ trầm lắng suy tư, kiểu câu nhượng bộ: Âu lo, phấp phỏng, ý thức được cái vô cùng của vũ trụ >< cái nhỏ bé, hữu hạn của con người và sự mong manh của hạnh phúc (cảm giác thường trực trong thơ XQ ở giai đoạn sau).
- Khổ 9: Khát vọng sống hết mình trong tình yêu: khát vọng hóa thân thành sóng để bất tử hóa tình yêu.
Tóm lại: Hành trình của “sóng” của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu có sự vận động nhất quán, đó là cuộc hành trình có khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la, rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân thành tình yêu muôn thuở.
2.3. Nghệ thuật
+ Thể thơ năm chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.
+ Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.
 

moctieududu

Học sinh
Thành viên
14 Tháng mười 2021
125
153
36
Hà Nội
Người lái đò sông
(Nguyễn Tuân)

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả
- Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo : tài hoa và uyên bác
+ tài hoa : trong việc dùng từ ngữ, ở cách xây dựng hình tượng phong phú, gợi cảm
+ uyên bác sử dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa , nghệ thuật , khoa học khác nhau để làm phong phú sự diễn đạt của văn chương
2. Tác phẩm
- Sông Đà là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958 của ông. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội , thanh niên xung phong , đồng bào các dân tộc... Thực tiễn cuộc sống mới ở vùng cao đã đem lại cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
- " Người lái đò sông Đà" được in trong tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, xuất bản lần đầu năm 1960, tất cả gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ dạng phác thảo.
3. Lời đề từ:
– Lời đề từ đầu tiên, tác giả đã trích dẫn lời của nhà thơ Broniwski “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông!”
=> Nhà văn mượn câu thơ mang cấu trúc cảm thán để bộc lộ những xúc cảm đang trào dâng mãnh liệt trong lòng . Tiếng hát trên dòng sông có thể là tiếng hát của người chèo đò, kéo thuyền vượt thác , thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời yêu thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người Tây Bắc . Đó cũng có thể là tiếng hát say mê , phấn khích của nhà văn trước vẻ đẹp của dòng sông
Lời đề từ thể hiện cảm hứng chủ đạo của tùy bút, đó là tình yêu say đắm, tha thiết của nhà văn với thiên nhiên và con người trên dòng sông Đà

- Lời đề từ thứ hai: “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”
=> Tạo ấn tượng về nét độc đáo của sông Đà . Mọi dòng sông đều chảy về phía Đông, chỉ có sông Đà chạy về hướng Bắc. Và có lẽ tác giả không chỉ muốn nhắc tới sự ngược ngạo của dòng sông mà còn khẳng định cá tính độc đáo của mình trong dòng sông văn chương, khẳng định cái tôi cá nhân sâu sắc , về cá tính riêng trong nghệ thuật

II. Tác phẩm

* Hai từ "Sông Đà" được Nguyễn Tuân viết hoa :
Dưới ngòi bút của "nhà ngôn ngữ học" Nguyễn Tuân, Sông Đà không hiện lên vô tri vô giác mà là một sinh thể sống có tính cách và cảm xúc như một con người . Bởi thế mà "sông Đà" cũng được viết hoa cả hai chữ cái đầu tiên như một danh từ riêng

A- HÌNH TƯỢNG SÔNG ĐÀ

* Sông Đà hung bạo

1. Đá bờ sông dựng vách thành
+ Ẩn dụ hình ảnh "vách thành" phần nào tạo ấn tượng về sự vững trãi, thâm nghiêm và những sức mạnh bí ẩn đầy đe dọa của sông Đà với vách đá như thành cao, vực thẳm như hào sâu
+ Chi tiết gián tiếp miêu tả độ hẹp của lòng sông, cao của vách đá
+ Miêu tả thông qua cảm giác :
-> sự tương phản của xúc giác : đang mùa hè mà thấy lạnh
-> tạo ấn tượng đặc biệt cho thị giác bởi sự liên tưởng: Lấy hè phố tả mặt sông ; lấy nhà cao gợi vách đá => hình dung về sự tối tăm, lạnh lẽo, đột ngột khi con thuyền trôi từ ngoài vào khúc sông có đá dựng vách thành

2. Cảnh mặt ghềnh Hát Lóong
+ "Hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió..." -> nhịp ngắt ngắn, nhanh, dồn dập, sự xuất hiện dày đặc của thanh sắc hình ảnh điệp nối tiếp nhau, luân chuyển, thế chỗ nhau tái hiện sức mạnh dữ dội của thiên nhiên
+ Điệp từ "xô" -> tạo ấn tượng về những chuyển động vĩnh hành và sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên thác ghềnh
=> Những con sóng dữ cuồn cuộn chồm lên nhau, con sóng này chưa qua con sóng kia đã tới -> trùng điệp ghê rợn trên mặt ghềnh
+ Từ láy "gùn ghè" + so sánh mang đậm sắc thái nhân hóa ( sóng gió trên mặt ghềnh như "lúc nào cũng đòi nợ xuýt" )
=> Sự sinh động , sự hung hãn, lì lợm cuồng nộ của sông Đà ngày đêm hăm dọa, uy hiếp con người

3. Hút nước trên sông Đà
+ So sánh :
-> Hình ảnh : giếng bê tông xoáy tít
-> Âm thanh: cống cái bị sặc
=> Sức mạnh hung bạo của hút nước
+ Từ láy tượng hình ( lừ lừ) + từ láy tượng thanh (ặc ặc)
+So sánh mang sắc thái nhân hóa khi miêu tả nước " thở và kêu"
=> Hút nước như một con thủy quái đang giận dữ đến ghê người
+ Liên tưởng tưởng tượng : Bè gỗ lớn bị "lôi tuột xuống" , thuyền bị hút "trồng cây chuối ngược... tan tác" => Sức mạnh khủng khiếp...
+ Giả tưởng li kì dẫn người đọc vào một trò chơi cảm giác . Nhà văn sử dụng thủ pháp điện ảnh , hất ngược từ dưới lên ( một thành giếng xây bằng nước ; màu nước xanh ve;; cảm giác sợ hãi chân thực; chứng minh khi đúng trong lòng khối "pha lê xanh" bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ụp.

4. Thác đá sông Đà

- Khi ở xa:
+ Âm thanh : tiếng thác nước trong những từ ngữ chỉ cảm xúc , thái độ, tâm trạng con người " khi oán trách, van xin , khiêu khích..."
=> Nghệ thuật nhân hóa khiến Sông Đà thực sự trở thành một sinh thể sống (có hồn) đang giận dữ , gầm gừ đe dọa ngay cả khi nó chưa xuất hiện
+ So sánh "hàng ngàn con trâu..." , nhà văn lấy hình ảnh gợi âm thanh, lấy lửa tả nước, rừng để tả sông => Âm thanh man dại, bản năng của loài động vật đang hung dữ cuồng loạn tìm chốn thoát thân.

-Khi tới gần:
+ "Tới cái thác rồi" -> như một tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú
+Cảnh đá và nước thác :" sóng bọt trắng xóa cả một chân trời đá"
-> thác rất cao với lòng sông toàn đá làm những đợt sóng nước trắng xóa -> gợi sự hùng vĩ của thiên nhiên Ta Bắc
+Chân trời đá -> Sông Đà như cao vút, chạm thời chân trời......

=> Sông Đà được ví như thứ "kẻ thù số một" của con người. Một loài thủy quái khổng lồ, một mụ dì ghẻ độc ác, một con sông mang nỗi hờn oán trong truyền thuyết Sơn Tùng Thủy Tinh " Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen"
Vẻ hung bạo của Sông Đà là nét đặc trưng tiêu biểu cho sự hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên đất trời

* Sông Đà trữ tình:

Dáng vẻ:
- Từ trên cao nhìn xuống( phương tiện - máy bay)
Hình dáng:
+Sông Đà như chiếc dây thừng ngoằn ngoèo
+Sông Đà "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo ...nương xuân"
Màu sắc:
+ Mùa xuân : "dòng xanh ngọc bích"
+Mùa thu: "lừ lừ chín đỏ"

- Từ dốc núi nhìn ra (đi bộ)
+Sông Đà như một "miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi"
+Bờ sông, bãi sông, chuồn chuồn bươm bướm ; sông Đà giống như một trò chơi con trẻ nghịch chiếu gương vào mắt rồi bỏ chạy
=> Sông Đà vừa mang vẻ đẹp cổ kính vừa mang vẻ đẹp vui tươi

-Từ giữa lòng sông ( ngồi thuyền trên sông)
+ Cảnh ven sông "lặng tờ"
+ Bờ sông hoa dại như một bờ tiền sử
+ Những đồi cỏ gianh đang ra những nõn búp
--> Cảnh vật tĩnh lặng, hoang sơ, bình yên, tràn trề nhựa sống
+ Mặt sông với những "đàn cá dầm xanh...." -> gợi vẻ trù phú

Tâm hồn :
-Sông Đà mang vẻ của một thiếu nữ Tây Bắc dịu dàng, đằm thắm, tươi trẻ, kiều diễm
- Sông Đà như "một cố nhân xa lâu thì thấy nhớ gặp lại thì thấy vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm...."
=> Sông Đà mang tâm hồn đa cảm " như nhớ, như thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc"
- Là dòng sông của thi ca ( trong văn Nguyễn tuân ; thơ Tản Đà....)
- Sông Đá bí ẩn như người "tình nhân chưa quen biết"
=> Sông Đà tiêu biểu cho vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của thiên nhiên đất nước

TỔNG KẾT: Với việc phối hợp linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc như ẩn dụ, nhân hóa, so sánh... với lối hành văn đầy biến hóa, độc đáo, giàu sức gợi tả và gợi cảm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau để quan sát, miêu tả, hoặc bộc lộ cảm xúc
Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng Sông Đà trong hai sắc thái: hung bạo và trữ tình
Ông đã thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của mình trong những trang viết tài hoa uyên bác khi miêu tả dòng sông, trong cách tô đậm những sắc thái phi thường tuyệt mĩ trong việc soi chiếu dòng sông từ góc độ văn hóa, thẩm mĩ, và nhất là trong cách khắc họa dòng Sông Đà như một công trình mĩ thuật kì vĩ tuyệt vời của tạo hóa, để từ đó người đọc nhận ra tình yêu say đắm của nhà văn với quê hương, đất nước. Sông Đà xứng đáng là "chất vàng" của thiên nhiên Tây Bắc . Sông Đà mang nhiều tiềm năng, giá trị về du lịch, thủy điện => Chúng ta cần giữ gìn và phát huy....
 

moctieududu

Học sinh
Thành viên
14 Tháng mười 2021
125
153
36
Hà Nội
B. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

1. Lai lịch, ngoại hình
- Tên : người lái đò, ông lái đò (gọi tên theo nghề nghiệp) => Tôn vinh những người lái đò, những con người trong thời kì đổi mới
-
Tuổi : ngoài 70, “quê ông ở ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh”.
Ngoại hình mang đậm dấu ấn sông nước:
Ông có một ngoại hình khá là đặc biệt, mang đậm dấu ấn nghề nghiệp : thân hình ông cao lớn “gọn quánh như chất sừng, chất mun”, “tay dài lêu nghêu như cái sào”, “chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như đang gò mình lại kẹp lấy một cái cuống lái thuyền tưởng tượng” rồi “ giọng ông ào ào như tiếng nước thác”...

- Phẩm chất :
+ Có hàng trăm lần xuôi ngược trên sông
+ Có sự hiểu biết đáng nể phục
"Ông thuộc quy luật phục kích của lũ đá trên ải nước Sông Đà" và ông thuộc cả "binh pháp của thần sông, thần đá"

*DŨNG CẢM

Thể hiện ở ba cuộc vượt thác (nghệ thuật vượt thác)
- Một cuộc chiến không cản sức giữa một bên là sông Đà hung bạo, nham hiểm với sự hợp sức của nhiều thế lực , còn một bên chỉ là con người bé nhỏ trên một chiếc thuyền đơn độc với lũ khí trên tay chỉ là chiếc cán chèo .

Sông Đà
Ông lái đò
Vòng 1Bày ra 5 cửa trận ;4 cửa tử ;1 cửa sinh
-Sóng nước đóng vai trò chính để dụ thuyền
"nó liều mạng vào sát nách, đá trái thúc gối vào
bụng và hông thuyền
--> Cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp
chặt cuống lái , mặt méo bệch đi nhưng vẫn
tỉnh táo, bình tĩnh chỉ huy 6 bơi chèo
Vòng 2Mở ra nhiều cửa hơn, cửa sinh nằm lệch phía
hữu ngạn sông (bên phải)
Sông Đà như con mãnh thú " đang hồng hộc tế manh
trên sông Đà"
--> Ông đò nhanh chóng , dứt khoát với những
động tác thuần thục, bám chắc lấy bờm sóng, phóng
nhanh lái miết, tránh, rảo bơi chèo, chặt đôi ra mà mở
đường tiến...
Vòng 3Mở ra ít cửa hơn, bên phải, bên trái đều là luồng chết,
luồng sinh nằm ở chính giữa
--> Ông đò khéo léo điều khiển con thuyền giống như
một người nhạc trưởng trên sông nước, một nghệ sĩ
trong nghề nghiệp chèo đò vượt thác: ông lái phóng thẳng
thuyền, chọc thủng cửa giữa, đưa con thuyền vút qua những
cánh cổng đá
[TBODY] [/TBODY]

=> Ông lái đã thể hiện tài nghệ, sự mưu trí dũng cảm của một chiến sĩ, một nghệ sĩ trên mặt trận sông nước


* TÂM HỒN NGHỆ SĨ BÌNH DỊ, THANH CAO

- Sự bình tĩnh, chủ động, tự tin làm chủ thiên nhiên. Ông xử lí các tình huống khéo léo, linh hoạt , mang phong thái của một nghệ sĩ
- Sau cuộc vượt thác, mọi hiểm nguy như tan biến "sóng nước xèo xèo tan trong trí nhớ " , không ai nhắc thêm từ nào về cuộc chiến thắng vừa qua mặc dù cuộc sống của họ là ngày nào cũng phải chiến đấu với sông đà dữ dội, giành lấy sự sống từ tay những con thác
- Ông lái còn là người rất yêu bản làng, quê hương:
+ Trên chiếc thuyền đuôi én vênh cao luôn treo một cái bu gà để mỗi khi nghe tiếng gà gáy sẽ đỡ nhớ bản làng quê hương

=> Tiểu kết:
- Xây dựng hình tượng người lái đò tiêu biểu cho quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân:
+ Người lao động bình thường cũng có thể trở thành nghệ sĩ trong chính nghề nghiệp của mình
+ Con người anh hùng không chỉ có trong chiến trường mà còn hiện hữu ngay trong đời sống lao động hàng ngày



TỔNG KẾT:

Người lái đò Sông Đà là một áng văn đẹp thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, một nhà văn tài hoa uyên bác luôn quan sát , khám phá, diễn tả thế giới ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ ; miêu tả con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.
Với việc thể hiện nhuần nguyễn những nét phong cách ấy, tác phẩm đã thực sự thành công khi phát hiện và miêu tả "chất vàng" trong vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc cùng" chất vàng mười " quý giá trong tâm hồn, tính cách những người lao động bình dị miền Tây Bắc.
Tùy sông "Người lái đò Sông Đà" đã trở thành một thiên anh hùng ca ca ngợi vẻ đẹp hào tráng của con người trong cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Với quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, tích cực của Nguyễn Tuân, người lái đò nơi thượng nguồn Tây Bắc thực sự là một nghệ sĩ tài hoa, một anh hùng sông nước khi hàng ngày phải chiến đấu và luôn phải chiến thắng thiên nhiên bằng trí tuệ, sự khéo léo , sức mạnh và lòng can đảm của mình
 
Top Bottom