Sử 11 GIẶC CỜ ĐEN THẢM SÁT DÂN LÀNG HƯƠNG CANH NGÀY 28/2/1884.

Ruka93

Banned
Banned
Thành viên
16 Tháng chín 2018
460
437
76
30
Hà Nội
THPT Thạch Thất
[TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn
Chắc suất Đại học top - Giữ chỗ ngay!!

ĐĂNG BÀI NGAY để cùng trao đổi với các thành viên siêu nhiệt tình & dễ thương trên diễn đàn.

Mặc dù được lưu danh trong ... SGK là đã góp công vào cuôc chiến chống quân xâm lược Pháp của nhân dân ta hồi nửa cuối thế kỷ 19 tuy nhiên Lưu Vĩnh Phúc và quân cờ đen cũng vẫn thực tế chỉ là một đám giặc cỏ tàn quân của Thái Bình Thiên Quốc và cũng có những mặt tối và tội ác ít được biết đến .

Ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch tức ngày 28 tháng 2 năm 1884 quân Cờ Đen đi đến huyện Yên Lãng, Sơn Tây và hạ trại ở Đồng Bói của làng Hương Canh, gần xã Tân Phong ngày nay.
Đã nghe về toán quân này thường giết người, cướp của, hãm hiếp phụ nữ..., chức sắc Hương Canh cử Hồ Cố Công là một người Tàu bán thuốc dạo, đang ngụ cư ở trong làng đến nói chuyện với tướng giặc cờ đen Lưu Vĩnh Phúc, yêu cầu không cho quân lính vào làng. Hồ Cố Công vâng mệnh chuẩn bị lễ lạt cùng mấy người khách là Sầm và Lường ra gặp Lưu Vĩnh Phúc ở doanh trại. Hồ Cố Công bẩm rằng: “Biết tướng quân vâng mệnh triều đình dẹp giặc Tây Dương, đường xa vất vả. Nhưng làng chúng tôi vốn đất chật người đông, nên không tiện bề tiếp đón. Phiền tướng quân đóng trại ngoài này, hết bao nhiêu gạo thịt làng xin cấp đủ. Duy có điều, chỉ xin tướng quân truyền lại cho quân sĩ chớ vào làng kẻo đàn bà trẻ con kinh sợ“.

Lưu Vĩnh Phúc nghe vậy liền đồng ý, truyền cho quân sĩ chỉ đóng trại ngoài đồng không được vào làng cướp phá, chỉ cắm trại nghỉ qua đêm rồi sáng sớm mai lên đường. Dẫu vậy dân làng Hương Canh không chủ quan, làng gọi người đi làm đồng về sớm, đóng tất cả các cổng làng. Trên các cổng làng đều có người canh gác cẩn thận đề phòng quân Cờ Đen vào làng. Tuy đã đồng ý với làng về việc giới nghiêm, thế nhưng chiều ngày mùng hai tháng hai, vẫn có hai lính Cờ Đen lởn vởn ở Cầu Treo, tìm đường qua cổng Treo để vào làng. Người trưởng ở Cầu Treo là Cai Vỏ, đang canh gác ở Cầu Treo thấy vậy, sẵn có chút hơi rượu trong người, ông liền dùng súng hỏa mai bắn chết một tên. Tên lính còn lại thoát chết chạy về báo tin với toán quân đang đóng ở Đồng Bói.

Lập tức ở trong làng nghe thấy tiếng kèn đồng của quân cờ đen thổi vọng về phía cổng làng ngày càng gần, tiếng kèn đó là tiếng của những chiếc kèn dài của để thúc quân. Ba làng Cánh bị bao vây để trả thù cho tên lính bị giết. Quân cờ đen sẵn súng ống lại đông về số lượng, bao vây kín vùng phía Đông Nam bờ lũy Hương Canh. Từ cổng cầu Treo , cổng Gợ cho đến cổng Hính. Những khẩu mã tràng (loại súng thần công nhỏ, có bánh xe kéo) liên tục nã vào các cổng làng.
Trong lũy Hương Canh cũng có một đội quân thiện chiến khoảng mấy trăm tráng đinh có sự rèn luyện không hề nao núng. Họ tập trung lại ở các cổng làng bị tấn công, và biết rằng nếu không chiến đấu chống trả thì làng sẽ bị phá nát.

Quân Cờ Đen tiến sát cổng làng thì, trên tầng những cổng ấy làng ấy những tráng đinh đã phục sẵn. Dùng súng hỏa mai bắn hạ, quân Cờ Đen tràn lên thì lập tức đã nhận hàng loạt những mảnh sành, gạch nung ném tới. Sau nhiều đợt tấn công không thể phá nổi phòng thủ làng Hương Canh, quân Cờ Đen cho súng mã tràng bắn tới tấp. Những chiếc cổng làng hai tầng tám mái vốn được xây bằng gạch và vữa trộn mật mía rất vững chắc, trước hỏa lực của Cờ Đen cũng bị sạt mái, lở tường. Cuối cùng, sau hơn một tiếng cầm cự, cánh cổng Hính bị đổ nghiêng cũng là lúc quân Cờ Đen tràn vào ồ ạt. Các tráng đinh làng Tiên ra sức chặn đánh, nhưng trước số lượng mỏng hơn hẳn so với đối phương đã không chống đỡ nổi. Quân Cờ Đen đã giết hết những nghĩa sĩ ấy trước khi tràn vào các xóm.

Khi tràn vào các xóm, quân Cờ Đen điên cuồng cướp bóc, đốt phá, cứ hễ gặp người là chém . Dân làng Hương Canh lúc đó chỉ biết chạy thoát thân trong hoảng loạn. Chỉ vì mất một mạng người mà quân Cờ Đen với bản chất của những tên thổ phỉ đã chém giết để trả thù điên cuồng, người trong làng phần bị giết chết, phần thì nhanh chân bỏ chạy, chỉ còn lại trẻ con người già yếu không chạy kịp đều, cả làng nháo nhác tiếng kêu khóc, trẻ con lạc mẹ lạc cha chạy khắp đường. Số quân cờ đen ở ngoài đồng cũng tràn cả vào làng, bắt gà, giết lợn thổi cơm ăn. Dường như đã hả cơn giận, cũng là lúc tối đến quân Cờ Đen mới cho nấu một vạc cháo hoa loãng ở giữa sân đình Tiên, bắt số trẻ con lạc bố mẹ dồn cả vào một chỗ rồi đơm ra bát đàn cho húp.Tuy hoảng sợ nhưng vì đói cả nên bọn trẻ cũng húp lấy hút để. Hễ đứa nào húp cháo nóng chỉ một chỗ là Cờ Đen phán định ấy là con nhà giàu, đứa nào húp xung quanh cho cháo nguội dần thì cho là con nhà nghèo. Những đứa chúng cho là con nhà giàu thì liền dùng giáo nhọn đâm vào lưng đứa bé mà nhấc bổng lên trên trời. Đứa bé giãy giụa vì quá đau đớn mà huơ tay huơ chân, khóc thảm thiết. Lính Cờ Đen cười ầm cả lên mà bảo: “Tý nheo (trẻ con) đang múa đấy” rồi vứt xác trẻ con xuống giếng Nội ở đầu đình. Cả đứa chưa chết hẳn lẫn đứa chết cũng bị chết đuối hết, nước giếng đỏ ngầu màu máu, xác tràn lên gần đầy lên cả miệng giếng.

Sáng ngày mùng 3 tháng 2 tức ngày 29 tháng 2, vì vẫn còn phải sang Bắc Ninh gấp quân Cờ Đen cũng rút ra khỏi làng, khi đi Cờ Đen bắt bớ những người còn sót lại trong làng gồng gánh phục dịch đi mãi theo đường cái quan. Sau khi quân Cờ Đen kéo đi, người làng Cánh trở về nhà tìm người thân chôn cất, hầu như nhà nào cũng có người chết, nhiều người bị hết hết cả nhà không còn ai. Số người dân bị giết chừng bảy tám trăm người cả ba làng. Từ đó mỗi năm nhằm ngày mùng 2 hai âm lịch ở tất cả các điếm đều tổ chức cúng giỗ trận cho những người đã khuất trong trận vong năm ấy. Riêng ở Đình Tiên, khi cúng người ta còn đổ một cháo xe và bánh hòn xuống giếng Nội ,nơi mà những đứa bé vô tội năm Giáp Thân bị vứt xác xuống đây. Người ta kể lại mỗi khi ấy nước giếng Nội đang trong vắt bỗng đỏ ngầu, và đêm ấy có tiếng trẻ con khóc trong sân đình Tiên. Có người cho rằng đó là oan hồn của những đứa trẻ về đây như oán trách lũ giặc cướp vô lương gây nên thảm cảnh ấy.

Võ tướng triều Nguyễn Ông Ích Khiêm bấy giờ thất vọng triều đình Huế mượn sức quân Cờ Đen chống chọi với Pháp và thái độ "sùng Tàu bài Tây" của một số sĩ phu Bắc Kì thời đó. Ông có làm bài thơ trách cứ tinh thần ỷ lại của các quan trong triều:

Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu
Đến khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến bước chông gai thấy mặt đâu
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nửa dân ta phải cạo đầu
cờ đen.jpg
Ảnh: 2 lính Cờ Đen bị Pháp bắt ở Tuyên Quang năm 1884
 
Top Bottom