Bình luận về cảm hứng nhân đạo của Nam Cao và Thạch Lam qua tác phẩm " Chí Phèo " và " Hai đứa trẻ".
hitina0305
Nhà văn Nga vĩ đại M. Gorki từng đúc kết một chân lý nghệ thuật muôn đời: "Văn học là nhân học". Thật vậy, một tác phẩm văn chương chân chính không bao giờ lảng tránh hay quay lưng lại với những nỗi đau của con người. Nó luôn là nhịp cầu vô hình nối liền những cung bậc cảm xúc, là giọt nước mắt đồng cảm muôn đời rơi trên những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ. Trong giai đoạn văn học Việt Nam 1930 - 1945, giữa bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến ngột ngạt và tăm tối, bóng đêm tưởng chừng đã nuốt chửng mọi hy vọng sống. Thế nhưng, chính trong màn đêm đặc quánh sự bất công ấy, tình yêu thương con người lại tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết qua lăng kính nghệ thuật của Thạch Lam và Nam Cao. Nếu Thạch Lam mang đến một tiếng thở dài xót xa, dịu vợi qua "Hai đứa trẻ", thì Nam Cao lại gióng lên một hồi chuông thảm thiết, đau đớn cào xé qua bi kịch của "Chí Phèo". Dẫu mang hai thi pháp và bút lực hoàn toàn khác biệt, cả hai thi phẩm đều là những đài hoa vĩnh cửu ngợi ca vẻ đẹp thiên lương, kết tinh thành một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, day dứt và lay động lòng người.
Cảm hứng nhân đạo trong văn chương vốn không phải là một khái niệm lý luận khô khan hay trừu tượng nằm trên những trang giấy trắng. Nó chính là nhịp đập thổn thức nơi trái tim người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống với vô vàn những ngổn ngang, bi kịch. Đó là sự đồng cảm, xót thương sâu sắc trước những cảnh ngộ bất hạnh; là tiếng nói dõng dạc, đanh thép lên án những thế lực tàn bạo đã nhẫn tâm chà đạp lên quyền sống cơ bản của con người. Hơn thế nữa, đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo chính là đôi mắt tinh tế khoan dung, đi xuyên qua lớp vỏ bọc bên ngoài tàn tạ, từ đó phát hiện, trân trọng và ngợi ca những vẻ đẹp khuất lấp, những khát vọng hướng thiện chói ngời ẩn sâu trong tâm hồn những con người dưới đáy bùn lầy của xã hội.
Đến với Thạch Lam và thiên truyện "Hai đứa trẻ", người đọc như được đắm mình trong một không gian êm đềm nhưng trĩu nặng u hoài. Là một mảnh ghép đặc biệt của Tự lực văn đoàn, Thạch Lam không tìm kiếm những xung đột giai cấp gay gắt hay những cảnh đời bần cùng hóa đến mức trần trụi, máu me. Cảm hứng nhân đạo của ông len lỏi vào những góc khuất tĩnh lặng nhất của tâm hồn, thể hiện qua một lối văn phong lãng mạn, u buồn nhưng trong trẻo vô ngần. Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn và đêm xuống dưới ngòi bút của ông không chỉ là cảnh vật thiên nhiên, mà là tấm gương phản chiếu xót xa thân phận con người. Những con người nơi đây, từ mẹ con chị Tý với gánh hàng nước ế ẩm, bác phở Siêu với gánh phở xa xỉ không ai mua, gia đình bác xẩm mù sống bằng những tiếng đàn rời rạc, cho đến những đứa trẻ nhặt rác lam lũ... tất cả đều bị giam cầm trong một cái "ao đời bằng lặng". Đó là một nhịp sống quẩn quanh, tẻ nhạt đến mức nghẹt thở. Thạch Lam không dùng những từ ngữ đao to búa lớn để tố cáo hiện thực, ông chỉ lặng lẽ quan sát và nhỏ những giọt nước mắt xót thương cho sự tàn tạ, héo hon của những kiếp người "sống mà như đã chết", cứ lay lắt lụi tàn trong bóng tối mà không biết ngày mai sẽ trôi dạt về đâu.
Nhưng giá trị nhân đạo của Thạch Lam không bao giờ dừng lại ở sự xót thương bế tắc. Giữa bức tranh u ám ấy, nhà văn đã dồn tất cả ánh sáng và sự trân trọng để khắc họa hình tượng chuyến tàu đêm – biểu tượng rực rỡ nhất cho khát vọng sống của con người. Chuyến tàu từ Hà Nội về đi qua phố huyện chỉ trong chớp mắt, nhưng nó mang theo một luồng ánh sáng rực rỡ chói lòa, xé toạc màn đêm đặc quánh của phố huyện. Tiếng còi tàu rít lên, những toa đèn sáng trưng, những hành khách sang trọng... tất cả tạo nên một thế giới hoàn toàn đối lập với cái tăm tối, tĩnh lặng và nghèo nàn nơi chị em Liên đang sống. Việc Liên và An cố thức chờ tàu, những người dân phố huyện ngóng theo đoàn tàu không phải vì mục đích mưu sinh, mà đó là một nhu cầu tâm linh bức thiết. Chuyến tàu ấy chuyên chở những kí ức huy hoàng của quá khứ, chuyên chở một chút sinh khí của một thế giới ồn ào, rực rỡ và đáng sống. Qua hình tượng chuyến tàu đêm, Thạch Lam đã cất lên một bài ca nâng niu khát vọng của con người. Ông khẳng định rằng: con người ta, dù có bị dìm sâu trong cái nghèo đói, tăm tối đến đâu, tâm hồn họ vẫn tự động hướng về phía ánh sáng. Họ không chịu đầu hàng bóng tối, không chịu để tâm hồn mình lụi tàn. Sự chờ đợi khắc khoải ấy chính là vẻ đẹp đáng trân trọng nhất của những kiếp người nhỏ bé.
Nếu Thạch Lam gảy lên một khúc nhạc chiều êm ái mà xót xa, mượn ánh sáng xa xôi của đoàn tàu để sưởi ấm tâm hồn nhân vật, thì Nam Cao lại bước vào thế giới nghệ thuật bằng một ngòi bút tả thực lạnh lùng, gân guốc và vô cùng khốc liệt. Thế nhưng, ẩn sâu bên trong cái vẻ lạnh lùng như bác sĩ phẫu thuật ấy lại là một trái tim bốc lửa vì yêu thương con người. "Chí Phèo" không chỉ là đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán, mà còn là bản tuyên ngôn bất hủ về tư tưởng nhân đạo. Trước hết, Nam Cao thể hiện lòng thương cảm bằng việc vạch trần và tố cáo mãnh liệt một xã hội phi nhân tính. Làng Vũ Đại dưới ngòi bút của ông hiện lên như một nhà tù khổng lồ, nơi giai cấp thống trị đại diện là bá Kiến và nhà tù thực dân đã bắt tay nhau để nhào nặn một anh canh điền hiền lành, lương thiện thành một "con quỷ dữ". Trở về từ nhà tù, Chí Phèo bị tước đoạt toàn bộ nhân hình lẫn nhân tính. Một hình hài gớm ghiếc với mặt vằn vện, răng cạo trắng hớn, cùng một lối sống chỉ biết rạch mặt ăn vạ, chửi bới và làm tay sai đắc lực cho kẻ thù. Bằng việc miêu tả sự tha hóa tột cùng ấy, Nam Cao đã lên án một cách đanh thép tội ác tày trời của xã hội cũ: tội ác giết chết phần "Người" ngay khi con người vẫn còn đang hít thở bầu không khí.
Tuy nhiên, chiều sâu vĩ đại nhất trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao nằm ở chỗ ông không bao giờ tuyệt vọng về con người. Ngay cả khi Chí Phèo đã trượt dài xuống đáy vực của sự tha hóa, khi cả làng Vũ Đại đều ruồng rẫy, xa lánh và xem hắn như một con vật khát máu, Nam Cao vẫn kiên nhẫn bới tìm trong lớp tro tàn lạnh lẽo ấy một đốm lửa thiên lương. Và đốm lửa ấy đã bùng cháy rực rỡ qua hình tượng bát cháo hành của Thị Nở. Bát cháo hành không chỉ là một món ăn giải cảm bần hàn, mà nó là biểu tượng thiêng liêng của tình người, của sự ân cần và lòng bao dung. Lần đầu tiên trong đời, Chí được cho một thứ gì đó mà không phải đi cướp giật, không phải rạch mặt hay dọa nạt. Hương vị của bát cháo hành, mùi thơm mộc mạc ấy đã len lỏi vào tận cùng ngõ ngách tâm hồn cằn cỗi của Chí, đánh thức những mầm thiện tưởng chừng đã chết vùi từ lâu. Bát cháo làm cho Chí toát mồ hôi, giải thứ cảm mạo thể xác, nhưng tình người trong bát cháo ấy mới thực sự là liều thuốc tiên giải độc tâm hồn con quỷ dữ. Chí nghe thấy tiếng chim hót, tiếng người đi chợ mạn thuyền, Chí thấy mắt mình hình như ươn ướt, và từ sâu thẳm cõi lòng bật lên một khao khát cháy bỏng: "Hắn thèm lương thiện". Qua hình tượng giọt nước mắt và bát cháo hành, Nam Cao đã chứng minh một niềm tin bất diệt: tình yêu thương, dẫu thô kệch và giản dị nhất, vẫn mang sức mạnh cải tử hoàn sinh, đủ sức kéo con người từ cõi quỷ trở về cõi người.
Thế nhưng, bi kịch thay, sự thức tỉnh ấy lại là khởi đầu cho một nỗi đau tột cùng, bởi một xã hội tàn nhẫn đã không cho Chí lối thoát. Định kiến hẹp hòi và lạnh lùng, đại diện qua lời bà cô Thị Nở, đã tàn nhẫn đóng sập cánh cửa hoàn lương vừa mới hé mở. Tiếng thét của Chí trước mặt bá Kiến: "Ai cho tao lương thiện?" là câu hỏi nhức nhối nhất, cào xé nhất, mang tầm vóc lịch sử và nhân bản sâu sắc. Lưỡi dao Chí đâm bá Kiến và tự kết liễu đời mình tuyệt nhiên không phải là hành động vô thức của một kẻ say rượu điên loạn, mà là sự phản kháng tuyệt vọng của một con người hoàn toàn tỉnh táo về nhân phẩm của mình. Chí thà chọn cái chết trong sạch để giữ lấy danh xưng con người, còn hơn phải tiếp tục lê lết sống kiếp quỷ dữ dơ bẩn. Cái chết của Chí vương đầy máu và nước mắt, nó là một bản án đanh thép thiêu rụi xã hội vô nhân đạo, đồng thời là lời ca tụng bi tráng tột bậc cho lòng tự trọng và khát vọng làm người chân chính.
Đặt "Hai đứa trẻ" và "Chí Phèo" cạnh nhau, dẫu là ánh sáng của chuyến tàu đêm vút qua trong chốc lát hay hơi ấm của bát cháo hành mỏng manh, ta đều thấy rõ sự giao thoa kì diệu của hai trái tim nghệ sĩ lớn. Cả Thạch Lam và Nam Cao đều hướng ngòi bút trân trọng về những con người bần cùng dưới đáy xã hội. Thạch Lam nghiêng về lãng mạn, lấy cái không khí tù đọng để nói lên sự tàn phá vô hình đối với tâm hồn, từ đó khơi gợi lòng trắc ẩn nhẹ nhàng và nâng niu quyền được ước mơ. Còn Nam Cao lách sâu ngòi bút vào những mâu thuẫn khốc liệt, phơi bày sự tàn phá dữ dội về cả thể xác lẫn nhân phẩm, cất lên tiếng thét đòi quyền sống nảy lửa. Một người xoa dịu vết thương bằng ngọn gió thoảng từ quá khứ, một người dùng dao phẫu thuật cắt bỏ ung nhọt hiện tại để cứu lấy sinh mệnh tương lai; nhưng tựu trung lại, họ đều là những thiên sứ xót thương và bảo vệ cho cái Đẹp, cái Thiện của con người.
Khép lại những trang văn thấm đẫm tình đời, ánh sáng rực rỡ của chuyến tàu đêm lướt qua con mắt mơ màng của Liên và câu hỏi đòi quyền làm người trong hơi thở cuối cùng của Chí Phèo vẫn còn ám ảnh tâm trí độc giả bao thế hệ. Hai tác phẩm, hai phong cách, hai biểu tượng nghệ thuật xuất chúng đã hòa quyện vào nhau tạo nên một tượng đài bất tử về chủ nghĩa nhân đạo trong nền văn học Việt Nam. Bằng tài năng trác tuyệt và trái tim chan chứa lòng yêu thương, Thạch Lam và Nam Cao đã chứng minh cho hậu thế thấy rằng: Văn học chỉ thực sự sống mãi với thời gian khi nó dốc cạn tâm can để hát lên khúc ca đau thương mà kiêu hãnh về con người. Cảm hứng nhân đạo ấy không chỉ là giá trị lịch sử của một thời đại đã lùi xa, mà mãi mãi là ngọn đuốc sáng rực rỡ, không ngừng soi đường cho nhân loại trong hành trình gìn giữ thiên lương và vươn tới ánh sáng của Chân - Thiện - Mỹ.