[Văn 7] Phát biểu cảm nghĩ về vật nuôi

Thảo luận trong 'Làm văn' bắt đầu bởi b3b1, 18 Tháng mười hai 2011.

Lượt xem: 88,521

  1. b3b1

    b3b1 Guest

    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Tìm hiểu Ngày Thương Binh, Liệt Sĩ 27/7



    Ai làm giúp mình bài văn phát biểu cảm nghĩ về con vật nuôi đi :)

    >>lần sau nhớ viết bài có dấu nhé
     
    Last edited by a moderator: 18 Tháng mười hai 2011
  2. bài văn biểu cảm con vật nhe :
    MB : trong gia đình có rât nhiều thứ để chúng ta cần chú ý tới nhưng em yêu nhất là con chó của em không biết nó bao nhiêu tuổi nhưng từ khi em biết đi đã có nò rồi ví thế em râtr yêu thương nó
    nếu cần thân bài thí cảm ơn tớ sẽ có ngay
     
  3. p3b3o_091098

    p3b3o_091098 Guest

    B/ DÀN BÀI:
    I/ Mở bài: Giới thiệu con vật nuôi mà em thân thiết.
    II/ Thân bài: Kể lại những kỉ niệm chung quanh con vật nuôi đó.
    1/ Vài nét về con vật nuôi của em: Ví dụ nó bao nhiêu tuổi? lông màu gì? To hay nhỏ?...
    2/ Lai lịch nguồn gốc của nó: Em có nó trong trường hợp nào? Mua hay được ai cho? Những kỉ niệm chung quanh việc nó về với gia đình em?
    3/ Chung quanh việc đặt tên cho nó? Em có kỉ niệm gì không?
    4/ Buổi ban đầu em đã có tình cảm với nó chưa? Vì sao?( Vd nó cắn giày dép của em, nó kêu làm em không ngủ được, nó đi vệ sinh hôi hám..v...v....
    5/ Dần dần em bị nó chinh phục như thế nào? Chuyện gì khiến em không còn ghét nó? ( Vd : Nó mừng rỡ khi em đi học về. Nó cọ đầu vào em an ủi. Nó là cảm hứng để em làm dược một bài làm văn tốt, hoặc nó lập công bắt chuột, ...)
    6/Bây giờ thì em và nó gắn bó với nhau như thế nào?( Nó là vệ sĩ của em? là bạn cùng chia sẻ vui buồn? Em chăm sóc nó như là em em vậy....)
    III/ KẾT BÀI: Suy nghĩ của em về nó.
    - Không thể tưởng tượng một ngày nào đó nó bị bắt cóc.
    -Sẽ cố giữ gìn và chăm sóc nó như thể đó là một thành viên của gia đình
    __________________________________________________ __
    BÀI THAM KHẢO
    Hôm nay cô giáo ra đề làm văn. Cô yêu cầu tôi kể về kỉ niệm với một con vật nuôi mà tôi từng thân thiết. Không một chút đắn đo, tôi cầm bút kể về chú chó " Lúc", một con chó mà gia đình tôi ai cũng coi như một người thân.
    " Lúc" là cách tôi gọi tắt tên của nó. Thật ra tên đầy đủ của nó là" Lucky". Ba tôi đặt cho nó cái tên đó vì ông tin vào câu dân gian truyền miệng: " Mèo vào nhà thì khó, chó vào nhà thì sang". Số là thế này, một hôm, khi đứng trông hàng, anh Hải, người giúp việc cho ba tôi, thấy một con chó ngơ ngác chạy qua, vẻ mặt thất thần hỏang hốt. Anh bèn huýt gió gọi nó đứng lại. Ai ngờ nó vào nhà thật và nằm im phủ phục trước thềm. Anh lấy cơm cho nó ăn rồi vỗ về bảo nó nằm im đợi chủ đến tìm.Không ngờ, một ngày, rồi hai ngày ....trôi qua mà chẳng ai đi tìm nó cả. Thế là gia đình tôi nuôi luôn từ đó.
    Phải nói Lucky không phải là chó quý mà chỉ là một con chó đẹp vậy thôi. Nó là chó Việt 100%. Có lẽ chủ trước nuôi nó để thịt hay sao đó nên khi về nhà tôi nó đã bị thiến rồi. Do vậy nó mập tròn ú ụ. Cân dễ phải 20 kg ( Lần chích ngừa cho nó tôi đã có cân). Lông lại vàng óng ả nữa trông rất đáng yêu. Chỉ có điều cái mõm dài và hàm răng nhe ra nhọn hoắt trông rất đáng sợ. Ấy thế nhưng Lúc lại rất hiền. Ai vuốt cũng được và gặp ai cu cậu cũng mừng. Anh Hải thường trêu nó là chó" hữu nghị" và không tin tưởng chút nào vào việc giữ nhà của nó.
    Lúc đầu tôi cũng coi thường nó. Hay nói đúng hơn là tôi không ghét cũng không thương. Nhưng rồi nhiều chuyện xảy ra khiến tôi phải đổi thay thái độ. Đó là mỗi khi tôi đi học về, nó nằm trước cửa, đợi tôi từ xa. Và khi tôi chưa thấy nó là nó đã nhìn thấy tôi rồi. Nó chạy xồ ra mừng tôi tíu tít. Lúc đó cái đuôi của nó cứ gọi là ngoáy tít, hai chân trước chồm lên như thể muốn ôm chòang lấy tôi. Miệng thì khẽ kêu lên sung sướng. Đã thế ánh mắt lại đầy biểu cảm thiết tha, bảo sao tôi không cảm động. Cứ thế ngày lại qua ngày, tôi mến nó lúc nào không hay.
    Càng mến Lucky hơn khi một ngày kia nó lập công bắt chuột! Bạn có tin không khi chó mà biết bắt chuột như mèo. Nhưng là sự thật đấy. Số là cửa hàng nhà tôi đồ đạc rất nhiều nên lũ chuột thường hay ẩn nấp. Má lại ghét mèo nên không chịu nuôi. Thế là lũ chuột hòanh hành dữ dội. Một bữa nọ , Lúc đang nằm lim dim thìnghe tiếng rục rịch của lũ chuột đuổi nhau sau tủ kệ. Lúc vểnh tai lên, hai chân trước duỗi dài nghe ngóng...Thế rồi một anh " Tí" rửng mỡ chạy xẹt qua. Không chần chừ, Lúc vươn mình chồm tới. Anh " Tí" chới với bị Lúc ngoạm liền. Lúc cắn chặt , lắc lắc đầu ra chiều hí hửng đem lại khoe với ba tôi. Ba cầm xác chuột liệng vào thùng rác rồi khen Lúc giỏi, Lúc tài. Từ đó được khuyến khích, Lúc càng ra tay diệt chuột và lập thêm nhiều chiến công hơn nữa. Mẹ tôi vì thế càng yêu Lúc hơn.
    Thấm thoắt vậy mà Lúc đã ở với gia đình tôi được7 năm rồi. Biết bao kỉ niệm buồn vui của gia đình mà có Lúc cùng chia sẻ. Thậm chí anh Hai tôi đi học xa nhà mất những bốn năm mà khi về Lúc vẫn mừng, vẫn nhớ. Do vậy cả nhà tôi ai cũng yêu quý Lúc. Ba tôi thường nói với chúng tôi rằng nó không còn là một con chó nữa mà là một thành viên thân thiết của gia đình. Với tôi, tôi không thể tưởng tượng một ngày nào đó khi đi học về mà không thấy nó ra mừng. Nếu nó bị " bắt cóc" ...eo ôi, tôi chết mất. Do vậy tôi chỉ cầu trời cho nó được sống mãi với gia đình tôi. Tôi sẽ chăm sóc nó như thể đó là em út của tôi vậy
     
  4. chankquetdat

    chankquetdat Guest

    Con người, ai cũng có một đời sống tâm hồn, tình cảm riêng. Mọi thứ trong đó đều đẹp đẽ và đáng trân trọng cho dù đó là thứ tình cảm nhỏ nhất. Đối với tôi, tình cảm đối với các con vật nuôi trong gia đình đã chiếm một góc không nhỏ từ lúc nào tôi cũng chẳng rõ.
    Hồi tôi năm tuổi, cũng vừa lúc nhà tôi phải chuyển đến nhà mới. Tôi đã được nội đồng ý cho bế” Xanh” – bạn mèo dễ thương của tôi theo cùng. Cả ngày tôi chơi với Xanh, chán thì ngồi trước cửa ngắm nhìn xe cộ vút qua mà tha hồ tưởng tượng, Vẽ vời ra vô vàn câu chuyện, Cũng là một cái thú.Tôi chỉ tự kể mình nghe. Nội biết tôi ưa tĩnh nên không bao giờ hỏi khi thấy tôi ngồi một mình ngoài cửa cùng chú bạn Xanh. Xanh của tôi trông rất tức cười, điều đặc biệt là trên người chú chẳng có tí xanh nào cả, kể cả đôi mắt cũng nâu hệt như bộ lông dày mượt, đuôi chúa chỉ ngắn một mẩu và thân mình tròn hết mực. Đó là do tôi vất vả nuôi nuôi nấng cậu bạn suốt mấy năm liền. Thú vị nhất là chú mèo Xanh hơn tôi những năm tuổi. Chắc vì già,càng lúc chú bạn càng ít chơi đùa, chỉ cuộn mình trong ổ, hết ngủ lại lim dim, tôi gọi sao cũng không dậy.
    Không lẽ tôi cứ phải chơi một mình sao? Thật bất ngờ! Một bình minh trời đẹp, tôi tỉnh giấc bởi tiếng “meo meo” lạ tai. Trước mắt tôi là một cô mèo với bộ lông trắng muốt, cái đuôi dài cỡ bốn lần đuôi Xanh và đôi mắt đẹp vô cùng, xanh đại dương thăm thẳm.” Mèo mới lớn”- tôi gọi cô mèo như vậy, đó là món quà nội đã dành cho tôi nhân dịp tôi tròn sáu tuổi.Bà gọi cô mèo là Va, giống như khi đặt tên Xanh, là để hoài niệm về Xanh Pê Téc bua và Ma-xcơ-va, hoài niệm về nước Nga cổ kính, quật cường.Những điểu này về sau tôi mới hiểu. Hằng ngày, tôi và Va cùng đùa vui,ném bóng, trốn tìm. Va rất lạ.Có những lúc, nó nghịch ngợm vô cùng nhưng nhiều khi từ chối hẳn mọi trò chơi.Va đủng đỉnh dạo khắp nhà, đuôi cứ dựng lên trời trông rất ngộ.Lạ hơn cả là cô mèo rất yêu quý Xanh,còn Xanh thì lại ghét Va, sử sự như một bà già khó tính. Xanh không cho Va lại gần mình, hễ thấy Va lại gần là nó lại gầm gừ, rồi luôn ăn phần của Va, mặc đĩa cơm to phần Xanh, hãy còn nguyên vẹn.Rất hiền lành, Va sẵn sàng lùi ra để nhường cơm cho Xanh, chỉ khi Xanh đã ăn xong, Va mới dám mon men đến gần đĩa cơm thừa,nhiều bữa không còn gì thế là Va nhịn đói.Tuyệt nhiên,Va không hề lại gần đĩa cơm đầy của Xanh. Rồi cả những khi Xanh đang ngủ thì cô mèo Va lại chạy đến nép vào người Xanh, nhắm mắt lại. Xanh càng gầm gừ, càng đuổi đi thì Va càng tiến tới làm thân. Thế rồi một lần,Xanh cáu quá đã cào vào má Va. Nó chạy vụt đi, hai ngày liền không về.. Thật bất ngờ, ngày thứ ba Xanh đã đi tìm Va, và thấy cô mèo nằm trong gác bếp…Hôm ấy, Va được ăn phần cơm nguyên vẹn, lúc ngủ còn được tựa vào lưng Xanh.Nhưng tiếc rằng trời chỉ cho một ngày…
    Ngày lễ Nô-en năm đó, tôi được tặng quả cầu có tám quả chông vàng xinh xinh với dây rút buộc quanh. Mỗi lần đập xuống đất, chuông kêu boong boong nghe thật vui tai. Tôi lại cùng Va chơi ném bóng. Va chơi rất nhiệt tình vì còn đang vui vì chuyện hôm trước. Va kêu meo meo khiến cho tôi cười nắc nẻ. Nhưng rồi, thời gian ngừng trôi, quả cầu bay xa, Va phóng theo. Đây là lòng đường. Xanh lao ra từ trong ổ, đột ngột. K…ké…t…xôn xao..tiếng người …đám đông…Xanh, Va..! Muộn, muộn thật rồi! Trước mắt tôi là 1 vũng máu, rất nhiều máu đỏ tươi. Tôi lạc trong chân trời, bơ vơ giữa thinh không, vô tận. Tôi chạy mãi, mồ hôi lấm tấm, người nóng bừng lên như hòn lửa đỏ. Tôi lạc giữa sa mạc hoang sơ, môi rớm máu và cổ họng khô cháy. Tôi đã ốm đến một tháng. Mở mắt, Xanh lại gần giường vuốt vào má tôi, cái chân sau đi không vững vì đau. Còn Va, Va đã bay lên thiên đường, từ khi tôi còn lạc trong một chân trời vô tận. Va là thiên sứ hay sao mà vụt đến rồi lại vụt đi. Vội quá!
     
  5. • Mở bài: - Giới thiệu về một con vật nuôi mà em yêu thích
    • Thân bài:
    - Giới thiệu được tình cảm của em dành cho con vật ấy (Nó được nuôi ở nhè em khi nào? Do ai tặng? Lúc đầu mang về tình cảm của em thích , ghét ra sao?)
    - Lông, mặt. tai nó như thế nào? Cảm nghĩ của em về mặt, bộ lông, tai của ó?
    - Em đặt tên cho nó là gì? Tại sao lại đặt cái tên ấy  gắn bó kỉ niệm gì với em (Tên phải có ý nghĩa với em )
    - Dần dần em bị nó chinh phục như thế nào? Em và nó gần gũi với nhau, chia sẽ niềm vui, nỗi buồn?
    -  Dưới con mắt củaem nó không phải là một con vật bình thườn mà là một người bạn trung thành, thân thiết
    - Em chăm sóc nó như thế nào? (Nếu đó là một người rất thân tăng)  Tìn cảm của em gửi gắm tới con vật  Người tặng. Em dạy nó những gì?
    - Con vật mà em nuôi đã lập được chiến công gì? Lời khen. Tình cảm của em trước chiến công đó? Cảm nghĩ của em về chiến công của chú chó
    • Kết bài: Khẳng định vai trò, tình cảm của em đối với chú vật nuôi ấy?
     
  6. Miu Gầy, từ một con mèo rách nát tả tơi trở thành tiểu thư xinh đẹp, nó vẫn có những thói quen hết sức kỳ cục của một con mèo bị bỏ đói bỏ khát. Đanh đá vô cùng, hay bắt nạt, hay nổi nóng vô cớ và cũng rất sợ bị mắng bị đòn. Miu gầy ngốc nghếch khờ khạo, thường xuyên bị em Bipbi và anh Chíp chơi xỏ. Nhưng rồi khi bác Hằng sinh em Bin, Miu Gầy phải sang nhà khác ở. Ở đó Miu Gầy sung sướng, khoe bộ lông trắng muốt, cái đuôi xù to và được cưng chiều đúng như biệt danh "đại tiểu thư".

    Cuối cùng là em Rùa, bé bỏng nhưng rất thông minh và nghịch ngợm. Rùa có thói quen đứng nấp ở đâu đó rồi nhảy bổ vào chân người đi qua. Chỉ cần gọi "Rùa ơi, con đâu rồi?" là Rùa "thưa" rối rít. Em Rùa và anh Bin chơi với nhau rất hợp, mặc dù khi đó anh Bin mới được 14 tháng tuổi. Em Rùa có một thói quen là chơi đùa với chị Cộc Đuôi hàng xóm. Thế là Rùa tha về nhà cơ man nào là rận bọ. Rận khắp nhà, trong chăn trên gối, cắn cả nhà và cả Bin. Mọi nỗ lực tắm táp (hai ngày tắm một lần) cũng như bắt rận đều vô ích. Cuối cùng, Rùa phải sang ở nhà một cô bạn của bà. Nhưng ở đó, Rùa hết rận, nhanh chóng béo tốt và trở thành một anh chàng đẹp mã.
     
  7. nhokcons2

    nhokcons2 Guest

    Trong thế giới các loài vật nuôi, em thích nhất là chó bởi nó là loài động vật thông minh và gần gũi với con người.
     
  8. khuongmum123

    khuongmum123 Guest

    Hãy nêu cảm nghĩ về con vật nuôi của em

    Giữa cuộc sống tất bật hằng ngày, chắc ai cũng có một người bạn cùng đồng hành để xua tan những vất vả, lo lắng trong công việc, học hành. Những người bạn đó là ai? Đó là những con thú mà chúng ta vẫn nuôi. Đối với mỗi người, chúng có thể là những chú chim, hay những chú mèo. Còn đối với tôi thì chú chó "Bill" là một niềm vui lớn giúp tôi xua tan đi những mệt nhọc, lo toan sau một ngày học hành mệt mỏi.

    Chú chó "Bill" được bác tôi cho từ khi tôi mới lên sáu tuổi. Nó trông rất to,bằng cái xe đạp của tôi. Nó khoác trên mình một màu nâu vàng rất dịu. Cái đầu của nó tròn tròn, lúc nò cũng lắc trông rất ngộ. Bill có đôi mắt tròn, màu nâu đậm. Chiếc mũi của Bill nhỏ nhỏ, xinh xinh lúc nào cũng ươn ướt. Những chiếc râu mép nhỏ, trắng như cước. Bill có những chiếc răng nanh nhỏ, trông rất sắt bén. Khi nó ngủ, lại nhe ra những chiếc răng trông rất dữ. Hai đôi tai của Bill lúc nào cũng vểnh lên nghe ngóng. Hai đôi chân của Bill hơi gầy có những chiếc móng đeo đi rất nhẹ nhàng. Bill có cái đuôi dài và xù lên giống như cây chổi lúc nào cũng phe phẩy, rất ngộ.

    Tôi còn nhớ mãi vào mùa thu năm trước. Bill mắc một căn bệnh hiểm nghèo. Ba mẹ tôi đã cố gắng chạy chữa nhưng bệnh tình của Bill vẫng không hề suy giảm. Bill ngày càng yếu dần. Thấy Bill như vậy, tôi khóc nhiều lắm. Có lúc, tôi còn xin ông tiên cho tôi được thế bệnh cho Bill mắc dù biết đó chỉ là một ước mơ, một ước mơ không bao giờ có thể thực hiện được. Rôi một bổi chiều đầy mưa, Bill không còn ở trên thế gian này nữa.. Tôi ôm lấy Bill và khóc oà lên...

    Tôi không bao giờ có thể quên được chú chó Bill thân yêu này này. Bởi nó đã giúp cho gia đình tôi rất nhiều. Mỗi khi đi học về, vừa bước qua cánh cổng thì thứ mà tôi thấy đầu tiên chính là Bill. Nó quấn quít lấy chân tôi, đuôi ve vẩy mừng rỡ làm cho tôi quên hết những mệt nhọc. Khi màng đêm buông xuống, mọi người đều chìm trong giấc ngủ, thì nó lại thức giấc canh nhà. Nhiều lúc chỉ nghe được tiếng động nhỏ, nó lại sủa lên làm cho cả nhà thức giấc. Không những thế, trong đời sống chó còn là một món ăn đặc sản. Đáng ca ngợi nhất là đức tín trung thành của chúng. Có những chú chó mà dù chủ có ở đâu thì chúng cũng có mặt ở bên cạnh. Lúc chỉ có một mình. chúng còn có thể là người bạn ở bên cạnh để xua tan đi cái cảm giác cô đơn đó.

    Gia đình tôi rất quý Bill. Biết bao kỉ niệm buồn vui của gia đình mà có có Bill cùng chia sẻ. Bố tôi nói: nó nó không còn là một chú chó, mà nó như một thành viên thân thiết trong gia đình. Dù đã đi xa khỏi thế giới này mãi mãi, nhưng hình ảnh của Bill lúc nào cũng hiện lên trong tâm trí tôi. Tôi sẽ nhớ mãi Bill và giữ gìn những kỉ niệm giữa tôi và chú chó thân yêu này.
     
    Last edited by a moderator: 25 Tháng mười hai 2012
  9. tiendat2483

    tiendat2483 Guest

    Trên thế giới có rất nhiều loài thú nuôi rất đáng yêu và dễ thương, nhưng em thích nhất là chú chó của em- chú chó Milu
     
  10. tiendat2483

    tiendat2483 Guest

    Ò...ó...o Đó là tiếng gáy của chú gà trống nhà tôi. Chú như người bạn dang gọi tôi đậy sớm học bài và cùng chú thưởng thức buổi bình minh.
    Tiếng gáy của chú lảnh lót, trong trẻo, lúc rộn rã, rành rọt như một điệu đàn sôi động trong buổi mai hồng. Tiếng đàn tựa hồ như muốn các bạn gần xa lắng nghe, muốn xua tan màn đêm u tối còn phảng phất, muốn mọi vật bừng tỉnh sau một giấc ngủ say nồng. Rồi điệu dàn ấy dồn dập hơn như thúc giục mọi người thức giấc. Tôi đã thức dậy theo tiếng gọi âm vang của bình minh - tiếng gọi của bạn gà trống đáng yêu
     
    Last edited by a moderator: 12 Tháng mười một 2013
  11. tiendat2483

    tiendat2483 Guest

    Ò...ó...o Đó là tiếng gáy của chú gà trống nhà tôi. Chú như người bạn dang gọi tôi đậy sớm học bài và cùng chú thưởng thức buổi bình minh.
    Tiếng gáy của chú lảnh lót, trong trẻo, lúc rộn rã, rành rọt như một điệu đàn sôi động trong buổi mai hồng. Tiếng đàn tựa hồ như muốn các bạn gần xa lắng nghe, muốn xua tan màn đêm u tối còn phảng phất, muốn mọi vật bừng tỉnh sau một giấc ngủ say nồng. Rồi điệu dàn ấy dồn dập hơn như thúc giục mọi người thức giấc. Tôi đã thức dậy theo tiếng gọi â
    m vang của bình minh - tiếng gọi của bạn gà trống đáng yêu
    Sửa/Xóa nội dung
     
    Last edited by a moderator: 12 Tháng mười một 2013
  12. tiendat2483

    tiendat2483 Guest

    từ diển Tiếng Việt

    l
    lao xao t. (hay đg.). Từ gợi tả những âm thanh hoặc tiếng động nhỏ rộn lên xen lẫn vào nhau không đều.Lá rừng lao xao.Tiếng người lao xao trong chợ
    lào d. (id).1 Thùng đong nước mắm . Một lào nước mắm. 2 Cái đo giá trị. Họ quen lấy đồng tiền là lào
    lào phào t. (Tiếng nói) nhỏ yếu ớt (Thường vì sợ).Sợ quá nói lào phào ấp úng
    lào quào t. (kng.). Qua quýt , đại khái ,làm cho lấy xong. Nhặt lào quào mấy cái. Làm ăn lào quào , tắc trách
    lào thào đg. Từ mô phỏng tiếng nói nhỏ, yếu ớt ,lẫn trong hơi thở. Tiếng bà cụ lào thào hơi thở gấp
    lào xào t. (hay đg.). Từ mô phỏng tiếng động khẽ như của lá khô chạm vào nhau, liên tiếp. Tiếng gió lào xào trong bụi lau
    lảo đảo đg. Mất thăng bằng , ngã nghiêng muốn ngã, muốn đổ. Lảo đảo như người say rượu.
    lão I d. 1 Người già (khoãng bảy mươi tuổi trở lên; có thể dùng xưng gọi một cách thân mật). Ông lão. Bà lão. Sống lâu lên lão làng* (tng.). 2 (dùng trước d. chỉ người). Người đàn ông thuộc lớp già hoặc đứng tuổi (hàm ý coi thường). Lão thầy bói. Lão chủ keo kiệt. II t( Cây cối) già, không còn sức phát triển. Cây dừa lão, ít quả. Gốc vải lão.III Yếu tố ghép trước để cấu tạo danh từ chỉ người, có nghĩa “người thuộc lớp già(hàm ý coi trọng)”.Một lão nghệ nhân. Các cụ lão ông, lão bà.
    lão bộc d. (cũ). Người đầy tớ già.
    lão giả an chi Người già chỉ sống yên phận, không để ý đến việc đời, theo quan niệm cũ.
    lão hóa đg. (Cao su, chất dẻo, v.v.) thoái hóa và trở thành mềm dính hoặc giòn hóa. Tấm vải nhựa dùng lâu ngày đã lão hóa, giòn gẫy.
    lão khoa d. Khoa học nghiên cứu về sự hóa già của cơ thể sống, đặc biệt về những hiện tượng sinh lí, tâm lí, xã hội,v.v có liên quan đến tuổi già ở con người.
    lão làng t. Người cao tuổi, làm việc lâu năm, nhiều kinh nghiệm, thường được kính nể. Học hỏi kinh nghiệm các vị lão làng. Sống lâu lên lão làng.
    lão luyện t. Có nhều kinh nghiệm, già dặn, thành thạo ( trong nghề nghiệp, trong chuyên môn). Người thợ rèn lão luyện. Cây bút lão luyện.
    lão nhiêu d. Người đàn ông ở nông thôn trên sáu mươi tuổi, được miễn sưu thuế, tạp dịch, dưới chế độ phong kiến ,thực dân.
    lão nông d.Người nông dân già đã làm ruộng lâu năm.
    lão nông tri điền d. Người nông dân già am hiểu đồng ruộng,có nhiều kinh nghiệm sản xuất.
    lão suy đg. (hoặc t.).Suy yếu do tuổi già. Hiện tượng lão suy.
    lão thành t. Già và từng trải, giàu kinh nghiệm.Bậc lão thành.Nhà văn lão thành
    lão thị t . (Mắt ở người có tuổi) không còn nhìn thấy được rõ những vật ở gần, do khả năng điều tiết của thủy tinh thể giảm sút
    lão trượng d. (cũ). Từ dùng để gọi người già, với ý tôn kính
    láo t. 1 Vô lễ, không kể gì đến khuôn phép trong quan hệ đối với người trên. Bé mà láo ,dám chửi cả người lớn.2 (kng). Không kể gì đến khuôn phép ,sự thật. Tán láo cho vui. Làm thì láo, báo cáo thì hay
    láo lếu t. Như lếu láo. Ăn nói láo lếu
    láo liên đg. (hoặc t.). (Mắt) đảo qua đảo lại, nhìn với vẻ dò xét, tìm kiếm. Mắt láo liên nhìn ngang nhìn ngửa
    láo liếng đg. (hoặc t.). (ph.). Láo liên
    láo nháo t. (id.).1 (Tiếng người).Lộn xộn, lung tung nhiều thứ, không có chút trật tự nào.Người đứng người ngồi láo nháo. Làm ăn láo nháo chẳng đâu đâu cả. Láo nháo như cháo trộn cơm (tng.)
    láo quáo t. (id.). 1 (Tiếng người) nghe lộn xộn, không rõ. Nói láo quát mấy câu. 2 Như lào quào. Làm láo quáo cho xong.
    ******** t. (kng.). Rất láo. Đồ ********! Chuyện ********, không thể tin được.
    láo xược t. Vô lễ, xúc phạm đến người khác. Ăn nói láo xược. Hành động thách thức láo xược.
    lạo xạo t. Từ mô phỏng tiếng cát sỏi hay tiếng của vật tương tự bị cọ xát vào nhau hoặc bị nghiến. Sỏi đá lạo xạo dưới chân.
    láp nháp t . (id.). Bẩn ướt. Đường xá láp nháp .
    lạp xường d. Món ăn làm bằng thịt trộn với diêm tiêu, nhồi vào ruột lợn rồi phơi hoặc sấy khô.
    lari d. Dơn vị tiền tệ cơ bản của Georgia
    laser (Tiếng Anh Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation, “khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cảm ứng”, viết tắt). cv. lade, laze. d.Dụng cụ phát các sóng điện từ đơn sắc dựa vào bức xạ cảm ứng. Tia laser
    lát d. Đơn vị tiền tệ của Latvia.
    lát1 d. Cây gỗ to cùng với họ xoan, gốc bành lớn, lá kép lông chim, hoa màu vàng nhạt, gỗ có vân đẹp thuộc loại quý.
    lát2 d.1 Miếng mỏng được thái hoặc cắt ra. Lát bánh. Sắn thái lát phơi khô. 2 (ph.) Nhát. Lát dao. Lát cuốc
    lát3 d. Khỏang thời gian rất ngắn. Suy nghĩ một lát. Lát nửa
    lát4 đg. Xếp và gắn gạch hoặc ván gỗ, v.v. thành một mặt phẳng. Nền lát gạch hoa. Ván lát sàn
    lát hoa d. Gỗ lát có vân nhiều và to
    lát ti x. Latti
    lạt1 d. Dây buộc bằng tre, mây, .v.v. chẻ mỏng. Chẻ lạt. Lạt gói bánh
    lạt 2 t. (ph.). Nhạt
    lạt lẽo t.(ph.). Nhạt nhẽo
    lati x. Latti
    Latin cv. Latinh t. (Tiếng nói, chữ viết) của người La Mã xưa. Tiếng Latin. Chữ cái Latin.
    latti cv. Lati, lát ti. d. Thanh gỗ hay tre nhỏ và dài ken sít nhau để làm vách, làm trần nhà
    lau1 d. Cây cùng loài với mía, mọc hoang thành bụi, thân xốp, hoa trắng tụ thành bông
    lau2 đg. Làm cho khô, cho sạch bằng cách dưa nhẹ một vật mềm trên bề mặt. Lau bảng. Lau mồ hôi. Sàn nhà lau sạch bóng.Sạch như li như lau (rất sạch, không có một vết bẩn).
    lau chau t. Tỏ ra nhanh nhảu nhưng hấp tấp, thiếu suy nghĩ. Nghe chưa xong đã lau chau hỏi lại. Thấy ai làm gì cũng lau chau sà vào.
    lau hau t. (id.). Như lau nhau 1
    lau lách d. Lau (nói khái quát). Lau lách mọc um tùm.
    Lau lá t. (kng.) (Nói, đọc) nhanh, luôn mồm, không vấp váp. Đọc lau láu. Trẻ nói lau láu suốt ngày.
    Lau nhau 1 t. Thuộc cùng một lứa nhỏ bé hoặc tàm thường như nhau, và thành một đàn, một lũ. Bọn trẻ lau nhau. Tên cướp và 1 đàn em lau nhau.
    lau nhau 2 t. (id.). Như lau chau.
    làu t. (thường dung sau đg ; kết hợp hạn chế). 1 Có thể đọc thuộc long thạt trơn tru, không chút vấp váp. Thuộc làu làu từ đầu đến cuối. Bài hát nào cũng thuộc làu làu. Làu thông sách kim cổ. 2 (kng.). Ở tình trạng không có một gợn bẩn. Bàn ghế sạch làu.
    làu bả làu bàu đg. x. làu bàu (láy).
    làu bàu đg. Nói nhỏ trong miệng tỏ vẻ bực dọc, khó chịu. Không dám cãi lại, nhưng cứ làu bàu. // Láy: làu bà làu bàu (ý mức độ nhiều).
    làu nhàu đg. Như làu bàu.
    làu thông đg. (cũ). Thuộc làu. Làu thông kinh sử
    lảu bảu đg. Như làu bàu (nhưng nghĩa mạnh hơn).
    lảu thông đg. (cũ). x. làu thông.
    láu t. Tính nhanh và khôn khéo trong việc tìm ra cách ứng phó với cá tình huống trong đời song hằng ngày. Thằng bé đến là láu. Giở trò láu vặt.
    láu cá t. (kng.). Có nhiều mẹo vặt và ứng phó nhanh. Thằng bé nghịch ngợm và láu cá. Trả lời rất lấu cá.
    láu lỉnh t. Có vẻ tinh nhanh, khôn và tinh nghịch. Vẻ mặt láu lỉnh. Trả lời một cách láu lỉnh.
    láu ta láu táu t. x. láu táu (láy).
    láu táu t. Nhanh nhảu mà thiếu chin chắn. Ăn nói láu táu. // láy: láu ta láu táu (ý mức độ nhiều hơn).
    láu tôm láu cá t. (thgt). Như láu cá (nhưng nghĩa mạnh hơn).
    lạu bạu đg. Nói nhỏ trong miệng, vẻ bực bội. Lạu bạu điều gì không rõ. Lạu bạu chửi kẽ.
    lavabo d. x. lavabô.
    lavabô cv. lavabo. Bồn rửa mặt, có vòi nước, gắn ở tường.
    lave cv. la ve. d. (ph.). Bia. Uống lave.
    lay đg. Lắc qua lắc lại làm cho không còn giữ được thế ổn định ở một vị trí. Lay bật cọc rào. Gió lay rèm cửa. Lay vai gọi dậy. Không lay nổi ý chí sắt đá (b.).
    lay bay t. (id.). Ở trạng thái bay lất phất. Mưa lay bay.
    lay chuyển đg. Làm cho không còn giữ được nguyên vị trí, trạng thái ổn định (thường nói về ý chí, tình cảm). Túp lều bị bão lay chuyển dữ dội. Làm lay chuyển ý chí đấu tranh. Khó mà lay chuyển được anh ta (làm cho thay đổi ý định).
    lay động đg. Chuyển động nhẹ qua lại ở một vị trí nhất định. Bóng cây lay động trên mặt nước. Ngọn lửa khẽ lay động. Bài thơ làm lay động lòng người (b.).
    lay lắt1 đg. (hoặc t.). 1 (cũ; id.). Ở trạng thái lay động một cách yếu ớt. Cành liễu lay lắt trước gió. 2 Ở trạng thái tồn tại một cách yếu ớt, mỏng manh, không ổn định kéo dài. Sống lay lắt.
    lay lắt2 t. Ở trạng thái không được dùng tới, không được chú ý tới trong thời gian dài. Cuốn sách vứt lay lắt hang tháng trời không đọc tới. Đồ dùng để lay lắt mỗi chỗ một thứ.
    lay nhay t. (hoặc đg.). (ph.). Lây nhây.
    lay ơn x. layơn.
    lay trời chuyển đất t. Có tác dụng gây ra những sự chuyển biến lớn lao.
    láy đg. (ph), Láy
    láy đg. Lắp lại(âm, tiếng,...) để tạo một khết quả nhất định trong diễn đạt. Láy đi láy lại câu trách móc.
    lạy đg. (hoặc d.).1 Chắp tay, quỳ gối, và cúi gập người để tỏ lòng cung kính, theo lễ nghi cũ. Chắp tay lạy Phật. Cúi lạy. Lạy bốn lạy. 2 (cũ) từ dùng trước từ chỉ người đối thoại khi mở đầu lời nói, để tỏ thái độ cung kính hoặc ý cầu xin khẩn thiết. Lạy cụ! Lạy trời mưa thuận gió hò… (cd.).
    lạy cả nón (kng; chỉ dùng ới chủ ngữ ở ngôi thứ nhất). Xin chịu hoàn toàn không dám làm, dám nhận (thường dùng để tỏ thái độ không tán thành, hoặc mỉa mai, châm biếm một việc nào đó) Anh thì anh có thể làm, chứ tôi thì xin lạy cả nón.
    lạy lục đg. Cầu xin một cách khốn khổ, nhục hã. Lạy lục hết người này đến người khác mà chẳng được.
    lạy như tố sao đg. (kng.). Lạy lia lịa.
    lạy ông tôi ở bụi này Ví thái độ, hành động vì vô tình hay dại dột mà để lộ tung tích, hành vi cần giữ kín. Làm như vậy khác gì lạy ông tôi ở bụi này
    lạy tạ đg . Lạy để tạ ơn.
    lạy van đg. (id). Như van lạy.
    layơn d. Cây có hình thân củ như củ hành, lá hình gươm xếp thanh 2 dãy, hoa to đẹp, xếp dọc một trục dài.
    laze d.x.laser.
    lắc đg. 1 Làm chuyển động qua lại nhiều lần trong khoảng cách nhắn. Thuyền gặp sóng , lắc như đưa võng. Lắc lắc chai nước xem có cặn không. 2 (kng.). Lắc đầu( nói tắt). Hỏi gì cũng lắc. Gật rồi lại lắc, đến ỡm ờ
    lắc cắc t. Từ mô phỏng những tiếng ngắn, gọn và không vang, như tiếng dùi gõ liên tiếp vào tang trống.
    lắc đầu đg. Đưa đầu qua lại vài cái tỏ ý không bằng lòn, không đồng ý. Lắc đầu thở than.
    lắc đầu lè lưỡi đg. (kng). Tỏ vẻ kinh ngạc thán phục.
    lắc lô x. lăc lê
    lắc lư đg. Nghiêng qua ngiêng lại đều đều và liên tục. Thuyền lắc lư theo sóng. Lắc lư như đưa võng.
    lắc rắc t. 1 Từ gợi tả tiếng mưa rơi thưa thớt. Mưa xuân lắc rắc trên mái nhà. 2 Từ mô phỏng tiếng động nhẹ,giòn, thưa và liên tiếp. Cảnh khô gây lắc rắc.
    lặc lè t. Từ gợi tả dáng đi nặng nề khó nhọc vì phải mang vác quá nặng. Lặc lè gánh hai thúng thóc đầy.
    lăcle cv. Lắc lê.d. (kng.). Chìa vặn.
    lắm1 d. Khoanh thịt cắt ra ở cổ bò hay lợn đã làm thịt.
    lắm2 d. Năm chỉ dùng để đếm, sau số hàng chục). Mười lăm. Chín lăm( chín mươi lăm). Mươi lăm
    lăm3đg. (cũ;dùng trước đg.). có ý định và sẵn sàng có dịp, có dịp là làm ngay( thường là việc táo bạo). Rắn con lăm lămnuốt cá voi(tng.).
    lăm lăm t. Ở vào thế sẵn sàng và đang chăm ch. Đợi có thời cơ là thực hiện ngay ý định, Súng thợ săn lăm lăm chờ thú rừng. Chân chỉ chăm chăm chưc chạy.
    lăm lằm t. (id.). (Nắm, giữ), thật chặt,không buông, không rời ra. Giữ lăm lằm.
    lăm le đg. (thường dùng trước đg) có ý định và sẵn sàng có thời cơ là làm ngay(thường là việc xấu). Tên kẻ cắp lăm le rút trộm cái ví.
    lăm tăm t. có nhiều tăm nhỏ nổi liên tiếp trên mặt nước. Nước sôi lăm tăm.
    lăm xăm t. (id; dùng phụ cho đg.). (Bước đi ngắn nhưng nhanh. Cháu bé lăm xăm chạy ra cửa.
    lằm bằm đg. (cũ;ph.). Lầm bầm.
    lắm I t.(thường dùng trước d.). có số lượng được đánh giá là lớ; nhiều.Lắm tiền nhiều của. Lắm việc. Nói lắm mỏi miệng. II p. Đến mức độ được đánh giá là cao. Người đông lắm. Thuốc đắng lắm. Cảm ơn anh lắm lắm (kng.).
    lắm chuyện t.(kng.). Hay bày vẽ hoặc tham gia vào những việc không liên quan đến mình, gây phiền phức, rắc rối. Chỉ lắm chuyện.
     
  13. 123

    o=>:)>-:eek::)\leq\geq\Rightarrow\Leftrightarrow\int_{}^{}\oint_{}^{}\exists\forall\bigcup_{}^{}\bigcap_{}^{}\frac{a}{b}\sqrt[n]{A}\infty\sum_{i=1}^k a_i^n\sum_{i=1}^k a_i^n\prod_{i=1}^{n}\{ABC}:):(:confused::mad::rolleyes::eek::D;):p:cool::eek::)|:-SSo-+@};-|-)=(:))>-/:)@-)o=>:|b-:)-*ko bit
     
  14. khùng:D:D:D:D:D:D:D:D:cool::cool::cool::cool::cool::cool::cool:@-)@-)@-)@-)@-):rolleyes::rolleyes::rolleyes::rolleyes::rolleyes:
     

CHIA SẺ TRANG NÀY