Văn 8 Kiến thức trọng tâm các tác phẩm văn học lớp 8.

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
[TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn
Chắc suất Đại học top - Giữ chỗ ngay!!

ĐĂNG BÀI NGAY để cùng trao đổi với các thành viên siêu nhiệt tình & dễ thương trên diễn đàn.


Tôi đi học - Thanh Tịnh
I, Giới thiệu chung:
a, Tác giả:
- Thanh Tịnh tên khai sinh là Trần Văn Ninh (1911 - 1988)
- Là nhà văn có các sáng tác từ trước Cách mạng tháng tám ở các thể loại thơ, truyện.
- Sáng tác của Thanh Tịnh toát lên vẻ đẹp đằm thắm tình cảm êm dịu, trong trẻo.
b, Tác phẩm:
- Truyện ngắn Tôi đi học in trong tập Quê mẹ xuất bản năm 1941.
c, Tìm hiểu văn bản:
- Thể loại: Truyện ngắn.
- Phương thức biểu đạt: Tự sự - miêu tả - biểu cảm.

II, Phân tích tác phẩm:
*Khơi nguồn kỉ niệm:
- Biến chuyển cảnh vật lúc sang thu:
+ Lá ngoài đường rụng nhiều.
+ Mây bàng bạc.
+ Em nhỏ núp dưới nón mẹ, lần đầu đến trường.
+ Lòng tôi tưng bừng, rộn rã.
+ Con đường quen đi lại lắm lần mà sao giờ đây trở nên lạ lẫm.
-> Sử dụng từ láy.
=> Cảm giác trong sáng, háo hức khi đến trường của nhân vật tôi.

*Những hồi tưởng của nhân vật tôi:
- Không khí của ngày tựu trường:
+ Mấy cậu nhỏ ăn mặc tươm tất, cầm sách vở, nhí nhảnh gọi nhau.
+ Sân trường dày đặc người, áo quần sạch sẽ, gương mặt vui tươi và sáng sủa.
-> Không khí náo nức, vui vẻ nhưng cũng rất trang trọng.
- Ấn tượng, cảm xúc của nhân vật tôi:
+ Trường lớp, bạn bè.
+ Trường xinh xắn, oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp đâm ra lo sợ vẩn vơ.
+ Các trò nhỏ bỡ ngỡ như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ.
+ Ước được như những người học trò cũ, đã quen với mọi thứ để khỏi rụt rè với mọi thứ.
+ Nghe gọi tên, quả tim ngừng đập.....giật mình, bỡ ngỡ, lúng túng.
+ Tôi nhìn bàn ghế rồi lạm nhận của mình.
+ Nhìn người bạn tí hon không có cảm giác xa lạ.
+ Vòng tay lên bàn, chăm chú nghe giảng.
- Đối với cô giáo và những người xung quanh:
+ Mẹ âu yếm.
+ Có những ngày chơi với chúng bạn ở đồng làng Lê Xá, lòng vẫn không có gì lo lắng và gọi là nhớ mẹ nhưng giờ lại có cảm giác ấy.
+ Ông đốc nhìn chúng tôi bằng cặp mắt hiền từ và cảm động.
+ Thầy trẻ tuổi tươi cười, đón chúng tôi ở lớp học.

III, Giá trị:
- Giá trị nội dung:
  • Kí ức về buổi tựu trường đầu tiên sẽ mãi không thể nào quên trong kí ức của nhà văn Thanh Tịnh.
  • Sự khám phá, tìm tòi về môi trường mới của một cậu học trò.
- Giá trị nghệ thuật:
  • Sử dụng kết hợp ba yếu tố là tự sự, miêu tả xen lẫn biểu cảm.
  • Có giọng điệu trữ tình, trong sáng.
  • Diễn biến tâm trạng của ngày đầu tiên đi học được miêu tả một cách tinh tế, chân thực.
  • Ngôn ngữ giàu có sức biểu cảm cao, nhiều hình ảnh so sánh độc đáo, gợi cho người đọc về những dòng liên tưởng, hồi tưởng của nhân vật tôi.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
TRONG LÒNG MẸ - NGUYÊN HỒNG
<Trích những ngày thơ ấu>
I, Giới thiệu chung:
a, tác giả:

- Nguyên Hồng (1918 - 1982) tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng, quê Nam Định.
- Là nhà văn của những người cùng khổ.
- Có nhiều sáng tác ở các thể loại tiểu thuyết, kí, thơ.
b, Tác phẩm:
- Những ngày thơ ấu gần 9 chương, đoạn trích là chương IV.
- In thành sách vào năm 1940.
c, Thể loại:
- Hồi kí.
d, Bố cục:
- Chia làm hai phần.
e, Phương thức biểu đạt:
- Tự sự, miêu tả, biểu cảm.

II, Phân tích tác phẩm:
- Tóm tắt tác phẩm:

+ Bé Hồng ra đời và cũng chính là kết quả của một cuộc hôn nhân miễn cưỡng, không hề bắt đầu từ tình yêu. Người bố sống bên bàn đèn thuốc phiện rồi cũng mất đi. Vì đi bước nữa mà điều ấy được coi là cấm kị, trái với những luật lệ của người xưa nên mẹ bé Hồng phải đi tha hương cầu thực, bỏ lại con cái. Hồng sống với bà cô ruột bên nội, bị reo rắc vào đầu những rắp tâm tanh bẩn, ngày ngày bị mỉa mai, hắt hủi nhưng quyết không nghe theo, vẫn giữ vẹn nguyên tình yêu thương với mẹ. Có một tuổi thơ không mấy hạnh phúc nên ngòi bút của Nguyên Hồng thường hướng vào những người cùng khổ.
- Cảnh ngộ của chú bé Hồng:
+ Là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng, sống không có tình yêu.
+ Mồ côi cha, mẹ đi tha hương cầu thực, sống với cô ruột luôn bị hắt hủi, ghẻ lạnh.
-> Cảnh ngộ đáng thương.

- Cuộc đối thoại giữa bé Hồng và người cô:

upload_2021-8-15_19-17-33.png

-> Sử dụng tăng cấp, đối lập.
=> Làm nổi bật tính cách tàn nhẫn của người cô, khẳng định tình mẫu tử trong sáng, cao đẹp của bé Hồng.

- Khi Hồng gặp mẹ:
+ Gọi bối rối: Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!.......
-> Tiếng gọi đạp ra từ lòng yêu thương mẹ, khao khát được gọi mẹ bấy lâu bị dồn nén, là sự thổn thức của trái tim đã bật thành tiếng gọi mẹ thân thương.
- Thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, ríu cả chân lại.
- Tôi thấy mơn man khắp da thịt, phải bé lại và lăn vào lòng của một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng.
-> Sử dụng từ ngữ chọn lọc.
=> Cảm nhận về tình mẫu tử thiêng liêng và sâu nặng.

III, Giá trị tác phẩm:
- Giá trị nghệ thuật:

  • Tạo dựng được mạch truyện, mạch cảm xúc trong đoạn trích tự nhiên, chân thực.
  • Kết hợp lời văn kể chuyện với miêu tả, biểu cảm, tạo nên những rung động trong lòng độc giả.
  • Khắc họa hình tượng nhân vật bé Hồng với lời nói, hành động, lời nói, tâm trạng sinh động, chân thực.
- Giá trị nội dung:
  • Tình yêu thương của người mẹ với những đứa con là bao la, rộng lớn, không thể nào chia cắt cho thấy tình mẫu tử là mạch nguồn không bao giờ vơi trong tâm hồn mỗi con người.
  • Lên án những hủ tục, cổ tục thời xưa đã đày đọa người phụ nữ nói chung và mẹ của bé Hồng nói riêng.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
LÃO HẠC _ NAM CAO

I, Giới thiệu chung:

1, Tác giả:
  • Nam Cao (1915 - 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Trí, quê Đại Hoàng, Phủ Lí
  • Có phong cách độc đáo, thường hướng tới nội tâm của con người.
  • Là nhà văn đóng góp cho nền văn học dân tộc Việt Nam các tác phẩm hiện thực xuất sắc viết về đề tài người nông dân nghèo và người tri thức sống mòn mỏi trong xã hội cũ.
2, Tác phẩm:
  • Được đăng trên báo lần đầu năm "1943"
  • Lão Hạc là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết về tầng lớp người dân nghèo trong xã hội phong kiến xưa kia.
II, Phân tích tác phẩm:
1, Một số nét của tác phẩm:
a, Tóm tắt:
  • Lão Hạc là một người nông dân nghèo, cảnh gà trống nuôi con nên có bao nhiêu tình yêu thương, ông đều danh cho đứa con của mình. Nhưng do hoàn cảnh quá nghèo, con trai ông đã đến tuổi lập gia đình nhưng không có bạc để cưới vợ nên đã bỏ đi đồn điền cao su không biết bao giờ mới về. Số phận chua chát khi không thể giúp con trai với lấy hạnh phúc, chính cái nghèo hèn ấy đã làm tan nát gia đình ông, khiến con trai đi đồn điền. Chỉ biết quanh quẩn, làm bạn với một con chó, đặt tên là "Cậu Vàng" coi như con cái trong nhà.
b, Thể loại:
  • Truyện ngắn
c, Phương thức biểu đạt:
  • Tự sự xen lẫn miêu tả và biểu cảm.
2, Phân tích:
- Nhân vật Lão Hạc

+ Cuộc sống của Lão sau khi con trai đi đồn điền:
  • Sau trận ốm nặng, công việc trong làng thì chẳng còn mà Lão lai phải nuôi hai miệng ăn, không có người thân thích bên cạnh lúc hoạn nạn, tình cảnh bế tắc vô cùng.
  • Để bào toàn mảnh vườn cùng tài sản cho con trai khi trở về còn có chỗ ra vào, nương thân qua ngày nên Lão đã ra quyết định đau lòng là bán đi Cậu Vàng - kỉ niệm của người con trai.
  • Sau khi bán đi chú chó, tâm can dằn vặt :"Già bằng này tuổi rồi còn đi lừa gạt một con chó"
  • Lão cố làm ra vẻ vui vẻ nhưng không thể dấu đi vẻ chua xót, bất lực trước cái nghèo, lão cười như mếu, nước mắt ầng ậc, những vết nhăn cứ thế mà xô lại ép cho nước mắt chảy ra, cái miệng móm mém khóc như con nít, lão òa lên khóc huhu,......
-> Lựa chọn bất đắc dĩ, đường cùng, bế tắc, đau khổ, ân hận với chính bản thân. Xét theo một khía cạnh thì Lão Hạc là một người cha thương con, giàu tình cảm cha con.
+ Cái chết của Lão:
  • Sau khi bán cậu Vàng, lão cũng tìm đến cái chết.
  • Trước khi chết, tiền bạc, tài sản đã nhờ ông giáo trông coi hộ, khi nào con trai về sẽ đưa lại. Nhờ lo hộ ma chay để đỡ phiền hà đến hàng xóm láng giềng.
  • Cái chết kết liễu bằng bả chó, hành hạ về thể xác lẫn tinh thần.
  • Vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long xòng xọc,......
-> Từ ngữ gợi hình, gợi cảm (Cho thấy cái chết dữ dội, khủng khiếp)
-> Bi kịch của người nông dân không lối thoát, yêu con và trọng danh dự hơn cả sự sống.
-> Cái chết ấy còn là bằng chứng sống cho tình cha con thiêng liêng, đơn sơ, mộc mạc nhưng bất diệt.
=> Cái chết của Lão Hạc góp phần bộc lộ rõ bản chất của người nghèo trong xã hội xưa trước Cách Mạng tháng tám và tố cáo hiện thực nửa phong kiến thối tha. Họ chỉ có tha hóa mới sống còn giữ nguyên vẻ lương thiện, trong sáng thì chỉ có con đường chết.

- Lão Hạc thể hiện tấm lòng:
  • Lão Hạc thể hiện tấm lòng của nhà văn trước số phận đáng thương của một con người.
  • Cảm thông với tấm lòng của người cha hết mực yêu con, thương con, muốn vun đắp tất cả những gì cho có để cho con có một cuộc sống hạnh phúc.
  • Trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân trong cảnh khốn cùng vẫn giàu lòng tự trọng.
- Nhân vật ông giáo:
  • Là hàng xóm của Lão Hạc, giàu tri thức.
  • Nghèo khổ, phải bán đi những thứ mình yêu quý.
  • Có sự đồng cảm, xót xa, yêu thương, sẻ chia với Lão.
-> Trọng nhân cách, không mất lòng tin vào những điều tốt đẹp của con người.

III, Giá trị tác phẩm:
a, Giá trị về mặt nội dung:
  • Văn bản thể hiện phẩm giá của người nông dân không thể bị hoen ố dù cho phải sống trong cảnh khốn cùng.
  • Chỉ ra tình cảnh bi kịch của người nông dân Việt Nam nói riêng và tầng lớp thấp kém nói chung trước Cách Mạng táng 8 - 1945.
b, Về mặt nghệ thuật:
  • Sử dụng ngôi kể thứ nhất, người kể là người chứng kiến toàn bộ câu chuyện về Lão Hạc, hiểu, cảm thông và chia sẻ với Lão.
  • Kết hợp các phương thức biểu đạt (Tự sự - miêu tả - biểu cảm), trữ tình, lập luận, thể hiện được chiều sâu tâm lí nhân vật với diễn biến tâm trạng phức tạp, sinh động.
  • Sử dụng ngôn ngữ hiệu quả, tạo được lối kể khách quan, xây dựng dược hình tượng nhân vật có tính cá thể hóa cao.
Mọi người tham khảo phần phân tích tác phẩm, có gì thắc mắc hay phát hiện lỗi sai sót nào, cứ mạnh dạn góp ý ạ ^^
 

Phạm Đình Tài

Cựu Mod Văn
Thành viên
8 Tháng năm 2019
1,995
4,042
461
17
Đà Nẵng
THPT Thái Phiên - TP Đà Nẵng
TỨC NƯỚC VỠ BỜ - NGÔ TẤT TỐ

Tìm hiểu chung

1) Tác giả: Ngô Tất Tố: (1893-1954)
+ Quê nay thuộc huyện Đông Anh Hà Nội
+ Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho gốc nông dân
+ Ông là một học giả, nhà báo, nhà văn hiện thực xuất sắc chuyên viết về nông thôn trước Cách mạng
+ Được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)

2) Tác phẩm
+ Thể loại: tiểu thuyết
+ PTBĐ: Tự sự, miêu tả, biểu cảm
+ Xuất xứ: trích "Tắt đèn"
+ Bố cục:
+ P1: từ đầu đến "có ngon miệng hay không": Chị Dậu chăm sóc chồng
+ P2: Còn lại: Chị Dậu đương đầu với bọn cai lệ và người nhà lí trưởng.

Tìm hiểu chi tiết
1. Hoàn cảnh gia đình:
  • Nghèo "Nhất nhì trong hạng cùng đinh"
  • Thiếu tiền nộp sưu cho em chồng(đã chết năm ngoái).
  • Bán con, bán chó, bán cả gánh khoai cuối cùng mới đủ tiền nộp sưu cho anh Dậu .
  • Anh Dậu được khiêng về, mới tỉnh, có nguy cơ bị bắt trói lại
=> Khốn khổ, khó khăn và bế tắc vô cùng.

2) Nhân vật cai lệ:
  • Sầm sập.roi song, tay thước, dây thừng
  • Gõ đầu roi xuống đất, thét: ...Thằng kia.nộp tiền sưu! mau!
  • Trợn ngược hai mắt, quát:. định nói."
  • Giọng hầm hè: . Ông sẽ dỡ cả nhà mày đi. trói cổ chồng nó
  • Giật phắt cái thừng trong tay, chạy sầm sập. chỗ anh Dậu.
  • Tát vào mặt chị, nhảy vào cạnh anh Dậu.
=> Qua các chi tiết trên ta có thể thấy tên cai lệ là một tên hết sức hung dữ, dữ tợn và mất hết tính người.

3, Chị Dậu phản kháng
  • “ Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nó nữa, nên mới lôi thôi như thế. Chứ cháu có dám bỏ bễtiền sưu của nhà nước đâu?” -> lời nói nhẹ nhàng, sợ hãi, mong muốn được khất sưu
  • “ Khốn nạn! Nhà cháu đã không có, dẫu ông chửi mắng cũng đến thế thôi. Xin ông trông lại!” -> thể hiện sự tha thiết của chị Dậu
  • “ Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!”-> thương chồng
  • “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!” -> chống cự
  • “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!” -> kháng cự dữ dội
=> Mạnh mẽ, dung cảm và yêu thương chồng con.
Ý nghĩa nhan đề: Tức nước vỡ bờ đặt cho đoạn trích thể hiện giới hạn chịu đựng của con người, khi đến một giới hạn nào đó không chịu được nữa thì người ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn.

Tổng kết
1) Nghệ thuật
- Khắc hoạ nhân vật rõ nét
- Miêu tả linh hoạt, sống động.
- Ngôn ngữ kể chuyện, miêu tả, đối thoại đặc sắc

2) Nội dung
- Tình cảnh khốn cùng của người nông dân
- Lên án chế độ phong kiến tàn bạo
- Ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
ĐÁNH NHAU VỚI CỐI XAY GIÓ
Xéc - van - tét
I, Giới thiệu chung:
a, Tác giả:

  • Xéc - van - tét (1547 - 1616) là nhà văn Tây Ban Nha.
  • Ông vốn là binh sĩ, bị thương năm 1571 trong một cuộc thủy chiến và bị bắt giam ở An-Giê đến 1580.
  • Sau khi trở về Tây Ban Nha, ôn sống một cuộc đời cực nhọc, âm thầm mãi cho đến khi công bố tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê.
b, Tác phẩm:
  • Là tác phẩm nổi tiếng nhất của Xéc - van - téc.
  • Đánh nhau với cối xay gió trích từ chương tám của tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê.
c, Thể loại: Tiểu thuyết.
d, Phương thức biểu đạt: Tự sự xen lẫn miêu tả và biểu cảm.
e, Bố cục: 3 phần.
  • Phần 1 (Từ đầu -> chứ không phải là bọn khổng lồ) : Thầy trò Đôn Ki-hô-tê và Xan-chô Phan -xa trước trận chiến.
  • Phần 2 (Tiếp theo -> cũng bị toạc nửa vai) : Đôn Ki-hô-tê liều mạng tấn công những chiếc cối xay gió và bị toạc nửa vai.
  • Phần 3 (Còn lại) : Hai thầy trò tiếp tục lên đường.
II, Phân tích tác phẩm:
a, Tóm tắt:
- Tác phẩm kể về Đôn Ki-hô-tê, một lão quý tộc nghèo vì quá say mê truyện kiếm hiệp nên muốn trở thành hiệp sĩ giang hồ. Lão lục tìm những đồ binh giáp đã han gỉ của tổ tiên để trang bị cho mình. Phong cho con ngựa ròm của lão là chiến mã Rô-xi-nan-tê còn bản thân lão là hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Man-cha. Lão nhớ đến một phụ nữ nông dân lão yêu thầm khi xưa và ban cho cái tên là công nương Đuyn-xi-nê-a. Lão Đôn Ki-hô-tê gầy gòm cao lênh khênh trên lưng con ngựa còm đi làm hiệp sĩ cứu người lương thiện. Đi cùng với lão còn có Xan -chô Pan-xa béo lùn, được lão chọn làm giám mã, cưỡi trên lưng con lừa thấp bé. Sau khi đánh nhau với cối xay gió, Lão mới nhận ra tác hại của việc mê truyện kiếm hiệp mù quáng. Cuối cùng là viết di chúc rồi qua đời.

b, Phân tích tác phẩm:
- Nhân vậy Đôn Ki-hô-tê:

+ Nguồn gốc xuất thân, ngoại hình, mục đích thực hiện:
  • Một quý tộc nhèo, say mê truyện kiếm hiệp quá đà đâm ra ảo tưởng về mọi thứ xung quanh.
  • Bất kì thứ gì quan sát được, ông cũng liên tưởng đến các nhân vật, sự kiện, câu chuyện trong truyện kiếm hiệp.
  • Thân hình gầy gò, cao lênh khênh, cưỡi trên lưng con ngựa còm.
  • Muốn trở thành hiệp sĩ giang hồ, cứu giúp người nghèo khổ, đảm bảo công bằng xã hội.
+ Trước trận đấu:
  • Tưởng đó là những gã khổng lồ.
  • Nghĩ đây là vận may
  • -> Hoang tưởng, mù quáng quá đà.
+ Trong trận đấu:
  • Ngọn giáo gẫy tan tành, kéo theo cả người và ngựa văng ra xa.
  • -> Tinh thần chiên đấu dũng cảm, kiên cường.
+ Sau trận đấu:
  • Không kêu la, bẻ một cành khô lắp vào làm một ngọn giáo.
  • Thức suốt đêm, không ngủ để nhớ tới nàng Đuyn-xi-nê-a
  • Khôn ăn sáng.
  • -> Coi khinh cái tầm thường, thực dụng.
  • => Là một người điên rồi, hoang tưởng nhưng dũng cảm, cao thượng, có lí tưởng.
- Nhân vật Xan-chô Pan-xa:
+ Nguồn gốc, ngoại hình, mục đích của những chuyến đi:
  • Người nông dân thật thà.
  • Béo, lùn, cưỡi trên lưng con lừa thấp lè tè.
  • Nhận làm giám mã cho Đôn Ki-hô-tê với hy vọng khi chủ nhân thành danh bại sẽ được làm thống đốc, cai trị một vài hòn đảo.
+ Trước trận đấu:
  • Nhận ra đó không phải là con quá vật mà là những chiếc cối xay gió.
  • -> Tỉnh táo, nhận ra sự thật.
+ Trong trận đấu:
  • Hét bảo rằng đó không phải là những tên khổng lồ.....nhanh chóng lùi ra xa.
  • -> Tính tình hèn nhát.
+ Sau trận đấu:
  • Chỉ cần đau một chút là kêu ngay.
  • Ung dung đánh chén, tu bầu rựu.
  • Ngủ một mạch, buồn vì bầu rựu nhẹ đi.
  • -> Thực tế, chân thật, thích ăn và ngủ.
  • Tương phản, đối lập giữa hai hình tượng nhân vật.
  • Là người luôn tỉnh táo, thực tế và thực dụng.
- Mối quan hệ giữa hai nhân vật Đôn Ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa:

Đôn Ki-hô-têXan-chô Pan-xa
Xuất thânDòng dõi quý tộc.Nông dân.
Ngoại hìnhGầy còm, cao lênh khênh.Béo, lùn.
Phương tiện di chuyểnMột con ngựa còm.Một con lừa thấp lè tè.
Khát vọngTrừ gian, diệt bạo, bảo vệ
dân thường hiền lành.
Quyền lợi và sự hưởng
thụ của bản thân.
Tính cáchDũng cảm, gan dạHèn nhát, sợ đau.
Suy nghĩĐắm chìm trong thế giới
ảo của tiểu thuyết
Tỉnh táo, thực tế, nhận
ra gã khổng lồ là giả.
[TBODY] [/TBODY]

-> Hai nhân vật có sự tương phản, đối lập nhau ở nhiều khía cạnh.
=> Tuy nhiên, đây lại là một sự độc đáo làm nên tên tuổi cho đoạn trích cũng như tác phẩm.

III, Giá trị tác phẩm:
- Về mặt nội dung:
  • Kể lại câu chuyện về sự bi hài của Đôn Ki-ho-tê khi đánh nhau với cối xay gió.
  • Chế giễu lý tưởng hiệp sĩ phiêu lưu hão huyền, phê phán thói thực dụng, thiển cận của con người trong đời sống xã hội.
- Về mặt nghệ thuật:
  • Nghệ thuật kể chuyện, tô đậm sự tương phản giữa hai hình tượng nhân vật.
  • Có giọng điệu phê phán, châm biến mà hài hước.
  • Xay dựng được hình tượng nhân vật về ngoại hình, ngôn ngữ, tính cách.
Mọi người tham khảo ^^
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
CÔ BÉ BÁN DIÊM
An_đéc_xen
I, Giới thiệu chung:
a, Tác giả:
- An_đéc_xen (1805 - 1875) là nhà văn Đan Mạch nổi tiếng chuyên viết truyện cho thiếu nhi,
- Ông cũng là người kể chuyện cổ tích nổi tiếng thế giới. Nhiều chuyện ông viết lại dựa trên cốt đã có sẵn, nhiều chuyện tự sáng tác ra.
- Truyện của ông mang đến cho độc giả cảm nhận về niềm tin, về lòng yêu thương đối với con người.
- Những câu chuyện của ông luôn được các bạn nhỏ hoan nghênh nhiệt liệt.
b, Tác phẩm:
- Là một trong những truyện ngắn nổi tiếng của An-đéc-xen.
- Văn bản này trích gàn hết truyện ngắn Cô bé bán diêm.

II, Phân tích tác phẩm:
- Hoàn cảnh của cô bé bán diêm:
+ Mồ côi mẹ, người bà hết mực yêu thương em cũng đã qua đời nên phải sống với người bố.
+ Sống trong căn nhà tồi tàn, phải chui rúc trong một xó tối tăm trên gác mái nhà.
+ Luôn bị mắc nhiếc, chửi rủa, phải đi bán diêm để kiếm sống.
+ Không bao giờ nhận được sự yêu thương của bố.
+ Không gian: Trời tuyết rét buốt.
+ Thời gian: Vào đêm giao thừa.
+ Hình ảnh: Đầu trần, chân đất, bụng đói.
-> Tương phản, đối lập.
=. Hoàn cảnh cô đơn, đói rét, khốn khổ và đáng thương.

- Những mộng tưởng của cô bé bán diêm:

LầnMộng tưởng (diêm cháy)Thực tại (diêm tắt)
1Ngồi trước một lò sưởi, mong được sưởi ấmLò sưởi biến mất, trở nên lạnh cóng.
2Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên
bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, có cả một
con ngỗng quay thơm phức.
Chẳng có bàn ăn, đồ ăn, ngỗng quay
nào cả. Chỉ còn lại phố xá vắng tanh,
lạnh buốt.
3Cây thông nô-en lớn và được trang trí rất
lộng lẫy.
Cây thông nô-en biến mất, chỉ còn lại
quen diêm trên tay đã tắt.
4Nhìn thấy bà đang mỉm cười với em. Cất lời
nói với bà thể hiện tình cảm nhớ thương.
Bà biến mất.
5Vì muốn níu bà ở lại, quẹt tất cả những que
diêm còn lại trong bao. Hai bà cháu bay lên
cao, cao mãi, không còn đói rét, khổ đau.
Cô bé chết.
[TBODY] [/TBODY]

-> Năm lần quẹt diêm với những hình ảnh tương phản, đối lập càng lúc càng gay gắt, thực tế và mộng tưởng. Cuộc đời và ảo ảnh cứ sóng đôi.
=> Nổi bật mong ước, chân thành, chính đáng, giản dị của em với thân phận bất hạnh.

- Cái chết của cô bé:
+ Em bé chết, đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười.
+ Hoàn cảnh đối lập hoàn toàn với tất cả mọi người.
+ Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà :"Chắc nó muốn được sưởi ẩm".
-> Cái chết vô tội, không đáng có thể hiện nỗi day dứt, xót xa của nhà văn đối với em bé bất hạnh.
=> Tố cáo xã hội lạnh lùng, thờ ơ, vô trách nhiệm.

III, Giá trị tác phẩm:
- Giá trị nôi dung:
  • Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của nhà văn đối với những số phận bất hạnh.
  • Từ đó, nhắc nhở mọi người hãy dành cho trẻ em sự quan tâm đầy đủ và điều kiện tốt nhất để phát triển.
- Giá trị nghệ thuật:
  • Miêu tả rõ nét cảnh ngộ và nỗi khổ cực của em bé bằng những chi tiết, hình ảnh đối lập.
  • Xắp xếp trình tự sự việc, nhằm khắc họa tâm lý em bé trong cảnh ngộ bất hạnh.
  • Đoạn trích Cô bé bán diêm tuy không đầy đủ nhưng cũng cho thấy được nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn của An_đéc_xen.
  • Thủ pháp lãng mạn được phát huy tối đa làm cho cái chết của cô bé bán diêm tuy rất thương tâm nhưng không bi thảm, để lại nhiều dư vị.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
Chiếc lá cuối cùng _ O - hen - ri
I, Giới thiệu chung:
a, Tác giả:
- O - hen - ri (1862 - 1910) là nhà văn Mĩ chuyên viết truyện ngắn.
- Tinh thần cao cả, nhân đạo được thể hiện nổi bật trong các tác phẩm của ông.
- Các truyện của ông thường nhẹ nhàng nhưng toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình yêu thương người nghèo khổ.
b, Tác phẩm:
- Chiếc lá cuối cùng thuộc phần cuối của tác phẩm.
- Chiếc lá cuối cùng là truyện ngắn thể hiện rõ ràng đặc trưng truyện ngắn của O-hen-ri.
c, Thể loại:
- Truyện ngắn.
d, Phương thức biểu đạt:
- Tự sự, miêu tả xen lẫn biểu cảm.

II, Phân tích tác phẩm:
a, Cảnh ngộ và tâm trạng của Giôn-xi:
- Khi lâm bệnh nặng:
+ Là một họa sĩnh nghèo bị bệnh viêm phổi nặng.
+ Cô đếm những chiếc lá thường xuân, sẵn sàng đón chờ ngày chết.
+ Là người lạnh lùng, tàn nhẫn, thờ ơ với chính bản thân mình.
-> Chán nản, tuyệt vọng, thiếu nghị lực và niềm tin vào cuộc sống.
- Khi khỏi bệnh:
+ Chiếc là thường xuân vẫn còn đó. Cảm thấy ngạc nhiên vì sau trận bão mà chiếc là vẫn còn.
+ Chính sức sống dai dẳng của chiếc lá thường xuân ấy là động lực làm cho Giôn - xi khao khát được sống.
-> Giôn - xi lấy lại nghị lực và niềm tin vào cuộc sống. Qua khỏi căn bệnh nguy hiểm.
b, Hình tượng những người nghệ sĩ giàu tình yêu thương.
- Nhân vật Xiu:
+ Lo lắng, thương yêu, chăm sóc cho Giôn - xi.
+ Động viên, hết lòng với bạn.
+ Cúi khuôn mặt hốc hác xuống gần gối: "Em hãy nghĩ đến chị".
+ Yêu quý, cảm phục cụ Bơ - men.
=> Tạn tình, có trái tym nhân hậu, giàu lòng yêu thương, đức hy sinh.
- Nhân vật cụ Bơ - men:
+ Hiểu, lo lắng cho bệnh tình của Giôn - xi trong đêm mưa tuyết, cụ vẽ chiếc lá cuối cùng lên tường, nhen lên niềm tin, niềm hy vọng và nghị lực sống cho Giôn - xi.
=> Giàu tình yêu thương, dũng cảm, cao thượng.
+ Kiệt tác chiếc lá cuối cùng là một tác phẩm nghệ thuật chân chính vì sự sống con người.

III, Giá trị tác phẩm:
- Giá trị nội dung:
+ Là câu chuyện cảm động về tình yêu thương giữa những người nghệ sĩ nghèo.
+ Qua đóm tác giả thể hiện quan niệm của mình về mục đích sáng tạo nghệ thuật.
- Giá trị nghệ thuật:
+ Dàn dựng cốt truyện chu đáo, các tình tiết được sắp xếp tạo hứng thú đối với độc giả.
+ Nghệ thuật kể chuyện, đảo ngược tình huống hai lần tạo nên hấp dẫn cho thiên truyện.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
HAI CÂY PHONG _ AI - MA - TỐP
I, Giới thiệu chung:
a, Tác giả:
- Ai - ma - tốp (1928 - 2008) là nhà văn Cư - rơ - gư - xtan, trước đây là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết.
- Đề tài chủ yếu trong các truyện ngắn của ông là cuộc sống khắc nghiệt nhưng cũng đầy chất lãng mạn của người dân vùng đồi núi Cư - rơ - gư - xtan, tình yêu, tình bạn, tinh thần dũng cảm vượt qua những thử thách hi sinh thời chiến tranh,......
- Các tác phẩm tiêu biểu: Cây phong non trùm khăn đỏ, con tàu trắng, người thầy đầu tiên,....
b, Tác phẩm:
- Thuộc phần đầu của truyện "Người thầy đầu tiên".
- Bối cảnh truyện là một vùng quê hẻo lánh thuộc Cư - rơ - gư - xtan giữa những năm 20 của thế kỉ XX khi nơi đây tư tưởng phong kiến và gia trưởng còn nặng nề, do đó phụ nữ và trẻ mồ côi bị coi thường và rẻ rúng.
c, Thể loại:
- Truyện ngắn.
d, Phương thức biểu đạt:
- Tự sự, miêu tả xen lẫn biểu cảm.

II, Phân tích tác phẩm:
- Hình ảnh hai cây phong qua con mắt của người họa sĩ:
+ Hai cây phong hệt như những ngọn hải đăng đặt trên núi.
-> So sánh.
=> Tín hiệu về làng là hai cây phong.
- Đặc điểm của hai cây phong:
+ Có tiếng nói riêng, tâm hồn riêng, nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào như làn sóng thủy triều.
-> So sánh, nhân hóa kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
=> Có sức sống mãnh liệt, biểu tượng cho bao phẩm chất tốt đẹp của con người quê hương, con người thảo nguyên nơi đây.
- Hai cây phong và kí ức tuổi thơ:
+ Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy bên cạnh chiếc gương thần xanh, khi ngồi trên hai cây phong.
+ Phép thần thông .... ánh sáng.
+ Nín thở rồi lawgj đi.
+ Suy nghĩ đã phải nơi tận cùng của thế giới chưa?
+ Lắng nghe tiếng gió.
=> Sử dụng phương thức kể + biểu cảm đan xen.
=> Những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ không thể nào quên.
- Hai cây phong và thầy "Đuy - sen"
+ Lòng biết ơn người thầy đã gieo vào thâm hồn trẻ thơ, niềm tin, khát vọng vào cuộc sống tốt đẹp.

III, Giá tri tác phẩm:
- Giá trị về mặt nội dung:
+ Hai cây phong là biểu tượng tình yêu quê hương sâu nặng, gắn liền với những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ của người họa sĩ làng Ku - Ku - rêu.
- Giá tri về mặt nghệ thuật:
+ Lựa chọn ngôi kể khéo léo tạo nên hai mạch kể lồng ghép độc đáo.
+ Miêu tả bằng ngòi bút đậm chất hội họa, truyền sự rung cảm đến người đọc.
+ Có nhiều liên tưởng, tưởng tượng hết sức phong phú
 

Phạm Đình Tài

Cựu Mod Văn
Thành viên
8 Tháng năm 2019
1,995
4,042
461
17
Đà Nẵng
THPT Thái Phiên - TP Đà Nẵng
ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN - PHAN BỘI CHÂU
I.Tìm hiểu chung:
1. Tác giả
-Phan Châu Trinh (1872-1926) thôn Tây Hồ, xã Tam phước, Tam Kỳ, Quảng Nam.
-Ông đề xướng phong trào dân chủ. Hoạt dộng của ông đa dạng, phong phú sôi nổi ở trong nước.
-Thơ văn trữ tình thấm tinh thần yêu nước.

2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn sáng tác khi Phan Châu Trinh bị bắt đày ra Côn Đảo.
b.Thể loại: Lục bát
c.Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm + Tự sự
d.Bố cục:
-Bốn câu đầu: Công việc đập đá.
-Bốn câu cuối: Cảm nghĩ từ việc đập đá.

Tìm hiểu chi tiết
1- Công việc đập đá
- Miêu tả bối cảnh đồng thời tạo dựng tư thế của con người giữa đất trời Côn Đảo.
- Quan niệm nhân sinh truyền thống “làm trai”. Đó là lòng kiêu hãnh, là ý chí khẳng định mình, là khát vọng hành động mãnh liệt.
- Tư thế hiên ngang không sợ nguy nan, vẻ đẹp hùng tráng.
- Miêu tả thực công việc lao động nặng nhọc của người tù khổ sai, dùng búa để khai thác đá ở những hòn núi ngoài Côn Đảo.
- Tầm vóc khổng lồ của người anh hùng với những hành động phi thường.
- Khí thế hiên ngang hành động quả quyết mạnh mẽ phi thường xách búa, ra tay sức mạnh ghê gớm gần như thần kỳ làm lở núi non, đánh tan năm,bảy đống, đập bể mấy trăm hòn.
- Miêu tả công việc đập đá.
-Khắc họa con người cách mạng với khí thế hiên ngang, lẫm liệt, sừng sững giữa trời.
-Giọng thơ thể hiện khẩu khí ngang tàng, ngạo nghễ của con người dám coi thường mọi thử thách.

2- Cảm nghĩ từ việc đập đá
- Trực tiếp bộ lộ cảm xúc và suy nghĩ của mình
- Con người phong trần cứng cỏi, trung kiên, không sờn lòng, đổi ý. Vẻ đẹp tinh thần này kết hợp với tầm vóc lẫm liệt oai phong tạo nên hình tượng giàu chất sử thi và gây ấn tượng mạnh.
- Nghệ thuật đối lập: Đối lập giữa thử thách gian nan (tháng ngày mưa nắng) với sức chịu đựng dẻo dai, ben bỉ (thân sành sỏi)và ý chí chiến đấu sắt son của người chiến sĩ CM (càng bền dạ sắt son)
- Cặp câu 7-8 là sự đối lập giữa chí lớn của những người có mưu đồ sự nghiệp cứu nước với những thử thách phải gánh chịu được xem như việc con con.

III. Tổng kết
– Bài thơ là hình ảnh cao đẹp của người yêu nước trong gian nan vẫn hiên ngang bền gan vững chí.
– Nhân cách cứng cõi của nhà yêu nước Phan Châu Trinh.
– Giọng điệu hùng tráng của thể thơ TNBC trong lối thơ tỏ chí của các nhà thơ yêu nước Việt Nam.​
 
  • Like
Reactions: wyn.mai

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
I, Giới thiệu chung:
a, Tác giả:
- Bài viết do Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nội công bố vào ngày 22 - 4 - 2000.
b, Tác phẩm:
- Được soạn thảo nhân dịp Việt Nam lần đầu tiên tham gia chương trình nói trên vào ngày 22 - 4 - 2000.
- Thông tin về ngày trái đất đã được thu hẹp, thể hiện tập trung trong chủ đề: Một ngày không sử dụng bao bì ni lông.
c, Thể loại:
- Được viết theo kiểu văn bản nhật dụng.
d, Phương thức biểu đạt:
- Thuyết minh.
e, Bố cục:
- Có bố cục 3 phần chặt chẽ:
+ Phần 1 (Từ đầu đến chủ đề Một ngày không sử dụng bao bì ni lông) : Trình bày nguyên nhân ra đời của thông điệp Thông tin về ngày trái đất năm 2000.
+ Phần 2 (Như chúng ta đã biết đến ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường) : Phân tích tác hại và đưa ra giải pháp cho vấn đề sử dụng bao bì ni lông.
+ Phần 3 (Còn lại) : Kêu gọi mọi người hãy quan tâm, hành động vì môi trường bằng việc làm cụ thể - Một ngày không dùng bao bì ni lông.

II, Phân tích tác phẩm:
- Thông báo về ngày trái đất:
+ Ngày 22/4 hàng năm được gọi là ngày trái đất.
+ Có 141 nước tham gia.
+ 2000: Việt Nam tham gia.
-> Số liệu cụ thể, chính xác, lời giới thiệu ngắn gọn.
=> Môi trường là vấn đề mà cả thế giới quan tâm.
- Nguyên nhân và tác hại khiến việc dùng bao bì ni lông gây nguy hại đối với môi trường và con người:
+ Bao bì ni lông lẫn vào đất sẽ làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh.
+ Nếu vứt bao bì ni lông xuống cống sẽ làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt ở các đô thị vào mùa mưa. Rồi sự tắc nghẽn cống rãnh lại làm cho mỗi sinh sôi lây lan dịch bệnh.
+ Nếu ni lông vứt xuống ao hồ, biển thì các sinh vật nuốt phải chúng sẽ chết.
+ Khí độc thải ra ngoài khi bao ni lông bị đốt gây ngộ độc, cảm, ngất, ung thư, dị tật cho bản thân.
+ Bao ni long màu đựng thực phẩm sẽ làm ô nhiễm thực phẩm do chức các kim loại như chì, ca - đi- mi gây tác hại cho não và còn là nguyên nhân gây ra các bệnh hiểm nghèo
+ Ngoài ra, chúng ta còn thấy những túi ni lông vứt bừa bãi gây mất mĩ quan cho nơi công cộng.
- Giải pháp:
+ Con người cần phải thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông bằng cách giặt phơi khô và dùng lại khi không cần thiết,
+ Nêu sử dụng các túi đựng khác bằng giấy, lá- nhất là khi để gói thực phẩm thay thế cho bao bì ni lông.
+ Phổ biến những tác hại của bao ni lông cho gia đình, bạn bè và mọi người để cùng nhau hạn chế sử dụng cũng như tìm ra giải pháp khắc phục.
-> Những biện pháp này hợp lí và có tính thực tiễn cao vì nó tác động đến ý thức con người và dựa trên nguyên tắc chủ động phòng tránh, giảm thiểu tác hại bằng nhiều cách. Tuy vậy, nếu bản hân mỗi người không tự giác, không thực hiện nghiêm chỉnh và lâu dài thì những biện pháp trên không chỉ là lời kêu gọi suông,

III, Giá trị tác phẩm:
- Giá trị về mặt nội dung:
+ Giảm thiểu bao bì ni lông là một trong những hành động hiệu quả giúp ích cho môi trường và sức khỏe.
+ Chỉ một hành động nhỏ có thể mang lại lợi ích lớn cho sự sống của nhân loại.
- Giá trị về mặt nghệ thuật:
+ Văn bản giải thích rất đơn giản, ngắn gọn mà sáng tỏ về tác hại của việc dùng bao bì ni lông, về lợi ích của việc giảm bớt chất thải nilong.
+ Ngôn ngữ diễn đạt chính xác, sáng rõ, thuyết phục.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
ÔN DỊCH _ THUỐC LÁ
I, Giới thiệu chung:
a, Sơ nét về tác phẩm:
- Xuất xứ: Trích trang :"Từ thuốc lá đến ma túy - Bệnh nghiện" năm 1992.
- Là kiểu văn bản nhật dụng nhắc nhở mọi người hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe
- Nhan đề cho tháy tính chất nghiêm trọng và bức xúc của vấn đề, Thuốc lá ở đây là nói đến hiện tượng nghiện thuốc lá. Nó được ví một cách rất thỏa đáng với ôn dịch, xem như một thứ bệnh nguy hiểm đến tính mạng con người và rất dễ lây lan. Hơn nữa, từ ôn dịch còn mang sắc thái biểu cảm. Nghiện thuốc lá còn được nói đến trong một cảnh báo gay gắt, đến mức nó đáng trở thành một đối tượng để nguyền rủa.
b, Phương thức biểu đạt:
- Nghị luận kết hợp với thuyết minh.

II, Phân tích tác phẩm:
- Thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người:
+ Nguyễn Khắc Việt đã chỉ ra cách mà thuốc lá đã và đang đe dọa sức khỏe, tính mạng loài người: "Ngày trước Trần Hưng Đạo căn dặn nhà vua: Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc găm nhấm như tằm ăn dâu". Tác giả đã khéo léo so sánh việc hút thuốc lá sẽ gây tác hại cho cơ thể người hút mà không có gì có thể chữa trị, đành phải căm chịu hậu quả.
+ Tác hại của thuốc lá không phải dễ dàng nhận ra ngay vì nó thâm nhập từ từ, mỗi ngày một ít. Nhưng thật sự, hậu quả vô cùng khủng khiếp.
+ Những nạn nhận của thuốc lá: Lông rung của những tế bào niêm mạc bị chất hắc ín trong khói thuốc làm tê liệt dẫn đến hiện tượng bụi và vi khuẩn tích tụ gây ho hen, viêm phế quản, hồng cầu bị chất ô - xít các - bon bám chặt, không cho tiếp cận ô - xi,......
-> Thuốc lá có hại cho sức khỏe người hút, thuốc lá là kẻ thù ngọt ngào nhưng nham hiểm của sức khỏe con người.
+ Việc hút thuốc lá không chỉ gây tác hại cho bản thân người hút mà còn cho cả những người xung quanh nếu hít phải khói thuốc.

- Thuốc lá ảnh hưởng xấu đến đạo đức con người:
+ Đưa ra phép so sánh về việc giáo dục trẻ em: Một thanh niên Mĩ, một đô la có thể mua được một bao thuốc lá là một khoản tiền nhỏ còn đối với thanh niên Việt Nam muốn có 15000 mua một bao 555 chỉ còn cách ăn trộm. Nước ta nghèo hơn các nước Âu - Mĩ nhưng tỉ lệ hút thuốc tương đương. Những lúc đó, muốn được hút thuốc thì những thanh niên đã làm những việc phạm pháp như ăn trộm, ăn cắp vặt để có tiền mua thuốc.
- Khi đã hiểu rõ tác hại của thuốc lá thì thế giới đang quyết liệt chống thuốc lá như một chiến dịch với nhiều biện pháp phong phú. Khẩu hiệu không hút thuốc lá đã xuất hiện ở nhiều nơi cho thấy tầm quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe con người. Giữ bầu không khí trong lành của là trách nhiệm của mỗi người dân.

III, Giá trị tác phẩm:
- Giá trị về mặt nội dung:
+ Với những phân tích khoa học, tác giả đã chỉ ra tác hại của việc hút thuốc lá đối với đời sống con người, từ đó phê phán và kêu gọi mọi người ngăn ngừa tệ nạn hút thuốc lá.
- Giá trị về mặt nghệ thuật:
+ Kết hợp lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động với thuyết minh cụ thể, phân tích trên cơ sở khoa học.
+ Sử dụng thủ pháp so sánh để thuyết minh một cách thuyết phục một vấn đề y học liên quan đến tệ nạn xã hội.
 
Last edited:

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
BÀI TOÁN DÂN SỐ
_ Thái An _
I, Giới thiệu chung:
1, Một số nét chính.
  • Sự phát triển dân số có mối liên quan chặt chẽ đến chất lượng cuộc sống con người.
  • Hạn chế gia tăng dân số là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển xã hội loài người.
  • Xuất xứ: Trích từ báo giáo dục và thời đại, chủ nhật số 28, năm 1995.
  • Thuộc kiểu văn bản nhật dụng.
2, Phương thức biểu đạt:
  • Lập luận kết hợp với thuyết minh, tự sự, miêu tả.
3, Bố cục: 3 phần.
  • Phần 1: Từ đầu đến tôi bỗng "Sáng mắt ra": Tác giả nên lên vấn đề bài toán dân số và kế hoạch hóa gia đình đã được đặt ra từ thời cổ đai.
  • Phần 2: Tiếp theo đến mon men sang ô thứ 31 của bàn cờ: Tác giả làm rõ tốc độ gia tăng dân số và kế hoạch hóa gia đình đã được đặt ra từ thời cổ đại.
  • Phần 3: Phần kết luận là đoạn còn lại: Tác giả kêu gọi loài người cần hạn chế sự bùng nổ và gia tăng dân số. Đó là con đường duy nhất để tồn tại của con người.

II, Phân tích tác phẩm:
- Nêu vấn đề dán số và kế hoạch hóa gia đình:
+ Dưới hình thức một bài toán, một câu chuyện kén rể của nhà thông thái vừa gây tò mò, hấp dẫn cho người đọc vừa mang lại một kết thúc hết sức bất ngờ. Các chàng trai trong câu chuyện cũng như người đọc tưởng số thóc kia là ít, có thể dễ dàng đáp ứng yêu cầu của nhà thông thái đặt ra nhưng thật ra đã nhầm. Số thóc kia có thể phủ kín bề mặt trái đất.
+ Câu chuyện kén rể của nhà thông thái là một tiền đề để tác giả so sánh với sự bùng nổ và gia tăng dân số thế giới. Từ sự so sánh đó, tác giả giúp người đọc hình dung ra tốc độ gia tăng dân số là hết sức nhanh chóng. Đây là vấn đề trọng tâm mà bài viết muốn đề cập đến.

- Thực trạng dân số thế giới và Việt Nam:
+ Trước hết, nó cho thấy phụ nữ có thể sinh rất nhiều con. Nhiều nhất là phụ nữ Ra-an-đa có thể sinh 8,1 con và tính chung toàn phụ nữ Châu Phi là 5,8 con. Ở Việt nam, trung bình một phụ nữ sinh 3,7 con. Nhìn vào số liệu như vậy có thể thấy chỉ tiêu mỗi gia đình chỏ có từ một đến hai con là rất khó thực hiện.
+ Thứ hai, các con số này phản ánh một điệu: các nước chậm phát triển lại sinh rất nhiều con. Nên hầu hết các nước đấy có dân số gia tăng một cách mạnh mẽ, cho thấy sự gia tăng dân số và sự phát triển của đời sống xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau.
+ Sự bùng nổ dân số lại đi kèm với sự lạc hậu, nghèo đói, kinh tế chậm phát triển, người dân không được hưởng các phúc lợi xã hội về y tế, văn hóa, giáo dục,.... Và khi kinh tế văn hóa, giáo dục càng kém phát triển thì con người không thể nào ngăn chặn được sự gia tăng dân số. Hai yếu tố này tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến nhau: Cái này vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của cái kia.

- Giải pháp:
+ Con đường tốt nhất để hạn chế gia tăng dân số chính là việc đẩy mạnh giáo dục. Bởi sinh để là quyền của phụ nữ nên chúng ta không thể cấm đoán bằng mệnh lệnh hay những biện pháp thô bạo,.... Chính cách giáo dục bằng tuyên truyền phổ biến tác hại to lớn của việc gia tăng dân số thì mọi người sẽ hiểu và thực hiện một cách nghiêm túc.

III, Giá trị tác phẩm:
- Giá trị nội dung:
  • Văn bản nên lên vấn đề thời sự của đời sống hiện tại: Bùng nổ dân số và tương lai của nhân loại. Từ đó kêu gọi toàn thế giới cùng hành động để hạn chế sự gia tăng dân số.
- Giá trị nghệ thuật:
  • Sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp thuyết minh: So sánh, dùng số liệu, phân tích cấu tạo cho văn bản tạo sự hấp dẫn, thuyết phục.
  • Lập luận chặt chẽ chỉ ra tác hại, nguyên nhân cũng như giải pháp của vấn đề bùng nổ dân số.
 

wyn.mai

Cựu Mod Văn
HV CLB Địa lí
Thành viên
9 Tháng năm 2020
2,042
8,852
726
Lâm Đồng
Lý Tự Trọng
MUỐN LÀM THẰNG CUỘI
_ Tản Đà _
I, Tác giả.
- Tản Đà (1889 - 1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
- Tản Đà xuất thân là nhà nho, từng hai phen lều chõng đi thi nhưng không đỗ. Sau đó, ông chuyển sang sáng tác văn chương và sớm nổi tiếng, nhất là những năm 20 của thế kỉ XX.
- Thơ Tản Đà đầy cảm xúc lãng mạn, có những tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, có thể xem là gạch nối giữa nền thơ cổ điển với nền thơ hiện đại Việt Nam.

II, Tác phẩm:
1, Nhan đề:
- Ngay nhan đề bài thơ Muốn làm thằng cuội ta đã nhận ra chất nôn vốn có của thi nhân. Làm thằng cuội có nghĩa là lên cung trăng cao tít, xa vời, là lên cung Quảng Hàn của Hằng Nga. Ước muốn kì lạ ấy thực chất bắt nguồn từ sự chán nản với nhân thế trần gian.
2, Nghệ thuật:
- Bài thơ Muốn làm thằng cuội được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, trích từ tập Khối tình con I (1917).
- Bài thơ cho thấy những tìm tòi, đổi mới trong thể thơ thất ngôn bát cú đường luật của Tản Đà như:
+ Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, giàu tính khẩu ngữ.
+ Kết hợp giữa tự sự và trữ tình.
+ Giọng điệu hóm hỉnh, duyên dáng.
3, Nội dung:
- Bài thơ thể hiện nỗi chán ghét thực tại tầm thường, giả dối: khao khát vươn tới vẻ đẹp cao khiết, toàn mĩ của cuộc đời.

III, Phân tích:
- Nỗi buồn nhân thế của Tản Đà:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi

+ Hai câu thơ đầu như một lời thanh minh, phơi bày tất cả tâm sự.
+ Đêm thu lạnh lẽo đối diện với vầng trăng, mơ bóng chị Hằng, nhà thơ cảm nhận được một nỗi buồn dâng lên, một nỗi sầu da diết trong lòng mình. Nhà thơ không dấu được cảm xúc rất thực của một cái tôi đang chán đời, chán cảnh trần thế.
+ Nỗi buồn giờ đây như kết đọng lại dữ dội, dồn nén trong hai từ buồn lắm. Nỗi buồn này có thể bắt ngồn từ một tâm trạng bất hòa sâu sắc trước thực tại xã hội, là một nỗi đau đời hay cũng có thể chán ngán vì cuộc đời thiếu một người bạn tri âm tri kỉ để hàn thuyên, quên đi sự cô đơn.
+ Nỗi buồn như không còn biết tâm sự với ai và chỉ biết tâm sự với chị Hằng trên cung trăng. "Chị Hằng ơi" là một lời gọi thân thiết, cứ như cả hai đã thân từ trước. Việc tìm chị Hằng khi buồn để cất lời tâm sự, Tản Đà quả thật rất khác với bao thi nhân khác, chỉ biết lặng lẽ ngắm trăng thở dài.

- Khát vọng thoát li thực tại
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

+ Một chữ xin rất chân thành, thiết tha, nài nỉ. Cành đa đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây, đưa thi sĩ lên cung quế để thỏa mộng lên trời được gần gũi người đẹp. Đó là giấc mộng thoát li vì chán đời, ngán đời.
+ Cung quế, cành đa để gợi nhắc câu chuyện cổ tích nhưng dường như có sự so sánh ngầm trong ý thơ: Ở cõi trần gian, Tản Đà đang cô đơn trong nỗi buồn của chính mình, còn nơi cung trăng, Hằng Nga cũng đang cô đơn như khách trần gian. Hành trình tưởng tượn của nhà thơ đã ngược về với thời gian cổ tích, để nhà thơ hóa thân vào chú Cuội.
+ Giữa Hằng Nga và Tản Đà là cuộc gặp gỡ của hai tâm hồn cô đơn đang cần tìm đến nhau. Đằng sau đó phảng phất nét lãng mạn, tình tứ, trẻ trung, tinh nghịch. Câu thơ bộc lộ rõ nét hồn thơ mơ mộng. Đó vẫn là con người với cốt cách đa sầu, đa cảm nhưng cũng rất đa tình.

Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

+ Bản chất đa tình của thi sĩ đã hé lộ. Cái nồng nàn trong tình ý câu thơ chính là ở chỗ nhà thơ cùng lúc diễn tả hai tâm trạng: Một là của Hằng Nga - một là của Tản Đà. Nét phóng khoáng tâm hồn của thi nhân đâu chỉ là cáu ước vọng lên cung trăng để vượt thoát cảnh tràn đầy chán ngán, mà chính là khi được làm chú cuội nghĩa là làm bạn cùng san bớt nỗi buồn với giai nhân cung quế.
+ Cái độc đáo của Tản Đà chính là ở chỗ cảm nhận được nỗi u buồn của Hằng Nga trong không gian quạnh quẽ chốn Quảng Hàn.

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

+ Bài thơ mở đầu bằng lời than buồn lắm, kết lại bằng nụ cười đêm rằm tháng tám. Niềm vui thay thế nỗi buồn khi những tấm lòng tri kỉ đã gặp gỡ được nhau. Cảm hứng bài thơ trọn vẹn với hình ảnh trăng thu tuyệt đẹp lay thức giấc mơ của bao kẻ muốn llansh đời thoát tục.
+ Câu chữ khéo léo, tình ý của Tản Đà đã làm nên nét nghĩa mới của hình tượng. Cười cho trò đời bon chen, cười trước tình đời nhạt nhẽo, và trên hết là nụ cười của kẽ vẫn còn nặng lòng trần thế.
 
Top Bottom