[Địa Lý 7]Câu hỏi tổng hợp

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi nh0k_k0n_sonla, 16 Tháng năm 2011.

Lượt xem: 11,702

  1. Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    Câu 1: Nêu nguyên nhân bùng nổ dân số
    Câu 2 : C/m rằng Đô thị hoá trên thế giới phát triển nhanh. Đô thị fát triển chậm gây ra hậu quả jk???
    Câu 3 : Nêu đặc điểm địa hình, khí hậu CHâu Phi? Giải thích tại sao Châu Phi có đặc điểm đó?
    Câu 4: So sánh sự # nhau về vị trí, khí hậu các đặc điểm MT xích đạo ẩm, nhiệt đới, nhiệt đới jó mùa
     
  2. Câu 2:Chứng minh:
    -Dân số thành thị tăng nhanh:Từ 13,6% năm 90,tăng lên 48% năm 2005.
    -Dân cư tập trung ngày càng nhiều vào các thành phố lớn và cực lớn:Số lượng thành phố tăng nhanh,nhất là thành phố triệu dân(hiện nay Tgiới có 270 thành phố triệu dân;trên 50 thành phố>5 triệu dân).
    -Lối sống thành thị ngày càng phổ biến rộgn rãi:Lối sốg của cư dân Nông thôn nhích gần vs lối sốg của dân cư thành thị.
    (bài chứng minh này dựa vào đặc điểm của quá trình đo thị hoá)
    Nếu đo thị hoá phát triển chậm sẽ:Gây ảnh hưởng lớn đến quá trình Công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển cũng như việc phát triển kinh tế ở các nước Phát triển.
    -Vs các nước đang phát triển:
    Làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế-cơ cấu dân cư,gây thiếu lao động ở vùng thành phố phát triển cũng như sự phân bố dân cư và lao động và nhận thức của người dân tới các vấn đề sinh-tử-hôn nhân.
    -Vs các nước phát triển:
    Gây tình trạng thiếu lao động phục vụ cho việc phát triển KTế
    =>làm giảm tốc độ gia tăng dân số.
    Về đặc điểm:bạn tự làm nhá,mình nghĩ nó có trong sgk.
    Giải thích:
    -Do vị trí địa lý của Châu phi:
    Châu lục có dạng hình khối,ít bị chia cắt
    Đường xích đạo đi ngang qua khu vực,lại nằm trogn khu vực nội chí tuyến,có hai đường chí tuyến cắt ngang qua lãnh thổ.
    =>khí hậu lục địa khô-nóng

    Có thể còn do địa hình,dòng biển..nhưg mình khôg có atlat địa lý thế giới nên chịu thôi.Chúc bạn làm tốt


    @:bạn chú ý viết bài có dâu nhé
     
  3. Câu 1 : nguyên nhân bùng nổ dân số
    Sự "chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh tử": trong giai đoạnđầu phát triển lịch sử phát triển của nhân loại, tỷ lệ sinh tương đối cao do nhu cầu duy trì nòi giống và nhu cầu lực lượng sản xuất phục vụ phát triển xã hội, trong khi đó tỉ lệ tử cũng tương đối cao do điều kiện sống hạn chế, thiên tai, dịch bệnh nhiều… Do đó, trong giai đoạn này tỷ lệ sinh và tử tương đối cân bằng. Ngược lại, trong giai đoạn “bùng nổ dân số” tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục được duy trì trong khi đó tỷ lệ tử có xu hướng giảm do điều kiện sống được nâng cao, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các nhu cầu cơ bản của con người được chú trọng đặc biệt là trong công tác vệ sinh và y tế dẫn tới tỉ lệ tử giảm xuống. Thêm vào đó, tuổi thọ của con người được nâng cao dần, năm 1975 tuổi trung bình của dân cư thế giới là 21,9 tuổi, tới năm 2000 là 26,6 tuổi. Quá trình toàn cầu hóa đã mang lại cho các quốc gia kém phát triển khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật. Những căn bệnh trước kia được coi là nan y đã tìm ra phương pháp chữa trị, người dân đã biết sử dụng rộng rãi các loại thuốc văc-xin, thuốc kháng sinh.. Mặt khác khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh, mang lại nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn… Chính những yếu tố trên đã làm nảy sinh tình trạng mất cân bằng giữa sinh và tử, dẫn đến tình trạng tăng dân số một cách chóng mặt.

    Nhu cầu về "lực lượng sản xuất": ở các quốc gia kém phát triển, những nơi mà khoa học kỹ thuật chưa mấy phát triển và việc áp dụng khoa học và sản xuất còn rất hạn chế, lực lượng sản xuất vẫn chỉ mới ở trình độ cơ khí thủ công, sử dụng lao động cơ bắp, lao động chân tay là chủ yếu, cộng với những nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên để sản xuât, trong xã hội như vậy thì dân số càng tăng, sức lao động càng nhiều, càng đẩy mạnh sức sản xuất xã hội. Do đó mà dân số thế giới của chúng ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia .

    Quan niệm lạc hậu: ở một số nước đặc biệt là các nước phương đông vẫn còn một số quan niệm lạc hậu: sinh nhiều con, tư tưởng trọng nam khinh nữ, muôn sinh con trai… Điều này có thể thấy rất rõ ở Việt Nam, tại các vùng dân tộc thiểu số hoặc các vùng nông thôn thường có tư tưởng sinh càng nhiều càng tốt và nhất thiết phải có con trai, do đó mà ở các vùng này gia đình nào cũng có 3 con trở lên. Ở các nước này vai trò và địa vị của người phụ nữ vẫn còn rất thấp, phụ nữ nhiều nơi vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn. Ngược lại có thể thấy ở các quốc gia phát triển phương Tây, nơi mà người phụ nữ khá bình đẳng với nam giới và tham gia ngày càng nhiều vào lực lượng lao động của xã hội thì tỉ lệ sinh rất thấp, chính quyền nhiều nước còn phải đề ra các chính sách khuyến khích tăng tỉ lệ sinh.

    Ở một số nước nghèo và các nước đang phát triển thì vấn đề tiếp cận, và nhận thức về dân số còn rất hạn chế, đặc biệt là châu phi và một số nước ở châu Á, kinh tế nghèo đói, lương thực không đủ ăn chua nói đến vấn đề tiếp cận đến vấn đề giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình. Họ thiếu những kiến thức và phương tiện cơ bản về phòng tránh thai. Thậm chí nhiều khi chính các nhà lãnh đạo cũng có nhận thức chưa đầy đử về vấn đề này, ví dụ cách đây 8 năm thị trưởng thành phố Mannila đã ra lệnh cấm các trung tâm y tế cung cấp các biện pháp ngừa thai hiện đại như bao cao su, thuốc tránh thai và triệt sản nhằm mục đích bảo vệ các giá trị cuộc sống??
     
  4. Tóm gọn có 3 ý lớn :
    + Ý thức con người
    + Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
    +Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

    ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác nữa
     
  5. Câu 3 : Đặc điểm địa hình và khí hậu :
    Châu Phi là một cao nguyên khổng lồ, cao trung bình khoảng 700m, độ cao tương đối đồng đều, trừ 1 vài miền ven biển phía Tây và miền đất thấp Bắc Phi, phần lớn diện tích Châu Phi cao hon 200m. Có thề chia địa hình Châu Phi thành 2 khu vực lớn với ranh giới là 1 đường thẳng kéo dài theo hướng TN - ĐB từ Benghela đến Macxauat.

    a. Miền địa hình Tây Bắc: tương đối thấp so với miền ĐN, phần lớn có độ cao hon 200m, từ Bắc tới Nam có các miền địa hình sau:

    Miền núi Atlat: là một hệ thống núi trẻ nằm ở phía TB Bắc Phi gồm nhiều dãy chạy song song theo hướng vĩ tuyến ( Atlat Ten, Atlat Xahara, Atlat cao, Atlat trung ) kéo dài khoảng 2.500 km qua các nước Tunidi, Angiêri, Maroc, cao trung bình 2.000 m, đỉnh cao nhất là Tupcan 4163m, giữa các dãy núi là những cao nguyên ít bị chia cắt.

    Miền Xahara: kéo dài từ bờ Ðại Tây Dương đến Hồng Hải là một hoang mạc mênh mơng rộng lớn nhất thế giới và là một bộ phận của dải hoang mạc Á Phi. Về mặt địa chất Xahara là một miền nền Tiền cam và Cổ sinh, còn về mặt địa hình là miền mặt bàn nên đại bộ phậân có độ cao khoảng 200m, trừ miền trung Xahara có những cao nguyên cổ kéo dài từ Tây sang Đông với những khối núi khá cao trên đó có nhiều đỉnh nguồn gốc núi lửa, những khối núi quan trọng là Ahaga ( đỉnh Tahat 3003m ) Tibexti ( đỉnh Bacdai 3415m ). Xung quanh những khối núi là những hoang mạc đá và hoang mạc cát mênh mông.

    Phía Nam Xahara: là một miền tương đối thấp. bao gồm bồn địa Côngô, thung lũng sông Niger. thung lũng hồ Sát.

    Ngoài những miền điạ hình trên, ven biển phía Bắc và phía Tây còn có một số đồng bằng nhỏ hẹp, quan trọng hơn cả là dãy đồng bằng ven vốnh Ghinê và đồng bằng thuộc Libi, Ai Cập nơi sản xuất lúa gạo, một số cây công nghiệp và là nơi tập trung đông dân cư vào loại nhất Châu Phi.

    b. Miền địa hình Ðông Nam: là 1 miền đất cao bao gồm các cao nguyên phía Ðông, miền núi Nam Phi và một số cao nguyên, bồn địa phía Tây từ bán đảo Xômali đến hạ lưu song song Dămbedơ, cao trung bình khoảng 2000m, có đặc điểm là sườn đông tương đối dốc sườn phía tây thoải dần vào nội địa gồm cao nguyên Abixini, Taganiica, Nyasa. Rộng hơn cả là cao nguyên Tanganiica trên đó có đỉnh núi lửa đã tắt Kilimanjïaro 5895m cao nhất Châu Phi quanh năm tuyết phủ. Giữa cao nguyên Abixini và cao nguyên Xômali là dãi đất thấp và hồ đoạn tầng kéo dài từ Hồng Hải xuống đến hồ Nyasa, ngày nay vẫn còn xảy ra động đất và núi lửa.

    Phía nam của hệ thống cao nguyên là dãy Drakenxbec là 1 hệ thống núi tương đối cao ( đỉnh cao nhất 3473m ) chạy song song với duyên hải đông nam Phi dốc ở phía đông, thoải ở phía tây.

    Phía tây của dãy Drakenxbec là những cao nguyên xen kẽ với bồn địa: bồn địa Kalahari nằm lọt giữa Nam Phi, giữa bồn địa Công gô và bồn địa Kalahari là cao nguyên Luanđa và Katanga rộng lớn cao hon 1000m.




    Khí hậu

    Vị trí:

    Nhận 1 lượng bức xạ lớn 100 - 200 k calo /cm2/năm.

    Có những đới khí hậu đối xứng nhau qua xích đạo với các loại khí hậu trái ngược nhau giữa Bắc Phi và Nam Phi.

    Kích thước rộng lớn và dạng khối của lục địa nên khí hậu các vùng nội địa nhất là ở Bắc Phi mang tính lục địa gay gắt, hình thành các trung tâm khí áp theo mùa, hoàn lưu gió mùa.

    b. Địa hình: địa hình Châu Phí giống như một cao nguyên hình khối rộng lớn, bờ biển ít bị chia cắt không có những biển và vịnh ăn sâu vào nội địa, ven biển lại có một số núi cao, đã ngăn chặn gió mậu dịch từ Ấn Độ Dương thổi tới và gió mùa TN từ vịnh Ghinê thổi vào nên mặc dù quanh Châu phi đều là đại dương và biển lớn song ảnh hưởng của biển đối với lục địa Châu phi rất ít.

    c. Các dòng biển: cũng có ảnh hưởng đến khí hậu nói chung và đặc biệt vùng duyên hải nói riêng, do ảnh hưởng dòng lạnh Benghêla, Canari các vùng ven bờ Tây Nam, Tây Bắc Phi có khí hậu khô hạn và cảnh quan hoang mạc phát triển tận bờ biển.

    d. Hoàn lưu khí quyển: Sự phối hợp của các nguyên tố hình thành khí hậu nói trên sẽ quyết định sự phân bố khí áp và hoàn lưu khí quyển. Nhân tố hoàn lưu sẽ quyết định chế độ thời tiết và đặc điểm khí hậu trên toàn lục địa cũng như của từng vùng riêng biệt.

    Về mùa đông ( tháng 1 )

    Ở bắc phi hình thành một áp cao (phối hợp với (+) Axo) bao trùm toàn bộ phần Bắc lục địa.

    Ở Nam Phi hình thanh một áp thấp phối hợp với áp thấp xích đạo phủ toàn bộ Trung và Nam phi, trên các đại dương (+) AXo, các (+) N Đại tây dương và (+) N Ấn Độ Dương vẫn tồn tại

    Một dãi hẹp ở phía bắc lục địa ảnh hưởng của gío Tây & khí hậu xoáy, thời tiết thường có gió lạnh và mưa nhiều.

    Ở Nam Phi khu vực xích đạo từ 17 đến 18o N có gió mùa hướng Bắc hoặc Đông Bắc, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều.

    Phần còn lại của Nam Phi và phần Madagaxcar nằm trong đới gió mậu dịch duyên hải.

    Dọc theo bờ Ðông thời tiết nóng và có mưa nhiều, càng vào sâu nội địa lượng mua giảm dần.

    Bờ phía Tây do ảnh hưởng của dòng biển lạnh thời tiết mát, ổn định, không mưa.

    Về mùa hạ ( tháng 7 )

    Khí áp:

    Bắc Phi hình thành 1 áp thấp phối hợp với áp thấp xích đạo, áp thấp Nam Á bao phủ phần lớn Bắc Phi và Trung Phi.

    Ở Nam Phi hình thành 1 trung tâm áp cao và cùng với (+) N Ðại Tây Dương và N Ấn Độ Dương thành một áp cao liên tục.

    Gió:

    Ở Bắc Phi:

    Ở phần Bắc lục địa khoảng 17 - 18oB trở lên có gió mậu dịch ĐB, thời tiết ổn định, rất khô và nóng.

    Phía Nam: gió mùa TN ( CTN -> xích đạo ) thời tiết nóng ẩm ướt và có mưa nhiều. Đặc biệt vùng duyên hải vốnh Ghinê gió từ biển thổi vào gặp các sườn núi chắn gió nên mưa rất lớn, càng đi sâu vào nội địa và lên các vĩ độ cao lượng mua giảm đi rõ rệt.

    Riêng sưòn tây sơn nguyên Ethiôpi có mưa nhiều do ảnh hưởng sườn núi cao chắn gió.

    Miền đông bán đảo Xômali chịu ảnh hưởng của gió mùa TN nhưng song song với hướng núi nên rất ít mưa.

    Ở Nam Phi chịu ảnh hưởng của gió mậu dịch Đông Nam.

    Vùng duyên hải ở phía đông mưa nhiều. Càng vào sâu trong nội địa muă càng ít, thời tiết khô và trong sáng.

    Miền duyên hải phía Tây ( cho tới gần xích đạo ) chịu ảnh hưởng của gió mậu dịch lục địa và dòng biển lạnh, thời tiết ổn định, hầu như không mưa.

    Một bộ phận nhỏ ở rìa phía Nam chịu ảnh hưởng của gió Tây thời tiết ẩm, mưa nhiều.

    e. Sự phân bố mưa: là kết quả của hoàn lưu khí quyển và địa hình lượng mua trên lục địa Phi phân bố không đều.

    Các vùng thuộc đới xích đạo và cận xích đạo có mưa nhiều nhất, lượng mua thường giảm từ vùng xích đạo về 2 Chí Tuyởn. Vùng xích đạo và các sườn đón gió như sườn tây sơn nguyên Ethiôpi, sườn đông Madagaxca, sườn nam sơn nguyên Ghinê thượng có lượng mua trung bình từ 2000- 3000 mm

    Các vùng gió mùa có lượng mua trung bình 1500-2000mm.

    Các vùng thống trị gió mậu dịch quanh năm lượng mua trung bình rất thấp thường thếp hon hoởc bằng 250mm.

    ii. Các khu vực khí hậu

    Căn cứ vào nhiệt độ và lượng mua, Châu Phi có 7 miền khí hậu đối xứng qua xích đạo.

    a.Khí hậu xích đạo: 5-6o B đến 5-6o N gồm vùng duyên Hải vốnh Ghinê, miền Camơrun, 1 phần lưu vực sông Côngô đến vùng hồ lớn Đông Phi.Đặc điểm khí hậu miền nầy là nóng và rất ẩm, nhiệt độ trung bình năm 25-28oC, biên độ nhiệt 4-5 oC, lượng mua hon 2000 mm/năm, nhiều nhất vào các tháng 3, 4 và 9, 10, nên cảnh quan rừng mưa nhiệt đới phát triển.

    b. Hai miền khí hậu gió mùa xích đạo ( cận xích đạo).

    - Khu vực gió mùa xích đạo ½ Cấu Bắc: 5o B - 17o B, phía đông xuống thấp hơn, đến phần nam bán đảo Xômali. Khu vực giĩ mùa có dởc diởm là mua dã giãm đến, mưa chủ yếu trong mùa hạ, nhiều nhất vào các tháng 6,7,8 và khơ khan vào các tháng 12, 1, 2, độ ẩm giảm nhiệt độ tăng lên và thời kỳ mùa đông khô ráo kéo dài.

    Tùy theo vị trí, chia thành 3 miền nhỏ:

    Miền Ðại Tây Dương: mưa nhiều.

    Miền Nội địa: khô và nóng

    Miền Ấn Độ dương: có mưa nhưng ít hơn.

    Khu vực gió mùa xích đạo ở 1/2 Cấu Nam: bao gồm phía đông của lục địa, cả 1/2 phía bắc Môdămbích, Rodedi, mưa chủ yếu do gió mậu dịch mang hơi ẩm từ đại dương đến, còn gió mùa TB khô khan. Mưa nhiều vào tháng 12, 1, 2, khô khan vào các tháng 6, 7, 8... nhiệt độ thấp hơn so với ½ Cấu Bắc, miền ven biển Ấn Độ Dương mưa nhều, miền nội địa lượng mưa giảm.

    Thí dụ: Ðaetxalam (6o47’N, 39o18’T), nhiệt độ trung bình năm 25o5C. Lượng mua hơn1100mm.
    c. Hai miền khí hậu nhiệt đới khô.

    http://www.urviet.com/24h.com.vn/upload/news/2007-09-23/quyennlLone_Palm,_Sahara_Desert.jpg
    Quang cảnh hoang mạc Sahara- chiếm 1/3 diện tích Châu phi

    Ở ½ Cấu Bắc, miền khí hậu hoang mạc chiếm 1 diện tích rộng lớn từ bờ biển Ðại Tây Dương đến Hồng Hải bao gồm tòan bộ hoang mạc Xahara. Khí hậu miền này rất nóng & khô, biên dở ngày đêm và biên dở năm rất lớn. Lượng mua trung bình hàng năm duởi 250mm, có nơi mấy năm liền không có mưa. Miền này có những luồng gió cuốn địa phương rất nóng và kho âcó tên là Ximun hay Hac-ma- tan, gây nên những trận bảo cát khủng khiếp làm cho to lên tới 50oc, độ ẩm tương đối xuống tới 5%. Về đêm không khí rất trong to xuống 0oc hay thấp hơn.

    Ở ½ Cấu Nam, miền khí hậu hoang mạc gồm có hoang mạc Na-mip & Kalahari. Khí hậu ở đây cũng giống hoang mạc Xahara nhưng dịu hơn.

    d. Hai miền khí hậu cận Chí Tuyởn ( khí hậu Ðịa Trung Hải ) gồm miền núi Atlat, miền duyên hải Ðởa Trung Hải ở ½ Cấu Bắc. Ở ½ Cấu Nam gồm miền cực Nam Phi. Chịu ảnh hưởng của biển rỏ rệt, ở mỗi đới về mùa hạ thống trị khối khí nhiệt đới lục địa, thời tiết ổn định, nóng và không mưa, về mùa đông thống trị kHải khí ôn đới và gió tây, tHải tiởt ấm, ẩm, mưa khá nhiều trung bình lượng mua từ 500mm-1000mm/năm.


    Còn câu giải thích tại sao lại có thì chắc bên bọn anh khó giải thích với em được hem nên em hỏi cô
     
  6. Câu 4 thì em dựa vào kiến thức trong sách lập bảng so sánh là được
     
  7. manhhungpham

    manhhungpham Guest

    Câu 1 : nguyên nhân bùng nổ dân số
    Sự "chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh tử": trong giai đoạnđầu phát triển lịch sử phát triển của nhân loại, tỷ lệ sinh tương đối cao do nhu cầu duy trì nòi giống và nhu cầu lực lượng sản xuất phục vụ phát triển xã hội, trong khi đó tỉ lệ tử cũng tương đối cao do điều kiện sống hạn chế, thiên tai, dịch bệnh nhiều… Do đó, trong giai đoạn này tỷ lệ sinh và tử tương đối cân bằng. Ngược lại, trong giai đoạn “bùng nổ dân số” tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục được duy trì trong khi đó tỷ lệ tử có xu hướng giảm do điều kiện sống được nâng cao, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các nhu cầu cơ bản của con người được chú trọng đặc biệt là trong công tác vệ sinh và y tế dẫn tới tỉ lệ tử giảm xuống. Thêm vào đó, tuổi thọ của con người được nâng cao dần, năm 1975 tuổi trung bình của dân cư thế giới là 21,9 tuổi, tới năm 2000 là 26,6 tuổi. Quá trình toàn cầu hóa đã mang lại cho các quốc gia kém phát triển khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật. Những căn bệnh trước kia được coi là nan y đã tìm ra phương pháp chữa trị, người dân đã biết sử dụng rộng rãi các loại thuốc văc-xin, thuốc kháng sinh.. Mặt khác khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh, mang lại nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn… Chính những yếu tố trên đã làm nảy sinh tình trạng mất cân bằng giữa sinh và tử, dẫn đến tình trạng tăng dân số một cách chóng mặt.

    Nhu cầu về "lực lượng sản xuất": ở các quốc gia kém phát triển, những nơi mà khoa học kỹ thuật chưa mấy phát triển và việc áp dụng khoa học và sản xuất còn rất hạn chế, lực lượng sản xuất vẫn chỉ mới ở trình độ cơ khí thủ công, sử dụng lao động cơ bắp, lao động chân tay là chủ yếu, cộng với những nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên để sản xuât, trong xã hội như vậy thì dân số càng tăng, sức lao động càng nhiều, càng đẩy mạnh sức sản xuất xã hội. Do đó mà dân số thế giới của chúng ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia .

    Quan niệm lạc hậu: ở một số nước đặc biệt là các nước phương đông vẫn còn một số quan niệm lạc hậu: sinh nhiều con, tư tưởng trọng nam khinh nữ, muôn sinh con trai… Điều này có thể thấy rất rõ ở Việt Nam, tại các vùng dân tộc thiểu số hoặc các vùng nông thôn thường có tư tưởng sinh càng nhiều càng tốt và nhất thiết phải có con trai, do đó mà ở các vùng này gia đình nào cũng có 3 con trở lên. Ở các nước này vai trò và địa vị của người phụ nữ vẫn còn rất thấp, phụ nữ nhiều nơi vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn. Ngược lại có thể thấy ở các quốc gia phát triển phương Tây, nơi mà người phụ nữ khá bình đẳng với nam giới và tham gia ngày càng nhiều vào lực lượng lao động của xã hội thì tỉ lệ sinh rất thấp, chính quyền nhiều nước còn phải đề ra các chính sách khuyến khích tăng tỉ lệ sinh.

    Ở một số nước nghèo và các nước đang phát triển thì vấn đề tiếp cận, và nhận thức về dân số còn rất hạn chế, đặc biệt là châu phi và một số nước ở châu Á, kinh tế nghèo đói, lương thực không đủ ăn chua nói đến vấn đề tiếp cận đến vấn đề giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình. Họ thiếu những kiến thức và phương tiện cơ bản về phòng tránh thai. Thậm chí nhiều khi chính các nhà lãnh đạo cũng có nhận thức chưa đầy đử về vấn đề này, ví dụ cách đây 8 năm thị trưởng thành phố Mannila đã ra lệnh cấm các trung tâm y tế cung cấp các biện pháp ngừa thai hiện đại như bao cao su, thuốc tránh thai và triệt sản nhằm mục đích bảo vệ các giá trị cuộc sống??
    __________________
     
  8. Đới nóng có mấy kiểu khí hậu? nêu đặc điểm từng kiểu.
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->