- 14 Tháng chín 2018
- 805
- 1,015
- 181
- 26
- Thừa Thiên Huế
- Đh sư phạm huế


ĐỒNG CHÍ
1. Tác giả
- Tên thật: Trần Đình Đác. Bút danh: Chính Hữu
- Là nhà thơ – chiến sĩ trong suốt thời gian chống Pháp – Mỹ
- Sáng tác: chủ yếu tập trung vào hình ảnh người lính trong hai cuộc kháng chiến. Đặc biệt là tình cảm đồng chí, đồng đội, sự gắn bó của tiền tuyến với hậu phương.
- Phong cách thơ: Bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng lại vừa sâu lắng, hàm súc.
2. Tác phẩm
Chính Hữu(1926 - 2005) là nhà thơ quân đội trưởng thành từ hai cuộc KC chống
Pháp và chống Mỹ)
3. Thời gian:
Bài thơ sáng tác mùa xuân 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bài thơ được đánh giá là tiêu biểu của thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946 – 1954, nó đã làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu
4. Thể loại: Thơ tự do
5. Nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính CM. Đồng thời còn làm hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Nghệ thuật: Bài thơ sử dụng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng và giàu sức biểu cảm.
6. Nhan đề
Từ sau CM tháng Tám 1945 “đồng chí” là cách xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể CM, đơn vị bộ đội. Vì vậy, tình đồng chí là bản chất cách mạng của tinh thần đồng đội và thể hiện sâu sắc tình đồng đội.
7. Bố cục: 3 phần
- Đoạn 1 (7 câu thơ đầu): Cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính
- Đoạn 2 (10 câu thơ tiếp theo): Những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của tình cảm ấy ở những người lính.
- Đoạn 3 (3 câu kết): Biểu tượng đẹp về tình đồng chí
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Đoạn đầu (7 câu đầu)
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”
Có sự chuyển đổi đại từ nhân xưng: đầu tiên là “anh” và “tôi” như một kiểu xưng danh khi mới gặp gỡ, dường như vẫn là hai thế giới riêng biệt. Đến “đôi người” là những “đôi người xa lạ” và rồi đã biến thành đôi tri kỉ - một tình bạn keo sơn gắn bó. Và cao hơn nữa là đồng chí. Như vậy, từ rời rạc, riêng lẻ, hai người đã dần nhập chung, thành một, khó tách rời.
Hai tiếng “Đồng chí !” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ “đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo một nét nhấn như một điểm tựa, điểm chốt, như đòn gánh, gánh hai đầu là những câu thơ đồ sộ. Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm, xúc động từ trong tim, lắng động trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng ấy.
2. Mười câu thơ tiếp theo (diễn tả những biểu hiện cụ thể về vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí đồng đội)
Giữa những người đồng chí, họ có sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng thầm kín :
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
Không chỉ chia sẻ cùng nhau những niềm vui, nỗi buồn hay các câu chuyện tâm tình nơi quê nhà mà họ còn chia sẻ những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính – “Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. Sống trong hoàn cảnh khó khăn, hiểm nguy lại luôn bị bệnh tật đe dọa, ngay chính bản thân người lính cũng biết rằng mình nên sống biết chia sẻ. Họ cùng thiếu, cùng rách. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta trong những năm kháng chiến chông Pháp. Những hình ảnh thơ được đưa ra rất chân thực nhưng cô đọng và gợi cảm nhằm diễn tả sâu sắc sự gắn bó đồng cam cộng khổ của các anh, giúp các anh vượt qua mọi thiếu thốn gian truân cực nhọc của đời lính.
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân tay không giày”
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân tay không giày”
Hình ảnh truyền cho nhau hơi ấm “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” là một cử chỉ nhỏ bé thôi nhưng chứa đựng nhiều tình cảm chân thành. Nó không phải bắt tay thông thường mà hai bàn tay tự tìm đến với nhau truyền cho nhau hơi ấm để vượt lên trên buốt giá, những bàn tay biết nói. Họ gắn bó với nhau trong đời thường để cùng gắn bó trong chiến đấu, đồng cam cộng khổ khiến tình đồng chí thêm sâu dày để đi tới chiều cao: cùng sống chết cho lí tưởng. Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian lao vất vả ấy, tình cảm đồng chí đã đi vào chiều sâu của sự sống và tâm hồn người chiến sỹ để trở thành những kỉ niệm không bao giờ quên. Câu thơ không chỉ nói lên tình cảm gắn bó sâu nặng của những người lính mà còn thể hiện sức mạnh của tình cảm ấy.
3. Ba câu cuối của bài thơ (là biểu tượng đẹp nhất, giàu chất thơ nhất về tình đồng chí, đồng đội cao đẹp)
Bài thơ kết thúc bằng những hình ảnh rất đặc sắc:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Hai câu thơ đối nhau thật chỉnh và gợi cảm giữa khung cảnh và toàn cảnh, khung cảnh lạnh lẽo, buốt giá. Toàn cảnh và tình cảm ấm nồng của người lính với đồng đội của anh -> Ca ngợi sức mạnh của tình đồng đội đã giúp người lính vượt lên tất cả sự khắc nghiệt của thời tiết. Tình đồng đội đã sưởi ấm lòng các anh giữa rừng hoang mùa đông và sương muối buốt giá.
Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo bất ngờ, là điểm nhấn của phần 3, điểm sáng của toàn bài thơ. Hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn. Hình ảnh này có thật trong cảm giác, được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích chờ giặc. Trong những đêm phục kích giặc giữa rừng khuya, người lính còn có thêm một người bạn nữa là trăng. Trăng treo trên nền trời, nhìn trăng treo lên trên đầu ngọn súng. Nhịp thơ ở đây là nhịp 2 -2 như gợi lên nhịp lắc của một cái gì chung chiêng lơ lửng trong bát ngát chứ không phải là cột chặt, vừa thực vừa gợi lên nhiều liên tưởng phong phú: Súng là hình ảnh của chiến tranh khói lửa, trăng là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, của cuộc sống thanh bình. Sự hòa hợp giữa súng và trăng toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính và tình đồng đội của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao cả cuộc chiến tranh yêu nước: Người lính cầm súng là để bảo vệ cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do cho tổ quốc. Súng trăng là gần và xa, là chiến sĩ và thi sĩ, là thực tại và mơ mộng. Câu thơ như nhãn tư của cả bài, vừa mang tính hiện thực, vừa mang sắc thái lãng mạn, là một biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí thân thiết.
4. Nghệ thuật
- Ngôn ngữ thơ cô đọng, hình ảnh chân thực, gợi tả, có sức khái quát cao, nhằm diễn tả cụ thể quá trình phát triển của một tình cảm.
- Giọng thơ sâu lắng, xúc động như một lời tâm tình tha thiết.
- Bài thơ đã đánh dấu 1 bước ngoặt mới cho khuynh hướng sáng tác thơ kháng chiến. Đặc biệt là cách xây dựng hình tượng người chiến sĩ cách mạng, anh bộ đội cụ Hồ trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Last edited: