"Chí Phèo" và "Câu cá mùa thu"

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi kunngocdangyeu, 10 Tháng mười một 2011.

Lượt xem: 2,462

  1. Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    Đề bài:
    1, Nhận xét về cốt truyện, nhân vật, lời kể trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
    2,Nghệ thuật tả cảnh, tả tình và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ "Câu cá mùa thu"
    Các bạn ơi giúp mình với, tuần sau mình phải nộp rồi nhưng mình không biết làm:khi (73):..... thaks các bạn trước:khi (15)::khi (15)::khi (15):
     
  2. Các bạn ơi!!!! mình cần gấp, các bạn giúp mình với
    hUhU....mình k biết làm
     
  3. hoanghondo94

    hoanghondo94 Guest


    Phân tích

    1. Đề

    Mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu “nước trong veo” có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu “lạnh lẽo” như bao trùm không gian. Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi nên mới “lạnh lẽo” như vậy. Trên mặt ao thu đã có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” tự bao giờ. “Một chiếc” gợi tả sự cô đơn của thuyền câu. “Bé tẻo teo” nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự tun hút của cảnh vật (trong veo – bé tẻo teo) – Đó là một nét thu đẹp và êm đềm.


    2. Thực
    Tả không gian 2 chiều. Màu sắc hòa hợp. có “sóng biếc” với “lá vàng”. Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng “sẽ đưa vèo”, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn “hơi gợn tí”. Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thu, tô đậm cái nhìn thấy và cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng “hơi gợn tí” phối cảnh với độ bay xoay xoay “sẽ đưa vèo” của chiếc lá thu. Chữ “vèo” là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: “Vèo trông lá rụng đầy sân” (cảm thu, tiễn thu).


    3. Luận
    Bức tranh thu được mở rộng dần ra. Bầu trời thu “xanh ngắt” thăm thẳm, bao la. Áng mây, tầng mây (trắng hay hồng?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. “Vắng teo” nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng.
    “Ngõ trúc” trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng khuâng, man mác:

    “Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy
    Thuyền ai khách đợi bến dâu đây?”
    (Nhớ núi Đọi)

    “Ngõ trúc” và “tầng mây” cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc của làng quê. Thi sĩ như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm vào cảnh vật.


    4. Kết
    “Thu điếu” nghĩa là mùa thu, câu cá. 6 câu đầu mới chỉ có cảnh vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc… mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế nhàn: “tựa gối ôm cần”. Một sự đợi chờ: “lâu chẳng được”. Một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe “Cá đậu đớp động dưới chân bèo”. Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc nghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá “đớp động” sau tiếng lá thu “đưa vèo”, đó là tiếng thu của làng quê xưa. Âm thanh ấy hòa quyện với “Một tiếng trên không ngỗng nước nào”, như đưa hồn ta về với mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng cô đơn và lặng lẽ buồn. Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng trọng.


    Kết luận
    Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái điệu xanh trong Thu điếu. Có xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo… và chỉ có một màu vàng của chiếc lá thu “đưa vèo”. Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man mác buồn. Một tâm thế nhàn và thanh cao gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết.
    Mỗi nét thu là một sắc thu tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết. Vần thơ: “veo - teo - vèo - teo – bèo”, phép đối tạo nên sự hài hoà cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùng điêu luyện, hồn nhiên – đúng là xuất khẩu thành chương. Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.
     
  4. hardyboywwe

    hardyboywwe Guest



    Mùa thu – mùa của các thi nhân. Tại sao lại khẳng định như vậy? Bởi vì hầu hết các nhà thơ xưa và nay không ít thì nhiều đều có những bài thơ viết về mùa thu. Phải chăng mùa thu tiết trời se lạnh, gió thu hắt hiu, cảnh thu mơ màng, trăng thu huyền ảo, lá thu rơi,... đã tạo cho các nhà thơ niềm xúc cảm dạt dào? Chắc là thế! Với thi nhân, mùa thuxưa nay như người bạn tri ân để gởi gắm nỗi niềm, để tâm tình chia sẻ. Và nhắc đến thu, ta không thể không nhắc đến Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Mà trong đó, Thu điếu là một trong những bài thơ hay nhất trong hệ thống thơ ca viết về mùa thu.
    Tuy nhan đề là “Câu cá mùa thu” nhưng bài thơ không lấy việc câu cá làm chính mà lấy mùa thu làm chính. Việc câu cá chẳng qua là cái cớ , cái hoàn cảnh, cái chỗ để nói về mùa thu. Ơû đây, cảnh thu được tác giả đón nhận từ gần đến cao xa, rồi từ cao xa trở lại gần. Điểm nhìn cảnh thu được nhìn từ chiếc thuyền câu đến mặt ao rồi nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi nhìn ra mặt ao.
    Mở đầu bài thơ là hình ảnh mùa thu với một không gian thanh bình ở chốn làng quê của tác giả, trong một cái ao nhỏ và chiếc thuyền câu tĩnh lặng nhẹ tênh giữa một không khí mùa thu bắt đầu se lạnh:
    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
    Hai câu thơ trên không chỉ miêu tả không gian mùa thu mà còn miêu tả được cả không gian của mùa thu. Mùa thu được biểu hiện ở làn nước trong, đã trong mà lại còn “trong veo”. Ao thu như là một chiếc gương sáng, phản chiếu những nét bình dị của làng quê Viện Nam. Nay được tác giả đưa vào càng làm cho bài thơ thêm ý vị. Trong cái lạnh lẽo của mùa thu, một mình tác giả “du ngoạn” trên một chiếc thuyền câu vốn đã bé lại càng “bé tẻo teo”. Mùa thu thường là mùa của tâm trạng buồn, qua hai câu thơ này ta lại càng thấy Nguyễn Khuyến rất tài tình khi miêu tả khung cảnh mùa thu. Và cũng qua hai câu thơ cũng cho ta biết rằng với tính chất “lạnh lẽo nước trong veo” thì đây khộng phải là môi trương thuận lợi và thích hợp cho việc câu cá. Từ chiếc thuyền câu, tác giả lại tiếp tục đưa ta vào thế giới cảnh sắc trên ao thu qua hai câu thơ tiếp theo:
    Sóng biếc theo làn hơi gơn tí
    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
    Cái tĩnh như cô đọng hơn trong một không gian ngưng đọng. Sự vật dường như chuyển động khẽ hơn, chỉ có gió mà lại rất nhẹ, làm cho chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” chỉ hơi chòng chành đủ cho sóng chỉ hơi gơn tí. Khung cảnh mùa thu đượm buồn như im lìm lặng lẽ, chỉ có chiếc lá khẽ đưa mà thôi. Ngòi bút của tác giả tinh tế đến từng chi tiết nhỏ. Chỉ việc một từ “khẽ” đã miêu tả được miêu tả được cả âm thanh, đó là âm thanh tĩnh chứ không động, tả được cái trạng thái tĩnh lặng của mùa thu. Ngay cả từ “vèo” cũng vậy, không chỉ là bay qua của chiếc lá khi có làn gió mà nó còn thể hiện được tâm trạng của tác giả, một sự đau buồn trước cảnh đất nước rơi vào tay bọn thực dân Pháp. Màu “biếc” của sóng và màu “vàng” của lá đã vẽ nên một bức tranh làng quê thật thanh bình. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ Nguyễn Khuyễn. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài thơ “Cảm thu, tiễn thu”:
    Vèo trông lá rụng đầy sân
    Ngay cả Xuân Diệu cũng có lời nhận xét: “ Cái thú vị của bài thơ Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi Lời bình của Xuân Diệu thật tâm đắc.
    Từ việc miêu tả cảnh ao thu, nhà thơ mở rộng không gian lên chiều cao tạo nên không khí khoáng đạt và không gian như rộng hơn làm cho bức tranh thêm đường nét:
    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
    Cả trời thucũng được nhà thơ quan sát tỉ mỉ. Màu da trời “xanh ngắt” thật là đẹp, cùng với những đám mây trôi lơ lửng tạo cho ta thêm cảm giác muốn được hòa mình vào thiên nhiên. Ơû đây từ “lơ lửng” còn là tâm trạng của tác
     
  5. 1, Nhận xét về cốt truyện, nhân vật, lời kể trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao


    - Nhân vật: Xây dựng nhân vật điển hình

    - Lời kể:
    + Trong tác phẩm này, Nam Cao đặc biệt thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm (từ sau đêm gặp Thị Nở : "Sáng hôm sau...")
    + Lời văncó vẻ khách quan nhưng thực ra dưới ngòi bút của "cái mặt không chơi được", Nam Cao dường như không khỏi thương xót trước số phận của một người nông dân bị xã hội dồn ép đến con đường tha hóa


     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->