Chào mừng bạn đến với HMForum. Vui lòng đăng ký để sử dụng nhiều chức năng hơn!

Tập thơ Tigon (Hai sắc hoa Tigon - T.T.Kh)

Thảo luận trong 'CLB Thơ, Văn' bắt đầu bởi vlong11, 5 Tháng sáu 2007.

CHIA SẺ TRANG NÀY

Lượt xem: 48,520

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. vlong11

    vlong11 Guest

    Đặt chỗ PEN 2017 - Cập nhật theo mọi thay đổi của kỳ thi THPT QG

    Đăng ký gia nhập BQT DIỄN ĐÀN


    Giai Thoại T.T.KH

    [​IMG]

    Bí mật tiểu sử T.T.KH tác giả của bài Hai sắc hoa tigôn và các bài thơ khác

    Vào khoảng tháng 6/1937, báo "tiểu thuyết thứ baỷ" xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa tigôn của ký giả Thanh Châu, theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một nàng thiếu nữ

    Sau đó không lâu tòa soạn gặp được của một người thiếu phụ trạc tuổi hai mươi, dáng bé nhỏ, thùy mỵ, nét
    mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gởi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ "hai sắc hoa tigôn" duới ký tên T.T.KH...Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh người thiếu phụ kia. Đó là lần đầu cũng là lần cuối người thiếu phụ này xuất hiện

    Câu chuyện "hoa tigôn" đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.KH) đã từng yêu một người, và từng trao lời gắn bó duới giàn hoa Tigôn. Rồi chàng ra đi, nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải tỏa niềm tâm sự.

    Trong "hai sắc hoa tigôn" tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác- một ông chồng luống tuổi- để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

    Sau bài thơ nầy, tòa soạn "tiểu thuyết thứ baỷ" lại nhận được từ đường bưu cục ba tác phẩm khác cũng mang tên T.T.KH..Đó là các baì:
    Bài thơ thứ nhất
    Bài thơ đan áo (riêng đăng ở Phụ thời đàm)
    Bài thơ cuối cùng.

    Từ đó về sau người ta không còn gặp thơ của T.T.KH nữa, và không hiểu tại sao bài "Hai sắc hoa tigôn" lại xuất hiện trước "Bài thơ thứ nhất"...

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  2. vlong11

    vlong11 Guest


    Bốn bài thơ nổi tiếng của T.T.KH


    Hai sắc hoa ti gôn

    Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
    Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
    Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
    Tôi chờ đến với yêu đương.

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
    Thở dài trong lúc thấy tôi vui
    Bảo rằng: “Hoa dáng như tim vỡ
    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi”.

    Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì
    Cánh hoa tan tác của sinh ly
    Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng
    Là chút lòng trong chẳng biến suy”.

    Đâu biết lần đi một lỡ làng
    Dưới trời gian khổ chết yêu đương
    Người xa xăm quá, tôi buồn lắm
    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.

    Từ đấy thu rồi thu lại thu
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
    Người ấy cho nên vẫn hững hờ.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
    Mà từng thu chết, từng thu chết
    Vẫn giấu trong tim bóng một người.

    Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
    Và đỏ như màu máu thắm phai.

    Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
    Một mùa thu trước rất xa xôi
    Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
    Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi.

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
    Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
    Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
    Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
    Trời ơi! Người ấy có buồn không
    Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?


    Bài thơ thứ nhất

    Thuở trước hồn tôi phơi phới quá
    Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
    Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
    Êm ái trao tôi một vết thương.

    Tai ác ngờ đâu gió lại qua
    Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
    Thổi tan tâm điệu du dương trước
    Và tiễn người đi bến cát xa.

    Ở lại vườn Thanh có một mình
    Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
    Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

    Và một ngày kia tôi phải yêu
    Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
    Những cô áo đỏ sang nhà khác
    Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.

    Từ đấy không mong không dám hẹn
    Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
    Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
    Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em.

    Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
    Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.

    Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
    Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
    Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
    Thì ai trông ngóng chả nên chờ.

    Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
    Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
    “Cố quên đi nhé câm mà nín
    Đừng thở than bằng những giọng thơ”.

    Tôi run sợ viết lặng im nghe
    Tiếng lá thu khô xiết mặt hè
    Như tiếng chân người len lén đến
    Song đời nào dám gặp ai về.

    Tuy thế tôi tin vẫn có người
    Thiết tha theo đuổi nữa than ôi
    Biết đâu tôi một tâm hồn héo
    Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.


    Bài thơ đan áo (Đan áo cho chồng)

    Chị ơi, nếu chị đã yêu
    Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương
    Đã xa hẳn quãng đời hương
    Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng
    Hay chăng chị mỗi chiều đông
    Đáng thương những kẻ có chồng như em
    Vẫn còn giá lạnh trong tim
    Đan đi đan lại áo len cho chồng
    Con chim ai nhốt trong lồng
    Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ
    Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ
    Hay đâu gió đã sang bờ ly tan
    Tháng ngày miễn cưỡng em đan
    Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng
    Như con chim nhốt trong lồng
    Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao
    Ngoài trời hoa nắng xôn xao
    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
    Ai đem lễ giáo giam em
    Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời
    Lòng em khổ lắm chị ơi
    Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
    Quang cảnh lạ, tháng năm dài
    Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.


    Bài thơ cuối cùng

    Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?
    Một mùa thu cũ một lòng đau
    Ba năm ví biết anh còn nhớ
    Em đã câm lời có nói đâu.

    Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly
    Càng khơi càng thấy lụy từng khi
    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì?

    Chỉ có ba người đã đọc riêng
    Bài thơ đan áo của chồng em
    Bài thơ đan áo nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem.

    Là giết đời nhau đấy biết không?
    Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh em viết dòng dư lệ
    Là chút dư hương điệu cuối cùng.

    Từ đây anh hãy bán thơ anh
    Còn để yên tôi với một mình
    Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét
    Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

    Ngang trái đời hoa đã úa rồi
    Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi
    Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp
    Đi nhớ người không muốn nhớ lời.

    Tôi oán hờn anh mỗi phút giây
    Tôi run sợ viết bởi rồi đây
    Nếu không yên được thì tôi chết
    Đêm hỡi, làm sao tối thế này?

    Năm lại năm qua cứ muốn yên
    Mà phương ngoài gió chẳng làm quên
    Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
    Lại chính là anh, anh của em.

    Tôi biết làm sao được hỡi trời
    Giận anh không nỡ nhớ không thôi
    Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt
    Sợ quá đi anh, có một người …

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  3. vlong11

    vlong11 Guest


    Từ lúc T.T.KH góp mặt vào làng thơ ca tiền chiến, người ta đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T.KH ..không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng.Có người cho nàng là Trần Thị Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà Nội.Có kẻ cho cô là người yêu của thi sĩ Thâm Tâm, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hóa hay thi vị hóa một mối tình tưởng tượng. Rồi ký giả Thanh Châu, các thi sĩ Nguyễn Bính và J.Leiba cũng nhận T.T.KH là người yêu của mình! Kể từ đó dù cho các nhà văn tốn không biết bao nhiêu giấy mực, nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng.

    Về hoa Tigôn (Antigone in French) : loaị hoa dây leo, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh. Hoa Tigôn rất đẹp, có hai loaị: loaị cho hoa ra mầu trắng, và loaị cho hoa ra mầu đỏ hay hồng tươi, có thể mọc ở toàn cõi Việt Nam. Lá Tigôn Mầu xanh, hình tim như lá trầu, nhưng nhỏ cỡ ba ngón tay. Hoa Tigôn nhỏ bằng đầu chiếc đũa ăn cơm, mọc thành chùm. Hoa Tigôn có năm cánh hình trái tim, hai cánh nhỏ ở trong và ba cánh lớn hơn chụm vào nhau bao ở ngoaì. Khi gặp gió hay mưa, hoa rụng từ cuống hoa, rơi xuống dất nhưng vẫn còn nguyên cả bông hoa chứ cánh hoa không tách rời ra tơi tả như T.T.KH mô tả trong thơ của bà. Ở Miền Nam Việt Nam gọi là hoa nho vì lá giống lá nho. Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ daị, và hồng là màu mà nàng phải trải qua những sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ.....

    ***

    Như đã thấy "Bài Thơ Cuối Cùng" xuất hiện vào giữa năm 1938, trong đó T.T.Kh. giận trách người tình cũ đã đem thơ của nàng lên mặt báo làm lộ chuyện thầm kín cho khắp người đời thóc mách xem thì không còn thấy xuất hiện bài thơ nào khác của nàng nữa.

    Mãi tới 2 năm sau, vào giữa 1940, mới thấy xuất hiện bài thơ gửi T.T.Kh. với bút hiệu Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1917-1948), có lẽ là ông ở xa vừa mới về. Ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh., gọi nàng bằng tên "Khánh" và nhắc tên nầy tổng cộng 4 lần. Bài thơ nầy là để trả lời cho 4 bài thơ của nàng, nhưng với giọng điệu cay đắng, mỉa mai!

    Ngoài ra Thâm Tâm còn 2 bài thơ khác viết cho T.T.Kh. như sau: Màu Máu Tigôn, Dang Dở

    Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho T.T.Kh. xuất hiện trong năm 1940. Bài thơ "Dang Dở" trên đã chấm dứt mối tình bí mật đó. Nhưng...

    Sau đó, người ta lại được biết chút ít về T.T.Kh. qua bài thơ "Dòng Dư Lệ" của Nguyễn Bính. Lúc bấy giờ ai chẳng nghĩ T.T.Kh. chính là người tình vườn Thanh của Nguyễn Bính. Nhưng đó chỉ là sự ngộ nhận của một kẻ si thơ T.T.Kh. mà thôi.

    Thi sĩ Nguyễn Bính lúc còn trẻ có máu "giang hồ", vào Nam ra Bắc mấy lần. Một lần dong ruổi, gặp đêm mưa lớn, ông ghé vào trọ tại một nhà ở vùng Thanh Hóa, được người lão bộc tiếp đãi. Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ ngồi quay tơ - mà ông gọi là "Người Vườn Thanh" - đã khiến ông run động, thao thức bâng quơ; nhưng nghĩ mình còn nặng kiếp phong trần nên chưa dám tính đến chuyện tình duyên.

    Rồi mấy năm sau, ông lại có dịp qua vùng Thanh Hóa, bèn tìm đến chốn cũ, thì được người lão bộc năm xưa kể cho nghe "một thiên hận tình." Thời gian lại qua đi, ông gần như đã quên câu chuyện đó, thì đọc được những bài thơ của T.T.Kh. xuất hiện trên báo. Ông thấy những bài thơ đó giống hệt thiên hận tình của "Người Vườn Thanh" năm nào, ông nghĩ rằng "Người Vườn Thanh" chính là T.T.Kh., và viết bài thơ "Dòng Dư Lệ" để tặng nàng.

    Mặc dầu xôn xao bàn tán và tranh dành lấy mình và lấy thơ của mình, T.T.Kh. đã biến mất. Cho đến mùa xuân năm 1938 ngày 30 tháng 10 thì trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy lại xuất hiện T.T.Kh. với Bài Thơ Cuối Cùng. Đó là bốn bài thơ mà T.T.Kh. đã để lại trong lòng tất cả người yêu thơ của bà. Cho đến thập kỷ 80, vẫn có người noí rằng bà còn sống và đã gặp bà, nhưng dù sao đó cũng chỉ là một lời nói mà thôi.

    Vậy T.T.Kh. nàng là ai??? Và vì ai mà làm thơ??? Cái nghi vấn đã kéo dài hơn 50 năm cho đến năm 1994. Bà Đ.T.L (tạm dấu tên) đã tiết lộ cái mà thiên hạ cho là "thiên cơ bất khả tiết lộ" cho nhà văn Thế Nhật, và đó cũng là cái chìa khóa để mở cái cửa nghi vấn cho làng văn học Việt Nam.

    T.T.Kh là gì?
    T chữ thứ nhất là TRẦN
    T chữ thứ hai là THANH
    Kh chữ thứ ba là KHÓC

    KHÓC ở đây là khóc cho mối tình có duyên không nợ, khóc cho cái éo le cuộc đời. Tạo hóa trớ trêu khiến cho họ gặp nhau rồi đem cho họ bao nhiêu là nước mắc ngậm ngùi khi xa nhau.

    THANH là Thanh Châu, là tác giả của truyện ngắn"Hoa Tigôn" đã nhắc ở trên. Ông hiện cư ngụ tại Hà Nội, là người đã tạo cho T.T.Kh. những cảm xúc để viết lên những giận hờn, thương xót, và khóc thương. Người đã mang nặng chữ chung thủy với chữ tình, đã gắn bó với thơ T.T.Kh., với cái hồn của nàng suốt hơn 50 năm trời đăng đẵng. Một người mà hôm nay thân đã tàn sức đã tận, nhưng tâm hồn vẫn lâng lâng cái trẻ trung, cái nhớ thương ray rứt về cố nhân. Một người có tâm hồn cao thương và sắc đá, trước những thử thách trớ trêu của tạo hóa, nhưng lại mềm mại, đắng cay trong từng ngòi bút ông buông lời

    TRẦN là Trần Thị Chung, (tên thường gọi là Trần Thị Vân Chung) sinh ngày 25-8-1919 tại thị xã Thanh Hóa, Hà Nộị sinh trưởng trong một gia đình Quan lại thời bấy giờ. Vân Chung có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934, qua mối mai, gia đình nàng đã hứa gả nàng cho một luật sư (Lê Ngọc Chấn, ông đã chết sau khi mãn tù cải tạo học tập). Hiện nay bà cùng các con sinh sống ở miền Nam nước Pháp trong một thị xã nhỏ và bà vẫn tiếp tục làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu khác khau như Vân Nương, Tơ Sương v.v...

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  4. vlong11

    vlong11 Guest


    Sự xuất hiện T.T.Kh. trên thi đàn tiền chiến:

    Vào khoảng giữ năm 1937, trên tạp chí "Tiểu Thuyết Thứ Bảy" xuất bản ở Hà Nội có đăng một truyện ngắn "Hoa Tigôn" của ký giả Thanh Châu. Ðây là một truyện khá bi đát, trong đó mô tả truyện tình của một họa sĩ trẻ vừa ra trường tên Lê Chất. Trong một lần đạp xe đi tìm phong cảnh để vẽ ở một làng quê ven Hà Nội, ngẫu nhiên khi đi qua một căn biệt thự cổ Lê Chất nhìn thấy một cô gái rất đẹp, mặc áo ngắn tay bằng lụa đang đứng trên chiếc ghế cao níu lấy một cành hoa Tigôn màu đỏ.

    Sắc đẹp của người thiếu nữ nổi trội lên giữa giàn hoa Tigôn đỏ đã làm cho người hoạ sĩ mẩn mê đứng nhìn. Rồi từ hôm đó, ngày nào anh ta cũng tìm cách quanh quẩn gần căn biệt thự để được nhìn cô gái và ngược lại cô gái cũng thấy anh ta. Nhưng chỉ được vài lần, rồi không biết lý do gì người con gái không còn xuất hiện nữa.

    Thời gian qua đi, mang thành công và danh vọng đến cho người họa sĩ. Nhưng anh ta vẫn không bao giờ quên hình bóng người con gái đẹp dưới giàn hoa Tigôn mầu đỏ mà anh ta đã gặp gỡ ngày còn nghèo khổ xa xưa.

    Rồi ngẫu nhiên chín năm sau, trong lần đi tìm đề tài sáng tác ở miền Nam Trung Quốc, anh ta được mời tham dự buổi dạ vũ trong tòa lãnh sự Pháp tại Vân Nam . Lê Chất gặp lại cô con gái ngày xưa, nhưng trong nhiều oái oăm, muộn màng. Chồng của cô gái là một viên chức cao cấp của tòa lãnh sự, người chồng mà cô ta không hề yêu thương. Trong lần tái ngộ đó, họ khiêu vũ, tâm sự với nhau; và tiếp theo mối tình của họ được tiếp nối trong vụng trộm . Ðến một lần, họ dự tính bỏ lại đằng sau tất cả để tìm cách trốn đi Nhật sinh sống với nhau.

    Nhưng đến giây phút cuối, người thiếu phụ gửi cho chàng họa sĩ một lá thư, kèm một chùm hoa Tigôn màu đỏ máu. Nàng từ chối ra đi vì không đủ can đảm từ bỏ danh dự và tai tiếng của gia đình cũng như sự khinh bỉ của gia đình chồng.

    Buồn đau vì ý định không thành, người họa sĩ vẫn đi Nhật một mình trước khi trở về Hà Nội. Rồi ngẫu nhiên bốn năm sau, anh ta nhận được lá thư từ người chồng của cô gái báo tin nàng đã mất! Lê Chất sang Vân Nam viếng mộ người xưa với một chùm giây hoa Tigôn, loại hoa kỷ niệm mối tình của họ. Cũng từ đó cho đến suốt cuộc đời, cứ vào mùa hoa Tigôn nở, Lê Chất không bao giờ quên mua những chùm hoa Tigôn để trang hoàng trong phòng làm việc như để tưởng nhớ đến người yêu xa xưa vắn số của mình .


    Mấy ngày sau khi câu truyện ngắn trữ tình đó xuất hiện trên báo, có một thiếu phụ khỏang 20 tuổi, dáng dấp nhỏ bé, thùy mị, nét mặt u buồn mang đến toà báo, đưa tận tay người chủ bút một phong thư dán kín. Trong đó có một bài thơ rất hay với đề tựa "Hai Sắc Hoa Tigôn" được ký tên tác gỉa là T.T.Kh.

    Bài thơ não lòng, lột tả được tất cả cái đau xót của người con gái đã phải xa người mình yêu, người đã cùng mình gắn bó thề ước dưới giàn hoaTigôn để đi lấy chồng, người mà mình không hề yêu:

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
    Thở dài trong lúc thấy tôi vui
    Bảo rằng: "Hoa dáng như tim vỡ,
    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"

    Nỗi đau buồn đó đã theo hết cuộc đời của nàng trong sự hững hờ của gia đình chồng vì biết nàng vẫn còn tưởng nhớ đến tình nhân xa cũ:

    Từ đấy thu rồi thu lại thu
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    Cái ray rứt, cái đau khổ vì nghĩ mình là kẻ phụ bạc vẫn theo dầy vò người thiếu phụ, làm cho nàng sợ những buổi chiều thu nhạt nắng, sợ bóng dáng ai kia vẫn còn nhớ đến chùm hoa kỷ niệm đỏ tựa máu hồng:

    Tôi sợ chiều thu nắng nhạt mờ
    Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
    Gió về lạnh lẽo, chân mây vắng
    Người ấy sang sông đứng ngóng đò

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
    Trời ơi, người ấy có buồn không?
    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ?
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng!

    Khi bài thơ "Hai Sắc Hoa Tigôn" vừa cho lên mặt báo đã gây xôn xao trong giới yêu văn chương. Nhiều nhà phê bình đã không ngần ngại cho rằng đây là một kiệt tác. Trong không khí sôi động đó, tòa báo lại nhận thêm được một bài thơ khác cùng tác giả, gởi qua đường bưu điện với đề tựa "Bài Thơ Thứ Nhất." Bài thơ này cũng với những câu thơ buồn đau đầy nước mắt, giải thích mô tả kỹ lưỡng hơn về mối tình dang dở của cặp tình nhân gặp nhau rồi yêu nhau và cuối cùng không biết vì lý do nào đó người đàn ông rời xa, người đàn bà ở lại yêu kỷ niệm cho đến ngày lấy chồng:

    Ở lại vườn Thanh có một mình
    Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
    Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

    Và một ngày kia tôi phải yêu
    Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo
    Những cô áo đỏ sang nhà khách!

    Người con gái đã tưởng rằng, cuộc tình dang dở của mình đã đi vào dĩ vãng. Thời gian và ngăn cách cũng làm đổi thay nơi cố nhân để giúp nàng quên được mối tình xa xưa, lỡ dỡ đó. Nhưng oái oăm thay, người xưa vẫn còn nặng lòng, tưởng nhớ đến nàng, đến chùm hoa Tigôn màu đỏ hình tim kỷ niệm:

    Ðang lúc lòng tôi muốn tạm yên
    Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên!

    Ðẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
    Ðã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
    Tóc úa giết lần đời thiếu phụ
    Thì ai trông ngóng chẳng nên chờ.

    Khi bài thơ thứ nhất được đưa lên báo, có người thắc mắc tại sao bài thơ "Hai Sắc Hoa Tigôn" lại được gửi đăng báo trước bài "Thơ Thứ Nhất"

    Người ta cho rằng, tác giả đã làm bài Thơ Thứ Nhất, than khóc cho mối tình lỡ dở của mình từ lâu nhưng vì một lý do nào đó không gửi đăng báo. Nhưng sau đó, ngẫu nhiên đọc câu truyện ngắn "Hoa Tigôn" của ký giả Thanh Châu, cảm động với câu truyện và nhất là tìm thấy nhiều dữ kiện tương đồng với mối tình ngang trái của chính mình, tác giả đã làm bài thơ "Hai Sắc Hoa Tigôn" rồi gửi ngay cho tòa báo. Chính vì thế "Bài Thơ Thứ Nhất" được phổ biến sau bài "Hai Sắc Hoa Tigôn:

    Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
    Và đỏ như mầu máu thắm pha!

    Cũng ở tuổi ngây ngô lúc mới gặp nhau thì làm sao hiểu được ý nghĩa của những tiếng thở dài của người yêu?

    Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì
    Cánh hoa tan tác của sinh ly
    Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng
    Là chút lòng trong chẳng biết suy!

    Sau khi bài thơ thứ nhất được đăng trên báo "Tiểu Thuyết Thứ Bảy," giới văn nghệ càng bàn tán nhiều hơn nữa. Bao nhiêu những tưởng tượng, thêu dệt với những tình tiết lâm ly về hình dạng, thân thế và cả mối tình buồn đau lãng mạn của tác giả được đưa ra báo chí.

    Vẫn trong cái không khí xao động, bàn tán lung tung vì 2 bài thơ vừa đăng báo đó, tạp chí "Phụ Nữ Thời Đàm" ở Hà Nội lại nhận được bài thơ " Ðan Áo Cho Chồng" của cùng tác giả qua bưu điện. Bài thơ này cũng vẫn với giọng điệu buồn đau, nhưng có vẻ than van, oán trách thân phận mình nhiều hơn. Nàng mô tả như bị tù tội trong cuộc sống với người chồng không yêu và vẫn mong đợi bóng dáng người xưa:

    Tháng ngày miễn cưỡng em đan
    Kéo dài một chiếc áo len cho chồng
    Như con chim hót trong lồng
    Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

    Ngoài trời mưa gió xôn xao
    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm?
    Ai đem lễ giáo giam em?
    Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời...

    Bài thơ đan áo cho chồng vừa ra mắt thì tòa báo "Tiểu Thuyết Thứ Bảy" lại qua đường bưu điện nhận được bài thơ thứ tư với đề tựa: "Bài Thơ Cuối Cùng."

    Ðúng như đề tựa của nó, sau bài thơ này, làng thơ không bao giờ còn nhận được thêm bài nào nữa, T.T.Kh. hoàn toàn biến mất trên thi đàn! Cũng từ đó trong lịch sử văn thơ tiền chiến phải nhận lấy sự bí mật về một tác giả mà chỉ có vỏn vẹn 4 bài thơ nhưng đã tạo được chỗ đứng rất vững chắc trong nền văn học VN.

    Ý tứ của bài thơ cuối cùng hơi khác 3 bài thơ trước. Nó than van, mô tả nhiều hơn về nỗi xót xa của mối tình dang dở nhưng lại đượm đầy giọng trách móc cố nhân, đã vì hư danh mà rao bán bài thơ "Đan Áo" mà nàng đã tặng riêng cho chàng:

    Chỉ có ba người được đọc riêng
    Bài thơ Đan Áo của chồng em
    Bài thơ Đan Áo nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem ...

    Nàng hờn dỗi:

    Từ đây, anh hãy bán thơ anh
    Còn để riêng tôi với một mình
    Những cánh hoa lòng. Hừ! Đã ghét
    Thì đem mà đổi lấy hư vinh!

    Nhưng giận thế nào được khi lòng nàng vẫn còn đầy rẫy nhớ thương. Bóng dáng người xưa vẫn luẩn quẩn đâu đây trong tim và trí nhớ nàng:

    Tôi biết làm sao được hỡi trời
    Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!
    Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt...
    Sợ quá đi, anh..........có một người!

    Bài thơ cuối cùng xuất hiện vào giữa năm 1938, trong giới văn chương vẫn không giảm sút những lời bàn tán, thêu dệt về thân thế và cuộc tình buồn bã của tác giả. Đã thế nhiều nhà báo, nhà thơ có tên tuổi đương thời đã đưa ra những chứng cớ để cố nhận người thi sĩ tài năng đầy bí ẩn đó là người yêu của mình!

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  5. vlong11

    vlong11 Guest


    Những dữ kiện lên quan đến thân thế của TTKh.

    Như trên đã đề cập đến cái độc đáo của bài thơ kèm theo ý tứ của một mối tình buồn bã, lãng mạn... thêm vào đó sự bí mật về thân thế thi nhân càng làm cho người ta tò mò muốn biết về tác gỉa. Ðến nay đã gần 70 năm rồi, người ta vẫn phải nhận lấy những điều mù mờ về thân thế và cả những thêu dệt vô căn cứ về người nữ sĩ tài danh đó ! Sau đây là một vài sự kiện đã gây ra những xáo động dư luận trong giới thơ văn. Ðúng hay sai, tưởng tượng hay là một lối tìm nguồn thi hứng của những người làm văn nghệ...Ðến nay vẫn chỉ là những dấu hỏi mù mờ mà thôi!



    a.Dư luận với ký gỉa Thanh Châu : Như phần trên đã viết, truyện ngắn Hoa Tigôn của Thanh Châu trên báo Tiểu thuyết thứ bẩy đã là nguyên nhân xuất hiện những bài thơ diễm tình, lãng mạn bất tử của TTKh trong làng thơ tiền chiến.

    Nếu xét những diễn tiến cũng như tâm trạng buồn đau của người con gái trong truyện ngắn Hoa Tigôn và trong 4 bài thơ của TTKh, nhất là bài Hai sắc hoa Tigôn, người ta thấy nội dung hai bài gần như giống hệt nhau. Cũng vẻ ngây thơ của người con gái thủa ban đầu gặp gỡ người yêu, cũng bóng dáng người nghệ sĩ làm cho nàng nhớ mãi không quên dưới giàn hoa Tigôn kỷ niệm :

    Thủa trước hồn tôi phơi phới qúa

    Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương

    Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại

    Êm ái trao tôi một vết thương

    hay :

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

    Thở dài trong lúc thấy tôi vui

    Bảo rằng : hoa giống như tim vỡ

    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi .

    Rồi những câu thơ tả người thiếu phụ luôn luôn tưởng nhớ đến cố nhân , phải miễn cưỡng kéo dài cuộc sống nhàm chán bên người chồng luống tuổi mà mình không yêu... Tất cả những dữ kiện đó đã lột tả gần như hòa hợp rất khắng khít với cốt truyện ngắn của Thanh Châu.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết từng thu chết

    Vẫn dấu trong tim bóng một người

    Chính vì vậy ngay khi mấy bài thơ xuất hiện trên báo chí, ký gỉa Thanh Châu đã khẳng định với dư luận, TTKh chính là người con gái trong căn biệt thự ở ngoại ô Hà nội, là người yêu của ông.Sự xác định này đã quấy lên những xáo trộn nghì ngờ cũng có, tin tưởng cũng có trong làng thơ văn lúc bấy giờ.



    b. Dư luận với Nguyễn Bính: Có lẽ Nguyễn Bính cũng bị chinh phục bởi những vần thơ trữ tình, lãng mạn pha cảm giác đau buồn vì khắt khe của lễ giáo, danh dự gia đình của người thiếu phụ hoa Tigôn. Hình ảnh đau xót, lạnh lùng của người đàn bà đã phải chịu đựng suốt cuộc đời với người chồng mà nàng không yêu, nhưng vẫn giữ
    nhưng vẫn giữ được tấm lòng son sắt, chung tình với cố nhân làm cho ông cảm động. Nguyễn Bính cũng nhập cuộc với cái xôn xao của làng thơ, ông cho rằng TTKh là ‘’ người tình vườn Thanh’’ xưa cũ của mình !

    Theo thi sĩ thì ngày ông còn trẻ, ở lứa tuổi còn thích giang hồ, đi Bắc, về Nam để tìm cảm hứng làm thơ. Có lần gặp buổi trời mưa lớn, ông ghé vào căn nhà trọ một vùng quê ở Thanh Hóa, căn nhà có một thửa vườn rất đẹp và ông gọi là vườn Thanh ( Thanh Hóa ). Cũng nơi đây ông đã gặp gỡ và yêu si một cô gái quay tơ xinh đẹp. Nhưng vì biết mình vẫn còn mang nặng kiếp giang hồ, thi sĩ đã không dám nghĩ đến việc nhân duyên, để rồi lại ra đi theo tiếng gọi của sông nước, tìm thi hứng cho thơ văn.

    Rồi nhiều năm sau đó khi có dịp trở lại vườn Thanh, thi sĩ được người lão bộc kể cho nghe một thiên tình hận ! Ngày nhà thơ bỏ ra đi đã làm lở dở mối tình của người thiếu nữ quay tơ, sau đó nàng phải bước sang ngang với một người chồng gìa tuổI, không yêu :

    Tơ duyên đến thế thì thôi,

    Thế là uổng cả một đời tài hoa

    Ðêm đêm bên cạnh chồng già

    Và bên cạnh bóng người xa hiện về...

    Với thời gian, thi sĩ Nguyễn Bính tưởng rằng đã quên được mối tình hận năm xưa, nhưng khi đọc mấy bài thơ của TTKh đã kéo ông lại với quá khứ ! Nhà thơ tìm thấy mối tình của TTKh mô tả trong mấy bài thơ giống y hệt như mối tình vườn Thanh của mình. Nhất là trong bài thơ thứ nhất tả cảnh cố nhân tiễn ông ra đi rồi trở về vườn Thanh để sống với nỗI cô đơn trong gío lạnh :

    Thổi tan âm điệu du dương trước

    Và tiễn người đi bến cát xa

    Ở lại vườn Thanh có một mình

    Tôi yêu gío lạnh lúc tàn canh

    Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

    Với cái cảm xúc có được từ hình ảnh đầy thi tứ, buồn thương đó, Nguyễn Bính đã làm một bài thơ khá dài ‘’ Giòng Dư Lệ ‘’ ông đề tặng riêng cho TTKh, người mà ông chắc chắn là cô gái quay tơ đã một lần thi sĩ gặp gỡ, yêu si. Trong bài thơ này ông mô tả tất cả những diễn tiến của cuộc tao ngộ lần đầu gặp nhau cho đến lúc ông xót đau than khóc khi đọc những bài thơ tâm sự của TTKh.

    Tuổi nàng năm ấy còn thơ

    Còn bao hứa hẹn đợi chờ một mai

    Rồi đây bao gío bụi đời

    Tôi quên sao được con người vườn Thanh.

    Ðể rồi thi sĩ chẳng ngại ngần gì xác quyết TTKh là người yêu vườn Thanh xa xưa của mình :

    Chuyện xưa hồ lãng quên rồi,

    Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh

    Bao nhiêu oan khổ vì tình

    Cớ sao giống hệt chuyện mình ngày xưa?

    Phải chăng mình có nên ngờ

    Rằng người năm cũ bây giờ là đây ?



    c.Dư luận với thi sĩ Thâm Tâm: Với thi sĩ Thâm Tâm ( Nguyễn tuấn Trình, 1917-1948) có những dữ kiện và chứng minh rất hấp dẫn nói đến sự liên hệ tình cảm của ông với TTKh có vẻ như vững trãi hơn và đáng tin tưởng hơn so với ký gỉa Thanh Châu và thi sĩ Nguyễn Bính. Tuy nhiên nếu suy nghĩ kỹ lưỡng ngườI ta cũng không thể coi là hoàn toàn xác thực để cho vào văn học mà không có những dấu chấm hỏi nghi ngờ được !

    Dữ kiện đầu tiên từ bút hiệu TTKh đã là một dấu tích thuận lợi cho nhà thi sĩ Thâm Tâm tuyên bố với nhân gian là TTKh người yêu của mình vì đó là sự gán ghép hai tên Thâm Tâm và Khánh , tên của cô gái, người yêu của ông mà thành.

    Nhưng Phạm Thanh tác gỉa cuốn Thi Nhân Việt Nam Hiện Ðại lại cho rằng, đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên và tưởng tượng vu vơ của Thâm Tâm mà thôi. Thật ra TTKh chẳng phải là người yêu của ông nào cả. Nữ sĩ chính là Trần Thị Khánh (TTKh ), một nữ sinh ở phố Sinh Từ, Hà nội, cô ta yêu tha thiết một thanh niên, nhưng vì bị ép buộc của gia đình phải lấy một người đàn ông khác nhiều tuổi hơn, tên là Nghiêm.. Ðơn giản chỉ có thế mà thôi !

    Dư luận lúc đó cũng chẳng biết đúng sai ra sao vì sau khi ’’ Bài thơ cuối cùng’’’ được đăng báo vào giữa năm 1938 , TTKh biệt tích trên thi đàn. Nhưng mãi đến năm 1940 nhà thơ Thâm Tâm mới nhẩy vào để nhận là người yêu của nàng. Ông làm một bài thơ khá dài với đề tựa là ‘’Trả lời của người yêu ‘’ dành tặng riêng cho TTKh, trong đó ông đã gọi tên nữ sĩ là Khánh, một bài thơ rất hay, rất não nùng bằng những câu thơ có tí phiền giận tác gỉa TTKh, người yêu của ông :

    Khánh ơi, còn hỏi gì anh

    Ái tình đã vỡ, ái tình lại nguyên

    Em về đan nốt tơ duyên

    Vào tà áo mới đừng tìm mối xưa

    Bao nhiêu hạt lệ còn thừa

    Dành ngày sau khóc những giờ vị vong !

    Hay:

    Giờ hình như gió thổi nhiều

    Những loài hoa máu đã gieo nốt đời

    Tâm hồn nghệ sĩ nổi trôi

    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh

    Sá chi những chuyện tâm tình

    Lòng đau, đau chứa trong bình rượu cay !

    Sau đó Thâm Tâm còn viết hai bài thơ khác nữa tặng riêng cho TTKh, bài ‘‘Mầu máu Tigôn’’ và bài ‘’ Dang dở ‘’ , đây là những bài thơ rất hay và rất cảm động của Thâm Tâm trong năm 1940.

    Suốt mây mươi năm sau đó nhiều người làm văn hoá vẫn cố tìm tòi thân thế thực của TTKh để xóa đi bóng tối bí mật của người nử sĩ tài năng đó, nhưng những cố gắng đó cũng chẳng đến đâu ! Mãi sau này tờ báo Nhân Dân ra ngày chủ nhật 23 tháng 7 năm 1989, ký gỉa Hoàng Tiến đã đưa ra một dữ kiện khác, trong đó ông ta cùng với hai thi sĩ đương thời là Trần Lê Văn và Tú Sót, cả ba người cho biết đã trực diện nghe nhà thơ Lương Trúc (tên thật là Phạm Quang Hoà, thuộc thế hệ cùng thời và là bạn thân của Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. ) nói về sự liên hệ tình cảm giữa Thâm Tâm và TTKh.

    Nhà thơ Lương Trúc cho biết cách đây 4 năm ( 1985 ) ông có gặp TTKh, bà tên thật là Trần thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Theo ông, Thâm Tâm và cô Khánh yêu nhau nhưng không lấy được nhau, vì danh dự của gia đình cho nên họ hứa với nhau giữ kín mối tình đó. Rồi ngẫu nhiên cô Khánh đọc được truyện ngắn Hoa Tigôn của Thanh Châu trên Tiểu thuyết thứ bẩy số báo tháng 9 năm 1937, cô ta xúc động với tình tiết của câu truyện và làm ra bài thơ Hai sắc hoa tigôn gửi đi đăng báo. Bài thơ đã làm xáo động trong làng thi văn, rồi nàng gửi thêm Bài thơ thứ nhất với mục đính giải thích cho bài thơ Hai sắc hoa Tigôn.

    Ngoài ra TTKh còn viết tặng riêng cho Thâm Tâm bài thơ Ðan áo cho chồng. Thâm Tâm cảm động với ý tứ bài thơ và nhất là muốn chứng minh với dư luận đang ồn ào, TTKh chính là người yêu của mình, ông đã gửi bài thơ ‘’ Ðan áo’’ đến tâp san Phụ nữ thời đàm để phổ biến.

    TTKh không vừa ý với hành động đó của Thâm Tâm, vì thế cô ta viết một bài thơ khác lấy tên là Bài thơ cuối cùng, nói lên sự hờn trách người yêu đã vì hư danh mà đem quảng bá bài thơ mà nàng tặng riêng cho ông ra cho nhân gian biết. Nhưng trong những câu thơ hờn trách đó nàng vẫn không dấu được lòng yêu thương cố nhân :

    Tôi biết làm sao được hỡi trời

    Giận anh không nỡ ! Nhớ không thôi

    Mưa buồn, mưa hắt trong lòng uớt...

    Sợ qúa đi anh...Có một người !

    Dù với lời xác nhận của nhà thơ lão thành Lương Trúc nhưng vẫn chưa thật sự làm thỏa mãn dư luận được vì trong đó vẫn còn rất nhiều điểm mù mờ về thân thế, tên tuổi... của người nữ thi sĩ bí mật đó !



    d. Khám phá mới nhất về TTKh:

    Gần đây nhất, vào năm 1994 trong một tài liệu không lưu tên tác gỉa đã tiết lộ một tin tức mới nhất, được coi là đầy đủ nhất về thân thế của TTKh. Nhưng có lẽ người ta vẫn cần thời gian để xác nhận mức độ xác thực của tiết lộ này. Theo tài liệu cho biết một người đàn bà dấu tên D.T.L. đã cho nhà văn Thế Nhật biết như sau:

    Bốn chữ TTKh có ý nghĩa như sau :

    -Chữ T đầu tiên là TRẦN, là tên họ của nữ thi sĩ Trần thị Chung tác gỉa của bốn bài thơ bất tử đó, nhưng thường gọi là Trần thị Vân Chung, bà sinh ngày 25 tháng 8 năm 1919 tại thị xã Thanh Hóa, nhưng trưởng thành ở Hà nội trong một gia đình quan lại. Bà Vân Chung hay là TTKh có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934 qua mối mai của gia đình bà kết hôn với luật sư Lê Ngọc Chấn của VNCH, sau năm 1975 ông Chấn bị chết trong trại cải tạo.

    Hiện nay bà cùng con cái sống ở một thị xã nhỏ miền nam nước Pháp, bà vẫn tiếp tục viết văn làm thơ với nhiều bút hiệu khác nhau như Vân Nương, Tơ Sương..v..v..

    -Chữ T thứ hai, có nghĩa là Thanh, để chỉ tên ký gỉa Thanh Châu, tác gỉa truyện ngắn ‘’Hoa Tigôn’’. Cốt truyện đã mang đến cho bà sự cảm xúc tột cùng với mối tình đầy lãng mạn, chung thủy, đã cho bà thi hứng để làm được những bài thơ tuyệt vời mang đầy cảm giác giận hờn, thương đau và cao thượng .

    -Chữ Kh có nghĩa là khóc! Bà khóc thay cho mối tình dang dở với những trái ngang làm cho người thiếu phụ phải sống trọn cuộc đời với người chồng mà mình không yêu nhưng cũng không thể quên được người tình xưa cũ của mình.

    Nếu tiết lộ trong tài liệu này là đúng thì tất cả những sự kiện liên quan đến tên tuổi, thân thế của TTKh trong nhiều thập niên qua, cũng như những thêu dệt lâm ly, trữ tình của ký gỉa Thanh Châu, thi sĩ Nguyễn Bính, Thanh Tâm và cả thi sĩ J. Leiba chỉ còn là những tưởng tượng vu vơ, mà những người làm văn nghệ cần đến nó để dìm mình vào thế giới mộng ảo cho việc tìm cảm hứng để sáng tác mà thôi.


    Kết luận:

    Bản chất của thơ văn là tưởng tượng và hư cấu. Khi bước vào thơ văn để thưởng thức cái hay, cái cảm của một áng văn, một bài thơ... Người ta phải biết trải rộng tâm hồn mình ra tiếp nhận những cảm xúc đưa đến từ bài thơ, bản văn đó. Ðiều đó có nghĩa là người ta phải sống và hoà nhập vào nội dung của tác phẩm, phải biết vui buồn, đau khổ hay hoan lạc, giận hờn với những hoàn cảnh éo le của nhân vật trong tác phẩm. Có được những cái đó trong khi thưởng thức thì coi là ‘’ Ðạt’’ vậy ! Người ta cần biết thân thế hay cuộc đời riêng tư của tác gỉa để làm gì ?Ðôi khi sự tìm tòi, tò mò đó chẳng có lợi ích gì cho cái thú thưởng lãm của người đọc mà còn mang đến cho người đọc có cái nhìn sai lệch vì chủ quan, thành kiến với cá nhân tác gỉa nữa.

    Với cái quan niệm đó, người ta nên nghĩ rằng bốn bài thơ của TTKh đã quá đủ để làm cho người đọc ngẩn ngơ vì cái hay, cái xúc tích biết bao nhiêu cảm giác đau buồn, thương nhớ, giận hờn... đôi lúc đã làm người đọc phải lịm người mà nước mắt ướt mi...Như vậy là đủ rồi ! Chúng ta cần gì phải thắc mắc TTKh là ai làm gì nhỉ ? Nàng là cô nữ sinh Trần thị Khánh ở phố Sinh Từ, Hà Nội. Nàng là Trần vân Chung hay Trần thị Vân Chung cô gái đất Thanh hoá... Nàng là ai cũng thế mà thôi! Ðiều quan trọng mà chúng ta biết rất rõ, những bài thơ của TTKh là những bài thơ rất hay, sẽ mãi mãi bất tử trong thi đàn VN. Thế là đủ rồi !

    Cũng nhân tiện trong bài viết có lẽ chúng ta cũng nên biết sơ qua về loài hoa Tigôn mà nó đã là đề tựa cho bốn bài thơ của TTKh ra đời. Hoa Tigôn là một loại hoa leo, có hai loại, loại cho ra hoa mầu trắng và loại cho ra hoa mầu đỏ hay hồng tươi, có thể mọc ở toàn cõi VN. Lá Tigôn mầu xanh, hình tim như lá trầu nhưng nhỏ cỡ 3 ngón tay. Hoa Tigôn nhỏ bằng đầu chiếc đũa ăn cơm, mọc thành chùm, hoa tigôn có 5 cánh hình trái tim, hai cánh nhỏ ở trong và 3 cánh lớn hơn chụm vào nhau bao ở ngoài. Khi gặp gió hay mưa hoa rụng từ cuống hoa, rơi xuống đất nhưng vẫn còn nguyên cả bông hoa chứ cánh hoa không tách rờI ra tơi tả như TTKh mô tả trong thơ của bà:

    Thủa đó nào tôi đã hiểu gì

    Cánh hoa tan tác của sinh ly !

    Lưu An

    ( Thụy Sĩ, August 2003 )



    Thông tin mới nhất : Khi bài viết này được phổ biến trên báo Phụ Nữ Diễn Ðàn USA số tháng 10 /2003 Tôi được một độc gỉa cho biết bà Trần thị Vân Chung đã đính chính trên một tờ báo nào đó là bà ta không phải là TTKh. Tôi không biết nguồn tin đó đúng hay sai và nếu có thật như vậy , theo tôi nghi bà Vân Chung phủ nhận vẫn là thái độ khôn khéo nhất.

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  6. vlong11

    vlong11 Guest


    Truyện Hoa Tigôn
    -Thanh Châu-




    "... Hoa leo ti-gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người..."
    Khái Hưng (Gánh hàng hoa)



    Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó hoa "Ti-gôn". Đó là thói quen của họa sư mà không một người bạn hay người bạn học trò thân nào là không biết rõ. Đến mùa hoa "Ti-gôn" nở nhiều nhất, trong nhà họa sư Lê người ta chẳng còn thấy một thứ hoa nào khác. Mà có người nào tẩn mẩn ngắt một nụ hoa nho nhỏ ấy xem kỹ, họ sẽ phải cho lời nhận xét của họa sư Lê là đúng : "Hoa Ti-gôn hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu hồng dịu như nhuộm máu đào". Rồi người ta tự hỏi thầm :

    "Tại sao họa sư Lê lại thích chơi cái thứ hoa trông như giấy ấy, để trong phòng quá một ngày đã rụng rồi ? Chắc lại có điều tâm sự chi đây..."

    ** *

    Một buổi trưa - hồi đó Lê Chất hai mươi bốn tuổi, còn là hoạ sĩ nghèo mới ở trường ra - đạp xe về các vùng lân cận Hà Nội, Lê Chất rẽ vào làng Mọc với giá vẽ buộc trên xe. Người thiếu niên ấy đi tìm cảnh đẹp.

    Mà cảnh đẹp ở đây là một thiếu nữ chàng mới gặp chiều qua.

    Đến gần một ngôi nhà cũ kỹ, trông ra dáng biệt thự của một quan hưu dùng làm chỗ nghỉ ngơi. Chất hãm xe, nghển cổ nhìn qua một hàng rào cây tốt um tùm. Chiều qua, lúc Chất dắt xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, bỗng thấy một thiếu nữ đứng trên một chiếc ghế cao, đang với tay lên những dây hoa đỏ trên giàn nữa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một màu da khỏe mạnh, như thứ da thường ra nắng của những cô gái nhỏ. Hai má ửng hồng, vài sợi tóc trên vừng trán, cảnh "con gái hái hoa" ấy như một bức tranh linh động, khiến người họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Khuôn mặt đều đặn, vẻ đẹp thông minh, nhất là đôi môi có một nét vẽ lạ, đó là thứ nhan sắc hiếm hoi, ai trông thấy lần đầu đều in sâu trong trí nhớ. Thiếu nữ vô tình, bận gỡ hoa trên giàn đã để Lê Chất có thì giờ nhìn ngắm kỹ. Đến khi cô gái bước xuống đất, sắp vào nhà, đưa mắt nhìn ra đường thấy có người đứng nhìn mình, mới cau mày tỏ vẻ không bằng lòng.

    Nhưng từ hôm đó, hôm nào họa sư cũng đạp xe vào làng Mọc, giá vẽ buộc trên xe, mà chẳng vẽ bao giờ, vì còn bận quanh quẩn gần biệt thự. Thiếu nữ động trông thấy bóng anh chàng là lẩn vào nhà.

    Lê Chất chỉ được trông thấy nàng vài lần nữa rồi thôi, bởi ngôi nhà hình như sau đó không có người ở nữa, ngày nào cũng chỉ thấy có một ông già cuốc cỏ trong vườn.

    Rất lâu, Lê Chất mơ màng đến người thiếu nữ. Anh cố nhớ lại khuôn mặt, thân hình, hai cánh tay đẹp để trần, nhất là đôi môi của thiếu nữ. Anh đã vẽ nhiều croquis cất trong an-bom để ghi giữ lại, rồi dần dần cũng quên đi...

    ** *

    Lê Chất đã nổi tiếng. Thầy học cũ của anh vì mến tài, đã đưa anh lên một địa vị mà nhiều người ghen tỵ. Tranh của anh được nhiều báo nước ngoài nói đến và bán với giá cao. Anh bỏ lối phong cảnh để vẽ người. Tranh vẽ người, nhất là tranh vẽ đàn bà khiến các bạn Chất tặng cho cái tên : "Người lấy máu để vẽ các cô gái đẹp". Họa sĩ đã trở nên giàu có, ăn mặc sang, khó tính, Lê Chất bây giờ đã đứng tuổi, từ lâu không còn là gã họa sĩ nghèo huýt sáo đạp xe quanh vùng lân cận Hà thành đi tìm cảnh đẹp, với giá vẽ buộc trên xe đạp.

    Mùa lạnh năm ấy, Lê Chất đi vẽ ở một vùng Vân Nam phủ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi của tòa nhà lãnh sự Pháp, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ ta, đẹp một vẻ khác thường, nhưng có dáng buồn. Chất bỗng ngờ ngợ như hơn một lần đã gặp người này. ở đâu ? Chất giật mình. Có thể nào ? Nhưng quên làm sao khuôn mặt ấy, đôi môi ấy ? Nhờ một người quen giới thiệu, Chất được rõ : thiếu phụ là vợ một viên chức trong tòa lãnh sự.

    Trong khi nhảy với thiếu phụ trong một bản "tăng gô", Lê Chất đột nhiên hỏi :

    - Bà vẫn thích hái hoa "ti-gôn" chứ ?

    Thiếu phụ nhìn chàng rất ngạc nhiên :

    - Ông nói gì... tôi không hiểu.

    - Có lẽ bà đã quên cả Hà thành, làng Mọc, cái biệt thự xinh xinh có một giàn hoa...

    Người đàn bà ấy kêu lên, mắt long lanh :

    - Có phải ông là cái anh chàng họa sĩ vẫn nhìn trộm tôi ngày trước đó không ?

    Nàng nói tiếp :

    - Thảo nào mới nhìn ông tôi cũng nghĩ không biết đã gặp ở đâu rồi. Tám chín năm rồi đấy, thế mà chúng ta còn nhận được nhau...

    ** *

    Mai Hạnh - tên thiếu phụ - rất buồn ở Vân Nam phủ. Nàng không có bạn. Lấy một người chồng gia thế cân đối với nhà mình, cuộc đời nàng bằng phẳng nơi đất khách. Bây giờ gặp được người cùng xứ, người đó đã dự vào dĩ vãng tươi đẹp của mình, một họa sĩ nổi danh, nàng không có cảm tình với Lê Chất làm sao được ? Hạnh thường đến chỗ họa sĩ trọ, thăm viếng mỗi ngày, và thuận sẽ cho chàng vẽ một chân dung.

    Một buổi sáng, hai người đi chơi, trên một ngôi chùa Tàu cheo leo trên đỉnh núi, Lê Chất hỏi :

    - Tôi biết thế nào trong đời tôi cũng còn gặp Hạnh, bởi vì không bao giờ tôi quên cái buổi chiều ở làng Mọc. Nhưng số mệnh khiến chúng ta gặp nhau lần này có phải là để chúng ta chỉ có thể trở thành đôi bạn thôi ư ? Hạnh có đoán được lòng tôi lúc này không ?

    Mai Hạnh, giọng run run, tái nhợt, giơ tay bịt miệng Lê Chất. Nhưng khi Chất đã ôm nàng thì Hạnh không cưỡng lại :

    - Em cũng yêu anh ngay từ buổi đầu.

    Thế là, hai người như sống trong một cơn mê.

    Mai Hạnh cố chống chọi lại với tình yêu mỗi ngày một lớn, còn Lê Chất thì lo ngại, tính toán như ngồi trên đống lửa. Chàng dự định cùng Hạnh trốn đi Nhật, không cần danh dự, chức nghiệp, dư luận của người đời. Nhưng Mai Hạnh tuy yếu đuối hơn, rụt rè, e ngại, sau cùng cũng nhận lời.

    Lê Chất trở về Hà Nội, sắp đặt song mọi việc, lo lót giấy tờ tiền bạc, đồ dùng đi xa, tất cả đã sẵn sàng, thì phút cuối cùng nhận được thư của Hạnh : "Chất, anh hãy đi một mình và quên em đi, vì em không có thể theo anh. Đừng giận em tội nghiệp, em không phải là loại đàn bà có thể vượt được hết những khó khăn như anh đã tưởng. Đến phút cuối cùng em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ thân thầy mẹ em, chồng em khinh bỉ, tai tiếng ở đời, những lo ngại ở tương lai... Em đã thấy rằng : nếu đi với nhau chưa chắc chúng ta đã sung sướng. Anh thấy chưa ? Em là một đứa hèn ! Em không yêu anh được như anh tưởng đâu, vì em đã hy sinh anh cho tất cả những lo ngại trên kia. Vậy mà em yêu anh có thể chết vì anh được. Trong đời anh còn nhiều chuyện, anh có thể quên em được đấy ! Nhưng còn em thì thật chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ! Vì em biết sẽ không bao giờ an ủi được, bởi em đã làm hỏng đời em, nếu em chẳng theo anh...".

    Trong thư, một dây hoa "ti-gôn" nhỏ ép rơi ra : những nụ hoa chum chúm hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu đào.

    Lê Chất đặt một cái hôn lên những cánh hoa, và khóc. Nhưng đó là một kẻ đàn ông có nghị lực. Chàng đi du lịch Phù Tang có một mình.

    ** *

    Bốn năm sau, một hôm họa sư Lê Chất thấy trên bàn mình một phong thư viền đen báo tang. Ông mở ra xem thì đó là người chồng Mai Hạnh báo tin nàng đã chết.

    Họa sĩ đáp xe lửa đi Vân Nam ngay để một buổi chiều đặt trên mồ Mai Hạnh những dây hoa quen thuộc. Rồi trở về Hà Nội, ông sực nhớ ra rằng đã quên không hỏi xem Mai Hạnh chết vì một bệnh gì, một cơn cảm sốt.. hay vì sầu muộn...

    Ngày nay, họa sư Lê Chất đã già, nhưng cứ đến mùa hoa "ti-gôn" nở, không buổi sáng nào ông quên mua một ôm về thay thế cho hoa cũ trong phòng vẽ, vì thứ hoa ấy chóng tàn.

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  7. vlong11

    vlong11 Guest


    Nguyễn Bính

    Dòng Dư Lệ


    Bài thơ ông đã viết cho T.T.Kh.

    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên
    TTKH

    Gió đưa xác lá về đường
    Thu sang nhuộm cả sầu thương một trời
    Sầu thương nhuộm lấy hồn tôi,
    Đêm qua ngồi đọc thơ người xa xăm.

    Một ngàn năm, một vạn năm,
    Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ.
    Tặng người gọi một dòng thơ
    Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua?

    Đường về Thanh Hóa bao xa
    Bao giờ ra nhớ rủ ta với, chàng
    Bảo rằng quan chẳng cho sang
    Ai đời quan cấm đò ngang bao giờ!

    Vườn Thanh qua đấy năm xưa
    Trọ nhờ đêm ấy trời mưa tối trời
    Quanh lò sưởi ấm, bên tôi
    Bên người lão bộc đương ngồi quay tơ

    Tuổi nàng năm ấy còn thơ
    Còn bao hứa hẹn đợi chờ một mai.
    (Rồi đây bao gió bụi đời,
    Tôi quên sao được con người vườn Thanh).

    Lạnh lùng canh lại sang canh,
    Lòng tôi thao thức với tình bâng quơ.
    Bởi sinh lạc kiếp giang hồ,
    Dám đâu toan tính xe tơ giữa đường.

    Thu sang rồi lại thu sang
    Cúc bao lần nở, lá vàng bao rơi?
    Bao nhiêu vật đổi sao dời?
    Đường bao dặm thẳm! Hỡi người bốn phương!

    Trọ bao nhiêu quán bên đường,
    Nhưng không lần nữa qua vườn Thanh xưa.
    Cô nàng năm ấy quay tơ
    (Tôi quên sao được!) Hẳn chưa lấy chồng.

    Một hôm lòng lại nhủ lòng:
    "Nơi đây giáp với cánh đồng vườn Thanh"
    Rồi tôi len lén một mình
    Ra đi với một tấm tình hây hây.

    Đường mòn tràn ngập bông may
    Gió heo (mây) báo trước một ngày thu sang.
    Dừng chân trước cửa nhà nàng.
    Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau.

    Tìm nàng chẳng thấy nàng đâu.
    Lá rơi lả tả bên lầu như mưa...
    Chợt người lão bộc năm xưa
    Từ đâu mang mảnh guồng tơ lại nhà

    Một hai xin phép ông già
    Trọ nhờ đêm ấy, nữa là hai đêm.
    Ông già nể khách người quen.
    Ngậm ngùi kể lại một "thiên hận tình."

    Rồi ông kết: (giọng bất bình)
    "Trời cay nghiệp thế cho đành! Thưa ông,
    Cô tôi nhạt cả môi hồng,
    Cô tôi chết cả tấm lòng ngây thơ.

    Đâu còn sống lại trong mơ,
    Đâu còn sống lại bên bờ sông yêu?
    Buồng the sầu sớm thương chiều.
    Khóc thầm biết có bao nhiêu lệ rồi.

    Tơ duyên đến thế là thôi!
    Thế là uổng cả một đời tài hoa.
    Đêm đêm bên cạnh chồng già
    Và bên cạnh bóng người xa hiện về..."

    Rùng mình tôi lại gạt đi:

    "Già ơi! Thảm lắm! Kể chi dài dòng?
    Cháu từ mắc số long đong,
    Yêu đương chìm tận đáy lòng đã lâu.
    Đau thương qua mấy nhịp cầu,
    Cạn dòng nước mắt còn đâu khóc người!

    "Dối già một chút mà thôi,
    Nghe lời già kể cháu mười đêm luôn
    Chợt thương, chợt khóc, chợt buồn
    Cháu như một kẻ mất hồn, già ơi!"

    Truyện xưa hồ lãng quên rồi,
    Bỗng đâu xem được thơ Người Vườn Thanh
    Bao nhiêu oan khổ vì tình,
    Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?

    Phải chăng? Mình có nên ngờ?
    Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  8. vlong11

    vlong11 Guest


    Thâm Tâm


    Màu máu Tigôn


    Người ta trả lại cánh hoa tàn
    Thôi thế duyên tình cũng dở dang!
    Màu máu Tigôn đà biến sắc
    Tim người yêu cũ phủ màu tang!

    K. hỡi! Người yêu của tôi ơi
    Nào ngờ em giết chết một đời
    Dưới mồ đau khổ em ghi nhớ
    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.

    Quên làm sao được thuở ban đầu,
    Một cánh Tigôn dạ khắc sâu
    Một cánh hoa xưa màu hy vọng
    Nay còn dư ảnh trái tim đau.

    Anh biết làm sao được hỡi trời!
    Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi!
    Thôi em hãy giữ cành hoa úa
    Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời.




    Dang dỡ
    -Thơ Thâm Tâm gởi tặng T.T.Kh-

    Khi biết lòng anh như đã chết
    Mây thôi hồng, và lá cũng thôi xanh
    Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành
    Và vũ trụ thảy một màu đen tối

    Anh cố giữ lòng anh không bối rối
    Để mơ màng tưởng nhớ phút giây xưa
    Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa
    Một đêm trăng sáng trên đường lá đổ

    Em nói những gì? Anh còn nhớ rõ
    Nhưng làm sao? Anh hiểu tại làm sao?
    Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào
    Tình đã chết, có mong gì sống lại!

    Anh không trách chi em điều ngang trái
    Anh không buồn số kiếp quá mong manh
    Còn gì đâu khi bướm muốn xa cành,
    Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết

    Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết
    Anh càng buồn, càng muốn kết thành thơ
    Mộng đang xanh, mộng hoá bơ phờ
    Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn

    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng
    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh
    Như hương trinh bát ngát ý dịu lành
    Hòa nhạc mới triều dâng tơ hạnh phúc

    Cuộc ly biệt ngờ đâu vừa đúng lúc
    Lòng bâng khuâng, bối rối trước khúc quanh
    Đi không đành, mà ở cũng không đành
    Muôn chim Việt hãy về thành Nam cũ

    Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá
    Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi
    Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi
    Niềm uất hận của một thời lạc lội

    Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối
    Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền
    Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên
    Nàng kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín

    Trong khi ấy, thanh niên không bịn rịn
    Giã gia đình, trường học để ra đi
    Họa xâm lăng đe dọa ở biên thuỳ
    Kèn gọi lính giục lòng trai cứu quốc

    Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước
    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui
    Đừng buồn thương, nhớ tiếc hoặc ngậm ngùi
    Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp



    Trả lời người yêu
    -Thâm Tâm viết bài thơ trả lời T.T.Kh-

    Các anh hãy uống thật say,
    Cho tôi uống những cốc đầy rồi im
    Giờ hình như quá nửa đêm?
    Lòng đau mang lại cái tin cuối mùa.

    Hơi đàn buồn như trời mưa
    Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi!
    Giờ hình như ở ngoài trời
    Tiếng xe đã nghiếng rã rời ra đi.

    Hồn tôi lờ mờ sương khuya
    Bởi chưng tôi viết bài thi trả lời
    Vâng, tôi vẫn biết có người
    Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.

    Ðể hôm sau khóc trong lòng
    Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian.
    Hôm qua rụng hết lá vàng
    Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.

    Tiếng xe trong vết bụi hồng
    Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
    Tiếng xe trong xác pháo xưa
    Nàng đi có mấy bài thơ trở về.

    Tiếng xe mở lối vu quy
    Hay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
    Miệng chồng, Khánh gắn trên môi,
    Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.

    Từ ngày đàn chia đường tơ,
    Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
    Kéo dài một chiếc áo len
    Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.

    Nàng còn gỡ mãi trên tay,
    Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
    Góp hai thứ tóc đôi đầu
    Sao còn đan nối những câu tâm tình?

    Khánh ơi! Còn hỏi gì anh?
    Lá rơi đã hết màu xanh, màu vàng.
    Chỉ kêu những tiếng thu tàn,
    Tình ta đã chết anh càng muốn xa.

    Chiều tan, chiều tắt, chiều tà
    Ngày mai, ngày mốt, vẫn là ngày nay.
    Em quen mất lối chim bay
    Và em đã chán trông mây trông mờ.

    Ðoàn viên từng phút từng giờ
    Sóng yên lặng thế, em chờ gì hơn?
    Từng năm, từng đứa con son
    Mím môi vá kín vết thương lại lành.

    Khánh ơi! Còn hỏi gì anh?
    Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên.
    Em về đan mối tơ duyên
    Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.

    Bao nhiêu giọt lệ còn thừa
    Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
    Bao nhiêu những cánh hoa hồng
    Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.

    Nhắc làm chi chuyện đôi ta
    Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi....

    Hãy vui lên các anh ơi!
    Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về.
    Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
    Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều.

    Giờ hình như gió thổi nhiều
    Những loài "hoa máu" đã gieo nốt đời.

    Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh.
    Sá chi những chuyện tâm tình
    Lòng đau, đem chứa trong bình rượu cay!

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  9. vlong11

    vlong11 Guest


    Và đây là bài bình luận thứ hai về TTKH qua lời tự bạch của Nhà Văn Nguyễn Vỹ: Thâm Tâm và Sự Thật Về TTKH

    Năm 1936-37, có xuất hiện ở phố chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người khác nữa. Ít ai để ý đến họ. Có lẽ vì họ là những người còn quá trẻ: Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi và mới bắt đầu viết văn, chưa có gì đặc sắc. Lớp văn sĩ đi trước không chú ý gì đến họ.

    Nhưng họ dễ thương, vui vẻ, hồn nhiên, an phận ở một vị trí khiêm tốn, chẳng thân với ai, cũng chẳng làm phiền lòng ai. Họ sống trong một thế giới riêng của họ, không chung đụng với những nhóm đã nổi tiếng ít nhiều trong làng văn, làng báo lúc bấy giờ.

    Họ có một tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm, nơi đây họ làm văn nghệ với nhau, với lối tài tử hơn là chuyên nghiệp. Tờ báo Bắc Hà bán không chạy lắm tuy có vài mục hài hước vui nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình và nhiều cố gắng hứa hẹn trên bình diện văn chương. Hăng hái nhất và đóng vai chủ động trong tuần báo Bắc Hà là Trần Huyền Trân. Thâm Tâm, biệt hiệu của Tuấn Trình, vẽ nhiều hơn là viết, thỉnh thoảng đăng một vài bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao ái tình của Nguyễn Bính, học sinh lớp Nhất, trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.

    Tuy không chơi thân, tôi quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều, vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ cuối đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Thường đi một con đường nên chúng tôi thường gặp nhau và quen nhau. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà "cho vui" vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông cảm văn nghệ, tôi có viết một chuyện ngắn khôi hài và chỉ có một lần. Trong một số báo đặc biệt mùa hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới: "Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn".

    Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sài Gòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, giống na ná Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bô Na Sài Gòn, tôi quên lững, cứ tưởng gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm, Hà Nội.

    Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tưởng anh ta đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: "Thằng Huyền Trân nó đi đâu không có nhà." Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại nhà ngủ cho vui.

    Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện cảm tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe


    Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường Tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử. Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ dưới đời nhà Lê, hình chữ nhất, chung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước. Đền thờ ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có dựng nhiều tấm bia đề hai chữ Hán: "Hạ Mã", và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng. Nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia, có một bầy quạ chiều tối bay về ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi họ là "Pagode des Corbeaux" (chùa Quạ) ngoài danh từ lịch sử "Temple de Confucius".

    Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp, nét đẹp mơn mởn của cô gái dậy thì, thùy mị, nết na, nhưng không có gì đặc biệt. Tuấn Trình có người cô, nhà ở phố chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây và thường thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2, năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình (tên gọi hồi đó) mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi, thi rớt Tiểu học và đã nghỉ học từ mùa hè năm trước. Tuấn Trình cũng mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất bản.

    Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa Antigone (Tigôn) trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô. Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm Tigôn vừa hé nụ, và chết trong những ngày mùa Đông năm đó, trong lúc giàn hoa Tigôn úa tàn, rụng ngập đầy sân.

    Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng Hè, sang hết mùa Thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình. Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm và cho cô Khánh biết: Hình ảnh của em ghi sâu vào trong thâm tâm anh.

    Trong bài Màu Máu Tigôn cũng có câu:

    Quên làm sao được thuở ban đầu
    Một cánh Tigôn dạ khắc sâu.

    Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh, những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà, đều ký THÂM TÂM, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt theo lễ giáo nghiêm khắc của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình - Thâm Tâm. Đó là niềm đau khổ triền miên của chàng nghệ sĩ 19 tuổi. Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô Hà Tây, Bạch Mai, Phúc Trang, Đền Voi Phục thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: "Thầy me em NGHIÊM lắm, gia đình em NGHIÊM lắm." Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ NGHIÊM gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.


    Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lén băng qua đường, vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cô Khánh run cả người (theo lời Tuấn Trình kể lại), cậu cũng lýnh quýnh, tất cả những câu bay bướm cậu sắp sẵn để nói với nàng, bấy giờ cậu quên mất hết. Một lúc lâu Tuấn Trình mới nói được mấy lời tình tứ, nhưng lại trách móc, nghi ngờ nàng không yêu mình. Nàng bảo: "Em không yêu anh sao dám ra đây gặp anh? Nhưng vì thầy me em nghiêm lắm, anh ạ."

    Tuấn Trình hỏi chua chát: "Giờ phút này chỉ có thơ với mộng, chỉ có anh với em, ánh trăng đẹp của hai đứa mình có nghiêm không nhỉ?" Có lẽ vì bất bình câu nói mỉa mai của người yêu, Khánh lặng lẽ yên một phút rồi đáp: "Ánh trăng đẹp, nhưng vẫn nghiêm đấy, anh ạ!" Cuộc gặp gỡ đêm ấy, chỉ lâu không đầy một tiếng đồng hồ. Tuấn Trình đặt một chiếc hôn âu yếm trên bàn tay của Khánh trước lúc nàng vội vã chạy về nhà.

    Lần thứ hai, hai cô cậu cũng gặp nhau trong vườn Thanh (nhiều người sau này nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật). Vườn Thanh Giám đêm ấy cũng tràn ngập ánh trăng thu. Nhưng thái độ của Khánh lạnh lùng khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Chàng lặng lẽ vuốt mái tóc huyền của Khánh rồi khẽ bảo: "Ước gì anh được yêu em như thế này mãi mãi." Nàng buồn bã hỏi: "Anh định bao giờ đến xin thầy me cho chúng mình?" Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: "Anh chưa nghĩ đến việc ấy vì........"

    Câu chuyện bị bở dở nơi đây. Khánh không hỏi gì hơn nữa. Chàng nắm tay nàng đi dạo quanh hồ nước xanh rì lăn tăn gợn sóng, chàng dừng lại, khẽ kéo Khánh vào lòng, nhưng nàng khẽ buông ra. Tuấn Trình âu yếm nhìn nàng: "Em!" Khanh mãi cười: "Anh bảo gì?"
    - Hình ảnh của em, nụ cười của em, sẽ mãi mãi ghi sâu vào lòng dạ anh, vào thâm tâm anh.
    Trần Thị Khánh bẽn lẽn cười như để tạ ơn và xin từ giã.

    Tuấn Trình trằn trọc suốt đêm. Khánh muốn giấu chàng một điều gì quan trọng chăng? Tình yêu giữa hai người vẫn nguyên vẹn, thư từ qua lại vẫn âu yếm, nhưng Tuấn Trình bắt đầu thấy lòng buồn bã băn khoăn khi giàn Tigôn bắt đầu héo rụng trong nắng ứa tàn thu. Thế rồi một hôm, chàng họa sĩ đa tình nhận được một bức thư của người yêu, không, của người hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng.

    Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ). Thư do một cô bạn gái Khánh đem đến tòa soạn báo Bắc Hà trao tận tay Tuấn Trình. Cô bạn gái hỏi "ông Tuấn Trình" chứ không gọi Thâm Tâm.

    Ngoài bao thư cũng đề: Monsieur Tuấn Trình (chữ Mister bằng tiếng Pháp), nét chữ quen thuộc của T.T.Khánh. Đại khái, Khánh nhắc lại tình yêu "thơ mộng" của cô với "người nghệ sĩ tài hoa trẻ" (những chữ cô dùng trong thư), tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy me của cô rất nghiêm, theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ biết sơ sơ thôi, nhưng cô vẫn có bổn phận "giữ tròn chữ hiếu, không dám cãi lời thầy me đặt đâu ngồi đấy v.v..." Cô nói cô buồn lắm vì tình yêu dang dở, "em yêu anh mãi mãi, không bao giờ quên anh, nhưng van anh đừng giận em, thương hại em, đừng trách móc em v.v..." Cô than thở cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm v.v...

    Khánh không nói một câu nào về vị hôn phu, không cho biết ngày cưới, và cuối thư viết tắt: KH. Bức thư của KH. chấm dứt một cách đột ngột cuộc tình duyên thực sự không mấy "thơ mộng" của họa sĩ Tuấn Trình và cô Trần Thị Khánh.


    Sau sự dò hỏi vài người quen ở phố Sinh Từ, Tuấn Trình được biết chồng cô Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, góa vợ và không có con. Trong câu thơ - "Bên cạnh chồng Nghiêm luống tuổi rồi" chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng với tuổi hãy còn vị thành niên của cô Khánh. Đó chỉ là nhận xét chủ quan và mỉa mai của Thâm Tâm, so sánh tuổi mình 20 với người đàn ông được diễm phúc làm chồng cô Khánh, nhưng trên thực tế và theo lời những người hàng xóm ở phố Sinh Từ nói với Tuấn Trình thì người chồng cô Khánh "giàu sang và trẻ đẹp" chứ không phải một ông già. Tuấn Trình cũng nhìn nhận rằng một người nhà giàu, 40 tuổi, đẹp trai, không thể nào là một ông già.

    Đám cưới đã nhờ mối lái qua lại từ lâu, và đồ sính lễ có kiềng vàng, xuyến, nhẫn, vòng, kim cương, quần áo hàng lụa quý giá cả. Rước dâu bằng mười chiếc Citroen mới, cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo cưới màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi trên xe hoa như nàng công chúa ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh. Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm có tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai Quế Lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa, ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.

    Người đau khổ trong cuộc tình duyên dang dở này không phải là cô Khánh. Trái lại, cô có đầy đủ hạnh phúc với ngưới người chồng rất chiều chuộng cô. Trần Huyền Trân đã gặp cô hí hởn với chồng vào ăn kem ở tiệm Blanche Neige (kem Bạch Tuyết), Bờ Hồ hai lần. Hai ông bà nhìn nhau và cười với nhau ra vẻ âu yếm lắm. Khánh đã có thai, được chồng săn sóc, nâng đỡ lên chiếc xe nhà Citroen. Lúc ra về, còn đi một vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm. Trần Huyền Trân kể lại cảnh âu yếm đó cho Tuấn Trình nghe và kết luận: "Con Khánh nó cho cậu leo cây, cậu còn si nó làm gì nữa, cho thêm tủi nhục." Nguời đau khổ dĩ nhiên là Tuấn Trình, THÂM TÂM.

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  10. vlong11

    vlong11 Guest


    Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

    Vì một chút tự ái văn nghệ đối với mấy người kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là "HAI SẮC HOA TIGÔN" ký T.T.Kh. với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ, con gái của người cô ở phố Cửa Nam, mang thư đến tòa soạn. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô để khỏi bị nghi ngờ. Cho nên giọng thơ hoàn toàn là giọng thơ lãng mạng của Tuấn Trình, và lời thơ khác hẳn với những lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của KH, báo tin lấy chồng.

    Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là đằng khác. Tuấn Trình đã nói quả quyết với tôi như vậy sau khi nhận được một bức thư cuối cùng của Khánh. Bức thư cuối cùng tỏ ý KHÔNG BẰNG LÒNG anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời cô. Trong thư PHẢN ĐỐI đó, Khánh xưng TÔI chứ không xưng EM như những thư trước, để chấm dứt trò chơi vô ích ấy. Thâm Tâm lấy những lời nghiêm khắc giận dữ của người yêu cũ để làm ra BÀI THƠ CUỐI CÙNG:

    TRÁCH AI mang cánh tigôn ấy,
    Mà viết tình xưa ĐƯỢC ÍCH GÌ?

    ....

    BÀI THƠ đan áo nay RAO BÁN
    Cho khắp người đời THÓC MÁCH xem.

    ....
    LÀ GIẾT ĐỜI nhau đấy, BIẾT KHÔNG?
    Dưới giàn hoa máu, tiếng mưa rung.
    Giận anh tôi viết giòng dư lệ,
    Là chút dư hương điệu cuối cùng.

    Từ nay anh hãy BÁN THƠ ANH,
    VÀ ĐỂ YÊN TÔI với một mình.
    Những cánh hoa lòng, HỪ ĐÃ BỎ
    Còn đem mà ĐỔI LẤY HƯ VINH.

    Cô Khánh "TRÁCH" người cũ không những đem chuyện tình xưa ra viết chẳng "ĐƯỢC ÍCH GÌ" lại còn làm BÀI THƠ đi "RAO BÁN" cho người đời "THÓC MÁCH" mua xem. Như thế là ANH "GIẾT ĐỜI TÔI, anh CÓ BIẾT KHÔNG?" Anh đem BÁN THƠ để kiếm chút "HƯ VINH" nhưng chuyện xưa ĐÃ BỎ rồi, anh hãy ĐỂ TÔI YÊN!........

    Thâm Tâm lấy gần hết chữ và nghĩa trong bức thư đoạn tuyệt tàn nhẫn của Trần Thị Khánh làm bài thơ CUỐI CÙNG đó mà vẫn ký T.T.Kh một lần cuối cùng. Rồi để đáp lại, chàng làm một bài ký tên THÂM TÂM và cũng là bài cuối cùng mỉa mai, chua chát:

    Đây bài thơ chót KÍNH DÂNG TẶNG BẠN
    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng.
    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,
    Như hương trinh bát ngát ý dịu dàng
    Hoa nhạc mới triều dâng tơ Hạnh Phúc.

    Trên phương diện văn thơ cũng như tình cảm, ta chỉ thương hại Thâm Tâm. Một nhà thơ trẻ hãy còn ngây thơ với tuổi 19 đầy thơ mộng, tưởng rằng cô Khánh vẫn thành thật yêu chàng, rằng cô bị ép gả cho một "ông già" nhưng cô vẫn giữ mối tình thiêng liêng chung thủy với người nghệ sĩ tài hoa. Cho nên tưởng làm vui lòng người yêu, chàng lấy tên nàng để ký dưới bài thơ tỏ ý thương tiếc, với những câu tình tứ như:

    Từ đấy thu rồi thu lại thu......
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ......
    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    ...

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
    Trời ơi người ấy có buồn không?
    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

    ...

    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên

    Nhưng chàng thi sĩ tình có ngờ đâu không những cô Khánh không hề tỏ chút gì cảm động vì mối tình đau khổ, thủy chung của chàng, hoặc cảm ơn những bài thơ an ủi của chàng mà trái lại cô còn gởi một bức thư tàn nhẫn, hằn học nào là "Anh giết đời tôi, anh biết không?", nào là anh mang chuyện cũ ra viết "chẳng ích gì", cô lại còn tỏ ý khinh rẻ: "Từ nay anh cứ đem thơ anh bán rao để kiếm chút hư vinh, nhưng anh hãy để cho tôi yên" v.v...

    Bấy giờ Thâm Tâm mới thức tỉnh, tìm lời bào chữa cho mình:

    .....Anh biết cái gì xưa đã chết,
    Anh càng buồn, càng muốn viết thành thơ.
    Nhưng thôi:
    Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ
    Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

    Thâm Tâm tự hạ mình viết "kính dâng tặng bạn" có ý xin lỗi chua chát người không phải là người yêu của mình nữa, và chàng đã viết:

    Chim muốn bay cũng giữ chẳng được nào!

    và:

    Có gì đâu, khi bướm muốn xa cành!

    Thâm Tâm không những đã tỉnh ngộ, mà lại còn uất hận vì thái độ khinh bạc của cô Khánh:

    ...Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,
    Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi.
    Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi,
    Niềm UẤT HẬN của một thời lạc lối.
    Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối
    Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền
    Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên.

    Thâm Tâm tự thú nhận: LẤY NGHỆ THUẬT VĂN THƠ để làm trò hề múa rối (vì sự thật chẳng có ý gì cả) trong mấy bài thơ ký tên T.T.KH với mục đích "Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền, Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên."

    Để rồi mỉa mai thay, nhận được những lời khinh khi ngạo mạn và hằn học của nàng. Đó là "Niềm uất hận" của Tuấn Trình trong một thời "lạc lối". Nhưng:

    "Thôi em nhé từ đây anh cất bước,
    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui."

    Chàng hứa chấm dứt trò hề múa rối về văn thơ và nàng cũng không mong gì hơn.

    Để tôn trọng thực tế của những sự kiện đã qua trong lịch sử hay văn học, để đừng xuyên tạc những chuyện không có, phải nói ngay rằng tên T.T.KH không hề gợi một dư luận xôn xao nào ở thời tiền chiến. Cuộc tình duyên của Tuấn Trình (Thâm Tâm) với cô Trần Thị Khánh cũng không hề gây một sự xúc động nào về tâm lý cũng như về văn chương trong giới văn nghệ và giới trẻ thời bấy giờ.

    Tôi chắc rằng những nhà văn thơ tiền chiến ở Hà Nội (tác giả nói về năm 1961) hiện còn sống tại Sài Gòn, như các anh Vi Huyền Đắc, Lê Tràng Kiều, Tchya, Vũ Bằng (cả anh Nhất Linh và Lê Văn Chương vừa tạ thế mấy năm trước) đều phải hết sức ngạc nhiên thấy một vài người của thế hệ hậu chiến ở Sài Gòn bỗng dưng tôn sùng T.T.KH thành một thần tượng, và biến một mối tình rất tầm thường, có thể nói là quá tầm thường, thành một thảm kịch của tình yêu!

    Nguyễn Nhược Pháp, nhà ở gần nhà cô Khánh, chỉ cách năm, sáu căn mà cũng không hề nghe nói đến cô này, và cũng không biết tí gì về mối tình của một họa sĩ kiêm thi sĩ Tuấn Trình hay Thâm Tâm xảy ra cùng dãy phố với anh.

    Nguyễn Vỹ

    Phổ thông tạp chí, số 63, ngày 15 tháng 8 năm 1961


    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  11. vlong11

    vlong11 Guest


    Lỗi hẹn với hai sắc hoa ti gôn
    Đào Tiến Luyện


    Kính tặng các bậc thầy cô, cha chú thuộc thế hệ cùng thời của T.T.KH. với sự ngưỡng mộ của hậu sinh.

    Chim chiều sải cánh trốn hoàng hôn,
    Chuông gửi không gian nhạc điệu buồn.
    Nhìn giải mây mờ che đất nước,
    Nghe chìm khát vọng tuổi yêu đương.

    Quê mẹ lầm than nỡ lạnh lùng,
    Đường vào quốc sử mặc rêu phong
    Thôi đành lỗi hẹn người em gái
    Gác lại một bên chuyện của lòng.

    Nhí nhảnh hồn nhiên lúc cạnh tôi,
    Nhìn đời là chuỗi những ngày vui.
    Yêu nàng tôi muốn cho nàng biết
    Nước mất tình nhà cũng mất thôi.

    Giờ phút chia tay biết nói gì ?
    Như say hương vị phút từ ly
    Nàng cười: - Vạn lý dù ngăn cách
    Chung thủy tình ta chẳng giảm suy.

    Đời có học đâu chữ lỡ làng,
    Ngày về khao khát đẹp yêu đương
    Phong sương, cố quận tìm dư ảnh
    Ước vọng tàn theo bụi cuối đường.

    Nàng đã trao thề trả nắng thu,
    Đốt thư tình cũ tự bao giờ,
    Đã say hương ấm bên người mới
    Nhắc chuyện ngày xưa với hững hờ.

    Tôi đã yêu em cả cuộc đời
    Đường duyên ai cản bước tình tôi ?
    Ba cung sáu viện, ngàn hoa lệ
    Xin đổi cho tôi lấy một người!

    Đời nếu chỉ là trang tiểu thuyết
    Thì xin viết lại chuyện ngày xưa:
    Yêu thương đôi lứa trong tha thiết
    Chẳng nói bao giờ phút tiễn đưa.

    Em đã nói gì trước với tôi ?
    Nhắc mà chi nữa chuyện xa xôi.
    Đời người giây phút nhiều đau khổ
    Là phút buồn thương chuyện đã rồi.

    Cũng tưởng thời gian sẽ xóa mờ
    Niềm đau dần vợi với tàn thu,
    Càng tìm quên lãng càng nhung nhớ
    Câu chuyện sang sông chẳng đợi đò.

    Đau đớn người yêu đã lấy chồng
    Tình ơi, tay trắng lại hoàn không!
    Ta về ghi lại trong tâm khảm
    Hình ảnh ngây thơ dưới nắng hồng.

    Năm 1970, họa nguyên vần bài Hai sắc hoa tigôn của T.T.Kh.
    Bài thơ Hai sắc hoa tigôn được đăng lần đầu tiên trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bẩy tại Hà Nội năm 1937. Bài thơ họa được đăng trong tập thơ Người em gái, năm 1972.
    Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, cơ sở Lũy Thầy phổ biến trong CD Xin làm nhân chứng thời hoa mộng.

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  12. vlong11

    vlong11 Guest


    Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH
    Mã Giang Lân


    40 năm nay, nhà thơ Thâm Tâm đã là "người trong cõi nhớ". Bạn bè đồng nghiệp của ông như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Trần Độ, Tô Hoài... đã nhớ và kể lại cuộc đời hoạt động và sáng tác văn thơ của ông với một tình cảm chân thành trân trọng.

    Thế nhưng nói đến Thâm Tâm, nhiều người nghĩ ngay đến T.T.Kh. T.T.Kh. là ai? Là người yêu của Thâm Tâm? T.T.Kh. chính là Thâm Tâm? Giữa T.T.Kh. và Thâm Tâm vào những năm 1937-1940 với những bài thơ tình tuyệt vời đã làm cho tên tuổi nhà thơ và nữ sĩ ấy vang vọng mãi trên thi đàn.

    Những năm sau này, những đợt sóng, những luồng dư luận khác nhau về nghi vấn văn chương này vẫn dội lên. Một trong những chứng nhân quan trọng để làm rõ vấn đề là Thâm Tâm thì nhà thơ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1950... Ở Sài Gòn trước đây, nhất là năm 1970 người ta không ngớt tung ra những huyền thoại về Thâm Tâm và T.T.Kh. Vũ Bằng là người giỏi bịa chuyện đã làm rùm beng một dạo để tỏ mình là người từng trải, là người hiểu biết. Và trong những dịp ấy nhiều người cũng nhảy ra "ăn theo, bởi vì họ chỉ biết qua nghe, rồi nhặt nhạnh, thêm bớt, viết thành bài làm sang. Báo chí Sài Gòn lúc đó còn công bố thêm nhiều bài thơ giả cũng ký tên là T.T.Kh.

    Hai năm nay, khi tập thơ Thâm Tâm ra đời, sự mến mộ của người đọc đối với nhà thơ được khẳng định thêm. Và lại xuất hiện trên báo chí những bài thơ viết say sưa đến quá nhiệt tình. Anh Hoàng Tiến viết liền hai bài. Một bài thơ đăng trên Nhân dân chủ nhật (số 23 tháng 7-1989) kể về T.T.Kh. Anh còn nói bài thơ Các anh in trong tập thơ Thâm Tâm là trích một bài đăng ở Người Hà Nội (2-9-1989) để cung cấp bản đầy đủ Tống biệt hành của Thâm Tâm. Tư liệu anh có là từ nguồn nghe. Hai lần ở hai bài anh đều nói anh "may mắn" được gặp, được nghe cụ Lương Trúc, nhà thơ, bạn Thâm Tâm kể. Anh Hoàng Tiến nói: "Vì trách nhiệm của công việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi ích của việc làm văn học sử sau này nên anh xin phép nhà thơ Lương Trúc cho công bố toàn bộ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Đấy là một việc cần thiết và bổ ích (nếu như nghiêm túc, khoa học), chỉ tiếc một điều bằng lối văn lộng ngữ Hoàng Tiến đã đưa ra những nghi ngờ, những điều không có căn cứ. Vậy theo đó mà viết văn học sử, mà khảo cứu thì giấy mực đâu in cho xuể.

    Trước khi nói về T.T.Kh, tôi xin có mấy đính chính ở một bài viết ngắn của Hoàng Tiến khi công bố bài Tống biệt hành.

    Tập thơ Thâm Tâm do Nhà xuất bản Văn học in năm 1987 sao anh nói là Nhà xuất bản Giáo dục?

    Giữa năm 1950 Thâm Tâm đi chiến dịch, làm báo mặt trận và hy sinh ở gần biên giới vì cơn bệnh tai ác, anh chỉ ghi nơi hy sinh: "Ở rừng Việt Bắc".

    Đúng là bài Tống biệt hành có một khổ cuối nữa mà Thi nhân Việt Nam cũng như Thơ Thâm Tâm không đưa vào. Khổ thơ đó như sau:

    Mây thu đầu núi, gió lên trăng
    Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
    Ly khách ven trời nghe muốn khóc
    Tiếng đời xô động tiếng hờn căm.

    Còn khổ thơ mà anh cung cấp cho bạn đọc là:

    Mây thu đầu núi gió lên trăng
    Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
    Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
    Tiếng đời xô động tiếng lòng căm.

    Tôi thì cho khổ thơ trên chính xác hơn vì đã in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1940.

    Bài Các anh trong tập Thơ Thâm Tâm chỉ có 16 câu (4 khổ) lấy trọn vẹn từ báo Tiểu thuyết thứ bảy ngày 4-5-1940 Hoàng Tiến nghe đâu mà bảo đó chỉ là trích đoạn. Chắc anh tin vào ai đó đã đưa in trên Văn nghệ và nói rằng đây là bài thơ của Thâm Tâm, không có đề, mà ở đây thực ra mở đầu là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài Các anh, còn ở giữa là 56 câu khác không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài. Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu, ông Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến in ở Sài Gòn năm 1968 lại đặt tên là Gửi T.T.Kh. Có lẽ cũng nghe ai nói rồi ghi lại.

    Trở lại câu hỏi T.T.Kh. là ai? Tôi xin mách: Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận này. Năm 1937Tiểu thuyết thứ bảy đăng truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu kể lại mối tình ngang trái giữa chàng nghệ sĩ và thiếu nữ Mai Hạnh. Họ đã gặp nhau dưới hoa ti-gôn. Nàng sợ bố mẹ khổ tâm, sợ tai tiếng ở đời nên không dám bỏ nhà đi với người yêu - Nàng phải sống gượng ép với một người chồng. Ít ngày sau tòa soạn báo nhận được hai bài thơ Bài thơ thứ nhất và Hai sắc hoa ti-gôn của T.T.Kh. Khi hai bài thơ này được đăng, nhiều người nhận T.T.Kh. là người yêu của mình như Nguyễn Bính, J.Leiba, Thâm Tâm đã làm mấy bài thơ đáp lại tiếng lòng của thiếu nữ, giải bày tâm trạng đau đớn của mình. Trong nhiều bài thơ của Thâm Tâm thường thấy xuất hiện cái màu hoa, dáng hoa ti-gôn "như tim vỡ".

    Trong bài T.T.Kh. là ai? Hoàng Tiến viết T.T.Kh. "về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bà còn hay mất", cụ Lương Trúc đã có dịp gặp đôi ba lần? Sự thật theo tôi, 50 năm nay đã rồi, T.T.Kh. đến nay vẫn còn là "ẩn số". Một hồn thơ đầy xúc cảm, một con người cao thượng nói lên nỗi đau đớn của mình một cách tuyệt vời mà lại âm thành, mai danh ẩn tích, để lại cho đời, cho giới mày râu cầm bút biết bao bàng hoàng thương cảm, mến phục.

    Một điều cần chú ý: Trước kia bà Thâm Tâm sống và học ở Thanh Hóa, khi xây dựng gia đình với Thâm Tâm thì ở Hà Nội và những năm kháng chiến chống Pháp lại ở Thanh Hóa mãi đến năm 1950 khi nhà thơ hy sinh, bà mới cùng bé Nguyễn Tuấn Khoa, con trai duy nhất lặn lội ra Việt Bắc, bà Thâm Tâm hiện nay vẫn đang ở Hà Nội.

    T.T.Kh. là ai? Là Trần Thị Khánh, là Thâm Tâm - Khánh là Tuấn Trình - Khánh (vì tên thật là Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình)... Theo Việt Nam thi nhân tiền chiến (Sài Gòn 1968) có người còn nói T.T.Kh. chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với nhà thơ Tế Hanh ở Thanh Hóa vân vân và vân vân. Tôi có thể nêu lên rất nhiều những huyền thoại huyễn hoặc nữa xung quanh cái tên T.T.Kh. này.

    T.T.Kh. là ai? Là một thiếu phụ, nhưng chưa bao giờ xuất đầu lộ diện. Chỉ lộ ra cái tên T.T.Kh. Cái tên Trần Thị Khánh cũng là do suy luận, đoán. Theo tôi mọi cái tên diễn dịch, khẳng định ở trên đều là của giả. Ngay cả hai bài thơ tiếp sau là Đan áo cho chồng và Bài thơ cuối cùng dù được ký tên là T.T.Kh. cũng rất có thể là của giả, bởi vì xét về ý tứ, nghệ thuật thơ cũng có những mâu thuẫn, những điểm đáng ngờ.

    (VĂN NGHỆ số 13 tháng 3-90)

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  13. vlong11

    vlong11 Guest


    Giả thuyết về T.T.Kh. (Nhân dân Chủ nhật)
    Hoàng Tiến


    T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    ái ân lạt lẽo của chồng tôi
    Và từng thu chết, từng thu chết
    Vẫn giấu trong tim một bóng người...
    Vậy T.T.Kh. là ai? Nam hay nữ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở ba bài thơ đăng trong Tiểu thuyết thứ bảy và một bài trên báo Phụ nữ, rồi thôi, không thấy xuất hiện nữa.

    Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân Việt Nam cũng trích dẫn T.T.Kh. với lời ghi chú: "Sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao, đến mấy người nhất quyết T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài thơ ấy là những áng thơ kiệt tác...".

    Hôm nay xin công bố với bạn đọc, một thông tin chúng tôi được biết về T.T.Kh. Người kể còn sống, mà T.T.Kh. cách đây bốn năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy cần phải công bố ngay vì nó có lợi cho việc là văn học sử sau này.

    Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc thuộc lớp thơ trước Cách mạng tháng Tám, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành Thâm Tâm viết tặng Phạm Quang Hòa khi đi hoạt động cách mạng. Nguyễn Bính cũng có bài thơ tặng Phạm Quang Hòa mở đầu bằng hai câu:

    Tôi và anh: Bính và Hòa
    Ở đây xa chị, xa nhà, xa em...
    Và đây kết thúc bằng hai câu:

    Đây là giọt lệ phân ly
    Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ...?
    Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót.

    T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.

    Bài thơ in ra gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận. Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết tặng riêng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.

    Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.

    Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.

    Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. "tắt lịm" trên thi đàn.

    Sau này, Thâm Tâm có viết một bài thơ dài để trả lời T.T.Kh. bài Các anh, (tập Thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học 1987, có in bài Các anh nhưng đây chỉ mới trích một phần).

    Lời bàn: Có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, mà không gây được mộ vang hưởng nào trong nghệ thuật thơ. T.T.Kh. viết bốn bài, có bài đã gây được vang hưởng.

    Thơ hay đâu cần nhiều.

    Phê-lích ác-ve (Félix Arvers, 1806-1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi được ghi trong văn học sử Pháp. Mới hay trong "lãnh địa" nghệ thuật, số lượng chỉ là cái không đáng kể. T.T.Kh. cần phải được xem xét và đáng giá như một tác giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám. Điều đó không có gì là quá đáng.

    Được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà còn hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên vì nghĩ rằng: Thời gian đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà cũng quy tiên. Vả lại, cũng vì công việc của văn sử học, nếu đã tìm ra tác giả của một tác phẩm nổi tiếng thì dù đắn đo đến đâu rồi cũng phải công bố.

    (Nhân dân Chủ nhật số 23 tháng 7-1989)

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  14. vlong11

    vlong11 Guest


    Giả thuyết về T.T.Kh. (Thi nhân Việt Nam)
    -Hoài Thanh - Hoài Chân-

    Hồi septembre 1937, Tiểu thuyết thứ bảy đăng một chuyện ngắn của ông Thanh Châu: Hoa ti gôn. Ít ngày sau tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi lại nhận được bài nữa: Hai sắc hoa ti gôn. Hai bài đều ký T. T. Kh. và đều một nét chữ run run. Từ đấy tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy không nhận được bài nào nữa và cũng không biết T. T. Kh. ở đâu.

    Nhưng sau khi hai bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao. Có đến mấy người nhất quyết T. T. Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho hai bài ấy là những áng thơ kiệt tác.

    Nói thế đã đành quá lời, nhưng trong hai bài ấy cũng có những câu thơ xứng với vẻ lâm ly của câu chuyện. Cô bé T. T. Kh. yêu. Người yêu của cô có nét mặt rầu rầu và có lẽ đã đọc nhiều văn Từ Trẩm Á. Cô kể: những buổi chiều thu, đứng dưới dàn hoa ti gôn,

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
    Thở dài trong lúc thấy tôi vui;
    Bảo rằng: "Hoa giống như tim vỡ,
    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"
    Cô bé ngây thơ không tin. Ai ngờ lời nói văn hoa kia bỗng thành sự thực. Chàng đi...

    Ở lại vườn Thanh có một mình,
    Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh,
    Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo,
    Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

    Và một ngày kia tôi phải yêu
    Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo
    Những tà áo đỏ sang nhà khác!
    - Gió hỡi, làm sao lạnh rất nhiều ?
    Ngày ấy buồn nhất trong đời nàng:

    Người xa xăm quá - Tôi buồn lắm
    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.
    Từ đó mùa thu qua, rồi mùa thu qua, nàng vẫn luôn luôn tưởng nhớ, nhưng tin buồn chàng nào có hay; cho nên nàng tự hỏi:

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
    Trời ơi! người ấy có buồn không ?
    Một nỗi đau đớn trần truồng, không ẩn sau liễu Chương Đài như nỗi đau đớn của nàng Kiều ngày trước.

    Cho đến hôm nay, xem chuyện, tình cờ lại thấy cánh hoa xưa. Nàng không sao cầm lòng được:

    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Nhỏ xuống thành thơ, khóc chút duyên!
    Bốn năm đã qua từ ngày tờ báo vô tình hé mở cho ta một cõi lòng. Ai biết "con người vườn Thanh" bây giờ ra thế nào? Liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối?

    Novembre 1941
    (Trích Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân)

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  15. vlong11

    vlong11 Guest


    Đọc thơ T.T.KH cảm tác

    Nàng là người đẹp xứ Thanh (Hóa)
    Tuổi Xuân phơi phới tâm tình mênh mang
    Gặp chàng nghệ sĩ lang thang
    Chiều Thu duyên sớm bẻ bàng chiều Thu
    Lỡ duyên - số phận mịt mù...
    Tigôn hoa máu, trời Thu lệ nhòa !
    "Bài thơ Thứ Nhất" chia xa
    "Bài thơ Đan Áo" đông qua úa tàn !
    Tâm tình phong kín quan san,
    Thơ đăng mặt báo phủ phàng đời hoa.
    Ôi thiên tình sử - bi ca:...
    Tháng năm, rồi lại ngày qua lạnh lùng !
    "Bài thơ cuối" cuộc tình chung.
    T.T.KH mịt mùng - Từ đây !
    Sáu mươi năm - tìm bóng người.
    Còn thơ sáng mãi bên trời yêu thương!

    Thanh Tùng

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  16. vlong11

    vlong11 Guest


    NÓI THÊM VỀ T.T.KH
    (Tác giả những bài thơ nổi tiếng từ 1937)

    THANH CHÂU

    Năm 1989, Nhà xuất bản Khoa học - xã hội có in mẫu truyện ngắn của tôi (cùng một số truyện của Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh v.v... thời kỳ 1930 - 1945). Bởi thấy còn nhiều người muốn hiểu rõ hơn về T.T.Kh, tôi đã đưa in lại truyện ngắn "hoa ti-gôn" viết năm 1937 đăng ở Tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy - truyện ngắn đã gây xúc cảm cho T.T.Kh. nên sau đó tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy đã nhận được mấy bài thơ của T.T.Kh. gửi đăng liền được dư luận bạn đọc đương thời chú ý.

    Sự thật, ngày nay truyện ngắn và thơ tình như của Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, hay lắm chứ, nhưng tại sao từ 1937 đến nay vẫn còn người nhắc đến T.T.Kh?

    Cuối năm 1989, một người bà con ở Canada đã gửi thư cho tôi nhờ chép lại mấy bài "thơ cũ" ấy. Và cũng vào dịp đó, tôi được nghe một băng ghi giọng ngâm thơ T.T.Kh. của một bà Hà Nội, nay là kiều bào ở Paris. Mới biết, nỗi bất hạnh của con người, điều ngang ngửa trong chuyện tình duyên đôi lứa, thời nào cũng gây được sự đồng cảm của người đồng loại... Và từ trước tới nay, người đọc các báo Nhân dân, Văn nghệ, sách Nhà xuất bản Văn học (Thơ Thâm Tâm) vẫn lại thấy có người tranh cãi về T.T.Kh.

    Vậy T.T.Kh. là ai?

    Có phải là Trần Thị Khánh? Hay Tào Thị Khê? Hay Tôn Thị Khuê? Trần Thị Khải, Thái Thị Khương? Ai mà biết được. Cho nên cuối bài truyện ngắn "Hoa ti-gôn" in lại năm 1989, tôi đã phải viết: "T.T.Kh. là ai? Lúc trước (1937), tác giả đã không cho biết địa chỉ, cũng như không chịu "xuất đầu lộ diện" cho tới ngày nay, nếu còn sống T.T.Kh. phải là lớp "cổ lai hy" rồi. Vậy nên quý trọng sự khiêm tốn của nhà thơ, hẳn có lý do "ẩn tích" của mình'".

    Viết như vậy, đâu có ổn. Như thế khác gì người đặt bó hoa lên ngôi mộ vô chủ, rồi ra về. Nhưng bạn đọc yêu thơ lại đòi hỏi khác. Người ta muốn biết T.T.Kh. đã vì ai, cho ai mà có thơ? Và người yêu T.T.Kh. có đích thị là Thâm Tâm, hay Nguyễn Bính, hay ai nữa...?

    Năm 1986, anh Tô Hoài (trong bài viết về Trần Huyền Trân, đăng tuần báo Văn nghệ, số 45 tháng 11, 1986) cũng lại nhắc: "Câu chuyện tình u uẩn mà nhiều báo một thời bàn tán sôi nổi, nào Hai sắc hoa ti-gôn", nào T.T.Kh., nào Thâm Tâm và Khánh hay là ai? Những éo le mơ hồ, các anh Thanh Châu, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính - những đồng tác giả ấy - hôm nay cũng còn có bạn có thể kể lại rành rõ được, hay là cứ để mờ ảo mãi như thế..."

    Hôm nay, nhân tìm lại những tư liệu còn giữ được, tôi muốn kết thúc cái chuyện cũ càng "mờ mịt" này bằng cách công bố thêm một điều lạ, là "thủ phạm" của sự "nhiễu" này, khiến thiên hạ càng đoán phỏng, đoán mò - chỉ tại Nguyễn Bính đã đăng một bài thơ (đề tặng T.T.Kh.), bài "Cô gái vườn Thanhi" in năm 1940. Đọc lại bài thơ này, người ta thấy Nguyễn Bính có đến Vườn Thanh, trọ nhà một ông già, ông này kể cho nghe chuyện một thiếu phụ cũng "đêm đêm bên cạnh chồng già - bên cạnh bóng người xa hiện về"...

    Và rồi Nguyễn Bính tự hỏi:

    "Bao nhiêu oan khổ vì tình
    Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?
    Phải chăng, mình có nên ngờ
    Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?

    Một người thơ đa tình như Nguyễn Bính: "Chuyện xưa hồ lãng quên rồi - Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh... (tức T.T.Kh). bèn ra thơ đề tặng T.T.Kh (cô gái vườn Thanh) người mà Nguyễn Bính chưa hề biết mặt. Bởi vậy, có người đã khẳng định - sau khi đọc bài thơ của Nguyễn Bính - rằng: "Chính ông Bính là người yêu của T.T.Kh. rồi làm thơ người ta tế nhị nói chuyện nọ ra chuyện kia - như thi sĩ Ac-ve đã kín đáo trong thơ của ông ta vậy.

    Người thứ hai, làm cho mọi người gần hơi thỏa mãn, chính là Thâm Tâm, khi có bài "Màu máu ti-gôn" (gửi T.T.Kh., tác giả bài thơ "Hai sắc hoa ti-gôn"):

    "Người ta trả lại cánh hoa tàn
    Thôi thế duyên tình cũng dở dang
    Màu máu ti-gôn đà biến sắc
    Tim người yêu cũ phủ màu tang.
    K. hỡi, người yêu của tôi ơi !
    Nào ngờ em giết chết một đời
    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi!
    "Quên làm sao được thuở ban đầu
    Một cánh "ti-gôn" đã khắc sâu
    Một cánh hoa xưa màu hy vọng
    Nay còn dư ảnh trái tim đau
    Anh biết làm sao được hỡi trời
    Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi
    Thôi em hãy giữ cành hoa úa
    Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời...

    Theo tôi, đây là một bài thơ dở nhất, không xứng với Thâm Tâm, mặc dù tác giả nói rõ là "K... hỡi, người yêu của tôi...". Đến nay, tôi không hiểu bài thơ này in ở đâu? Lấy ở đâu ra, sau này lại do Mã Giang Lân tuyển in vào tập "Thơ Thâm Tâm" (do Nhà xuất bản Văn học in năm 1988, mà không đề năm tháng?). Liền sau bài "Màu máu ti-gôn" này, nói là của Thâm Tâm "tặng T.T.Kh." lại thêm bài "Các anh" như sau (cũng ở tập Thơ Thâm Tâm nói trên:

    "Các anh hãy chuốc thực say
    Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
    Giờ hình như quá nửa đêm
    Lòng đau đau lại cái tin cuối mùa
    Hơi đàn buồn như trời mưa
    Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
    Giờ hình như ở ngoài trời
    Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi
    Tâm tình lạnh nhạt đâu nghe
    Tiếng mùa lá chết đã xê dịch nhiều.
    Giờ hình như gió thổi nhiều
    Những loài hoa máu đã gieo nốt đời
    Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh
    Sá chi những chuyện tâm tình
    Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay...
    (Bài này ghi: 1940)

    Cũng may, với sự nghi ngờ: "Có thể hai bài thơ trên là "thơ dỏm) lời thơ thô vụng, không chắc của Thâm Tâm, tôi đã tìm đến ông Phạm Quang Hòa, nghe nói ông trước kia có làm thơ, và quen thân với Thâm Tâm, còn giữ được nhiều thơ cũ. Ông Phạm Quang Hòa đã chép cho tôi một bài giống như bài "Các anh" nói trên. Nhưng theo ông Phạm Quang Hòa thì đây là bài thơ Thâm Tâm trả lời T.T.Kh., sau khi có "Bài thơ cuối cùng" của T.T.Kh. đăng báo Tiểu thuyết thứ bảy (?).

    Bây giờ xem lại thì bài này dài gấp mấy lần bài "Các anh". Chỉ đúng có 8 câu đầu là của bài "Các anh" tiếp theo còn 47 câu thì bỏ, để lại bắt vào đoạn cuối của bài "Các anh" với 7 câu kết (như trong bài Các anh).

    Vậy thì Mã Giang Lân đã lấy ở đâu ra bài "Các anh" (đã in ở sách "Thơ Thâm Tâm" nhà xuất bản Văn học - 1988)? Với vẻn vẹn có 16 câu? Nếu trích ở đâu sao không nói rõ?

    Về ông Phạm Quang Hòa, ta có thể tin ông là bạn thân của Thâm Tâm, nên mới có "Bài thơ trả lời T.T.Kh." của Thâm Tâm mà ông giữ được đến nay. Nhưng sao đọc những câu như:

    "Tiếng xe mở lối vu quy
    Hay là tiếng cắt nàng chia cuộc đời
    Miệng chồng KHÁNH gắn trên môi
    Hình anh, mắt KHÁNH sáng ngời còn ghi..."
    "KHÁNH ơi, còn hỏi gì anh?
    Xưa tình đã lỡ nay tình lại nguyên..."

    Rõ ràng lời thơ không xứng đáng với mối tình tha thiết và cay đắng của một thiếu phụ như T.T.Kh. đã giữ hẹn xưa:

    "Cố quên đi nhé, câm mà nín
    Đừng thở than bằng những giọng thơ..."

    Trong khi đó, "người đàn ông của mình" cứ bô bô réo tên mình lên trong thơ, hết K... ơi, lại Khánh ơi? Đến nỗi T.T.Kh. phải kêu lên:

    "Là giết đời nhau đấy biết không?
    Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh em viết dòng dư lệ
    Là chút dư hương điệu cuối cùng..."

    Đã thế lại còn "Bài thơ đan áo"! (1938). Ai đã đem bài thơ này của T.T.Kh. đăng lên báo Phụ nữ thời đàm (phố Hội Vũ)? Bài thơ như T.T.Kh. đã nói rõ:

    "Chỉ có ba người (?) đã đọc riêng
    Bài thơ đan áo của chồng em
    Bài thơ đan áo nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem..."

    Với mục đích gì "người yêu của T.T.Kh" lại đăng lên báo "Bài thơ đan áo" để đến nỗi T.T.Kh. phải nặng lời:

    "Từ đây anh hãy bán thơ anh
    Còn để yên tôi với một mình
    Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét
    Thì đem mà đổi lấy hư vinh..."

    Một người nghiêm túc như Thâm Tâm mà anh em văn nghệ thời trước từng quen biết, có thể có cử chỉ và lời thơ dễ dãi, vô ý thức như vậy không? Đó là sự đáng ngờ. Vì vậy, ngày Trần Huyền Trân còn chưa lâm bệnh nặng, tôi đã hai lần gặng hỏi anh về mối tình của Thâm Tâm và T.T.Kh. có thực có hay không? Và Trần Huyền Trân người bạn "nối khố" của Thâm Tâm, đã khẳng định là không từng nghe Thâm Tâm nói đến. Vậy người yêu đích thực của Thâm Tâm là ai? Có phải là T.T.Kh. như lâu nay nhiều người nghe nói? K... và T.T.Kh là một hay hai.

    Có người nói: Vào thời thơ T.T.Kh. nổi lên như thế, có nhiều anh tự nhận là người yêu của họ, nên Thâm Tâm đã phải kêu cái tên Khánh lên rõ to, để mọi kẻ có ý đồ xấu phải im tiếng, và hiểu rằng "hoa kia đã có chúa xuân".

    Như vậy lại càng không đúng tư cách Thâm Tâm. Anh Vũ Cao là người cùng sống gần gũi nhất với Thâm Tâm khi làm báo Vệ quốc quân (sau là Quân đội Nhân dân) trong kháng chiến chống Pháp đã nói với tôi: "Thâm Tâm tính tình kín đáo, nghiêm túc đến nỗi chính vợ mình rất nể sợ. Phong cách làm việc của anh đúng mực đến nỗi anh em tòa soạn phải noi gương "học tập Thâm Tâm". Cho nên, một số bạn thơ văn, đích thực là bạn của Thâm Tâm thường nói: "Thâm Tâm qua đời lâu rồi, mà T.T.Kh. nếu còn sống cũng đã già lão quá rồi, nên để họ yên nghỉ với giá trị không thể chối cãi một thời của họ. Những danh nhân chết đi bao giờ chả để lại cho người sau vô số huyền thoại, cái đúng cái sai, cái "dởm". Đó là vinh dự cho danh nhân, không phải vinh dự cho người muốn gắn tên tuổi mình vào hào quang của người đã khuất. Vũ Cao và Trần Cư, cùng làm báo quân đội với Thâm Tâm cho biết: ngay bài thơ Tống biệt hành, anh em nhắc đến, Thâm Tâm rất cảm động, nhưng vốn là người khiêm tốn, anh không thích kể đi kể lại, coi đó là tuyệt đỉnh của mình. Tiếc rằng anh "đi" sớm quá, giữa lúc anh còn muốn có những bài thơ mới, khác với hơi thơ cũ.

    ... Ông Vũ Bằng (vào quãng cuối tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy) di cư vào Sài Gòn có dựng đứng câu chuyện "Quang Dũng là con trai cụ Tản Đà" và nói về T.T.Kh., họ Vũ cũng chép tên thi sĩ Leiba vào, làm mọi người chả hiểu ra sao. Nhưng ai đã từng làm báo với họ Vũ cũng đều thuộc "ngón" làm ăn này của Vũ. Leiba (tức Lê Văn Bái) có thời gian ngắn làm báo Ích hữu (của Tân Dân) sau đó thi đỗ, làm ông phán tòa sứ sơn Tây, rồi mất (1941). Leiba là lớp trước Thâm Tâm, không quen biết gì nhau. Đây chỉ là cách làm báo phao tin "giật gân" cho chạy báo.

    Cũng cùng một loại phao tin "thất thiệt" đó tôi còn nghe một chuyến tức cười nữa là có người khẳng định người yêu của Thâm Tâm chính là cô em gái, cùng cha khác mẹ với nhà thơ Tế Hanh! Sự đồn đại chung quanh một tên tuổi đi vào lịch sử văn học, quả là phong phú.

    Gần đây, trên một vài tờ báo ta đọc hằng ngày đều có những "thông tin" vô bằng cớ như trên. Những chuyện "nghe lỏm" rồi thêu dệt thêm tùy hứng. Như giai thoại về Nguyễn Tuân, về Vũ Trọng Phụng, về Quang Dũng, về Nguyễn Gia Trí, và Thanh Tịnh, v.v...

    Buồn thay, lớp người 1930 - 1945 trong văn học, đã theo nhau "đi" gần hết. Còn sót lại có Lưu Trọng Lư, Bùi Hiển, Tô Hoài... "Nửa đêm chợt tỉnh", anh Lư có còn nhớ nhiều không, với sức nhớ của người trên 70 rồi?

    Viết đến đây, tôi muốn cung cấp để bạn đọc biết thêm ít chi tiết về T.T.Kh trước khi chấm dấu cuối cùng: Hồi 1937, tôi có nhận được một thư trả lời tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy... của T.T.Kh. Tôi nhớ đại ý, người làm thơ không muốn cho địa chỉ - để chúng tôi gửi báo biếu, với lý do cuộc đời của mình "chả ra sao". Bức thư đó, cũng như thư của bạn đọc hàng ngày gửi đến báo, ai giữ làm gì? Hơn nữa, hồi đó tôi còn trẻ, nên không mấy quan tâm đến chuyện các bà "phụ nữ làm thơ". Nếu tôi là người mê thơ, mê người làm thơ như bây giờ, có lẽ bức thư kia còn lại đến ngày nay, cũng thành giá trị.

    Còn chuyện nữa xin kể nốt:

    Hồi làm báo Tiểu thuyết thứ bảy ở Hà Nội, vì gia đình tôi ở thị xã Thanh Hóa, nên thời thường vẫn đi về, cũng như Nguyễn Tuân và Hồ Dzếnh có gia đình ở thị xã này.

    Một hôm, tôi không có mặt ở nhà, thấy mẹ tôi bảo: "Có một người con gái đến chơi, không chịu nói tên, chỉ để lại một bó hoa "ti-gôn" rồi cáo lui". Từ đó, không lần nào trở lại. Ai nhỉ? Tuổi tôi lúc đó cũng có đôi ba bạn gái, nhưng thời gian này, báo đã đăng mấy bài của T.T.Kh. rồi, vậy đó và người đã đọc truyện "Hoa ti-gôn" của tôi, hay đã yêu thơ T.T.Kh. mà tìm đến ?

    "... Ở lại vườn Thanh có một mình...". Có thể người này vốn là dân thị xã này hay chăng? Sao tôi không biết, không từng gặp? Lại nữa, nếu như có thực tên người yêu của Thâm Tâm là... Khánh, Trần Thị Khánh! thì bài thơ "Các anh" đã gọi toẹt ra rồi. Chỉ có tôi đến hôm nay là còn chưa rõ. Bạn đọc chú ý đến thơ T.T.Kh. và Thâm Tâm, người nào chả nói được, căn cứ theo lời kêu gọi trong thơ: "Khánh ơi!" còn hỏi gì anh?, Khánh ơi còn đợi gì anh?...". Chả là thầy bói cũng nói trúng tên: người ấy, T.T.Kh. (tức Khánh).

    Năm tháng đã "cuốn theo chiều gió" bao chuyện vui buồn. Cái gì còn lại vẫn là tài năng, đức hạnh. Ngày nay còn có người nhắc đến T.T.Kh. là do sức sống của thơ. Có người thích thú tìm thấy 9 chữ thu trong hai bài thơ đầu (mùa thu tâm sự đầy khắc khoải). Có người điểm thấy ba chữ nghiêm trong thơ T.T.Kh. mà đoán rằng: nghiêm là tên chồng, hay là họ người luống tuổi của T.T.Kh? Lại có người nhấn mạnh mấy chữ, lúc thì tôi, lúc thì em trong thơ T.T.Kh. (vừa giận vừa thương của một tấm lòng tha thứ, khi thấy người yêu làm vỡ lở tình duyên cũ).

    Riêng tôi, đọc lại thơ T.T.Kh. tôi ngạc nhiên thấy phong cách thơ bà này khác xa thơ của ba ông bạn Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân cùng thời. Thơ T.T.Kh. không có những chữ "Ly khách, cửa ải xa, xóm thanh bình, trường thành, quan san, trường đình, thét roi, cô phụ, đoạn trường... (Thâm Tâm); hay rau tần, ngõ trúc, tương tư, giang hồ, nhân thế, biển dâu, khóm trúc phong ba, họa đèn, giọt dòng, lưu biệt, thiên thu, tích liêu, v.v... (Trần Huyền Trân); hay vương tơ, Lão bộc, vật đổi sao rời, quay tơ, guồng tơ, hận tình, buồng the v.v... (Nguyễn Bính). Thơ T.T.Kh. kể chuyện mình một cách giản dị, không sáo ngữ, lúc thì thanh minh "Ba năm ví biết anh còn nhớ, em đã câm lời có nói đâu, lúc lại trách người "mang cánh ti-gôn ấy, mà viết tình em được ích gì", rồi lại tự than: Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết thấy ai cũng ví cánh hoa xưa...". Sực nhớ việc mình đi lấy chồng đã 3 năm, lại hối: "Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng, trời ơi người ấy có buồn không?...

    Thơ T.T.Kh. không cố tìm chữ lạ, không làm dáng, nên dễ đi vào lòng người, nhất là lòng bạn gái cùng cảnh ngộ. Luyến tiếc thời ngây thơ con gái, lắng tiếng lá thu rơi mặt hè, tưởng như bước chân người yêu trở lại, càng lo sợ. Tả cái giận, nói được nỗi lòng yếu đuối của mình đối với người yêu mà mình không rứt được... thật chân thành.

    Từ năm 1937 đến năm 1938, để lại ba bài thơ chuyên tả tâm sự mình mà người đọc không chán. Đó là đặc điểm của thơ T.T.Kh.

    T.T.Kh. là ai?

    Có lẽ ta cũng cần biết rõ đó là ai? Một người phụ nữ vào thời đó làm thơ, đã theo kịp trào lưu thơ mới, là điều đáng trọng. Tôi không tin rằng ai đó tìm ra bà - nếu bà còn, đã đáng bậc bà - không thể được bà sẵn lòng tiếp đón. Một người đã cố tình quên đi, đào sâu chôn chặt mối tình đau xót, bất hạnh nhất của mình (mà đã có những bài thơ như thế, chỉ bộc lộ một lần rồi dập tắt) hẳn không giống kẻ kém tài kém đức chỉ mong có nổi một bài thơ tình được đăng lên báo, vì danh hay vì lợi.

    Với sự trân trọng một tài năng, một tâm hồn phụ nữ hiếm hoi trong quá khứ, chúng tôi viết bài này và đề nghị cho in lại ba bài thơ độc nhất của bà, để chúng ta cùng thưởng thức.

    Mùa thu 1990

    T.C

    Nguồn: www.vietnamcayda.com
     
  17. duythanhhl

    duythanhhl Guest


    Hay nhưng mà dài quá à....
     

  18. tôi đọc một bản khác của bài thơ hai sắc hoa tigôn thấy tiếp theo khổ thơ thứ 6 có một khổ là:
    TRÁI TIM VÒ NÁT CÁNH HOA TÀN
    GIÓ MÙA THU THỔI SẮC LI TAN
    NGHĨ TÌNH SAO MỎNG NHƯ LÀN NẮNG
    NGHĨ THƯƠNG NGƯỜI ẤY LỆ GIÂNG TRÀN
    không biết có chính xác không
     
  19. duongthuha90

    duongthuha90 Guest


    một bài tổng hợp và khá chi tiết cho những ai muốn tìm hiểu TTK.H.hảo mod!
     
  20. cafe_sua

    cafe_sua Guest


    hình như bài "Hai sắc hoa Tigôn" bị viết thiếu 1 đoạn (đoạn 2)

    Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
    Dải đường xa vút bóng chiều phong
    Và phương trời thẳm mờ sương cát
    Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
    ..............
     
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.