$\color{Purple}{\fbox{Sưu tầm}\bigstar\text{Tiểu thuyết: Đất rừng phương nam - 20 chương}\bigstar}$

Thảo luận trong 'Sưu tầm' bắt đầu bởi luongpham2000, 20 Tháng mười hai 2014.

Lượt xem: 612

  1. [TẶNG BẠN] TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn học. Click ngay để nhận!


    Bạn đang TÌM HIỂU về nội dung bên dưới? NẾU CHƯA HIỂU RÕ hãy ĐĂNG NHẬP NGAY để được HỖ TRỢ TỐT NHẤT. Hoàn toàn miễn phí!

    Chương 1 : Xóm chợ nhỏ một vùng quê xa lạ

    Có lẽ từ hôm bước lên xóm chợ này, mình đã bắt đầu cuộc sống lưu lạc rồi chăng. Những đêm giật mình thức giấc nằm nghe tiếng gió rít thê lương từ các cánh đồng xa mông quạnh và lắng nghe tiếng nước chảy ào ào dưới chân cầu nước (Bậc thang bắc ra sông để giặt giũ hay lấy nước) bắc ra con kênh thẳng tắp chạy dài vô tận trước ngôi chợ này, tôi vẫn thường vơ vẩn nghĩ như vậy. Tôi lạc tới xóm chợ này, tính ra đã có hơn nửa tháng.
    Một buổi tối, đoàn thuyền vận tải quân lương của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ đỗ lại đây. Anh học sinh trường côle người trong ban tiếp tế đã cho tôi theo thuyền từ Hậu Giang đến đây bảo tôi: "Chỉ ghé lại độ nửa giờ cho các chú lên chợ mua thức ăn. Có muốn lên bờ không?
    Tôi lắc đầu. Anh bèn vỗ vai tôi cười lớn: "Vậy thì tốt quá, ngồi lên mui ngó lên bờ chơi cũng được. Trông chừng đồ đạc em nhé!" Anh lần theo cây đòn dài bắc sang một chiếc thuyền khác, và lẹ làng như con sóc, co người trèo qua be mấy chiếc tam bản, mấy chiếc xuồng nhỏ của những người đi chợ đậu ken dọc theo bến rồi nhảy phóc lên bờ.
    - Đừng đi đâu nhé. Uống cà phê xong anh sẽ xuống cho chú mày cái bánh! - Anh xốc khẩu súng mô-de đeo bên hông, vẫy vẫy tôi và rướn hai chân, cố nói thật to để cho tôi nghe thấy.
    - Rồi! Nghe rồi... Anh cứ đi đi! - Tôi bắc tay lên mồm đáp lại.
    Tôi ngồi đong đưa hai chân trên mui chiếc thuyền chở gạo ngóng lên chợ. Đèn măng-sông trong các hiệu buôn, các tiệm ăn của người Hoa kiều thắp lên sáng rực. Chỗ khoảng sân rộng, những người đàn bà nông dân mặc quần áo bà ba đen, khăn rằn đen vắt chéo qua vai ngồi xếp từng dãy dài sau những chiếc cần xé to tướng, những chiếc thúng đựng đầy ắp không trông rõ và không biết đó là thứ gì mà họ mang ra chợ bán. Mỗi người bán hàng đều thắp một ngọn đèn con ở chỗ mình ngồi. Và những người đi chợ, cũng có nhiều người cầm theo trên tay một ngọn đèn. Đèn người mua, đèn người bán cứ như sao sa.
    Từ trong đám người ồn ào và những ánh lửa đèn luôn luôn cử động ở tít chỗ cuối chợ, bỗng nổi lên bốn đầu ngọn đuốc cháy đỏ rực cùng với tiếng trống, tiếng thanh la khua rung dồn dập.
    - Hát Sơn Đông, c-h-ú-n-g m-à-y ơi?
    - Lại coi con bé nhào vòng lửa đi!
    Mau lên, c-h-ú-n-g m-à-y ơi!
    Bọn con nít từ khắp các ngõ ngách, từ trong các chỗ tối, từ dưới thuyền dưới xuồng chèo lên, ba chân bốn cẳng reo hò chạy về chỗ đám hát rong. Tự nhiên hai chân tôi cũng ngứa ngáy muốn tuôn theo. Đã bắt đầu nghe tiếng loa của người khách mãi võ giới thiệu các môn trình diễn, và tiếng vỗ tay hoan hô cua đám người xem vây quanh.
    Tôi kiễng chân lên coi họ làm gì đằng ấy. Xa quá, chỉ thấy đầu ngươi lô nhô và mỗi lúc lại nghe tiếng cười khoái trá dậy lên. “Lâu nay mình xem chán rồi. Còn lạ gì cái thứ trò ấy?" Tôi tự nhủ thầm như vậy và khinh khỉnh nhìn về đám người huyên náo để nén sự thôi thúc cứ dồn trống trong ngực.
    - Thằng An còn ngồi đấy không? - bác tài công già cầm xâu thịt và một mớ rau cải vừa bước lên đòn dài vừa hỏi, giọng ồm ồm.
    - Cháu còn đây, bác ơi! - tôi vội đáp, bụng hơi rạo rực.
    - Nè, mà mày muốn coi hát Sơn Đông không - bác lại hỏi.
    - Các anh bảo cháu ở đây coi chừng thuyền.
    Bác tài công vứt sâu thịt vào cái rổ, vặn lưng uốn xương sống nghe rắc rắc, hơi thở nặc nồng mùi rượu:
    - Ê! Mày đã ăn thịt nai xào cải rổ chưa? Sáng mai tao ày ních một trận, phải biết nhá! - rồi bác cười lớn: - Tao đã đi khắp ngọn nguồn sông lạch mà chưa thấy ai mập như con mẹ chủ quán này. Nó rót luôn cho tao năm ly rượu tấm bồng mắt thỏ mà không nhậu ra ngoài một giọt chớ.
    - Bác có lên chợ uống cà phê không? - Tôi hỏi.
    - Tao mà cà phê cà pháo gì mậy? Ờ, mà các chả đang làm cà phê trong cái quán chỗ đám hát Sơn Đông đó?
    - Thôi, có tao ở đây rồi. Cho mày lên chợ chơi một lát. Nhớ đường trở xuống bến không. Đừng có đi đâu xa, coi chừng lạc.
    Trời ơi, một thằng bé từ lọt lòng mẹ đến giờ sống ở thành phố như tôi mà có thể lạc trong cái chợ nhỏ xứ quê này? Tôi cười thầm trong tối, từ trên mui gieo người nhảy độp xuống sạp thuyền.
    - Cười gì đó mậy, An? - Bác chướng mắt hỏi tôi.
    - Không. Cháu có cười gì đâu
    - Bộ mày tưởng tao say hả? Ê, tao còn thấy cái bông bần (một loại cây mọc ven mé sông còn gọi là thuỷ liễu) trôi giữa kênh kia nhá!... Chà, nước giật ròng rồi.
    - Cháu lên đây, bác ạ!
    Không chờ nghe bác ừ, thoáng cái, tôi đã đặt chân tới bờ.
    Chao ôi! Chợ gì mà lạ lùng thế này? Bộ Tây sắp đánh tới nơi, nên người ta đem vườn bách thú ra phát mãi hay sao! Một con ba ba to gần bằng cái nong, đặt lật ngửa, cứ ngọ nguậy bơi bơi bốn chân trước ông cụ già ngồi lim dim đôi mắt. Những con rùa vàng to gần bằng cái tô, đều tăm tắp như đổ ở cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé. Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán, cái thủ còn nguyên chưa lột da bày giữa đống thịt đỏ hỏn trên một tấm lá chầm. Cua biển cũng có, ếch cũng có nghêu sò cũng có. Còn cá tôm thì nhiều lắm, đủ các loại tôm, không kể xiết. Tôi bước thêm mấy bước, qua những đống trái khóm chín vàng tỏa thơm mùi mật, thấy hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh. Có tiếng chim gì mổ nhau kêu quang quác trong chiếc lồng kẽm chỗ tối tối: ngọn đèn vừa bị cánh chim đánh nhau quạt tắt, và người chủ bán chưa kịp thắp lên. Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô. Thấy tôi đi qua, nó nhe răng khẹc khẹc, ngó tôi rồi quay lại nhòm người chủ, dường như muốn bảo tôi hỏi giùm tại sao cái lão rậm râu kia không thả mối dây xích cổ ra để nó được tự do đi chơi như tôi... Đằng chỗ đám hát rong, một tràng pháo nổi lên vang dậy. Tôi chẳng còn tâm trí đâu mà nhìn ngó chung quanh nữa. Tôi lại ba chân bốn cẳng nhắm mắt nhắm mũi lao về phía tiếng ồn ào đang có một sức cuốn hút không cưỡng được.
    "Mình chỉ coi một chút thôi!" Tôi nghĩ bụng và đưa mắt nhìn vào trong ngôi quán cà phê nhỏ núp dưới tán cây bã đậu chôm chôm những gai. Cái lưng gù gù anh học sinh trường côle lấp ló qua vai những người dân quân tự vệ đội nón bàng rộng vành thả trễ sau gáy. Tôi muốn vào báo cho anh biết tới đã lên đây, nhưng bụng phân vân: “Lỡ ảnh bảo xuống thuyền thì sao?... ừ, mà mình chỉ cần coi qua một chút thôi mà?"
    - Chen đâu mà chen dữ vậy hả? - một thằng bé lùn lùn, béo ục ịch, trợn mắt hích khuỷu tay vào hông tôi.
    - Cho tao coi một chút mà!
    Nghe tôi nói bằng một giọng nhường nhịn, thằng bé tức thời nép người qua để cho tôi lách vào, rồi nó nhe răng cười làm như tôi với nó đã quen từ hồi nào.
    - Mày mới tới à? Hồi nãy vừa diễn trò hai con khỉ kéo xe mê lắm?
    - Ừ, mình mới tới! - tôi đáp cho có đáp, không còn chú ý nghe nó kể những gì bên tai nữa.
    Người khách mãi võ mặc quần áo chẽn màu đen đã bán qua một lượt thuốc cao, bắt đầu giới thiệu tiết mục "Em bé mười tuổi nhào qua vòng lửa”
    - Trò này đêm qua nó diễn rồi. Không thể tả được mà!
    - Thằng bé lùn lùn béo ục ịch lại rỉ tai tôi, giọng đầy tự hào về cái chuyện nó đã được xem trước tôi.
    Một em bé vận bộ quần áo bằng xa tanh màu đỏ, tóc tết quả đào, mang đôi hài vải đen bước ra, cúi chào khán giả Chiếc vòng sắt quấn giẻ tẩm dầu lồng giữa một khung gỗ hình chữ nhật, dựng đứng cỡ ngang tầm mắt tôi, bày giữa hiện trường. Dứt loạt vỗ tay chung quanh, người Khách già cầm ngọn đuốc châm vào chiếc vòng quấn dẻ. Tức thời một vầng lửa hình trong như chiếc bánh xe lửa của Na-tra (Một nhân vật trong truyện "phong thần" trung quốc) phực cháy vù vù. Em bé lại nghiêng đầu chào mọi người rồi dún chân một cái, chạy tới ba bước gieo mình như một con thoi bay qua vòng lửa.
    Mắt tôi hoa lên, chỉ còn thấy cái bóng đỏ lao qua lao lại xuyên ngang vầng lửa, và hai tai tôi ù đi vì tiếng reo hò, tiếng vỗ tay vang dậy.
    - Đêm qua, nó nhào sáu lần mà bữa nay nó tăng lên tới tám lần! Mày thấy ghê chưa? - thằng bé lùn lùn béo ục ịch hích tôi, vênh mặt nói.
    Trong lúc người Khách cầm mấy chai rượu thuốc đi vòng quanh chào hàng thì em bé vừa đứng thở vừa đưa hai bàn tay nhỏ phủi phủi những sợi tóc cháy trước trán.
    Dáng như đêm nay số thuốc bán được ít ỏi quá. Người Khách mặt buồn buồn, đặt mấy chai rượu thuốc lên cái rương lớn màu đen, cố làm ra vẻ tươi tỉnh:
    - Ông bà cô bác xem xong trò này, rồi hẵng mua giùm sau cũng dược. Hầy? Tả lồ lên (đánh thanh la lên).
    Tiếng trống, tiếng thanh la lại khua rung dồn dập.
    Ông ta cầm một nắm dao con sáng loáng tung lên bắt từng chiếc một, rồi lần lượt cắm tất cả mười hai con dao ấy vào những khe hở đục trong cái vòng sắt còn đang rừng rục lửa. Những mũi dao nhọn hình lá trúc đào lấp lánh ánh thép trắng xanh tua tủa chĩa ngược vào trong, càng làm thu hẹp cái khoảng tròn ban nãy vừa đủ một thân mình ngươi chui qua. Ngươi Khách xiếc nhìn mấy người đánh trống đánh thanh la, ra hiệu ngừng tay. Ông ta nhường mắt hét lên một tiếng, rùng mình thu người lại và lập tức dún chân bay qua giữa nhũng mũi dao tua tủa.
     
    Last edited by a moderator: 28 Tháng một 2015

  2. Tôi nhắm mắt lại. Trời ơi! Chỉ nhích ra một phân, bất cứ ở phía nào thì những mũi dao sắc nhọn như gươm kia cũng đâm xóc lút vào da thịt. ông ta lao đi lao lại ba lần như vậy mà trông sắc mặt và hơi thở không chút biến đổi.
    - Người lớn làm không hay. Em bé làm mới hay? - Người Khách vung tay giới thiệu.
    Em bé gái bước ra, nghiêng đầu chào mọi người. Hai bàn chân đi đôi hài vải đen nhỏ xíu khơi động giẫm lên giẫm xuống một chỗ trên mặt đất lởm chởm những hòn cuội. Tôi hồi hộp quá. Đôi môi em bé run run. Rõ ràng là nó đang cố trấn tĩnh trước phút biểu diễn cái trò vô vùng nguy hiểm này.
    - Có ba ở đây, con? - người Khách nói bằng giọng khuyến khích vui vẻ, nhưng cặp mắt ông ta trông nghiêm nghị đáng sợ.
    Em bé tức thời hét lên một tiếng như bố, dún chân bay xuyên qua giữa vòng dao rực cháy. Chung quanh im phăng phắc. Mọi ngươi không kịp vỗ tay. CÓ lẽ vì sự thán phục cùng với nỗi lo sợ thay cho em bé cùng một lúc ập vào làm choáng ngợp mọi trái tim người. Em bé lao qua vòng dao lần thứ nhất, rất dễ dàng. Em lại mím môi lao qua lần thứ hai. Đến lần thứ ba, thì một tiếng thét kinh hoàng của những người xem nổi lên chung quanh tai tôi. Em bé đã ngã bổ xuống bàn chân phải mắc vào một mũi dao. Người xem chạy ùa vào. Ông Khách già ôm ngang lưng con gỡ chiếc hài đen ra khỏi mũi dao. Một dòng máu đỏ từ trong vết thương bàn chân em bé tuôn ra như suối.
    - Không hề gì mà! Dán một lá thuốc cao, khỏi ngay thôi? - ông Khách vừa nói vừa rắc một ít thuốc cầm máu màu đen để hàn miệng vết thương, và trao đứa con gái ột bà xẩm vác đưa xuống chiếc thuyền đậu trong một con kênh gần đấy.
    Bọn trẻ nhỏ ùn ùn chen lấn chạy theo coi. Mặc dầu đám hát vẫn tiếp tục biểu diễn, nhưng tôi không còn lòng đã nào xem nữa. Tôi cũng chạy theo đám trẻ, lần xuống mé sông đứng ngó vào thuyền.
    Em bé ngồi tựa lưng vào mui, đôi mắt to đen láy nhìn xuống vết thương trên mu bàn chân đã được bó một lá thuốc cao. Không thấy máu chảy nữa. Nhưng bàn chân cứ run run, lâu lâu lại giật một cái, khiến em nhắm mắt lại. Bà xẩm cầm ngọn đèn soi vào chân con, tròng mắt đỏ hoe.
    - Con có đau lắm không, con?
    Em bé nhắm nghiền mắt, hai tay bóp chặt trên ống chân, lắc lắc đầu. Một giọt nước mắt người mẹ rơi xuống bàn chân nhỏ của đứa con đau. Em bé mở choàng mắt ra, hốt hoảng nhìn mẹ, như vừa bị một giọt nước sôi rơi trúng vào chân.
    - Ơ không có làm sao đâu, má à? Buốt buốt một tí thôi!
    Vừa nói, cô bé vừa quờ tay ôm ngang lưng mẹ và cố nhoẻn cười ẹ yên lòng. Nhưng sau đó một chốc, em lại nhắm mắt lại. Mấy giọt mồ hôi rịn rịn ra trên vầng trán nhỏ. Tôi biết chắc chắn rằng em bé đau lắm. Tôi không dám đứng nhìn nữa, bèn trở lên chợ.
    Bấy giờ đám hát cũng vừa tan. Tôi sực nhớ ra là mình đã di lâu quá. Tôi liền chạy vào quán cà-phê. Không thấy anh học sinh côle dâu. Tôi nhằm hướng đầu ngọn cây bàng khô, chạy một mạch về. Đoàn thuyền vận tải quân lương không còn chiếc nào đậu ở đó nữa. Tôi chạy dọc theo bến chợ một quãng, hi vọng họ vừa rời di, mình còn có thể đuổi theo kịp.
    Trời tối quá. Lửa đèn trên sông dần dần thưa thớt. Chợ cũng đã tan rồi. Tôi trèo lên một đống gạch, đứng ngóng theo làn nước lấp loáng ánh sao xuôi xuôi trên dòng kênh không biết chảy về đâu. Một người đàn bà quảy đôi thùng xuống bến lấy nước, đứng lại nhìn tôi hồi lâu rồi hỏi:
    - Có phải mày ở trong đoàn thuyền vận tải không?
    - Dạ phải! - Tôi vội đáp, bụng hơi mừng – Họ đi dâu rồi dì?
    - Trời ơi? Mày đi đâu mà họ tìm mày khắp cả chợ? Họ đi rồi. Đi từ tám hoánh nào rồi! Nhổ sào từ hồi nước mới ròng. Và người đàn bà chép miệng: - Chà, chừng như họ được lệnh đi ngay hay sao ấy. Gấp lắm thì phải!
    - Dì có nghe họ nói đi đâu không - tôi hỏi lại.
    - Chuyện quân sự mà, biết sao lọt! Thế mày cũng không biết à? Họ không nói với mày à?
    - Không, dì ạ!
    - Mày có ba má, anh em gì trên thuyền không?
    - Không. Cháu đi quá giang thôi.
    Người đàn bà chành môi ra dài giọng:
    - Thảo nào?... Người ta có việc của người ta chứ. Ai bảo cứ ham chơi, đi những đâu?
    Người đàn bà không nói gì nữa, lẳng lặng xuống sông gánh nước lên chợ. Tự nhiên tôi thấy trong lòng mình rưng muốn khóc...
    Ban ngày tôi thẩn tha đi dọc theo bến, mong có gặp người nào quen trong đoàn thuyền vận tải quân lương trở lại đây không. Ban đêm tôi, tôi vào ngủ trong chợ, chui dưới gầm một thớt bán thịt lợn của người Hoa kiều.
    Những người đàn bà trong chợ gọi tôi là thằng bé tản cư. Nghe đâu hồi tháng trước, chợ này chỉ họp buổi sáng. Hơn tháng nay, chợ nhóm suốt ngày, có đêm mãi chín mười giờ khuya mới tan. Người tản cư ở các vùng trên đổ xuống ùn ùn như nước. Mặt nước dòng kênh không mấy lúc ngớt tiếng khua động mái chèo. Cái chợ con nằm trên ngã ba kênh của xứ làng quê hẻo lánh này trở nên đông vui nhộn nhịp như một trấn nhỏ. Người từ Sài Gòn chạy xuống tới đây cũng có. Người vùng Tiền Giang, Hậu Giang cũng có. Nhiều con mụ đàn bà mặc áo lụa trắng rô-dê (tiếng pháp có nghĩa là thêu), che dù đầm, núng na núng nính rén bước đi lên chợ, mắt cứ ngó xuống chân dép xăng-đan, sợ bùn đất vấy gấu quần. Tiền bạc đựng nứt ví, nhưng mua gì cũng chê ỏng chê eo, trả giá rẻ mạt. Tôi chỉ nghe họ than phiền với nhau rằng: Cánh mình dở quá, không chặn nổi Tây", rằng "chạy vào đây không có nước đá uống, không có nước ngọt tắm". Thấy tôi lảng vảng đến gần chỗ thuyền họ, họ nhìn chòng chọc vào tôi, bộ như muốn ăn thịt: ê đi đi, thằng nhỏ. Mò mẫm toan an cắp hả?" Tôi ức đến muốn khóc. Có ai quen, gặp tôi bây giờ cũng không nhận ra tôi nữa đâu. Ngồi bó gối trên cầu nhìn xuống nước, chính tôi cũng khó nhận ra mình trong cái hình thù quái dị này. Tóc tôi mọc dài gần phủ gáy, hai quầng mắt hõm sâu, cổ gầy nhom như cổ cò ma. Chiếc áo vét tông bằng ka ki trắng của anh học sinh côle cho tôi, giờ đây đã biến thành màu cháo lòng, vạt áo phủ xuống tận gối, cứ kêu loạt xoạt theo mỗi bước đi. Còn chiếc quần đùi bằng vải len của tôi thì bạc phếch ra, hai ống rách te tua như bị cá chốt rỉa.
    Ai nhờ việc gì, tôi cũng giúp. Mấy thím bán cá nhờ tôi khiêng thúng mủng, xách nước cho họ thay nước rộng cá.
    - Em bé? Vác cho qua (tiếng xưng tôi thân mật của người có tuổi) bó mía đi!
    - Em bé? Đội thúng tôm lên chợ giúp dì đi.
    - Nhỏ? Nhỏ! Chạy xuống mé kênh cắm lại cây sào của dì sắp trôi kia!
    Kẻ cho tôi nắm xôi, người cho tôi gói bắp. Không ai biết tôi từ đâu trôi dạt tới.
    Ngày nào tôi cũng tạt qua trước ngôi quán rượu một lần. Biết đâu bác tài công già hôm nọ chẳng qua ngang mà ghé lại đây?
    Những ngày đầu mùa mưa năm 1946 cứ ì ạch nặng nề lê đi từng bước khó khăn như ngươi đàn bà sắp ở cữ cứ trở dạ mãi mà vẫn chưa đẻ được. Ở cái vùng nước mặn miền tây Nam bộ này, người ta mong mưa như bọn trẻ con chúng tôi mong mẹ về chợ. Mưa có nước ngọt uống, có nước cầy bừa, nhưng điều quan trọng nhất trước mắt, là mưa có thể làm chậm bước của địch trong các cuộc tiến công, gây trở ngại cho chúng trên các nẻo đường hành quân vì trơn tuột, sình lầy.
    Trời càng sắp mưa thì càng oi bức khó chịu, ban ngày mặt trời đổ nắng chang chang, nóng như giội lửa. Chỉ khi đêm đến mới có đôi chút gió lao xao từ vùng vịnh Thái Lan thổi tới. Thường thường, đêm nào người trong chợ cũng xách chiếu ra ngồi dọc bờ kênh hóng mát, coi thuyền tản cư và thuyền chở Cộng hòa vệ binh (tổ chức chính quy của quân đội sau ngày nam bộ cướp chính quyền một trong bốn sư đoàn dân quân cách mạng Nam Bộ) từ mạn trên trẩy xuống. Quán rượu của dì Tư Béo là nơi tụ họp của những người thức khuya nhất, có khi đến một hai giờ sáng hãy còn đỏ đèn và ran tiếng nói cười.
     
    Last edited by a moderator: 20 Tháng mười hai 2014
  3. $\text{Chương 2: Trong Tửu Quán}$ ​

    Tôi thường lân la đến quán dì Tư Béo, bởi lý do mong gặp người quen. Nhưng còn một lẽ khác nữa, là ở đó, tôi có thể nghe đủ mọi thứ chuyện trên đời. Việc gì vừa xảy ra ở bất cứ xó hẻm nào quanh chợ, lập tức trong quán dì Tư Béo mọi ngươi đã biết ngay. Từ những tin nóng hổi ở mặt trận Vàm Xáng như... "một chiến sĩ ta bị thương, khúc ruột lòi ra, anh lấy tay nhét vào, không rên một tiếng", cho đến chuyện "ông Tổ sư Bồ đề truyền dạy phép màu cho Tề Thiên Đại Thánh như thế nào... " tôi đều có thể nghe được ở đây.
    Đó là một ngôi quán nhỏ xệch xạc, trống trước trống sau, cất dựa bên bờ kênh dưới bóng một cây gáo cổ thụ.
    Mái lá rách thủng lô chỗ, ban ngày nắng soi xuống mặt chiếc bàn dài, thả những bóng trứng vịt xuống bên mâm người ngồi nhậu, và ban đêm, người ta có thể uống cả một vì sao xanh rơi trong lòng cốc.
    Quán rượu dì Tư Béo nối tiếng về thứ rượu tăm ngọt giọng, phảng phất mùi cháy khê nồi mà không nhà nào cất được, về tài xào nấu các món thịt rừng mà các lão già cũng hay bông phèng đã nức nở khen rằng "nhắm xong một miếng, thấy người phấn hứng, trẻ tráng ra ngay".
    Nhiều người tin như vậy. Chứ như tôi, tôi nghĩ rằng những người lui tới nơi đây là bởi tự thói quen cố hữu của họ. Mà bà chủ quán vốn là một người đãi bôi xởi lởi, không bao giờ để phật lòng bất cứ một ông khách nào dù khó tính đến đâu. Duy chỉ có một điều mà ai cũng biết nhưng cũng chẳng ai nói ra, là trong sự dễ dãi hào phóng của bà ta, dù thế nào thì thế, một đồng xu cũng không lọt được qua cánh tay nhờn nhầy bóng mỡ của bà, vì bà không để mình chịu thiệt với ai bao giờ. Chẳng vậy mà một hôm, bà ta đã bảo tôi: "Tao thấy mày sống hổm rày ở chợ này như con chó hoang. Tội quá! về đây mà ở, tiếp giúp tao việc vặt trong quán. Mày sẽ tha hồ ăn, tha hồ uống. Còn như công xá". Bà ta im lặng một lúc, sụt sịt mũi; "Nói chuyện công xá, hóa ra cháu ở đợ cho dì sao? Dì có một thân một mình. Dì coi cháu như con thôi. Mẹ con mà tính chuyện tiền bạc thì còn ra cái nghĩa gì."
    Tôi đứng lặng đi một lúc lâu, bàng hoàng không biết đáp ra sao. Trước mắt tôi, dòng kênh xanh ngắt lặng lẽ chạy hút vào chân trời. Một cánh buồm nhỏ xíu bồng bềnh trên khói nước, ở một nơi nào xa lắm, đôi khi không trông rõ, dường nửa thực nửa hư. Quay nhìn về hướng quê nhà, chỉ thấy mây trời đùn cao như núi. Ngày mai tôi sẽ đi về đâu sống ra sao, tôi chưa biết. Tôi chẳng ở đây thì còn đi đâu nữa? Tôi gật đầu, chẳng nghĩ ngợi gì.
    - Vâng. Cháu sẽ ở đây với dì!
    Tôi trở thành thằng nhỏ hầu rượu trong quán dì Tư Béo bắt đầu từ hôm đó.
    - Cầm hào bạc đây, ra chợ mà cắt tóc ngay đi - bà ta vừa truyền lệnh cho tôi, vừa tháo mấy cây kim băng cài miệng túi áo chích đưa lên ngậm ngang mồm, và móc từ trong miệng túi thâm đen vì bẩn mỡ ra một nắm giấy bạc, nhặt một tờ hào dúi vào tay tôi.
    Khi tôi cắt tóc xong, trở về quán thì thấy bà ta lúi húi ngồi khâu bên rổ may.
    - Lại ướm thử cái quần đùi coi nào. Dì khâu ày đấy.
    Bà ta đứng dậy, cầm mảnh lụa đen vừa cắt từ ống quần dài cũ của bà chỉ cần khâu một đường lưng và một đường khoét đáy là thành một chiếc quần đùi. Tôi mặc thử, thấy hãy còn quá rộng.
    - Cầm bánh xà phòng thơm của dì, xuống bến tắm đi. Rồi lên mà mặc quần mới, con? - bà ta ngọt ngào bảo tôi.
    Bà ta nói với tôi rất ít, lời lẽ dịu dàng, nhưng mỗi câu là một mệnh lệnh. Sau khi tắm rửa xong, tôi vội mặc chiếc quần lụa đen ngắn vào. Bà ta ngồi nheo mắt, cười làm rung rung hai tảng mỡ của đôi gò má bóng nhẫy, ngắm tôi hồi lâu.
    - Tươm da! Sạch sẽ thơm tho như vậy mới có thể hầu khách được. Chứ đứng gần người ta mà hôi như cú thì họ gõ chai lên đầu biết không" Mà trông mày mặt mũi cũng sáng láng đấy. Có chữ nghĩa gì bỏ túi không?
    - Dạ, cháu đã đỗ xép-phi-ca (tiểu học) tháng sáu năm ngoái.
    - Thiệt chứ? Trời, thằng này giỏi đa? Mới mười bốn mười lăm tuổi mà đã dỗ phi-ca thì giỏi lắm. Ờ, hồi tao còn con gái, có một ông giáo phica chú ý đến tao, nhưng duyên trời không định: Chà, ngày xưa đỗ phi-ca là đã nên ông nọ ông kia rồi. Khổ ày, gặp thời buổi loạn ly!... Thế ba má cháu đâu?
    - Dạ, ở xa lắm! - tôi đáp một cách miễn cưỡng..
    Thấy tôi không muốn nói, bà ta cũng thôi không hỏi. Bà ta vốn là người khôn ngoan, lịch thiệp và từng trải, luôn luôn đoán trước ý mọi người, biết lúc nào nên nói, lúc nào nên không và nên chấm dút câu chuyện ở chỗ nào. Điều này, tôi nhận ra trong những đặc tính của bà ta chỉ qua vài ngày sau thôi.
    Kể ra thì khách rượu của quán rượu dì Tư Béo không thiếu hạng nào. Những tay vô công rồi nghề, la cà ngồi tán dóc ốt ngày cũng có. Những người tản cư, cắm thuyền tạt lên uống chén rượu rồi quảy qua đi ngay cũng có. Bọn con buôn vào ngồi chỉ cốt lấy chỗ gặp gỡ, trao đổi luồng hàng đương khan hiếm và để kiếm món xào nướng khoái khẩu hơn là vì cần nên đôi khi, một vài người lính Cộng hòa vệ binh có tuổi lén rời chỗ trú quân vào làm một cốc rượu khan, trước khi ra khỏi quán cứ đưa ống tay áo chùi ria mép và dặn đi dặn lại tôi: "Này, chú em, hễ có ban chỉ huy đến hỏi thì nói không có ai tới uống rượn đây cả nhé! Nhớ nhé".
    Chỉ trong vài hôm, tôi đã quen mặt hầu hết những đệ tử Lưu Linh của xóm chợ này. Nhưng trong đám người thường lui tới đây, tôi chỉ đặc biệt chú ý có hai người.
    Một là lão Ba Ngù. Dường như lúc nào cũng có lão túc trực trong quán. Nói cho đúng thì lão ta cũng không phải là tay mạnh rượu. Nhưng lão có thể lai rai uống được ốt ngày. Những chuyện tiếu lâm, những chuyện giang hồ mã thượng lão kể đi kể lại với mọi người, tôi nghe đến thuộc làu những vẫn thích nghe. Bởi mỗi lần kể, lão thường hay thắt thêm vào những chi tiết bất ngờ khiến tôi phải cười bò ra; hoặc cũng có một đôi chỗ mà lần trước kể dài dòng, lão đã biết khéo léo thu vén bỏ đi cho câu chuyện thêm tròn trĩnh, dễ nghe hơn. Những lúc đông khách, lão đứng dậy nhường chỗ cho người mới tới. Đôi khi lão còn bưng hộ bát thừa giúp bà chủ quán.
    Dì Tư béo mến lão vì cái tài đưa chuyện và giữ khách không công của lão, nên thỉnh thoảng bà ta cũng đãi lão cút rượu kèm theo một con khô cá lạt nướng. Ai mời rượu. lão đều uống, không từ chối. Nhưng chỉ uống một chén con cho vui bụng ngươi ta thôi. Không bao giờ lão uống đến chén thứ hai. "Mình là người biết tự trọng. Mình có phải là thằng già nát rượu đâu? " Lão thường lè nhè nói một mình như vậy. Cứ mỗi người một chén rượu mời, mỗi ngày đêm lão Ba Ngù có thể uống tính ra đến một, hai lít? Lão luôn luôn cởi trần, áo chỉ dể vắt hờ bên vai, bảo: "Để vầy cho nó mát". Lão chỉ mặc độc chiếc quần đùi: da mặt, da lưng đỏ như cua luộc. Dường như bấm vào bất cứ chỗ nào trong thân hình lão cũng có thể chảy rượu ra ngay được...
    Đó là người thứ nhất.
    Người thứ hai là Tư Mắm. Không biết y ở đâu, tên thật là gì. Chỉ biết rằng y thường chở mắm lóc, mắm trê đôi khi chở cả dừa khô và bí rợ trong một chiếc ghe lườn bán dọc theo các xóm bờ kênh, nên đồng bào gọi y là Tư Mắm. Còn người đàn bà chạc ba mươi tuổi mà Tư Mắm bảo là vợ y không mấy khi bước lên bờ. Có lần, tôi nghe thấy lão Ba Ngù che tay lên miệng bảo với dì Tư Béo: "Chà, bộ thằng Tư Mắm có ngải hay sao mà nó chài được con nỡm đẹp quá. Không phải vợ hắn đâu. Dứt khoát là không phải bà chị ạ."
    Tư Mắm ngươi dong dỏng cao nước xanh mét, tóc cắt bom-bê, mái tóc trước trán rủ xuống tận gò má bên phải. Đôi mắt y rất bé và sắc lạ lùng, tròng mắt đảo đi đảo lại rất nhanh và không hề nhìn thẳng vào ai bao giờ.
    Một buổi sáng, lúc tôi đang bưng rổ tôm càng xanh từ chợ về thì nghe tiếng tàu bay vè vè từ hướng Sóc Trăng lượn đến. Người trong chợ xô nhau nhạy toán loạn.
    Chiếc tàu bay đảo hai vòng trên xóm Ngã Ba Kênh, bay rất chậm nhưng thật cao, nghiêng qua nghiêng lại quan sát rồi thả xuống một đống truyền đơn. Những tờ truyền đơn tủa ra, bị gió cuốn đi bay về mạn rừng tràm cách chợ có đến vài ngàn thước. Không biết bọn giặc nói gì trong ấy. Nhưng khi tôi về đến quán thì gặp ngay lão Ba Ngù đứng chửi oang oang:
    - Tổ cha thằng Tây. Mày đánh thì xuống đây. Chứ bay trên trời thả giấy xuống thì cũng chưa gọi là bảnh.
    Lão níu rổ tôm của tôi lại, hỏi:
    - Mày có nhặt được tờ nào đút trong này không?
    - Không - tôi đáp.
    - Truyền đơn nó kêu gọi Việt Minh đầu hàng đấy!
    - Sao bác biết? Bác nhặt được à?
    - Nhặt đâu mà nhặt. Thằng Tư Mắm nó vừa bảo đấy. Cái thằng coi vậy mà nhát. Nó mới nghe hơi tàu bay một chút, đã xuống ghe chèo đi tuốt rồi!
    Từ đó đến chiều, gặp ai lão Ba Ngù cũng nói đi nói lại có bao nhiêu chuyện đó. Và chuyện giữa người trong quán cứ xoay quanh vấn đề: "Tây sắp tiến công vào đây? Liệu chúng ta có chặn nổi không."
    Vào lúc chạng vạng, trời bỗng nổi gió to. Tiếng sấm nổ chát chúa trên những vầng mây đen sì mỗi lúc như muốn xà thấp xuống ngọn cây. Mưa bắt đầu rơi lộp độp những hạt to và nặng trên mái lá. Nhưng chỉ ào qua một loạt rồi tạnh ngay. Lão Ba Ngù đứng trước quán, nhìn theo những làn chớp kêu:
    - Mưa đi ông! Muốn mưa thì cứ mưa đi. Sao cứ làm khó khăn cho người ta vậy?
    - Nếu mưa to thì Tây còn chưa dám vào đâu, phải không anh Ba?
    Dì Tư Béo lạch bà- lạch bạch như con vịt mái xiêm, ra đứng bên cạnh lão, vừa thở dài vừa hỏi phụ họa:
    - Dứt khoát là mưa thì nó không dám tiến công. Nó toàn đi giầy, gặp đất trơn trượt ngã bỏ m-ẹ đi. Hồi đằng cựu (thời cần vương, văn thân khởi nghĩa) các ông rải quả mù trên lộ, Tây đi ngã lạch bạch. Thế là dao, mác, mã tấu mình cứ xông ra chém nó như chém chuối!
    Tôi dọn rửa bát đĩa xong, không còn việc gì làm cũng ra đứng hóng chuyện bên lão. Bỗng nghe dưới kênh có người hỏi:
    - Quán dì Tư có gì nhậu không?
    - À thằng Sáu tuyên truyền - lão Ba Ngù kêu khẽ.
    Dì Tư Béo tức thời quát tôi:
    - Vào nhóm bếp lên. Con nít mà biết cái gì, lúc nào cũng chực nghe. - Và bà ta đáp vọng ra kênh: - Vô khối! Còn vô khối?
    Tôi ngồi trong bếp vừa nhóm lửa, vừa đưa mắt nhìn ra. Nghe tiếng xuồng cập bến, khua lộp cộp. Dì Tư Béo chạy vào cầm cây phất trần bằng cuống quài dừa nước quét lạch xạch trên bàn rượu. Chắc là có khách sộp đây Tôi nghĩ thầm như vậy, vì nghe lão Ba Ngù dạ dạ hai ba tiếng, bộ kính cẩn lắm. Rồi thấy anh Sáu tuyên truyền mồ hôi mồ kê nhễ nhại, tay xách một bao cà rồng công văn giấy tờ, khom người bước qua mái giọt, vào đặt phịch cái bao lên bàn. Lão Ba Ngù khệ nệ ôm một chiếc ba-lô to tướng rằng rịt những dây da, lấm lem bùn đất, thận trọng đi từng bước vào và sẽ sàng đặt lên chiếc chõng tre, cạnh cửa ra vào bếp.
     
  4. Một người đàn ông chạc hăm sáu hăm bảy tuổi, cao lêu nghêu, mặc bộ quân phục ka-ki màu rêu, thắt lưng da rộng bản, khẩu súng poọc-hoọc đeo trễ bên hông, tay xách đôi giày vải, tay cầm chiếc mũ vải kiểu hướng đạo bước vào đưa mắt ngắm nghía một vòng trong quán rồi thong thả kéo ghế ngồi xuống.
    Anh Sáu tuyên truyền giới thiệu với dì Tư Béo:
    - Đây là ông Huỳnh Tấn, đặc phái viên của Tổng hành dinh Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, ở miền Đông mới tới!
    Dì Tư Béo chắp hai tay trước bụng cúi đầu chào, nói gì lí nhí trong mồm không nghe rõ , chỉ thấy dôi môi run run một cách cảm động. ông khách đứng dậy, toét miệng cười, khẽ nghiêng đầu chào đáp lễ rồi nói cách thân mật tự nhiên:
    Kiến cắn bụng dữ rồi đây? Dì có gì cho chúng tòi làm ba hột cho đỡ đói cái đã . . .
    Lão Ba Ngù buột miệng đáp ngay:
    Còn nửa rá bún tươi . CÓ thể ăn với thịt bò xào lá cách. Còn nhậu thì . .. đâu như nhà còn mấy con tôm càng nướng, phải không bà chị? Mà rượu hôm nay không đặng
    ngon?
    Dì Tư Béo gật đầu lia lịa:
    - Muốn ăn cơm cũng được. Tôi chịu khó nấu. Chẳng mấy thuở mà! Bắt gà làm xé phay ăn thôi.
    Anh Sáu tuyên truyền vừa lau mồ hôi vừa nuốt nước bọt, giọng sốt ruột: . .
    - Dì muốn cho ăn thức gì cũng được. CÓ bao nhiêu cứ dọn hết ra đây. Nhưng phải gấp lên!
    Lão Ba Ngù lăng xăng giúp bà chủ quán pha ấm trà, đặt lên bàn mời khách.Anh Sáu tuyên truyền bảo tôi đem cho ảnh một ít bún tươi, rồi ảnh rút trong bao cà- ràng ra một cuộn giấy nhặt lấy hai tờ rộng khổ nhất úp lên bàn, bảo tôi xếp bún vào.
    - Chà, có khẩu hiệu gì mới hả chú Sáu? - lão Ba Ngù tò mò hỏi .
    Phải Vừa lĩnh trên quận về đây. Bác kê giúp cái ghế cho tôi dán lên vách đi.
    Anh Sáu tuyên truyền đứng lên ghế ,đưa tờ khẩu hiệu ngắm nghía cho cân bằng hai đầu rồi từ từ dán vô vách lá Dán xong một tờ, anh thong thả dán nốt tờ thứ hai.
    Tôi cầm đèn soi lên, nhìn trân trân vào những dòng chữ khắc gỗ in mộc bản mà tôi đã đọc nhiều lần trên các tờ khẩu hiệu dán đầy ở những nẻo đường tôi đã vượt qua.
    Độc lập hay là chết
    Nước Việt Nam clta ngồi Việt Nam!
    Anh Sáu tuyên truyền lại lôi ra một tờ giấy khổ nhỏ in chữ chì, còn thơm phức mùi mực ty-phô, dán vào vách ngang tầm mắt người ngồi ở bàn. Lão Ba Ngù lẩm nhẩm
    đánh vần:
    - Khờ. . . ông . . . không, đờ. . i đi . . . Khô.ng đi lính chờ. . . o
    cho... Không đi lính cho giặc!
    Đôi mắt tròn ra, nét mặt trang nghiêm, lão Ba Ngù lần lượt vừa đánh vần vừa đọc hết những khẩu hiệu như những lời thề viết lên bằng máu:
    Không di lính cho giặc!
    Không bán lương thực cho giặc
    Không đưa đường chỉ lối cho giặc
    Ai có dao dùng dao, có mác dùng mác, mỗi người dân là một người lính, mỗi thước đất là một chiến hào, sẵn sàng hi sinh bảo vệ nền độc lập cho TỔ quốc!
    Đọc xong rồi, lão Ba Ngù lẳng lặng bước đến chỗ móc áo lấy cái áo bà ba đen của lão giũ giũ mấy cái. Đoạn lão mặc vào, cài cả cúc cổ cẩn thận. Lão cứ đứng nhìn lên
    những dòng chữ đỏ chói như máu kia, hai bàn tay vuốt đi vuốt lại những nếp áo nhăn nheo đã lâu không mặc tới.
    Không biết có phải vì cơn gió to lúc nãy khiến lão bị lạnh, hay bởi lẽ nào khác tôi không được rõ. Chỉ trông nét mặt im lặng và cử chỉ trang nghiêm của lão thì tôi thấy giống như lão đang đứng bên giường một ngươi bệnh thập tử nhất sinh. Kinh nghiệm ở những nơi khác thì với tình hình này, chắc chắn là chỉ trong vòng một tuần lễ nữa
    thôi, giặc Pháp sẽ tiến tới đây...
    Trời ơi, mày có bưng đĩa thịt bò ra giùm tao một chút không. Làm gì mà đứng chết gí ngoài đó vậy? - đì Tư Béo trong bếp eo éo gọi vọng ra .
    Tôi giật mình chạy vào, suýt nữa ngã bổ xuống ngạch cửa. Lão Ba Ngù không vào giúp tôi một tay như mọi khi, lão lặng lẽ ra đứng trước bến hút thuốc lá một lúc rồi bỏ
    đi đâu mất. ông Huỳnh Tấn và anh Sáu tuyên truyền đói dữ. Chẳng mấy chốc mà hai người đã làm sạch rá bún và hai đĩa thịt bò xào to tướng. ông Huỳnh Tấn vươn vai
    đứng dậy, co chân duỗi tay, cười hì hì:
    - Từ sáng đến giờ, hai anh em thay nhau chèo một mạch, chẳng có hột cơm bỏ bụng ăn bữa bún ngon quá. Ước chừng còn một rá nữa, chúng tới cũng ních hết?
    Anh Sáu tuyên truyền quay sang hỏi dì Tư Béo đang chấp hai tay trước bụng, đứng bên góc bàn hầu khách:
    ĐỘ mấy giờ thì liên lạc ở Thới Bình lên tới?
    - Sớm thì cùng chín mười giờ. Trời đất này, ngược nước ngược gió , họ có thể lên khuya hơn . . . Các ông cứ ở lại nghỉ cho đỡ mệt - dì Tư Béo dáng thong thả, có ý muốn cầm khách.
    CÓ gì nhậu, dì mang ra vứt đó cho chúng tôi! ông Huỳnh Tấn nói cách vui vẻ - Dằn bụng rồi , bây giờ có thể lai rai được chứ hả, đồng chí Sáu?
    Tôi quạt than hơ lại mấy con tôm càng nướng sẵn, to cỡ cổ tay người lớn mà dì Tư Béo còn cất. trong chạn.
    Trong khi đó, anh Sáu tuyên truyền cầm đèn ra sau quán ngắt mấy ngọn rau răm, còn ông Huỳnh Tấn thì giành với dì Tư để tự ông ta giã bát muối ớt cho vui .
    - Bác Ba Ngù đi đâu rồi hả dì Tư? Anh Sáu tuyên truyền chợt hỏi.
    - ối có trời biết ổng đi đâu? Muốn đến thì đến, muốn đi thì đi .
    - Nhậu mà thiếu bác thì không vui?
    - CÓ tôi đây, chú Sáu lão Ba Ngù từ ngoài nói vọng vào May quá, chỉ lo về không kịp? _
    Lão Ba Ngù bước vào, đặt một lít rượu trong như mắt mèo lên bàn, xoa xoa hai bàn tay rồi đan mười ngón tay vào nhau, nghiêng đầu ngắm chai rượu:
    - Tôi chạy vào tận xóm Tràm, nài lại của họ đây. Không mấy thuở... Để khách xa uống không đặng ngon sẽ mang tiếng đất Rạch Giá, Bạc Liêu mình!
    Khi ba người đã ngồi vào bàn,sắp sửa rót rượu thì có bóng một người mặc quân phục màu den, khoác ca- pốt, lom khom bước theo ánh sáng đèn, đi vào quán. Tôi nhận
    ra ngay đó là anh phân đội trưởng Cộng hòa vệ binh vừa về đóng quân Ở xóm trên đã mấy hôm nay.
    ông Huỳnh Tấn bỗng xô ghế đứng dậy, đôi mắt tròn thao láo nhìn anh phân đội trưởng, còn anh phân đội trưởng thì đứng sững lại ở chỗ ngạch cửa mồm há hốc ra.
    Hai người im lặng nhìn nhau, rồi cả hai cùng lao tới ôm lấy nhau, tay đấm đấm vào lưng nhau thùm thụp:
    Trời ơi, tao tưởng mày chết rồi?
    - Tao cũng tưởng mày chết rồi?
    - Vậy ra không thằng nào chết cả.. .
    Hai người cùng tranh nhau nói. Không còn nghe câu nào là của người nào. Những tiếng nói bằng giọng cường tráng sôi nổi vồ vập tuôn ra cùng với những tiếng cười
    vui vẻ mừng rỡ của đôi bạn tình cờ gặp lại, cứ xoắn lấy nhau.
    - Sao nghe mày chết ở mặt trận Gò Công rồi? Ngồi xuống đây? - ông Huỳnh Tấn kéo ghế mời anh phân đội trưởng
    Chết thế nào được? Ờ mình có bị thương ở Vàm láng, GÒ Công anh phân đội trưởng lột áo ca-pốt ném lên chõng, mở cúc áo trỏ vào vết sẹo trên ngực. - Xuyên
    trước trổ ra sau lưng, thủng một lỗ phổi cầm chiếc đũa thọc qua được. Bọt cứ tuôn ra phì phì. Cả máu cả bọt. Vậy mà chỉ hơn tháng sau mình đã dậy, ra chỉ huy chiến đấu
    Sức mày canông bắn cũng không chết - ông Huỳnh Tấn cười hì hì .
    Anh phân đội trưởng bấy giờ mới ngắm nhìn ông Huỳnh Tấn từ đầu đến chân:
    - Mày vừa tới đây à? Bây giờ chắc làm to lắm hả? Nhưng chưa quân sự lắm! Hãy còn cái mã của anh sinh viên
    Anh phân dội trưởng bỗng nhếch mép không nhìn vào ông Huỳnh Tấn nữa mà chỉ ngó ra ngoài trời tối đen một lúc rồi từ từ quay lại, giọng trầm hẳn xuống, hơi buồn, pha đượm ít nhiều chua chát:
    Nghe anh em báo là cậu có theo phái đoàn anh Giàu đi hội kiến với Gờ-ra-xây Thằng Gờ-ra-xây bắt bỏ cậu vào bao bố nhận xuống cống Sài Gòn - chợ lớn chết rã thây từ cuối tháng mười năm ngoái mà ?
    ối Anh em ghét mình, họ bịa ra họ nói vậy, chứ mình có đi hội kiến hội mối bao giờ Mà họ ghét mình cũng phải thôi. ông Huỳnh Tấn nói chậm rãi. - Chuyện còn dài, hẵng uống một cốc rượu mừng cái đã .
    Lão Ba Ngù đứng dậy, tay phải ngửa ra, tay trái cầm chai rượu nút lá chuối cắn vào mỏm, đặt chai rượu nằm xuôi trên lòng bàn tay phải, từ từ xoay bàn tay úp xuống rót rượu ra cốc; khi cốc vừa đầy, lão nhẹ nhàng uốn ngửa bàn tay đưa cổ chai rượu xốc nghiêng lên. Dòng rượu nhỏ và thanh như bị sợi chỉ cắt đứt khỏi miệng chai, tụt xuống mặt cốc đầy, làm sủi bồng mấy cái tăm nhỏ chạy .vòng quanh.. . .
    Lão rót luôn bốn cốc, đều tăm tắp như vậy, không hề nhểu ra bàn một giọt rượu nào.
    Trờí.. ời. ông già róc rượu đẹp quá! Như nghệ sĩ biểu diễn ấy - ông Huỳnh Tấn kêu lên.
    .LÃO Ba Ngù vuốt cặp ria, đặt chai rượu xuống bàn:
    - Nói các đồng chí tha lỗi, chứ tôi khổ sở và hết nghiệp vì rượu mới chỉ học được cái trò này. Đã uống rượu thì phải biết rót rượu, sao đừng cho giọt phí giọt phạm nào
    rơi vãi xuống bàn. Cũng như người lính cầm súng, phải bắn bách phát bách trúng, bắn sao cho đừng trật một viên Chớ để một thằng Tây nào chạy thoát!
    anh Sáu tuyên truyền cười ha hả:
    Bác Ba bữa nay xuất khẩu thành văn. VÔ ban tuyên truyền công tác với tôi đi, cha nội! . . . Các đồng chí thấy chưa , ngán dân đất Chắc-băng này chưa? Rượu chưa vào mà lời châu ngọc đã tuôn ra rồi!
    Dì Tư Béo vừa cười múm mím vừa cắt chanh ra vắt rưới lên mấy con tôm càng nướng bóc vỏ.
    - Bà chủ uống với chúng tôi một ly cho vui ông huỳnh Tấn hai tay bưng cốc rượu lên đưa sang mời dì Tư Béo.
    Dì Tư Béo lắc đầu quầy quậy:
    Tôi xin vô phép các ông. Tôi không uống được mà Để tôi đi lo cho các ông nồi cháo gà dằn bụng(ăn lót dạ) . để buổi khuya đi đường.
    Bốn người chạm cốc, uống cạn. HỌ hút thuốc lá và thổi khói ra um nhà. Rượu được vài tuần, ông Huỳnh tấn bắt đầu dặng hắng nói :
    - Đây toàn đồng chí anh em cả thôi. Chẳng ai xa lạ gì mà phải giấu. Anh em họ không rõ, họ ghét mình là chuyện tất nhiên thôi. Mình chẳng có đi hội klến với thằng ra-xây đâu , mình là cái thá gì! Vả lại , nói cho đến cùng, nếu cần bảo vệ các anh lớn . thì dẫu vào hang cọp mình cũng chẳng từ nan. .. Mình có đi làm cận vệ, người cận vệ độc nhất, đưa anh Giàu đi gặp thằng đại tá Nhật ở đình An Lạc để bàn về các thể thức chuẩn bị gặp thằng ra-xây. Thằng giặc già này nó lập kế hoãn binh để chờ tiếp viện, trong khi các sư đoàn quân cách mạng của ta vẫn còn vây đặc chung quanh Sài Gòn-Chợ Lớn.
    Tất nhiên là sau đó cuộc hội đàm ở khu nhà Huibonhoa trong Chợ Lớn chẳng đem lại kết quả nào. Có thể nói anh em còn thật thà, chứ không phải ngán gì nó đâu
     
  5. Anh phân đội trưởng chành môi ra, không biết anh cười hay không cười, chỉ thấy đôi cầu vai rung rung .
    Không ngán mà lại toan đình chiến với chúng nó?
    Anh em nhiều người đã nói và nghi như cậu ông Huỳnh Tấn nói chậm rãi,giọng ôn tồn. - Trong lúc toàn thể dân chúng quyết xông ra bóp chết bọn giặt xâm lược
    mà nói đình chiến thì ai mà không ức? Có thể nói các tướng lãnh của mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn không ai chủ trương vậy đâu!
    Không chủ trương, không tán thành mà có cuộc hội kiến ấy? - anh phân đội trưởng nhỏm dậy, nói cắt ngang :
    ông Huỳnh Tấn lặng thinh, tự rót rượu cho mình, cầm cốc lên uống từng ngụm nhỏ. Nét mặt của ông trở nên đăm chiêu, rắn rỏi lạ. Dường như ông không phải là con người liến thoắng vui tính như khi mới bước vào quán lúc chập tối. ông nói:
    Nóng làm gì. Thong thả mình kể cho cậu nghe. Một lần nữa, mình khẳng định không ai chủ trương đình chiến. Bằng cớ là trong hội nghị các tổng lãnh của mặt trận SÀI Gòn - Chợ Lớn tại Tổng hành dinh của Uỷ ban kháng chiến Nam BỘ tại chợ Đệm...
    CÓ những ai nào - anh phân đội trưởng bấy giờ mới ngồi xuống ghế, chăm chú nghe.
    đông lắm? Mình không nhớ hết... Tất nhiên là có anh Trần Văn Giàu, anh Huỳnh Văn Tiếng, anh Từ Văn Ri, anh Hai Râu, anh Nguyễn Lưu, anh Mười Trí, anh Tư Tỵ và anh Ba Dương. Cậu nhớ Tư Tỵ không? Trời ơi , có thể nói cha ấy là . một ác-xơ nan(kho vũ khí), khắp người đeo đầy vũ khí. Nào dao găm, súng lục, nào gươm Nhật. . . lại đeo ống nhòm, đội nón sắt, mang ghệt , đi giày đinh. Tư Ty giữ mặt trận Bàn Cờ - Chợ Đủi ấy mà !
    - Nhớ rồi Khi mình rút xuống Mỹ Tho, còn nghe nói anh Nguyễn Lưu lãnh đạo công đoàn nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn đánh nhiều trận sướng lắm, phải không
    Ừ Nguyễn Lưu nói làm gì nữa? Dân Côn Đảo về mà!
    - Nói ngay chỗ cuộc hội nghị ấy nghe nào?
    - Lúc đang họp anh Ba Dương đi một chiếc tàu sắt từ Bình Xuyên đi tới . Cậu biết Ba Dương chứ ? xưa nay vẫn vậy Thủ lãnh Bình xuyên, dần anh chị mà lúc nào cũng
    khiêm tốn, ôn hòa, ít nói . Trong cuộc họp, Ba Dương chỉ lặng lẽ ngồi nghe, hai tay tì vào thành chiếc bàn tròn vòng gõ, mặt cẩm thạch, thứ mặt bàn lúc nào cũng lạnh
    như nước đá ấy. Mọi người bàn cãi lung tung việc nên ngừng bắn hay không ngưng bắn. Đợi cho mọi người ngớt tiếng, bấy giờ anh Ba Dương mới đứng dậy, thong thả rút
    trong túi áo bành tô ra một chai, đặt cộp xuống giữa mặt bàn. Biết gì không? Trời ơi, chai toàn là những ngón tay ngâm rượu. Anh nói: "Đây là ý kiến của anh em Bình
    Xuyên phát biểu với hội nghị, khi nghe nói có lệnh đình chiến. Rồi anh nghiêm giọng, tiếp: "Họ chặt ngón tay thề trước bàn thờ TỔ quốc, trước ảnh Cụ HỒ là nhất định
    đánh đến cùng... Các anh ra ngoài kia mà coi chiếc tàu của tôi. Tụi Tây ở Rạch Kiến nó bắn tôi như vậy đó
    - Thế còn đi hội nghị với Gờ-ra-xây làm chó gì nữa? -
    Anh phân đội trưởng vung tay, nói như quát.
    Đi thì đi, còn đánh là đánh Hai vấn đề khác nhau. Vấn đề chủ yếu là đánh. Mình kể cho cậu nghe vừa rồi đó Anh em có ai rút lui đâu? ông huỳnh tấn còn định nói điều gì nữa đó, chừng như sắp nói một câu quyết liệt lắm thì phải, nhưng ông lại thôi, mặt lầm lầm, móc thuốc lá ra đốt một cách bực dọc. Anh phân đội trưởng chấm đầu ngón tay trỏ vào rượu vẽ vẽ lên mặt bàn. Còn anh Sáu tuyên truyền và lão Ba Ngù thì ngồi đưa mắt nhìn nhau. Tôi thấy mọi người im lặng, tự nhiên mình cũng đứng ngây ra, không dám động cựa. Trong quán chỉ còn nghe tiếng củi nổ lép bép và tiếng nước sôi reo đều đều sau bếp. Lâu lâu, trời lại chớp lên một cái. Mặt nước dòng kênh sáng rực trong ánh chớp. Những đầu ngọn cây tràm và chiếc xuồng không đang buộc bên kia bờ hiện lên xanh biếc, dường như trời đất cỏ cây và những ngọn sóng lăn tăn không ngớt vỗ nhẹ đôi bờ kia thảy đều rung rung trong sắc xanh kỳ ảo, mắt người chưa kịp trông rõ đã biến mất vào bóng tối.
    Một giọng hát buồn của anh thanh niên nào đó, đang thả thuyền trôi theo dòng kênh, nghe mỗi lúc một gần.
    Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi . . . Phòng vắng...
    Lão Ba Ngù tức thời đứng dậy, bước thình thịnh ra ngoài.
    - Ê ghe ai chèo lạc xạc đó - lão hỏi.
    Dưới thuyền có tiếng đáp.
    - Đi chở củi về đây, ông nội. Xét giấy hả?
    - Dưới ghe có ai bệnh sắp chết phải không? - lão Ba Ngù lại hỏi, giọng cay độc
    có ai bệnh gì đâu! đừng có trù mạt
    Hừ vậy mà tưởng thằng nào đang mắc dịch mắc gió gì dưới ghe đó chớ. Bộ sắp chết sao mà rên khừ khừ vậy? bây giờ không phái là lúc hát cái giọng mèo ướt đó nữa
    a, nghe chưa?
    Không có tiếng trả lời. Tiếng chèo khua mỗi lúc một xa. Lão Ba Ngù thở phì phì, bước vào quán cởi áo ra ném bên chõng cái xoạch. Anh Sáu tuyên truyền liếc sang ông
    huỳnh Tấn và anh phân đội trưởng, cố nín cười. Khi thấy hai người này cũng đang nhịn cười như mình, anh Sáu tuyên tuyền không nín nổi nữa, bèn phì một tiếng và một
    tràng cười ha hả vụt nổ ran
    Chú Sáu, chú cười tôi cái gì? - lão Ba Ngù toan ngồi xuống ghế lại thôi, mắt lão dán vào đôi môi dang cười rung rung trong ánh đèn đỏ khé của anh Sáu.
    - Ha ha ha... Ai cười gì bác đâu?
    - BỘ lão già này nói bậy à? Hừ, chú làm tuyên truyền chú há chẳng biết "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" sao? Nước nhà còn mất, dện một thằng mẹ rượt(đồ bỏ đi) như lão đây cũng còn có trách nhiệm mà.
    Bây giờ thì ông Huỳnh Tấn, anh phân đội trưởng và dì Tư Béo vừa ở bếp quệt mồ hôi trán bước ra cũng đều cười lên thành tiếng. Khi lão Ba Ngù hiểu ra rằng đó là
    những tràng cười tán thưởng, lão bèn vuốt ria quay mặt vào trong tối lảm nhảm một mình:
    ờ có hơi lố bịch một chút! Nhung tôi già rồi, thấy đâu thì nói đó vậy thôi. Nào, bà chị đã cắt tiết gà chưa? Tôi giúp một tay.
    Thôi, cám ơn. Cháo sắp dọn ra được rồi đấy!
    Dì Tư Béo nói bằng giọng thanh thanh kéo dài làm duyên kiểu như còn trẻ. Bà ta sễ sàng xắn tay áo lên, bàn tay béo núc cầm chai rượu róc liên tiếp ra bốn chiếc cốc.
    bốn cốc rượu róc bồng mắt thỏ đều tăm tắp, xếp một hàng ngay ngắn dưới ánh đèn lung linh, tưởng như rượu sắp tràn cả ra ngoài nhưng tuyệt nhiên không hề thấy có
    một giọt ướt nào rơi xuống mặt bàn...
    Đêm hôm đó,. mãi đến mười hai giờ khuya vẫn không thấy xuồng liên lạc dưới Thới Bình lên. ông Huỳnh Tấn sốt ruột không chờ được nữa, bèn cậy anh Sáu tuyên truyền tìm người đưa ông đi. Lão Ba Ngù xung phong nhận lãnh chiếc tam bản của anh Sáu tuyên truyền chèo đưa ông Huỳnh Tấn. Anh phân đội trưởng lâu ngày gặp
    bạn cũ, vẫn còn nấn ná ở lại hàn huyên mãi cho đến lúc chia tay. Còn dì Tư Béo thì chẳng những dứt khoát không nhận món tiền bữa rượu, lại còn biếu ông Huỳnh Tấn và lão Ba Ngù mỗi người một đòn bánh tét nhân tôm thịt mang theo lót dạ dọc đường.
    Tôi thu dọn bát đĩa xong, vừa hạ cánh liếp xuống thì nghe tiếng Tư Mắm hỏi vọng từ dưới bến :
    - Quán còn thức hả, chị Tư?
    - Còn thức . Nhưng mà chẳng có gì ăn đâu . - dì Tư Béo đáp cách miễn cưỡng.
    - Không sao? Không sao! Rồi khắc có thôi mà
    Tư Mắm đã lên bờ, tự tay chống cánh liếp cửa, vào quán cầm đèn ra soi xuống bến cho mụ vợ hắn bước lên.
    - Chào dì Tư? Khuya rồi mà chúng tôi còn làm phiền dì quá -vợ Tư Mắm chúm chím cười , nói một câu lấy lòng bà chủ quán, đoạn từ tốn nhấc ghế ra, rón rén ngồi
    xuống.
    Đúng như lão Ba Ngù nói, cứ trông hai người này, khó ai tin rằng họ là một cặp vợ chồng. Tư Mắm thì vừa hôi vừa bẩn, vừa hà tiện lại vừa vũ phu. Còn mụ vợ hắn tuy
    ăn vận mộc mạc ra vẻ một người lam lũ, nhưng từ cách nói năng cho đến dáng đi, cách đứng thì rõ là người hạng phong lưu đài các. Thấy tôi che tay lên miệng ngáp, mụ ta vỗ vỗ nhẹ vào lưng tôi: .
    Chịu khó thức một chút. Rồi qua cho tiền sáng mai ăn bánh.
    Tư Mắm xuống thuyền xách lên một chai cột nhà vuông(Một loại rượu mạnh của pháp) và một xâu cua biển . Hắn đi thẳng vào nhà bếp, vất xâu cua xuống cạnh lò, mắt đảo một vòng ra tận sân sau. Tôi đi sau lưng hắn, thấy vậy bèn hỏi:
    Chú kiếm rổ hay cái gì, bảo tôi lấy cho.
    - À Không - Tư Mắm giật mình quay lại - Qua coi nhà còn gì nhậu được nữa không thôi mà - Rồi hắn cầm chai rượu ra, rủ rỉ với dì Tư Béo đang loay hoay cầm khăn lau
    cốc bên bàn: - Nấu nồi cháo cua ăn chơi đi, dì Tư
    - Cháo cua làm gì Nhà vừa nấu nồi cháo gà cho mấy ông khách. HỌ chỉ húp mấy người vài muỗng, vì trước đó đã ních hết rá bún rồi, còn ăn uống gì nữa. Trời, nồi cháo gà nấu đậu xanh, ngọt lắm. Để hâm nóng lại thôi dì Tư Béo miệng nói, tay khoát ra hiệu bảo tôi vào nhóm bếp lò - vậy thì nướng vài con cua nhá chơi còn bao nhiêu
    biếu dì - Tư Mắm đảo mắt nói. Rồi hắn hỏi trống không:
    - Chà khẩu hiệu ai mới dán đây nhỉ?
    Dì Tư Béo không đáp. Tính bà ta vốn như vậy, ai hỏi riêng bà thì bà nói , không thì thôi . Mụ vợ tên lái buôn cau mắt nhìn hắn một cái, từ hai trong con ngươi phát ra
    những tia sáng quắc, nhọn như những mũi kim. Nếu tôi không chú ý mụ từ trước, thì không thể nào bắt gặp cái lườm dữ dội trong thoáng chớp ấy. Tư Mắm tức thời cười
    hề hề, nói lảng:
    Chèo rã cả tay mà bữa nay chẳng bán được mấy. Chỉ toàn bán chịu cho vài người mới quen.
    Mụ vợ hắn hỏi xin quả chanh và một thìa đường trắng, rồi tự tay rót thứ rượu tây của mụ ra cốc, cho đường vào, hâm nóng cốc rượu trong bát nước Rồi sau khi đã thả vào cốc một lát chanh rồi cầm cái đĩa đậy lên.
    - Cháu không biết uống rượn đâu? mụ cười chúm chím ngó dì Tư- Thuốc giải cảm đấy. Đi nhiều, mệt, uống một cốc này nó ra mồ hôi, khỏe người lại ngay
    Tư Mắm ngồi hút thuốc phì phèo. hắn lại hỏi dì Tư - Ờ lúc nãy thấy bác Ba Ngù chèo tam bản đưa ông nào đi đâu vậy, hả dì?
    Dì Tư Béo nhướng lông này, làm mặt quan trọng. Bà ta không nhìn Tư Mắm, nghiêng người xuống gần bên con mụ vợ hắn, ngón tay trỏ đặt ngang mồm:
    Đừng có lộ bí mật nhá. ông ấy lớn lắm đấy. Cấp Nam BỘ mà! Chà, ông khỉ gì, quên rồi.
    Đoạn bà ta quay vào cửa bếp hỏi tôi: ông hồi nãy làm chức gì, mày nhớ không?
    Tôi không muốn trả lời, nhưng buộc lòng phải đáp cho có đáp: Cháu không nghe nói
    ối! NÓ con nít, biết cái gì mà gì hỏi nó - Tư Mắm cười hề hề, nhịp chân rung đùi.
    Mụ vợ Tư Mắm ngó ra bến, liếc hắn một cái, thong thả đưa bàn tay ngón búp mang vén mớ tóc mai :
    - Bán mấy chỗ mà không ghi chép cả. Mai mốt đây quên đi, làm sao đòi được. Khó quá?
    Mụ móc trong túi ra quyển sổ con và cây bút máy, đặt lên bàn. Tư Mắm rời ghế đứng dậy, bước ra ngoài tối.
    Nghe hắn nói vọng vào: "Khuya rồi mà không mưa được oi bức quá. Đứng đây một chốc cho mát. Dì Tư, hễ được cháo thì dì nhấc ra, nướng luôn vài con cua, nghe dì!
    Thấy tôi lại ngáp, dì Tư Béo bèn bảo tôi xuống chiếc thuyền mui ống của dì vẫn đậu trong mương, đi ngủ trước đi. Mụ vợ Tư Mắm vẫy tôi đến, giúi vào tay tôi tờ giấy bạc năm hào. Tôi không lấy, đặt trả lên bàn...
    Cầm đi mà? - con mụ cười cười, nhìn tôi có hơi ngạc nhiên.
    - ối! NÓ không lấy thì thôi, kệ nó? Thằng này có phải như người ta đâu? - dì Tư Béo nói có ý bực tức vì tiếc hộ cho tôi .
    Tôi bước ra ngoài, không nghe bà ta nói gì về mình nữa bèn đi thẳng ra mương chui xuống thuyền, rúc vào nóp(Một loại bao đan bằng cỏ bàng, một loại cỏ có nhiều ở đồng tháp dùng tránh muỗi thay màn). Muỗi vo ve kêu dậy trong những lùm cỏ rũ ngọn xuống hai bờ mương. Tôi tưởng nằm xuống là đánh một giấc thẳng cẳng, hóa ra lại không ngủ được.
    Không hiểu sao cái lườm của mụ vợ Tư Mắm cứ như xoáy vào óc tôi , khiến tôi sờ sợ. Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn bà nói năng mềm mỏng, nhỏ nhẹ mà lại có đôi
    mắt lạ lùng, vừa đẹp, vừa đáng sợ như vậy. Các bà bán cá trong chợ cãi nhau nhưng lúc giận dữ, mắt long lên sòng SỌC vẫn không có nét gì đáng sợ như mắt con mụ này. . . .
    Độc lập hay là chết!
    Nước Việt Nam của người Việt Nam
    Những dòng chữ rắn rỏi khắc gỗ in mộc bản trên các tờ khẩu hiệu mà anh Sáu tuyên truyền vừa dán vào vách từ chập tối bỗng lại hiện ra, nhảy múa trước mắt tôi.
    Trong tai tôi nghe mơ hồ nhạc điệu buồn buồn của tiếng gió phẩy động ngọn dừa nơi một làng quê xa nào đó ở tận Tiền Giang mà tôi không còn nhớ rõ... Tôi lại thấy
    ông Huỳnh Tấn toét miệng ra cười. Gương mặt ông đang cười bỗng tối sầm lại. "Anh em có ai rút lui đâu? Tiếng muỗi vo ve mỗi lúc một xa dần. Tôi thiếp đi lúc nào cũng không hay biết nữa.
     
  6. Chương 3 : Ông lão bán rắn

    Hai đêm sau đó, trời mưa liên tiếp. Phần vì trời mưa, không mấy người đi chợ, phần vì có lệnh của thôn bộ Việt Minh cấm họp chợ đêm, đề phòng bọn Việt gian trà trộn vào xã không kiểm tra được, nên xóm chợ Ngã Ba kênh vào lúc vừa quá đỏ đèn đã trở nên buồn thỉu buồn thiu.
    Chỉ còn quán cà phê dưới tàn cây bã đậu, mấy tiệm hủ tiếu của người Hoa Kiều ở chỗ dãy phố ngói nằm bên trong chợ ngó ra kênh và quán dì Tư Béo là có ánh đèn,
    lác dác bóng người lui tới.
    Chợ chỉ đông ban ngày, nhưng người cũng chỉ nhóm họp lưa thưa Nhiều gia đình đã rục nịch tản cư xuống Thới Bình. Mấy hôm trước, những lúc trời im gió, dừng ở bờ kênh có thể nghe tiếng trầm trầm của súng đại bác bắn từ xa. Sáng nay, nhiều người còn nghe cả tiếng súng đại liên của tàu giặc ở hướng Ngã Năm. Dì Tư Béo đóng
    cửa quán, nghỉ một ngày để thu vén công nợ, đi đòi các món tiền rượn chịu của người quanh xóm.
    Buổi trưa rảnh rỗi, tôi cũng mò vào chợ chơi, nghe ngóng tình hình. Phòng thông tin trước kia là nơi tụ họp đông người nhất. Vậy mà hôm nay cũng chẳng có mấy người vào xem tin tức, bởi vì toàn những in tức cũ. Một đôi dòng tin mới, viết tay dán vội lên đó thì cũng chẳng hơn gì sự hiểu biết của mọi người , chẳng đáng lưu ý và hấp dẫn bằng những tin đồn nhảm vô căn cứ, thậm chí nhiều khi còn vô lý nữa kia. Lực lượng phòng thủ của ta thế nào? Ngày mai rồi sẽ ra sao? Phần đông người ta đến đó để tự đặt ra những câu hỏi và tự nghĩ ra những câu trả lời. Bọn con gái bưng cả những rổ quả mãng cầu xiêm, vác cả những bó mía vào đựng trong phòng thông tin để ngồi bán . Chúng nó chơi đánh chuyền chuyền hoặc róc mía xả bừa bãi, la hét, cãi nhau om tỏi mà cũng chẳng ai rầy la gì. Tôi ngán ngẩm quá, bỏ phòng thông tin lững thững đi dọc ra bờ kênh . chợt thấy lão Ba Ngù đứng dưới gốc cây bã đậu to nhất Ở gần mé nước , tôi bèn men đến.
    Bác về từ bao giờ đó? - tôi hỏi cho có hỏi, chứ đã nghe dì Tư Béo nói đêm qua với con mụ vợ Tư mắm rằng lão về từ chiều
    - Về từ lúc về ấy! lão cười khà khà đáp giọng đã có chén. - Còn mày, bà chủ của mày bữa nay đi đâu mày sút xiềng(xiềng = dây xích, ý nói thoát khỏi ) dạo chơi đó
    Bà đi đòi nợ. Đâu như tối mới về . . .
    VÔ nhà lão đi ăn thịt rắn một bữa chơi đi!
    - Rắn đâu mà ăn Bác bắt được rắn à? - tôi hỏi vậy, chứ nghe nói thịt rắn là tôi đã lạnh xương sống rồi.
    - Rắn kia chứ đâu, mậy - Lão vỗ một cái vào lưng tôi, trỏ ra kênh: - Ghe chở rắn dưới U Minh vừa lên đấy?
    Tôi trông theo ngón tay lão chỉ. Một chiếc thuyền nhỏ, mui lá, đang đè sóng rẽ vào bờ. Trước mũi thuyền, một thằng bé trạc mười bốn mười lăm tuổi, mặc quần đùi, cởi
    trần đứng dún hai chân, hai tay cầm cây sào dài chống xuống nước. Bên chân thằng bé có con chó săn, sắc lông màu tro, đang chồm lên chồm xuống, đuôi ngoắt qua
    ngoắt lại, hóng mõm lên bờ. Đằng sau lái, một ông cụ già cao to, vạm vỡ, chít khăn đầu rìu màu đỏ, áo bà ba đen thả cúc, vạt áo bay phần phật, đang nghiêng người quạt mái chèo đưa thuyền cập bến.
    - Rắn ăn được sao? - tôi hỏi lão Ba Ngù.
    - Trời ơi, thằng này ná quá (khờ quá) ! Chưa ăn bao giờ à? Thịt rắn ngon và bổ số một đấy. Con nít ở đây đều nếm mùi thịt rắn từ hồi còn trong bụng mẹ. -
    - Cháu chưa ăn lần nào?
    ngon tuyệt Ngon tuyệt! Rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh nước cốt dừa thì biết nhá? Già bảy mươi tuổi ăn món ấy thấy trẻ tráng ra như con trai mười bảy. Sơ sài thì rắn nhóc rắn bông súng uớp xì dầu, cặp gắp nguyên cả con mà nướng, bẻ từng khúc cầm tay xé ra chấm muối ớt nhậu. Thịt ngọt không gì bằng. Cầu kỳ thì rắn hổ đất,
    mèo mun chưng thuốc bắc, gọi là "long hổ hội". Thường thường thì hoặc băm xào sả ớt, hoặc nấu ca- ri nước dừa. . . Khối cách ăn. Nhưng gì thì gì, cũng không bằng nấu
    cháo. Món phổ thông nhất mà Vừa bổ lại vừa mát
    Nướng thì còn thơm, chứ nấu cháo không tanh sao, bác?
    ăn rồi mới biết, thịt rắn thơm như thịt gà, lại giòn dai, không bở như thịt gà: CÓ phải nấu suông đâu mà tanh? Này nhé, làm lông(lột da) xong, chặt khúc thả vào nồi cháo luộc lấy nước ngọt. Rồi mình gắp ra chứ. rồi mình xé nhỏ ra, băm nhỏ ướp hành tỏi, hạt tiêu, nước mắm. Rồi mình bắc chảo mỡ cho sôi. lên, thả tỏi vào. ấy, bấy giờ
    mình mới xào hắn ta! Xong, mình mới múc cháo ra bát, rồi mình xúc hắn ra, mình cho vào cháo khoắng khoắng mấy cái . . . Rồi mình rắc lên một ít hạt tiêu. . . E hèm! E hèm... Thôi, mày sẽ khắc biết thôi. Ghe đã cập bờ rồi kia! .
    Ra xem rắn, ********* ơi? - một giọng trẻ con bỗng hô hoán lên. . .
    Tôi nghe tiếng quen quen, quay lại đã thấy thằng bé lùn lùn béo ục ịch đang dắt một đám trẻ con chạy băng qua sân chợ, lao xuống bến.
    Chào ông bạn già? Có con rắn hổ nào không? Lão Ba Ngù vẫy tay hỏi.
    ông cụ già chít khăn đầu rìu màu đỏ đã đứng trước mũi thuyền. Nghe hỏi, ông liền đáp, giọng sang sảng:
    Kỳ này không có. Toàn rắn rằn ri cóc, rằn ri cá không thôi. Nhưng được cái rắn béo lắm? - đáp xong, ông bảo thằng bé cầm sào ban nãy: - CÒ ơi! Lấy cái giỏ bự ra cho
    tía(cha, ba, bố ) đi con.
    Thằng bé chui vô mui, đẩy hai cái giỏ tre ra khoang trước ông già dặng hắng một tiếng, xắn tay áo, hé sạp thuyền bỏ tay trần vào khoắng. Bọn trẻ nhỏ tức thời kêu
    lên: "Eo ôi?" và xô nhau lùi lại, vừa lùi vừa tranh nhau ngỏng cổ nhòm tới .
    ông cụ già thong thả lôi từ trong khoang ra từng con rắn một, bỏ vào giỏ. Con nào con nấy to cỡ bắp tay ông. CÓ một con rắn gì to như bắp chân người lớn nó cứ rúc
    vào khoang, khiến ông phải khom lưng thò tay vào, nắm cổ nó trì một lúc mới kéo ra được .
    - ông già có bùa, tụi bay ơi
    - ối có con rắn quấn cánh tay ổng kia kìa !
    - Khéo nó cắn, ông ơi? .
    Rắn người ta khâu miệng cả rồi. Cắn quái gì!
    Bọn trẻ nhỏ chồm lên chồm xuống theo từng động tác cánh tay lôi của ông cụ già. CÓ đứa bì bõm lội xuống nước ngập ngang đầu gối, đứng ngó vào trong. CÓ đứa mặt tái xanh tái xám vì sợ, nhưng vẫn thích xem, cứ nhấp nha nhấp nhổm giẫm bùn sùng sục ở chỗ mé nước.
    Khi ông già bậm môi nâng cái giỏ nặng trịch vác lên vai thì con chó săn lập tức phóng một cái, nhảy lên bờ.
    Bọn trẻ con chạy dạt ra hai bên, làm nước bắn tung tóe. ông già lần lượt vác cả hai cái giỏ to tướng lên bến, đặt xuống gốc một cây bã đậu.
    Những người mua đã trực sẵn chung quanh . Ai trỏ con rắn nào, ông già thò tay vào giỏ bắt ra con rắn ấy. Nói bao nhiêu tiền, họ trả bấy nhiêu, không kì kèo ngã giá
    như kiểu người ở các chợ tỉnh. Mỗi con rắn bán xong được siết chặt cổ bằng một sợi lạt và trao cho người mua xách về
    Lão Ba Ngù chọn mãi mới mua được một con ưng ý. Chao ôi, nom con rắn mà kinh? Bụng dẹt to cỡ bắp vế, không dài lắm,non mét ruỡi thôi, mà cái đầu thì bé như một quả bàng khô. Lão hất con rắn nằm vắt ra sau gáy, một tay bóp ngang cổ, một tay nắm gần chót đuôi đưa tới trước . Con rắn gồng mình nổi vảy lên chơm chớm như gai
    mít, sống lung uốn qua uốn lại trên vai lão Ba Ngù, khiến tôi phát khiếp...
    Đi? Theo lão về nhà làm bữa cháo cho biết! - lão nhướng mắt bảo tôi.
    Để lúc khác bác ạ? Bữa nay cháu bận trông quán cho dì Tư. . . tôi kiếm cớ thoái thác.
    - Hê Hê! mày trông cái chợ thì có, chứ trông gì quán!
    Thôi, không thích ăn thì thôi. Không ai ép mày? - lão bước đi mấy bước còn quay lại nhìn tôi, cười khà khà: - chỉ lo chừng mày quen mùi rồi, không đợi mời, mày cũng xách
    bát xách đũa chạy tới thôi!
    Tôi trở về quán nuốt vội ba hột cơm nguội, xem chừng cốc bát đĩa có suy suyển món nào không, rồi quơ cái áo vét tông khoác vào người, đóng cửa quay ra chợ.
    Tròi đã xế. Mặt trời đã xuống ngang ngọn cây tràm bên kia bờ kênh. ông cụ già bán rắn vẫn còn ngồi dưới gốc cây bã đậu, tán lá xanh um ngả bóng đen trên mặt đất Bọn con nít ban sáng bây giờ cũng không thiếu mặt đứa nào, đâu như còn có thêm mấy thằng mới tới . Chúng chen nhau ngồi trước hai giỏ rắn, mặt mày nhem nhuốc,
    đỏ lơ đỏ lửng vì bêu nắng, vì mồ hôi và bụi bặm. Đứa thì khoanh tay lên gối, dán mắt vào những con vật bò sát kinh tởm đang ló đầu ra mắt giỏ, đứa thì cãi nhau, tiếng
    nói tiếng cười chí chóe.
    ông cụ già vẫn ngồi dó, tay chậm rãi nhồi thuốc lá vào nỏ tẩu: cán tẩu vừa dài vừa quăn queo trông rất lạ.
    Gương mặt ông khoáng đạt, rất dễ mến. Làn da rám nắng hun hun màu đất thó vẫn còn căng ra như da mặt người trẻ, chỉ đôi khóe mắt và trên vầng trán cao là có xếp mấy đường nhăn. Râu ông không dày lắm, nhưng chắc như rễ tre và đen nhánh. Đôi mắt to, sáng quắc, núp dưới cặp chân mày rậm đen. Khi ông cắn tẩu thuốc vào mồm, môi dưới hơi trễ ra, méo xệch một bên vì khối nặng của cái tẩu hình thù kỳ dị và hơi to quá cỡ, thì trông ông như có vẻ dữ tợn.
    Tôi ngồi sát vào gốc cây, bên ông cụ già lực lượng ấy. BỘ quần áo bà ba đen đã bạc thếch vì dãi dầu nắng mưa sương gió của ông còn mang nguyên mùi hăng hăng của
    lá cỏ cây rừng tận những vùng đất hoang sơ, và mùi khói nồng lửa bếp trong chiếc thuyền con lưu động.
    Thấy tôi mới tới, thằng bé lùn lùn béo ục ịch hất hàm nháy mắt tôi, rồi ngó vào giỏ rắn:
    - Sợ không?
    Tôi cười, không đáp. Nói sợ thì nó chê mình nhát, mà nói không thì không đúng.
    - ê, nó sợ rồi tụi bay ơi! - một đứa lập tức kêu lên.
    Hình như ông cụ già không biết có đám trẻ nhỏ ngồi chung quanh. Đôi mắt to, den nhánh đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt. Không biết ông đang nghĩ gì.
    Bọn trẻ nhỏ thấy ông dễ dãi, không rầy la gì, và nhân có tôi mới tới, chúng muốn tỏ ra bạo dạn hơn nên càng nghịch tợn. Chúng nheo mắt, thè lưỡi, có đứa con giả vờ
    toan thò tay vào giỏ lôi rắn ra để ném vào tôi. Mỗi lần có đứa trẻ nào nhích lại gần giờ rắn thì con chó săn nằm bên chân chủ lại nhổm dậy, vươn cổ ra nhe răng gừ gừ . mấy tiếng. Rắn quấn nhau trong giỏ nằm im nhưng Nghe tiếng chó gừ, những con rắn đang ló đầu ra mắt giỏ vội giật mình rụt vào, uốn éo cựa quậy làm cho rắn lớn, rắn bé trong giỏ chuyển lung tung. Mấy đứa lì lợm nhất, cởi trần truồng ngồi chầu hẫu gần bên giỏ rắn, liền co chân bật ngửa ra sau. Chúng nó cười hí hí một cách khoái trá . Nhưng cũng có đứa ngồi ở xa hơn lại mếu máo muốn khóc. Thằng bé lùn lùn béo ục ịch cầm cái que nhổm tới nhổm lui, quơ quơ ra bộ sắp chọc vào giỏ. Con chó săn lại vươn cổ ra gừ...gừ... mấy tiếng.
    Lác dác có vài chiếc xuồng cập bến, họp buổi chợ chiều . Năm ba người đàn ông cởi trần, áo vắt vai từ trong dãy tiệm đi men ra, dừng lại dưới bóng cây bóng mát.
    Trời oi quá! Chiều rồi mà nắng vẫn chói chang. Không một làn gió động. Những chiếc lá bã đậu như dán chặt lên nền trời, tôi ngửa cổ nhìn lên đến mờ mắt vẫn không tìm ra một chót lá nào nhúc nhích.
    - Tàu bay bà con ơi - một người đàn ông bỗng hốt hoảng kêu lên, nhón nhắc ngóng chung quanh.
    - Im? Để nghe coi nào! Im nghe chứ.
     
  7. Mọi người nín lặng. ông cụ già bán rắn nhấc cái tẩu thuốc ra khỏi miệng, ngó xuống chân, cười mủm mỉm.
    Tiếng vu vu của một con ong bầu *** vàng bay trong vòm nhánh lá rậm rịt, nghe hệt tiếng máy bay.
    MỒ tổ con ong: Làm người ta giật mình - người đàn ông kêu lên ban nãy nhăn nhó nói một câu chữa thẹn.
    Từ hướng biển Đông dậy lên những tiếng ầm... ầm... nối nhau, nghe rung rinh cả chân trời .
    Chắc là tàu giặc, bà con ơi!
    In như máy bay ném bom chứ!
    Mình nghe giống tiếng sấm.. .
    - Để nghe mà . . . Làm gì mà oà lên như giặc tới vậy?
    Mấy người đàn ông cãi nhau một chốc rồi kẻ ngồi xuống gốc cây cầm áo quạt phe phẩy, người đi tới đi lui trong bóng râm hừng hực hơi bóng từ mặt đất xông lên, lặng lẽ không nói gì nữa. Thằng bé lùn béo ục ịch bỗng nhổm dậy.
    Tàu giặc, các chú ơi? Nghe ì... ì... đấy
    - Thằng con nít, đừng có nói. bậy BỘ mày ở ngoải vô sao mà nói đó là tàu? - người đàn ông tóc chơm chởm như gai trừng mắt quát.
    RAà... ầ ầm? Rầm...? Rầm.:: Rầm... ầ... ầm! Bốn tiếng nổ bất thần nghe điếc tai. Những tiếng nổ chát óc, rền rền như tiếng súng đại bác, gần làm. Đám con nít thét lên, cắm cổ chạy túa đi. Mấy người đàn ông kia, có người cũng quýnh quáng toan chạy, nhưng cũng có ngừơl vẫn đứng yên nghe ngóng. Tôi quen tiếng súng tiếng bom từ mấy tháng nay, nên chỉ co người thụp xuống; khi dứt tiếng nổ, tôi liền đứng lên quan sát chung quanh. Nếu đó là súng giặc bắn vào thì cũng phải trầm tĩnh xem chúng tới từ hướng nào rồi hẵng chạy tránh chứ
    Dưới kênh, thuyền xuồng tranh nhau tách bến, giầm chèo va khua lộp cộp. Một vài chiếc tam bản nhẹ hai chèo đã rời đi xa lắc.
    ông cụ già bán rắn Yẫn ngồi đó, phì phèo tẩu thuốc lá mặt bình thản như không. ông đưa mắt nhìn lên nền trời rồi hỏi tôi:
    Cháu không về nhà à?
    - Cháu ở gần đây thôi. Đấy, chỗ cái quán đấy!
    Tôi đáp, giọng vui vui,bụng có hơi rạo rực một chút vì thấy ông già chú ý tới mình. ông cụ già thong thả đứng dậy, búng tay bóc. .. boóc mấy cái. Con chó săn ve vẩy đuôi, chồm hai chân trước lên sủa oang oang, vụt lao đi như một mũi tên. Một lúc
    sau, con chó quay về dắt theo thằng bé cầm sào chống trước mũi thuyền ban sáng.
    - Tìm được chú VÕ Tòng không? ông già hỏi.
    Người ra bảo chú đi rồi. Đêm qua trời mưa, có con beo vào bắt gà dưới xóm Sậy, chú VÕ Tòng rình bắn được.
    Đâu như chú chở con beo ra bán ngoài Ngã Bảy.
    Tôi đã toan về, nhưng nghe thằng bé nói vậy bèn dừng nán lại, nghe hai cha con trò chuyện.
    - CÒ à, khiêng giỏ xuống ghe đi con
    - Không bán nữa sao, tía?
    -thôi Khiêng đi . . .
    Tây tới gần rồi sao, tía?
    - Tây đâu mà Tây. Dông sắp tới rồi. Dông lớn lắm đây con!
    - Lúc này có tiếng sét nổ trên không, kinh quá hở tía.
    - Ừ thôi nhanh nhanh lên, con .
    Lúc bấy giờ, gió bắt đầu thổi rao rao nghe mát mát.
    Con chó săn đã phóng xuống thuyền, đứng sau lái ngóc mõm lên nhìn trời. Cha con ông cụ bán rắn vừa kịp khiêng hai chiếc giỏ xuống thuyền thì cơn giông ùn ùn thốc tới. Mây ở đây từ dưới rừng xa, lúc nãy còn không trông thấy, giờ đã đùn lên đen sì như núi, bao trùm gần kín khắp bầu trời. Từng cuộn mây khói đen là là hạ thấp
    xuống mặt kênh làm tối sầm những ngọn sóng đang bắt đầu gào thét, chồm chồm tung bọt trắng xóa. Từng đàn cò bay vùn vụt theo mây, ngửa mặt trông theo gần như không trông kịp. Xóm chợ Ngã Ba Kênh dường như bé lại thu mình cúi rạp xuống mặt đất. Mấy chiếc xuồng ba lá, mấy chiếc tam bản của ngườl trên phố buộc dưới chân cầu nước trồi lên hụp xuống theo lượn sóng nhào, dựng mũi ngóc lên như ngựa muốn bứt dây cương.
    Chiếc thuyền chở rắn của cha con ông già đã chèo giạt sang bên kia bờ, xuôi xuống một quãng xa, lắc lư chui vào một con kênh nhỏ, hai bên bờ mọc chen chúc những cây tràm vỏ trắng, cành lá rậm rạp.
    Tôi toan chạy đi thì chợt thấy dưới gốc cây bã đậu có một chiếc túi da beo. Thôi, đúng là của ông già bỏ quên đây rồi. Tôi chộp lấy, cắm cổ phóng theo bờ kênh, vừa hú vừa ngoắt sang bên bờ bên kia. Không ai nghe tiếng tôi hú gọi cả. Gió thổi ầm ầm ù ù như có hàng nghìn chiếc cối xay lúa khổng lồ đang quay thẳng cánh trên trời. Bờ
    kênh chỗ tôi đứng trống huếch trống hoác không một lùm cây bụi cỏ. Nhiều lúc, tôi có cảm giác như gió sắp nhấc bổng tôi lên, thổi tung đi. Dãy phố ngó ra mặt kênh
    chuyển mình nghe răng rắc, cột gỗ hàng hiên lay lay như đưa theo một chiếc võng vô hình. Ngói bị cuốn tung lên, bay khua lảng cảng trên nóc nhà nhiều nghe đến phát sợ.
    Không về đến quán kịp nữa rồi. Tôi vừa thở vừa khom người chạy vào cái miếu cô hồn nằm xê xế phía dưới chợ, chỗ cây đa cổ thụ cành lá rậm xùm xòa đang quằn lên vật xuống như sóng. Trời đất mỗi lúc một tối sầm lại. Vũ trụ quay cuồng trong cơn gió mãnh hệt. Những tia chớp xé rạch bầu trời đen kịt phát ra những tiếng nổ kinh thiên động địa chung quanh ngôi miếu. Tôi thu người lại như một con trút, ngồi sát vào chân bệ thờ. Tường miếu xây bằng đá tổ ong, mái lợp ngói trát vữa rất chắc nhưng tôi bắt đầu cảm thấy không an toàn chút nào. Chà, giữa lúc trời sét mà lại dại dột tìm chỗ trú ẩn ngay dưới một gốc cây to Tôi vốn ghét những chuyện hoang đường quái đản, không bao giờ tin rằng có ma qủy, nhưng không hiểu sao trong giờ phút này bỗng thấy trong người rờn rợn. Pho tượng "ông Tiêu"(Thần quản lý ma quỷ) mặt vằn vện, đầu mọc ba cái sừng, chiếc lưỡi thè dài quá rốn, đứng ngay trên đầu
    tôi Mỗi lần trời chớp, tôi đều ngửa mặt nhìn lên pho tượng với một nỗi lo sợ và tò mò không cưỡng được.
    Tôi dặng hắng một tiếng rõ to, phủi *** đứng dậy bước ra ngồi ngay ở cửa miếu. Một vài hạt mưa bay chéo hắt vào mặt tôi lạnh buốt như nước đá. Bầy kiến đất bò ra bò vào cạnh chân tôi chúng quơ râu trò chuyện với nhau một cách bình thản, lại còn rủ nhau lũ lượt bò ra ngoài thềm miếu nữa chứ không cuống cuồng chạy rúc vào tôi như những khi trời sắp mưa to.
    Cái túi da beo đựng vật gì hơi nặng thì phải. Hình như một con dao, bởi cái sừng ló ra ngoài cồm cộm thúc vào hông tôi. "Thử mở ra coi cái gì trong này?" Tôi vừa nghĩ
    thế, bỗng nghe từ trong lòng mình văng vẳng có tiếng bảo: "Đừng động chạm đến của cải của người ta. TÒ mò vậy không tốt đâu!" Tôi ngồi im một lúc, bàn tay ngứa
    ngáy không chịu yên lại nắn nắn cái túi. Bây giờ tôi lại nghe tiếng văng vẳng ban nãy cùng phụ họa theo ý nghĩ của tôi: "Xem chút thôi mà! Vả chăng, mình có ý định lấy
    gì trong túi này đâu!" Thế là cái túi da beo mà tôi đã nhét nửa trong nửa ngoài vào túi áo vét-tông, tự nãy giờ còn nằm yên đã bị bàn tay tôi lôi phăng ra tức khắc.
    A! Cái dao găm!
    Tôi chợt kêu khe khẽ và từ từ rút lưỡi dao ra khỏi chiếc da bao láng bóng vì đẫm mồ hôi người lâu năm ánh thép xanh xanh của lưỡi dao sắc như nước lóa lên mỗi lần trời chớp. Cán dao bằng sừng, nạm khâu đồng dỏ có chạm hoa văn rất đẹp. Cán bằng sừng gì như sừng nai.
    Còn những gì khác nữa trong cái túi bí ẩn này? đằng nào mình cũng đã mở ra rồi. Xem một chút thì có làm sao!"
    Sự tò mò náo nức càng thôi thúc tôi hăm hở lật ra. Đây là một gói lưỡi câu đủ cỡ, mươi hai chiếc cả thảy, gói trong một mảnh giấy đầu cỡ bàn tay. Một cục đá và một
    miếng thép dèn dẹt to và dài, hơn mặt bao diêm. Đây nữa là một gói thuốc. Thuốc gì mà dẻo quánh, xin xỉn vàng, mùi hăng hắc, đưa lên mũi ngửi thấy buồn nôn . Tôi bỏ lại
    vào túi da beo tất cả các thứ linh tinh ấy, chỉ trừ cái dao găm, rồi thắt miệng túi thật chặt bằng sợi dây gân khô quắt và trơn tuột.
    Cầm chặt cán dao trong tay, tôi bỗng thấy người mình như cao lớn hắn lên; dường như sức khỏe tăng lên vạn bội, tôi nghe mạch máu chạy râm ran trong những đầu
    ngón tay. Trời chớp nhoáng nhoáng. Tôi thong thả đứng dậy rồi bất thần quảy phắt lại, trừng trừng nhìn vào ngôi miếu. Pho tượng kinh khủng vẫn lặng lẽ đứng trên bệ
    thờ, lè chiếc lưỡi dài màu máu xuống rốn, bốn chiếc răng nanh trắng lòa nhe ra như cười.
    Một lúc sau, gió dụi dần, rồi tắt hẳn. Trên ngọn đa tối sầm mà cơn gió cuồng vừa gào rú ghê người ban nãy, mấy con chim chào mào xôn xao chuyền cành nhảy nhót,
    hót líu lo. Nắng vàng màu da chanh phủ lên cây cỏ một thứ ánh sáng dịu mắt, trong suốt và lung linh dương như có thể sờ được
    Tôi trở ra bờ kênh, đi dọc dài theo bến một lúc, hy.vọng sẽ gặp lại chiếc thuyền con của ông cụ giá bán rắn.
    nhưng ngóng hoài mà vẫn không thấy tăm dạng chiếc thuyền và cha con ông già đâu cả . Nhìn về nơi tít tắp, chỉ thấy ánh phản quang của ráng chiều sắp tắt từ mặt nước
    dòng kênh hắt lên những lùm bụi ven bờ. Sực nhớ rằng dì Tư Béo sắp về, tôi bèn gấp buộc trở lại quán dể lo bữa cơm chiều.
     
  8. Chương 4 : ĐÊM KINH KHỦNG

    Từ ngoài góc sân sau, tôi đã thấy trong hơi khói bếp bay tỏa ra xa mùi cháy của cá kho khô ướp nước màu dừa(nước hàng làm bằng nước dừa cô đặc), rưới mỡ béo ngậy và có rắc hạt tiêu thơm phức
    ông con ơi? Cơm đã dọn sẵn rồi đấy? - dì Tư Béo mát mẻ nói vọng ra.
    Đáng lẽ phải đi nhanh vào và sẵn sàng chịu đựng những câu quát mắng của bà chủ đôi khi cũng bất thần nổi nóng với mình, thì tôi lại bước từng bước một cách hết
    sức chậm chạp .
    Mùi cá kho khô thơm lừng mà ban nãy nghe thấy đã thèm rõ rãi khiến tôi cảm thấy bụng đói cồn cào, bây giờ bỗng bay đâu mất. Tôi không sợ những lời quát mắng.
    Thậm chí những câu chửi rủa tục tằn cũng không làm tôi bực túc hay run sợ nữa. Bởi vì, đối với một thằng bé lưu lạc một thân một mình như tôi, thì bất cứ người nào
    cũng có thể hoạnh họe, bắt nạt, trút giận dữ lên đầu tôi một cách hết sức vô lý được. Điều đó, tôi chẳng coi ra mùi gì Thực tình thì. ban đầu tôi cũng khổ sở đau đớn vì phải hứng chịu những câu mắng mỏ thô lỗ cục cằn kiểu bọn đầu đường xó chợ mà từ tấm bé, vốn sống được nuông chiều trong một gia đình nề nếp, tai tôi chưa hề quen nghe. Tôi đã nghĩ rằng ngày nào cũng ngửa tai ra mà hứng lấy những lời xấu xa như vậy, thì mình đến vỡ óc ra mà chết thôi. Tôi tự nhủ: "Dại gì mình làm tờ giấy
    thấm để có giọt mực nào rơi xuống cũng hút lấy? hãy ném trả lại cho họ". Thế là tôi đã nhanh chóng tìm ra phương pháp chống trả tiêu cực một cách có hiệu quả.
    Một là tôi cứ lờ đi, sự phản ứng ngấm ngầm bên trong đã tạo thành một thứ vỏ thép mà những lời cay độc đến mấy bắn vào cũng sẽ lập tức bật ra quay về trúng lại họ.
    Chẳng vậy mà những người đã há vành cung miệng, dùng lưỡi bắn tôi đã lồng lộn lên trước thái độ thản nhiên như không của tôi đó sao? Nhưng trái lại, tôi rất sợ - vừa
    sợ vừa căm ghét - những câu mát mẻ, nói bóng nói gió xa xôi Thái độ ấy thường gây cho tôi nhiều đau đớn, và những vết thương trong tâm hồn thơ bé của tôi cứ tấy lên
    mỗi lúc nhớ đến giọng nói mát mẻ, ngọt như mía lùi nhưng lại có xát ớt mà một người lớn đã ném cho một đứa trẻ con . . .
    Thấy tôi lặng lẽ bước vào, dì Tư Béo càng bực tức:
    - Bữa nay mày câm rồi à? Thụt lưỡi rồi hay sao_
    Tôi chẳng nói chẳng rằng, cứ lẳng lặng đi lau đũa lau bát, dọn mâm ra bàn. Bà ta nhấc nồi cơm, múc cá kho, xới cơm ra bát xong đâu đấy, bèn hứ một tiếng:
    Không ngồi vào mà ăn, còn đợi mời đợi thỉnh nữa sao?
    Chưa có lệnh bà chủ, lẽ nào tôi dám tùy tiện, ngồi vào mâm trước? Mà đợi bà phải bảo thì tôi lại mắc vào cái tội chờ mời chờ thỉnh? Đằng nào, tôi cũng có lỗi cả? Mà nào tôi có tội gì cho cam Bà ta bảo tôi rằng bà ta đi đòi nợ đến tận đỏ đèn mới về. Quái qủy gì đã bắt bà về sớm từ chiều, tôi làm sao rõ được?
    Bà ngó nghiêng vào mặt tôi, có lẽ dò xem thái độ hơn là chờ câu trả lời .
    - Cháu không đói! - tôi đáp bằng cái giọng không phải của chính mình.
    - Mặc mày thôi. Cơm nhà tao cũng chẳng thừa?
    Bà ta nói lúng túng, giọng khê đặc như nén lại giữa cổ, bàn tay run run vờ cầm đôi đũa, dôi mắt trừng trừng nhìn tôi . Từ bộ mặt giận dữ, chiếc cằn nung núc lúc nào
    cũng ướt đầm mồ hôi của bà ta, đến mọi vật quen thuộc trong quán, tất cả cứ mờ dần trước mắt tôi. . . Tít đằng xa kia, dưới gốc cáy bã đậu ở chỗ ông cụ già bán rắn đã rời đi, một vệt ánh sáng nhờ nhờ phủ dài trên mặt đất bắt đầu sẫm lại. Vẳng trong tai tôi, giọng nói ấm áp đầy trìu mến của ông già xa lạ : "cháu không về nhà à?" Từ trong ngực tôi như có một cục gì cứ dâng lên, tôi cố nuốt xuống mà nó vẫn cứ trào lên nghẹn ngang giữa cổ. Tôi không nén xuống được nữa, đành để cho nó thoát bật ra thành tiếng nấc và tôi đã khóc.
    Hình như dì Tư Béo chỉ chờ đợi có bao nhiêu đó. Nụ cười hả hê, chiến thắng của bà ta lập tức nở ra như miếng bánh phồng tôm thả vào chảo mỡ đang sôi reo. Có lẽ bà
    ta tưởng rằng thái độ lạnh nhạt và những lời mát mẻ của bà ta đã có hiệu quả trông thấy. Mà như thế là đủ rồi.
    Thường thường, những người lớn sau khi thấy mình chiến thắng dược một đứa trẻ con, hành hạ cho nó khổ sở đến điều, lại hay muốn tỏ ra rộng lượng, nhân hậu một
    cách hết sức buồn cười.
    Chà, hôm nay dì.. . nhưcon mụ điên ấy? Đừng có chấp nê tao làm gì? Mày mà oán dì thì mày phải tội đó. Chẳng qua là dì giận các lão già, rượu chịu thì cứ uống phứa đi
    như nước, mà tiền thì một đồng cũng không chịu nhả ra!
    bà chủ quán vừa nhăn nhó làm lành vừa gật gà gật gù thú nhận như vậy.
    Bà ta lăng xăng đi thắp đèn, cười nói bả lả, làm như không có chuyện gì vừa xảy ra, một hay bảo tôi ăn cơm đi kẻo nguội.
    Tất nhiên là tôi phải ngồi vào bàn cùng ăn với bà ta thôi. Suốt bữa cơm, dì Tư Béo không ngớt phàn nàn cho số phận hẩm hiu của mình. Rằng bọn đàn ông vô sỉ, thấy
    bà ta một thân một mình giở trò lừa đảo, có đứa còn lợi dụng tình thế gay go giặc sắp đánh vào đến nơi, cứ ỳ ra không trả nợ, thậm chí còn toan bắt nạt bà... Cơn giận
    làm bà ta phát no, hay vì mải nói quên ăn không biết, bà ta cứ luôn gắp bỏ vào bát tôi, cho đến khi tôi ăn xong rồi mà bát cơm trước mắt bà ta chưa vơi được quá nửa.
    - Chúng nó đừng hòng bắt nạt bà ! - dì Tư Béo kết thúc tràng kể lể của mình bằng câu quyết liệt ấy, trước khi cầm bát đưa lên miệng để và nốt lưng cơm còn lại.
    Đúng như vậy thôi? - tôi buột miệng nói.
    Mà mày thấy có phải không? Đừng có đứa nào hòng...
    Dạ. Người oai tín như dì thì cháng ai dám động tới chéo áo chứ trông gì bắt nạt
    Bà ta dặng hắng một tiếng, bộ mặt nom rất hả hê. Bây giờ tôi mới nghiệm ra rằng chẳng riêng gì bọn lau nhau chúng tôi , mà người lớn người già lại càng rất thích được
    khen cho dù đó là lời khen xỏ của một đứa trẻ con. Của đáng tội, nói rộng ra thì chưa biết thế nào, chứ trong cái xóm chợ này, những tay sừng sỏ nhất cũng chẳng dám động đến cái móng chân bà chủ quán rượu cô độc lắm phù phép này. Không có mấy người là không nợ tiền bà. Cứ một đồng thì một ngày năm xu lãi. Cần lúc nào, hỏi lúc nào cũng có. Ai gặp bà ta ngoài đường cũng chào. Bà ta lại là người chắt bóp, tiện cặn, không đánh bài bạc gì, nên hai cái túi bóng mỡ cài nứt kim băng cứ phồng lên, no tròn theo thân hình béo ních của chủ nó. Cuộc đời và uy tín của bà ta, nói tóm lại đều tập trung ở hai cái núi nặng trĩu giấy bạc này.
    - Lão Ba Ngù ngày hôm nay có tới đây không? - dì Tư Béo chợt hỏi tôi.
    - Không thấy đến. Việc gì thế, dì?
    Không: Cũng chẳng có việc gì. Hỏi thế thôi?
    Lúc sáng cháu có gặp bác ấy ở chợ. Bác ấy mua con rắn to lắm. Bác ấy rủ cháu về theo bác ăn cháo rắn chơi . Nhưng cháu không đi.
    Thảo nào? Chắc là nướng trọn mấy đồng bạc của người ta nhờ lão đưa trả cho tao rồi. Hứ hự
    Tôi cất dọn mâm bát xong, không biết làm gì, nhận thấy bếp còn hồng bèn đi lấy ấm đặt lên. Dì Tư Béo thì ngồi nhai trầu tóp tép ngoài chiếc chõng tre, tay không ngớt phẩy quạt xành xạch.
    Đêm oi quá. Không có lấy một chút gió nhẹ cho đỡ bức. Dường như cơn dông ban chiều đã phung phí quá trớn, giờ đây, đêm đến, hết sạch gió rồi, đành hổn hển nén sự
    bực bội vào trong bóng đen dày đặc một thêm nặng nề trùm xuống mặt đất mênh mang.
    - Chào dì Tư Gớm, mắc cơn dông hồi chiều, chèo xuýt chết. Mệt rã người. Về tới quán dì, thấy khỏe ra ngay.
    Tiếng cười lanh lảnh của mụ vợ Tư Mắm cùng với chiếc áo bà ba lụa màu xanh nước biển của y xuất hiện trong quán như xua tan bầu không khí ngột ngạt từ nãy giờ.
    Đã cơm nước gì chưa? - dì Tư Béo bước xuống chõng, vặn to ngọn đèn, hỏi cách vồn vã.
    Mụ đàn bà uốn lưng như một con mèo cái, đưa mắt nhìn vào tận bếp rồi xòe đôi bàn tay trắng muốt để lên mặt bàn. Mụ thong thả đặt *** xuống ghế, thở phào ra:
    - Chừng này chưa có gì bỏ bụng thì có mà chết! ăn cơm rồi dì ạ . Nhưng nếu nhà còn thứ gì mặn mặn thì dì bắc hộ nồi cháo hoa, chốc nữa húp vài bát cho nó tỉnh người.
    - Bữa nay tôi đóng cửa cả ngày, có bán chác gì đâu. Nhà còn một ít cá kho tiêu thôi. Tôi thèm, kho ăn chơi một bữa, hãy còn nửa nồi đây! dì Tư Béo đáp.
    Tư Mắm khom người bước vào quán, nách cắp chai rượu tây, tay cầm con cá mực khô.
    Nướng giùm qua chút, chú em! - hắn nói vọng vào bếp, mắt nhận ra ngay tôi dang đứng trong bóng tối.
    Không chờ tôi bước ra, Tư Mắm đi luôn vào bếp giúi con mực khô vào tay tôi. Rồi hắn móc thuốc lá ra, nách vẫn cắp chai rượu, bật lửa lên đốt điếu thuốc hút tại chỗ. Đôi
    tròng mắt bé ti hí như mắt rắn đảo quanh một vòng rất nhanh, khiến tôi phải sợ sợ, không dám nhìn hắn.
    Tôi quạt than đỏ lên, nướng mấy con mực xong, đặt lên cái đĩa kèm theo quả chanh và. một ít hạt tiêu giã nhỏ, bưng ra bàn.
    Tư Mắm gọi một xị rượu đế, ngồi ngay ở đầu bàn, chiếc bàn dài chỗ cửa ra vào, rót rượn ra cốc và lặng lẽ xé mực bỏ vào miệng nhai nhồm nhoàm. Mụ vợ hắn ri thì ngồi
    chỗ góc bàn nhỏ bên trong, kê sát vách. Thấy mụ mở nút chai "cột nhà vuông rót thứ rượu thơm thơm vào chiếc cốc nhỡ, cho thìa đường vào, tôi vội vàng lấy ngay ra bát nước sôi đặt lên bàn, trước mặt mụ ta.
    Thằng bé này ngoan quá! Em phải là đứa làm bồi các nhà hàng lớn ngoài tỉnh, chứ không phải là chú nhỏ hầu rượu chỗ này đâu?
    Mụ cười cười khen tôi như vậy và chậm rãi thả cốc rượu ngâm vào bát nước sôi. Hai bàn tay ngón búp măng thoăn thoắt mở con dao xếp kiểu sáu lưỡi ra, cắt gọn nhẹ
    một lát chanh rồi cho vào cốc, úp đĩa lên đậy lại. Giống hệt như cái lần mụ đã "chế biến món thuốc giải cảm ! bận trước .
    - Hai ông bà ngồi chơi, nghỉ một chốc đi! Tôi đi tắm một cái cho mát đã, - dì Tư Béo vừa nói vừa bước vào buồng lấy quần áo, và khi trở ra, không quên bảo tôi: -
    Vo nắm gạo bắc lên bếp nấu nồi cháo đi, con. Nhớ nấu loãng nhá!
    Trong một thoáng, tôi đã làm xong việc bà chủ bảo, rồi đến lặng lẽ ngồi bên bếp lửa, chỗ nghỉ ngơi và là nơi trú ẩn tốt nhất cua tôi mỗi khi tôi muốn quan sát một người
    khách rượu nào đó ở bên ngoài.
    Từ trong bếp lửa nhìn ra, không có một cử chí nào của Tư Mắm lọt khỏi mắt tôi. Hắn uống hai cốc rượu liền, uống vội vàng, xong lại xé mực nhai nhóc nhách, mắt luôn luôn ngó ra cửa... Hành tung của đôi vợ chồng này có nhiều khác lạ, càng khiến tôi chú ý theo dõi. Những lần trước, quán đông khách, Tư mắm vẫn đến uống rượu.
    Mắt hắn luôn luôn nhìn vào cốc rượu, dường như người đăm chiêu nghĩ ngợi, hoặc có một tâm sự đau buồn gì.
    Hắn không mấy khi bắt chuyện với ai và không nhìn ai. Chỉ khi nào hắn đưa cốc rượu lên uống, đôi mắt ti hí mới liếc ngang, nhanh như tia chớp, ném cái nhìn trộm ra xung quanh. Đêm nay hắn không nhìn vào cốc rượu, mà chỉ ngó ra cửa.
    Không biết con mụ vợ nó làm gì ngoài góc bàn. Chỗ tôi ngồi, khuất tấm vách ngang không trông ra được. "Chà, con qủy cái này là một tay rượu không vừa đâu?". Tôi
    nghĩ thầm như vậy. Mới cách đây có hai hôm mà nó đã mở thêm một chai "cột nhà vuông" nữa rồi. Dứt khoát không phải là thuốc giải cảm như mụ ta nói. Thuốc thì
    người ta nhắm mắt, nhắm mũi uống một hơi chứ đâu có ngồi nhấm nháp từng ngụm, thưởng thức một cách khoái trá như những tay bợm rượu sành sỏi? Và bàn tay nó
    cầm thìa khuấy cốc, ngón út cong lên đầy kiểu cách, có phải là bàn tay của người lam lũ đâu Giá như đó là những con mẹ che dù đầm từ ngoài tỉnh chạy vào, luôn
    mồm kêu là không có nước ngọt tắm, không có nước đá uống thì là chuyện dĩ nhiên, không nói làm gì. Vợ một tên lái mắm tèng xí (đồ bỏ, đồ vứt đi) mà chứng học đòi làm sang thế kia ư?
    Không? Dứt khoát là không phải. BỘ quần áo bà ba tầm thường của mụ chỉ là cái lốt bên ngoài, không che giấu nổi cốt cách của mụ ta.
    Con mụ quái qủy này đang làm gì ngoài đó? Câu hỏi ấy cứ lởn vởn qua hình bóng những lưỡi lửa nhảy múa trước mắt tôi . Tôi không thể chịu được nữa, bèn đứng dậy rón rén bước ra.
     
  9. Mụ ta đang cắm cúi viết trên một mảnh giấy nhỏ xé ra từ quyển sổ ghi chép các món tiền thu nhập hàng ngày. Cốc rượu vẫn nguyên chưa đụng tới. Làm sao xem được mụ ta viết cái gì đây? Tôi lia mắt sang thấy bát nước hâm rượu không còn bốc hơi nữa, bèn nảy ra ý nghĩ sẽ vờ cầm ấm nước sôi đến rót thay vào bát nước nguội để có thể tới bên bàn mụ ta ngồi. Tôi nén thở, bước rén bằng những đầu ngón chân và đứng sát bên lưng mụ, nhìn qua vai mụ . Trên mảnh giấy, những dòng chữ Pháp viết tháu
    vội vàng, nhưng vẫn đẹp như cắt, nghĩa như sau:
    llcB-15-5-/946. - Hai trung dội chính quy trang bị đầy đủ. Một súng máy Bữ-ren. Cạnh đền: Một đại đội dân quân vũ khí thô sơ. Đập Đá: Một trung đội hỗn hợp, mười
    cây súng trường. vài chục lưu đạn tự làm lấy. 13.5: Một cán bộ quân sự cao cấp dã qua đây: Đoàn thuyền vận tải quân lương đi. về hướng Thới Bình. . . "
    Những dòng chữ phía đuôi bị khuất qua mớ tóc xõa bên vai mụ ta, không đọc được. Tôi nén thở, rướn người lên, tim đập thình thịch trong ngực. Đột nhiên, mụ ta quay phắt lại khiến tôi giật mình suýt buông rơi cái ấm xuống đất. Nét hốt hoảng vừa thoáng hiện trong đôi mắt to đen lay láy của con mụ đàn bà nham hiểm khi vừa nhìn đến tôi lập tức biến ngay, và nhường chỗ cho những tia nhọn hoắt như những mũi kim phóng vào mặt tôi.
    Xem trộm cái gì? - mụ ta nén giọng hỏi khẽ, cặp môi mỏng dính run run dầy phẫn nộ.
    Tư Mắm lập tức xô ghế đứng dậy. Tôi tưởng hắn sẽ nhảy xổ vào bóp họng tôi ngay. Nhưng hắn vẫn đứng nguyên đấy và đưa mắt nhìn mụ vợ, rõ ràng là hắn đang chờ mệnh lệnh mụ ta giống như một con chó săn chờ lệnh chủ.
    Trong lúc ấy, tôi đã kịp đủ thì giờ trấn tĩnh. Lúc bấy giờ tôi cũng không hiểu tại sao mình lại tỉnh táo được như vậy... Tôi gãi tai, cười và nói cách hồn nhiên:
    - Thím viết đẹp quá! Chữ đẹp như cắt ấy, mà lại không kẻ dòng... Đẹp hơn cả chữ anh Sáu tuyên truyền
    Mày đọc rồi à? - mụ ta trố mắt hỏi, cốnén giận dữ.
    - Đọc từ nãy giờ. . . mà thím viết thứ chữ Tây chữ u gì , cháu không hiểu dọc. Cháu chỉ đánh vần quốc ngữ bập bẹ và đọc được con số từ một đến một trăm thôi Nhưng
    phải đánh vần lâu lắm kia
    Con mụ thở phào một hơi nhẹ nhõm:
    - Con nít đừng có nhìn lén, đừng xem trộm khi người lớn đang viết, nhớ không. Vậy là kém lịch sự và vô phép
    Tôi cười hì hì ra vẻ nhận lỗi:
    - Cháu đến thay bát nước sôi cho thím chứ Tại chữ thím viết đẹp quá, cháu cứ mải xem... Cháu đâu có dè thím rầy! Mọi khi, anh Sáu tuyên truyền viết, cháu đứng sau lưng coi mà ảnh chẳng rầy la gì.. .
    ừ, thôi Thay bát nhóc khác đi! - mụ ta chớp chớp mi mắt, cười với tôi... - Qua ghi các món tiền ngừờl ta mua chịu mà. Viết bằng chữ quốc ngữ mới, em không đọc được đó thôi. Đây này - mụ ta vừa nói vừa chìa mảnh giấy đến bên ngọn đèn - con số 15 nầy là người ta thiếu qua mười lăm đồng. . . Con số năm này là năm ngày nữa họ sẽ trả .
    cháu biết! - tôi tươi cười.
    Con mụ càng cố ý đánh lừa tôi bằng vẻ thành thực thì tôi cũng mượn màu thành thực để lừa lại nó. Trong khi ừ ào với mụ ta, tôi đã đọc nốt những dòng chữ cuối: tấn công tốt nhất vào khoảng bốn giờ sáng. Trạm canh gác chỉ có bốn đứa: hai súng ca-líp 12. Bắt sống. Trời mưa to, có thể núp trong mưa. tắt đường ruộng bất thần đánh vào ban ngày
    Thay bát nước xong - không hiểu sao bây giờ tay có hơi run - tôi cố trấn tĩnh bằng cách đứng lại nói với mụ ta một câu tróc khi quay vào bếp .
    - Thím đừng mách dì Tư, dì Tư mắng cháu tội nghiệp?
    - ừ không mách đâu Vào xem nồi cháo được chưa . . .
    Tôi không nhìn Tư Mắm nhưng tôi biết Tư Mắm đang cười Tôi vào đến cửa bếp, còn nghe hai tiếng thở phào ra cùng một lúc của đôi gián điệp vườn này , và tôi biết
    chắc chắn rằng chúng đang nhìn theo tôi không phải bằng nhũng cặp mắt đầy hoảng hốt và dữ dội như ban nãy.
    Dì Tư Béo đã tắm xong, vào ngồi bên chõng rũ tóc ra cầm quạt quạt cho khô tóc.
    Trời oi quá! Tắm rồi mà mồ hôi cứ vã ra như chưa tắm!
    Thấy con mụ vẫn cắm cúi viết, dì Tư Béo hỏi:
    - Bữa nay người ta mua chịu nhiều lắm sao Ghi gì mà hết tờ nọ tới tờ kia vậy?
    - Cũng chút đỉnh thôi. . . Biên các số tiền chi tiêu lặt vặt ấy mà? Mà cũng xong rồi đấy. Thôi, dọn cháo ra ăn chơi đi, dì Tư
    - An ơi, lau mâm bát đi, con? - dì Tư Béo gọi vọng vào bếp, bảo tôi.
    Tôi vừa toan nhấc nồi cháo xuống, bỗng nghe dì nói tiếp:
    - Ngày nào cũng biên chép nhiều như vậy, bảo thằng bé nhà tôi nó viết hộ cho. Nó tốt chữ lắm đấy! .
    Không biết qủy ma nào giật lưỡi bà ta, mà bà ta ngứa mồm ngứa miệng nói ra làm gì điều đó. Tôi nghe con mụ vợ Tư Mắm "à" lên một tiếng, và mụ ta bưng cốc rượu
    uống ừng ực một hơi . hình như mụ ta đang xoay xoay cái cốc trong tay, nghĩ ngợi gì lung lắm, vì sau một hồi lâu, tôi mới nghe tiếng cốc dằn hơi mạnh xuống bàn.
    - Thằng bé mới mười bốn mười lăm tuổi gì đó mà đã đỗ .phi-ca" rồi đấy! "Biết đâu chùa rách Phật vàng... Ai hay trong quán ẩn tàng kim luân"(2 câu trong truyện thơ lục vân tiên). Coi nó lèng quèng vậy mà chữ Tây đọc giòn như bắp rang đó. Hôm nọ nó cầm tờ báo Tây đọc vách vách, còn cắt nghĩa cho thằng Sáu tuyên truyền nghe nữa chứ! .
    Tôi nghe bà chủ quán nói một hơi như vậy, túc muốn điên lên. Trời ơi! Tôi có đọc báo Tây và dịch nghĩa dịch ý cho anh Sáu tuyên truyền hồi nào đâu mà bà ta bỗng dưng hứng khẩu khoe tướng lên như vậy? Mà bà ta đã quả quyết như vậy rồi thì tôi còn hòng chối cãi làm sao tôi làm sao thoát khỏi tay bọn chúng mà chạy đến báo cho anh Sáu tuyên truyền hay được Tôi đứng im để hết tai ra nghe ngóng, nhưng mạch máu cứ đập trong tai làm tôi không còn nghe gì rõ
    Không thấy vợ chồng Tư Mắm nói gì , bà ta trỗi giọng:
    Bé thế mà đỗ "phi-ca" thì giỏi lắm?... Ngày xưa có một ông giáo "phi-ca" mê tôi lắm, nhưng duyên trời không định...
    Từ quán đến chợ thì xa. Ngược lên, đến xóm Tràm nơi trung đội Cộng hòa vệ binh đóng lại càng xa hơn nữa! Tôi mà chạy đi, nhất định Tư Mắm sẽ giết tôi ngay giữa
    đường. Không làm cách nào bịt mồm bà chủ được, tôi đành liều thôi. Hai tay run lập cập, tôi lần trong bóng tối, tháo miệng túi da beo ra để cho dễ rút con dao găm, rồi
    cứ để nguyên cả bao da nhét vào bên trong thắt lưng, phủ vạt áo vét tông ra ngoài cho khuất cán. Tôi không thể chuẩn bị trước những câu trả lời với bọn chúng. Biết thế nào được mà chuẩn bị? Tới đâu sẽ ứng phó tói đấy! Nếu chúng giở trò hành hung thì tôi sẽ sử dụng tới con dao.
    Ngoài kênh đã không nghe một tiếng chèo. Cũng không một ông khách rượu nào tới quán. Sao mọi đêm, bọn họ khép tới một lúc năm bảy người, tấp nập hết tốp này đến tốp khác, làm tôi chạy chân không bén đất mà hầu, nhưng cũng chẳng kịp - tại sao đêm nay không thấy ma nào mò tới? .
    - Bưng cháo ra đây, chú em? - tiếng con gián điệp gọi lên lanh lảnh, khiến tôi nổi gai ốc khắp người.
    "Sao mày hèn thế" Tôi tự hỏi mình như vậy. Và đột nhiên tôi bỗng nhớ tới gương mặt bầu bĩnh của em bé gái có hai bím tóc tết trái đào:.. CÔ bé mặc bộ quần áo xa
    tanh màu đỏ bắt đầu khởi động, đôi hài đen nhỏ xíu giẫm xuống, mắt nhìn thẳng vào vòng lửa cháy vù vù tua tủa những lưỡi dao nhọn hoắt... CÔ bé hét lên một tiếng,
    nhưng không bay qua vòng lửa mà quay lại nhìn thẳng vào mặt tôi, cười mủm mỉm. Mặt tôi nóng ran lên. Tôi dặng hắng một tiếng, bưng mâm bát bước ra.
    Tư Mắm không nhìn tôi. Hắn ngồi xé mực nhai nhóc nhách, mắt ngó ra ngoài tối đen. Con gián điệp cũng không nhìn tôi. NÓ vờ như đang chăm chú đọc những khẩu hiệu của anh Sáu tuyên truyền đã dán lên vách hôm nọ, chứ thực ra quả là nó đang rình theo tôi từng cử động. Tôi trở vào bưng ra nồi cháo đặt lên chõng.
    - Thôi, để đấy cho dì. Mày xuống thuyền ngủ trước đi con? - dì Tưbéo truyền lệnh cho tôi.
    Tôi không đi ngay. Tôi còn trùng trình đứng lại múc cháo ra bát, xem thái độ chúng như thế nào, nhưng chẳng thấy chúng tỏ ra lưu ý gì đến tôi. Tôi bèn lặng lẽ bước ra, đi lần đến thuyền mui ống đậu trong mương.
    Thế nào Tư Mắm cũng đi theo tôi . Tôi nghĩ như vậy và làm bộ vấp chân, kêu "ái ", một tiếng. Tôi xuýt xoa ngồi xuống, nắn nắn bàn chân nhìn ngang và quả thấy Tư
    Mắm đã bước ra đứng ở chỗ cửa. Linh tính báo cho tôi biết sẽ có điều nguy biến xảy ra cho tôi trong đêm nay.
    Tôi chạy cũng không thoát kịp nữa rồi. Hình như trong giờ phút mấp mé đứng trước cái chết hoặc trước một nguy hiểm tột độ nào đó, con người trở nên bình tĩnh hơn
    bao giờ hết. Tôi co chân nhảy độp xuống thuyền, lôi chiếc nói ra giũ phành phạch, vờ sửa soạn chui vào nóp.
    Nhưng tôi không chui vào, tôi lấy chiếc gối chống dựng một đầu nói lên và kéo cho dầu nóp ló ra ngoài mui thuyền để người đứng trên bờ có thể nhìn thấy được.
    Xong đâu đấy, tôi trườn nhẹ ra sau lái, nhẹ nhàng bước trên những chùm rễ gáo và bò theo mé mương. Lên được bờ rồi thì bấy giờ trăng cũng vừa mọc. Chung quanh ngôi quán, mặt đất sáng như ban ngày. Bóng tối chỉ còn lại một vùng đen sâm sẫm dưới gốc cây gáo cổ thụ. Tôi núp theo bóng cây, chui vào một cái hốc có chùm lá ráng phủ bên ngoài mà một hôm tình cờ tôi phát hiện ra.
     
  10. Tôi không biết mình ngồi thu hình trong hốc cây, nén thở như vậy đã bao lâu. MỒ hôi ướt đầm đìa sau lưng áo.
    Bàn chân tôi chạm vào mình con vật gì mềm nhũn. như con rắn. Tôi hốt hoảng rụt chân lại. Con vật bò rột roạt theo hốc cây, kêu "tắc kè . . . tắc kè . . . tắc kè . . . " ngay trên đỉnh đầu tôi.
    Trong quán đã nghe tiếng thu dọn bát đĩa. Con mụ gián điệp chào dì Tư Béo, không biết nó nói gì mà bà chủ quán của tôi cười lên khấc khấc... Lát lâu sau, nghe nó
    rửa chân lạc xạc ngoài cầu nước, rồi tiếng chân nó dẫm lên sạp thuyền. RÕ ràng chỉ có mỗi mình con mụ xuống thuyền.
    Mỗi một tiếng động, một âm thanh nào đó từ bên ngoài vẳng vào gốc cây ẩm mục, tối om vào hôi hám ngột ngạt đến tức thở này, đối với tôi đều có ý nghĩa vô cùng
    quan trọng. NÓ mở cho tôi một tia hi vọng, hoặc đẩy tôi mỗi lúc một chuồi sâu xuống bãi lầy đen kịt mà tôi không phương vùng vẫy.
    Cánh liếp trên quán đã sập xuống. Nghe then cửa gài đánh "cách" một tiếng. Luồng sáng tỏ của ngọn đèn từ trong quán chiếu xuyên qua hàng rào mắt cáo, soi ra tận
    luồng cỏ bấc bên kia mép mương, chớp chớp mấy cái trướt khi tắt phụt.
    Tư Mắm đi dò từng bước ra mương. Hắn bước rất khẽ, dáng như chân không chạm vào đất vậy. Hắn ngó trở vào quán rồi quay lại rướn cái cổ dài nhìn xuống chỗ đầu nóp tôi đã kéo ló ra mui thuyền. Hắn đứng im như vậy có đến chừng hai phút. Trong quán, dì Tư đã bắt đầu "khò... khò . . . khò . . . khừ" , ngáy như kéo cưa .
    Tư Mắm đưa tay lên vén tóc, ngó vào gốc cây rồi thong thả bước đến ngồi thụp xuống quay lưng vào mặt tôi cách chừng một thước. Tôi nén thở, nhắm mắt lại cho thần kinh đỡ căng thẳng.. Hồi lâu, bỗng nghe tiếng người dặng hắng đâu ở phía sau quán. Tôi mở mắt ra trống ngực đập rộn lên. Cứu tinh đã đến với mình đây rồi? Trời ơi giá mà anh Sáu tuyên truyền đến với tôi trong lúc này..., không phải anh thì lão Ba Ngù, hay không phải lão Ba Ngù thì một người đàn ông nào đó cũng được.
    CÓ tiếng chân giẫm thình thịch vòng sau quán men ra gốc cây Tư Mắm nhẹ nhàng đứng dậy, đưa ngón tay lên mồm xuỵt một tiếng. Thôi, thế là hết? Tia hy vọng cuối
    cùng và mong manh nhất chợt đến với tôi cũng tắt ngấm từ phút này đây.
    LỘ rồi? - Tư Mắm thều thào nói với bóng đen, và hất hàm về phía đầu nói ló ra mui . Hắn còn thì thào mấy câu gì nữa, nhưng tôi không nghe được.
    Tôi không thể nào nhận ra bóng đen đó là ai . Trong tất cả những người đàn ông lui tới quán rượn này, không có hắn. Đôi vai rộng bè khom khom chồm tới trước như một
    con giả nhơn; khi hắn ngóc lên, tôi vừa kịp trông thấy một nửa bên quai hàm bạnh ra, trán rất thấp, vòm mắt nhô cao, lông mày rậm rịt. Hắn cởi trần, bắp thịt nổi cuồn cuộn lấp loáng dưới ánh trăng. Tôi rùng mình. Bàn tay tôi cấu thử vào sườn mấy cái, thấy đau điếng...
    Không? Không phải tôi chiêm bao mà!
    Bóng đen khủng khiếp ấy rút con dao dài non năm tấc giắt bên hông ra, cầm lăm lăm trong tay. Trong hốc cây, bàn tay bé nhỏ của tôi cũng lần lần rút con dao găm ra khỏi vỏ.
    Tư Mắm cầm khẩu súng lục - không biết hắn lấy ở đây ra từ lúc nào - kẹp khẩu súng vào đùi, tay kéo qui lát "rắc" một tiếng khô gọn, trong khi bóng đen khủng khiếp
    kia lom khom bò xuống mũi thuyền mà hắn tin chắc rằng tôi đang nằm ngủ dưới đó.
    Bỗng nghe con gián diệp ho một tiếng ngoài cầu nước. Tư Mắm quay đầu về phía có tiếng ho. Đêm vắng lặng đến nỗi con mụ nói rất khẽ nhưng tôi vẫn nghe rõ mồn một : "Đừng Đừng! Xuống lấy cái bao tải. Nhét giẻ vào mồm thôi . . . " Tư Mắm vừa đi thì tôi cũng vừa lách mình ra khỏi hốc cây. Khi tôi thấy hắn dò dẫm rén chân bước
    xuống chiếc cầu nước dẫm bùn trơn như mỡ thì nhanh như cắt tôi lập tức phóng ra khỏi gốc cây lao đi như một mũi tên.
    Tôi không biết mình chạy đi đâu. Bên tai tôi, gió rít vù vù, lùm cây bãi cỏ rùng rùng xô nhau chạy ngược về phía sau lưng tôi. Dãy phố ngói và những tàn cây bã đậu thấp thoáng trong làn sóng đất; một ngọn đèn le lói từ ngôi nhà ai còn thức, chiếu nhấp nhây, dường như nhảy lên nhảy xuống đằng xóm chợ im lìm kia. Bản năng không tự giác đã điều khiển đôi chân tôi chạy tìm về chỗ có người khi lâm hoạn nạn. Tôi toan kêu lên, nhung không còn đủ sức kêu nữa. Tôi lại tiếp tục chay. Bỗng nhiên tôi cảm thấy ruột gan phèo phổi mình thót lên, đầu chúi tới trước. Một làn sương mù dày đặc từ từ bao trùm khắp người tôi, tôi chỉ còn đủ cảm giác thấy tay chân mình tan ra như nước hòa lẫn vào trong lớp sương mù quái di đó, rồi tôi không còn biết gì nữa . . .
    Khi tôi tỉnh dậy, tay hãy còn nắm chặt cán dao găm. Lưỡi dao cắm ngập vào mặt đất sét ấm, khiến tôi phải ngồi lên mới rút ra được. Tôi đút con dao vào vỏ, nhét trong thắt lưng, định thần một lúc mới nhận ra rằng trong lúc mình chạy, mình đã ngã chúi xuống một đường hào chiến đấu mà các anh thanh niên trong chợ vừa đào mấy hôm nay. Tôi lần nhớ lại các việc đã xảy ra... Quái, tiếng trống tiếng mõ ở đâu mà khua động inh tai thế này? Tôi toan nhảy thóc lên bờ hào, nhưng chưa kịp với vào thành đất đã rơi xuống ngay. Khắp người ê ẩm, chân tay đau buốt, tôi có sức cào đất trườn lên. Khi tôi bò ra khỏi hào thì thấy một vầng lửa đỏ rực dang bao trùm lên ngôi tửu quán. Những lưỡi lửa khổng lồ le lên liếm trụi các cành khô trên ngọn gáo cố thụ. Tre nứa nổ lốp đốp.
    Khói cuồn cuộn bốc lên, đưa tàn lửa bay chấp chới như một bầy ong đỏ từ trong đám cháy bị mùi rượn sực nồng xua lên, bay tản mác ra xa.
    Tôi lại cố sức chạy trở về ngôi quán thân thuộc đang làm mồi cho thần lửa. Trong ánh lửa dỏ rụt chiếu sáng khắp chung quanh, ở một góc sân sau, hai ngươi. đàn ông
    đang nắm chặt hai cánh tay dì Tư Béo lôi ra. Bà ta giãy giụa, gào thét, hết ngã xuống lại chồm lên. Cả khối thịt của cái thân hình to lớn ấy run lẩy bẩy trông rất dễ sợ.
    Tôi lách đám đông chạy sả vào. Người đầu tiên tôi nắm lấy cánh tay kêu lên là anh Sáu tuyên truyền:
    - Bắt lấy vợ chồng Tư Mắm? Chúng nó là gián diệp. . .
    Trong những người đứng chung quanh đang bó tay tuyệt vọng, buồn rầu nhìn ngọn lửa hoành hành, tự do thiêu hủy ngôi quán, vừa nghe tôi thét lên như thế, có người tức khắc nhảy chồm lên: "Làm sao mày biết, hở thằng bé kia?" CÓ người hỏi dồn tôi: "Nhưng chúng nó đâu rồi?i
    Tôi kể không ra đầu cua tai nheo gì cả, tiếng được tiếng mất. Nhưng tôi chắc chắn rằng tôi không bỏ sót một chi tiết quan trọng nào. Người ta nhốn nháo đi gọi các anh Cộng hòa vệ binh. ông thưởng công an xã ở tít xóm dưới bây giờ mới vác khẩu súng bắn chim hai nòng lích kích chạy tới:
    Chúng nó chưa đi xa đâu?
    Chia ngươi ra ba cánh, đuổi theo các ngã ba kênh?
    - Đuổi cái con khỉ! Không biết chừng nào đã tới Ngã Bảy rồi!
    - Này, anh em! Không được giết chết. . . Bắt sống chúng nó mang về đây, chặt dầu cho đồng bào xem? .
    Không biết một người nào đó đứng trong đám đông ồn ào đã truyền lệnh ra như vậy. Và ai nấy đều răm rắp tuân theo. Tôi không theo toán người đi đuổi bắt vợ chồng Tư Mắm. Tôi đến bên dì Tư Béo, cầm lấy bàn tay lạnh ngắt của bà ta, không biết nên nói gì đây.Một câu an ủi trong lúc này, có nghĩa lý gìl Bà chủ khốn khổ của tôi đang tựa lưng vào một vò rượu - không biết tay nào chạy hộ ra đây hay tự bà ta khênh ra kịp thì chẳng rõ - vừa thấy tôi đến, đã quay mặt đi.
    - Dì Tư Dì Tư! - Tôi lo lắng và buồn rầu gọi nho nhỏ .
    - Thằng nhỏ nó về rồi đây này? - một người đàn bà nào đó ngồi cạnh bà ta kêu lên.
    Dì Tư Béo vẫn quay mặt vào bóng tối . Bỗng nhiên bà ta òa lên: "Con ơi! Con đi đâu mà bỏ dì một thân một mình . . . " Tôi đứng dậy cầm chiếc khăn rằn phủi bùn đất
    bám đầy trên vai bà ta. Trước mắt tôi, bà ta chỉ là một con người đáng thương và gần gũi nhất. Tự nhiên, không hiểu sao tôi cũng quay mặt vào bóng tối. Phải rồi, một
    thiếu niên dù bất cứ ở hoàn cảnh nào cũng không được tỏ ra mềm yếu trước mọi người . . .
    Mãi đến chiếu hôm sau, vẫn không tìm ra tung tích vợ chồng Tư Mắm. Ai gặp tôi cũng hỏi, cũng bắt tôi phải kể đi kể lại có hàng trăm bận. Cả chợ nhao lên. Người ta
    nhìn nhau, ai cũng có vẻ đáng nghi ngờ. Lão Ba Ngù đứng giữa dám đông, vỗ trán kêu lên:
    - Tôi biết cái thằng có đôi vai rộng bè, lưng khom khom như con giả nhơn ấy rồi !
    - Lại bịa nữa? Biết thì nói, không thì thới. Chẳng ai ép đâu nhá! - một ông bạn rượu của lão Ba Ngù khịt mũi nói như vậy.
    Sao lại không? NÓ là thằng cùi. Mấy hôm nọ, tôi thấy nó nằm dưới xóm Đập Đá. Đúng là nó! - Lão Ba Ngù khẳng định như vậy, và chờ cho mọi người đưa mắt ngơ ngác đợi lão nói tiếp, lão mới e hèm mấy cái, tặc lưỡi: - Chà, nó không phải cùi đâu! NÓ lấy thịt thối buộc giẻ rách bó vào chân, ruồi nhặng đến bu vo ve, ai thấy cũng tởm, chẳng ai muốn đến gần. Hóa ra có hồi nó ngồi ngay trước mặt mình mà mình tránh đi, để lúc nó chuồn rồi mới ba chân bốn cẳng chạy đi lùng?
    Không biết lão Ba Ngù nói vậy có dúng không, nhưng chẳng thấy ai bác bẻ lại lão. CÓ điều mọi người trong chợ đều nhất trí nhận định là : "Đích thị vợ chồng Tư Mắm đã
    đốt quán trước khi rút lui. CÓ thể chúng đặt trước một mồi lửa. khi đi xa rồi, quán mới bốc cháy. Dân trong chợ mắc lo chữa cháy dù có biết cũng muộn rồi, không đuổi
    theo kịp chúng nó nữa" .
    Quán ruựu dì Tư Béo cháy sạch trong đêm dó. Nhưng còn được chiếc thuyền mui ống, nhờ có người đẩy ra kịp mương nên chỉ cháy sém một bên mui. DẦU sao thì hai
    chiếc túi bóng mỡ cài kim băng của bà chủ quán rượu cô độc cũng chưa hề hấn gì. Bà ta quyết định không cất lại quán trên mảnh đất xúi quẩy này nữa. "Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí" mà?
    Phải mau mau rời khỏi chỗ này thôi . Dì Tư Béo không ngớt than vãn như vậy, và sau cùng quả quyết bảo tôi:
    - Con ơi? Đi với dì xuống Thới Bình đi!
    Cháu ở lại đây thôi. Cháu còn chờ một ngươi quen.. .
    Tôi đáp với bà ta như vậy, chứ thật ra tôi có chờ ai đâu May ra trong số người qua lại xóm chợ này, tôi có thể tìm một người quen nào chăng Ba má tới thì chắc chắn là còn ở bên kia sông Hậu Giang, chẳng bao giờ xuống tới chốn này.
    SỐ trời bắt tao phải sống một thân một mình. Thôi thì cũng đành! Nếu mai kia mốt nọ... con có dịp về gần Thới Bình, cứ hỏi thăm tên dì, ắt dì cháu ta còn có cơ hội
    gặp nhau...
    Bà ta sụt sịt, giúi vào tay tôi một đòn bánh tét, nặng nề bước xuống chiếc thuyền vừa thoát khỏi trận hỏa tai, rồi nhổ sào tách bến.
    Trời sâm sẩm tối. Tôi đứng dưới gốc cây gáo cổ thụ, lổm nhổm những mảnh lu mảnh vại vỡ, bên đám tro tàn còn phảng phất mùi rượu cháy chua tanh Tôi đứng im lặng một mình như vậy, nhìn theo vạt áo trắng của dì Tư đang chèo khuất dần trong bóng tối của mặt nước dòng kênh. Lát lâu sau, tôi bỗng cảm thấy rưng rưng một nỗi buồn lạ lùng không sao xua đi được, một thứ trống rỗng ùa vào tâm hồn, khiến tôi gần như sợ hãi. Tôi chạy theo gọi : " Dì Tư ơi ? Dì Tư Chờ cháu với . . . "
    Tôi vấp mấy cái trong bóng tối, suýt ngã xuống nước.
    Màn đêm lặng lẽ buông trùm xuống những ngọn sóng xôn xao trên mặt nhóc cuồn cuộn, không biết chảy về đâu..
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY