Sử 9 Đề thi chọn học sinh giỏi ở Quảng Ninh

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi Thái Minh Quân, 4 Tháng mười hai 2019.

Lượt xem: 36

  1. Thái Minh Quân

    Thái Minh Quân Cố vấn Lịch sử Cố vấn chuyên môn

    Bài viết:
    3,116
    Điểm thành tích:
    561
    Nơi ở:
    TP Hồ Chí Minh
    Trường học/Cơ quan:
    THCS Nguyễn Hiền
    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    ĐÁP ÁN THAM KHẢO ĐỀ THI HSG QUẢNG NINH BẢNG A VÀ B
    2 bảng này khác nhau câu 4 và 1 ý câu 5.
    Câu 1 Sự kiện khởi đầu tạo ra khuôn khổ trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai là Hội nghị Ianta (2/1945)
    - Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, nhiều tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ phe Đồng minh nổi lên gay gắt với 3 vấn đề lớn:
    + Nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương .
    + Phân chia khu vực đóng quân theo chế độ quân quản ở các nước phát xít bại trận và phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa các nước thắng trận ở các khu vực trên thế giới.
    + Tổ chức lại trật tự thế giới mới sau chiến tranh.
    - Trong bối cảnh đó, hội nghị cấp cao 3 cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh đã họp từ ngày 4 - 11/2/1945 tại Ialta
    - Tham dự hội nghị có Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô Stalin, Tổng thống Mỹ Ru dơ ven và Thủ tướng Anh Soc Xin .
    - Sự kiện này có liên quan mật thiết tới hòa bình, an ninh và trật tự thế giới sau này.
    - Hội nghị đã quyết định những vấn đề sau đây:
    * Về việc nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
    - Ở châu Âu và châu Á – Thái Bình Dương: 3 cường quốc đã thống nhất mục đích là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
    - Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á- Thái Bình Dương sau khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc.
    * Phân chia khu vực đóng quân.
    + Ở châu Âu:
    - Quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông Đức, Đông Berlin và các nước Đông Âu sẽ do Hồng quân Liên Xô giải phóng.
    - Quân đội Mỹ, Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây Đức, Tây Berlin, Italia và một số nước Tây Âu khác.
    - Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ trong đó Áo, Phần Lan trở thành 2 nước trung lập..
    * Tổ chức lại trật tự thế giới.
    - Ba cường quốc đã thống nhất việc thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc, dựa trên nguyên tắc cơ bản là sự nhất trí giữa 5 nước lớn: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc để gìn giữ hòa bình, và an ninh thế giới mới sau chiến tranh .
    =>Những thỏa thuận của Hội nghị cấp cao Ialta 2/1945 và những quyết định sau đó của Đồng minh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới sau chiến tranh, từng bước được thiết lập trong những năm 1945-1947 được gọi là “Trật tự 2 cực Ianta”.
    * Hệ quả của những quyết định quan trọng tại Hội nghị cấp cao Ianta.
    -Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít và khu vực phát xít chiếm đóng, thành lập tổ chức Liên hợp quốc và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các nước thắng trận tại Hội nghị Ianta đã tạo ra khuôn khổ của một trật tự thế giới mới, hoàn toàn khác trước (không còn hoàn toàn bị chủ nghĩa đế quốc chi phối, mà đã có sự tham gia tích cực của các lực lượng dân chủ đứng đầu là Liên Xô và việc giải quyết các vấn đề an ninh thế giới dựa trên cơ chế an ninh tập thể thông qua Liên hợp quốc…).
    – Khuôn khổ trật tự thế giới này chịu sự chi phối sâu sắc của hai siêu cường Mĩ và Liên Xô.
    -Thế giới phân thành hai cực, hai phe : tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa -> hiện tượng đầu tiên trong Lịch sử thế giới. Quan hệ thù địch Mĩ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa…
    – Những biến đổi to lớn và sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô những năm 1989 – 1991 đã dẫn tới việc chấm dứt “Trật tự thế giới hai cực Ianta” và một trật tự thế giới mới đang hình thành
    Câu 2.
    a Sự phát triển “ thần kì “ của Nhật Bản
    - Sau chiến tranh thế giới thứ II, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Nhật mất hết thuộc địa, dân số đông, nghèo tài nguyên, nền kinh tế Nhật lâm vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng (sản xuất công nghiệp 1946 chỉ bằng 1/4 so với năm 1939) nên Nhật phải dựa vào viện trợ của Mỹ để phục hồi kinh tế.
    -Thời kỳ 1945- 1951 : Kinh tế phát triển chậm và phụ thuộc Mỹ.
    -Thời kỳ 1952 -1960 kinh tế Nhật được khôi phục và phát triển nhanh.
    -Thời kỳ 1960 - 1973 phát triển nhảy vọt (gọi là thần kỳ Nhật Bản): trong những năm 1960-1969 kinh tế tăng trưởng 10.8%/năm.
    - Năm 1968 vượt Anh, Pháp, Tây Đức vươn lên đứng thứ 2 thế giới .
    - Công nghiệp đã đạt được những bước phát triển nhanh: Tàu biển (50% thế giới), xe hơi, thép, xe máy, máy điện tử, máy may, máy ảnh, đồng hồ.
    - Nông nghiệp:
    + Phát triển theo hướng thâm canh, áp dụng khoa học- kỹ thuật (cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa, và điện khí hóa).
    + Lương thực tự túc được 80% nhu cầu trong nước (1969).
    + Ngành chăn nuôi tự giải quyết được 2/3 nhu cầu thịt sữa.
    + Ngành đánh cá rất phát triển .
    - Tài chính:
    + Từ thập kỷ 70, trở thành siêu cường kinh tế tài chính thế giới.
    + Dự trữ vàng và ngoại tệ vượt Mỹ.
    - Hàng hóa Nhật xâm nhập, cạnh tranh khắp thị trường thế giới .
    - GDP năm 2000 là 47 46 tỉ USD, thu nhập đầu người là 37 408 USD.
    => Nhật trở thành một trong 3 trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới.
    * Nguyên nhân phát triển kinh tế.
    -Yếu tố con người được coi là vốn quý, nhân tố quyết định hàng đầu.Với truyền thống văn hóa – giáo dục, đạo đức lao động tốt, lao động sáng tạo.
    -Vai trò quản lí lãnh đạo của nhà nước có hiệu quả.
    -Các công ty Nhật năng động, có sức cạnh tranh cao.
    -Ứng dụng có hiệu quả thành tựu KH-KT hiện đại, không ngừng nâng cao sản xuất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành.
    -Chi phí quốc phòng thấp (không quá 1%GDP)
    -Lợi dụng tốt các yếu tố bên ngoài để phát triển: các khoản viện trợ từ Mỹ, lợi dụng các cuộc chiến tranh để làm giàu...
    b. Bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học tập từ sự phát triển của Nhật
    - Coi trọng việc đầu tư phát triển khoa học công nghệ và giáo dục.
    - Phát huy nhân tố con người, đạo đức lao động, sử dụng tối đa tiềm năng sáng tạocủa con người.
    - Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
    - Phát huy truyền thống tự lực tự cường
    - Tăng cường vai trò Nhà nước trong quản lí kinh tế: Lựa thời cơ xây dựng chiến lược kinh tế, thay đổi linh hoạt cơ cấu kinh tế, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của nướcngoài vào các ngành then chốt, mũi nhọn…
    - Quản lí doanh nghiệp một cách năng động, có hiệu quả. Biết thâm nhập thị trường thế giới, đạt hiệu quả cao trong cạnh tranh.
    Câu 3.
    a. Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
    - Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thể hiện bước phát triển biện chứng quá trình vận động cách mạng Việt Nam - sự phát triển về chất từ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đến ba tổ chức cộng sản, đến Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm cách mạng Nguyễn Ái Quốc.
    - Hội nghị thành lập Đảng đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình tóm tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta.
    - Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
    - Xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng:
    + Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông.
    + Về kinh tế: tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ công nông binh; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm 8h.
    + Về văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
    - Về lực lượng cách mạng:
    +) Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất.
    +) Lôi kéo tiểu tư sản, tri thức, trung nông… đi vào phe vô sản giai cấp.
    +) Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản VN mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít hơn mới làm cho họ đứng trung lập.
    +) Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng như Đảng Lập hiến thì phải đánh đổ.
    - Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo Việt Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng, trong khi liên lạc với các giai cấp phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
    - Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
    =>Đánh giá:
    - Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh:
    - Phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới.
    - Đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử.
    - Nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm đượm tinh thần dân tộc vì độc lập tự do.
    - Tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh này.
    - Thực tiễn quá trình vận động của cách mạng Việt Nam trong gần 80 năm qua đã chứng minh rõ tính khoa học và tính cách mạng, tính đúng đắn và tiến bộ của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
    b. Nhận xét về việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến trong cương lĩnh
    - Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ đế quốc Pháp,bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng,làm cho đất nước Việt Nam được độc lập tự do; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông; tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo.
    - Những nhiệm vụ trên bao gồm hai nội dung chống đế quốc và chống phong kiến, song nhiệm vụ chống đế quốc được nhấn mạnh hơn. Điều đó phù hợp với yêu cầu thực tiễn của lịch sử dân tộc- phải giải quyết mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với đế quốc, đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân sau đó mới giải quyết vấn đề dân chủ
    Câu 4. BẢNG B
    Các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng Cộng sản Đông dương thành lập từ năm 1930 -1945 gồm:
    * Hội đồng minh phản đế Đông Dương (18/11/1930)
    + Nhiệm vụ và mục tiêu: tập hợp quần chúng nhân dân, chủ yếu là công nhân và nông dân, chống đế quốc Pháp và tay sai, giành độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày.
    + Vai trò: đoàn kết các tầng lớp nhân dân thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, Mặt trận mới chỉ tập hợp chủ yếu là công nhân và nông dân, chưa đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp.
    * Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7/1936), đến tháng 3/1938 đổi là Mặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương.
    + Nhiệm vụ và mục tiêu: tập hợp mọi tầng lớp, giai cấp, cá nhân yêu nước không phân biệt tôn giáo, đảng phái nhằm t xít, phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do dân sinh dân chủ, cơm áo hoà bình.
    + Vai trò: đoàn kết đông đảo quần chúng nhân dân, tổ chức cuộc đấu tranh dân chủ công khai với nhiều hình thức phong phú, góp phần xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, đóng góp vào thắng lợi của CMT8 năm 1945.
    * Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939)
    + Nhiệm vụ và mục tiêu: đoàn kết mọi tầng lớp, giai cấp, cá nhân yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái nhằm chĩa mũi nhọn vào đế quốc phát xít và tay sai, đấu tranh giải phóng dân tộc, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
    + Vai trò: Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Dưới ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, nhân dân ta bước vào thời kì đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc.
    * Mặt trận Việt Minh (5/1941, đây là mặt trận góp phần quan trọng vào trong thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
    + Nhiệm vụ và mục tiêu: tập hợp mọi người VN yêu nước, không phân chia tôn giáo, đảng phái, nhằm chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai, đấu tranh gpdt.
    + Vai trò:
    - Động viên đến mức cao nhất mọi người Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi lên trận địa cách mạng; xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng
    - Là nơi tập hợp, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị cho Cách mạng tháng Tám, một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong TKN giành chính quyền
    - Tạo cơ sở chính trị vững chắc cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng
    - Đưa cả dân tộc Việt Nam vùng dậy dưới cờ đỏ sao vàng năm cánh của Việt Minh, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên chớp đúng thời cơ TKN ở cả nông thôn và thành thị với sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, tạo ra sức mạnh áp đảo, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng trong toàn quốc.
    - Tổng bộ Việt Minh triệu tập Quốc dân Đại hội (một hình thức tiền Quốc hội), bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời), lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
    - Gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít của phe Đồng minh trên thế giới.
    BẢNG A
    Vì sao đến năm 1941 Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh? Vai trò của MTVM đối với thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 ?
    - Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng, ảnh hưởng đến tình hình Đông Dương. Ngay khi chiến tranh mới nổ ra, bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương đàn áp phong trào dân chủ..., thi hành chính sách "kinh tế chỉ huy". Từ khi Nhật vào Đông Dương (9-1940), nhân dân ta phải chịu cảnh "một cổ hai tròng"... làm cho "quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đề bị cướp giật. Vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng". Mâu thuẫn giữa cả dân tộc ta với bọn đế quốc - phát xít Nhật - Pháp và tay sai phát triển gay gắt chưa từng thấy. Nhiệm vụ GPDT được đặt ra vô cùng cấp thiết.
    - Nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc ở Đông Dương thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là GPDT, từ Hội nghị 6 (11-1939), BCHTƯ Đảng đã chủ trương thành lập MTDTTNPĐ Đông Dương, thay cho MTDC Đông Dương của giai đoạn trước. Ở Đông Dương có ba quốc gia dân tộc, cùng đoàn kết chống kẻ thù chung dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, nhưng ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Cần phát huy sức mạnh mỗi dân tộc, đoàn kết và tập hợp lực lượng từng dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, từ đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng thí điểm Việt Minh ở Cao Bằng
    - Cũng từ năm 1941 trở đi, CTTG 2 bước sang năm 3 và Đức tấn công Liên Xô làm cục diện chiến tranh thay đổi, Liên Xô và các nước như Mỹ, Anh, Pháp….đã thành lập 1 mặt trận t xít là Mặt trận Đồng Minh. Cách mạng Viêt nam là 1 bộ phận của cách mạng thế giới, tức là 1 bộ phận của MT đồng minh t xít, MT của việt nam sẽ nằm trong mặt trận đồng minh t xít trên thế giới
    - Hội nghị 8 của BCHTƯ Đảng (5-1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng: Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Việt Minh là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam với các đoàn thể quần chúng mang tên "cứu quốc".
    * Vai trò ( xem đáp án phần trên)
    Câu 5. BẢNG A.
    * Nguyên nhân bùng nổ.
    Một cuộc tổng khởi nghĩa chỉ có thể thắng lợi khi có đủ những điều kiện chủ quan, khách quan và nổ ra đúng thời cơ.
    - Về chủ quan:
    + Đảng đã có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng, thể hiện tập trung ở Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5 – 1941)…
    + Lực lượng cách mạng cũng được chuẩn bị chu đáo trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, được rèn luyện qua nhiều phong trào cách mạng.
    Đến tháng 8/1945, toàn Đảng, toàn dân đã sẵn sàng, chủ động, kiên quyết hi sinh phấn đấu giành độc lập tự do.
    + Tầng lớp trung gian, khi Nhật đảo chính Pháp mới chỉ hoang mang, dao động, nhưng đến lúc này đã thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật, chán ngán những chính sách của Nhật, nên đã ngả hẳn về phía cách mạng.
    - Về khách quan:
    + Sau khi phát xít Đức bị tiêu diệt, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc.
    + Ngày 6 và 9/8/1945,Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống các thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật Bản
    + Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Thời cơ cách mạng xuất hiện.
    + Tuy nhiên, một nguy cơ mới đang dần đến. Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Những thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Chính vì thế, vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh mà nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ.
    - Đảng kịp thời phát động khởi nghĩa:
    + Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
    + Từ ngày 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa.
    + Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt minh, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
    * Diễn biến
    - Từ ngày 14/8/1945, tuy chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương và vận dụng chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, một số cấp bộ Đảng và Việt Minh đã phát động tổng khởi nghĩa và giành được thắng lợi.
    - Chiều 16/8/1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, một đơn vị của Đội Việt Nam Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên.
    - Từ ngày14 - 18/8/1945, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lị sớm nhất trong cả nước.
    - Tại Hà Nội, ngày 19/8/1945, hàng vạn nhân dân đánh chiếm cơ quan đầu não của địch như Phủ Khâm sai, trại Bảo an binh, Tòa Thị chính. Tối 19/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi.
    - Ngày 23/8, hàng vạn nhân dân Huế thị uy, chiếm công sở. Chính quyền về tay nhân dân.
    - Ngày 25/8, tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn.
    => Khởi nghĩa thắng lợi ở 3 thành phố lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tác động đến các địa phương trong nước, quần chúng các tỉnh còn lại nối tiếp nhau khởi nghĩa. Hà Tiên và Đồng Nai Thượng là những nơi giành chính quyền muộn nhất (28/8).
    - Chiều 30/8/1945 vua Bảo Địa thoái vị, triều đình phong kiến nhà Nguyễn hoàn toàn sụp đổ.
    a. Từ diễn biến của cuộc Tổng khởi nghĩa rút ra đặc điểm bao gồm:
    + Nhiệm vụ và mục tiêu: t xít Nhật và bọn tay sai.
    + Lực lượng tham gia: đông đảo các giai cấp, tầng lớp trong xã hội như công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, bộ phận địa chủ nhỏ…
    + Lãnh đạo cách mạng : Giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản.
    + Hình thức và phương pháp: là một cuộc cách mạng bạo lực có kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, kết hợp khởi nghĩa ở thành thị và nông thôn.
    + Quy mô diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước, từ Bắc vào Nam, từ miền núi đến miền xuôi,…..
    b. Tính chất điển hình của cách mạng tháng Tám là tính dân tộc. Vì
    - Nhiệm vụ hàng đầu là chống đế quốc giành độc lập dân tộc , nhiệm vụ chống phong kiến có mức độ nhất định nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
    - Lực lượng tham gia: toàn dân tộc, được đoàn kết trong hình thức Mặt trận Việt Minh với các đoàn thể mang tên “ Hội cứu quốc”
    - Hình thức chính quyền được thành lập sau cách mạng : nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945 là nhà nước toàn dân. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, quyền dân chủ nhân dân được giải quyết một phần. Tuy nhiên, tính dân chủ trong cách mạng không phải là tính chất điển hình vì:
    + Cách mạng tháng Tám đã thực hiện việc tịch thu ruộng đất của đế quốc, địa chủ phản bội lợi ích dân tộc, chia cho dân cày nghèo. Tuy nhiên, cách mạng tháng Tám chưa giải quyết triệt để khẩu hiệu” người cày có ruộng”; chưa xóa bỏ hoàn toàn chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và thiết lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dan. Nên nhiệm vụ dân chủ chưa hoàn thành một cách triệt để
    => Cm T8 là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , mang tính dân tộc dân chủ nhân dân. Tính dân tộc là điển hình.
    c. Khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa vì:
    - Tại ba thành phố lớn của cả nước là nơi tập trung các cơ quan đầu não, là trung tâm liên lạc của địch. Ta đã đánh trúng các cơ quan này làm cho chúng không còn khả năng chỉ đạo, cắt đứt liên lạc giữa trung ương với địa phương các tỉnh, từ đó tạo điều kiện để các địa phương khác giành chính quyền
    - Khi phong trào cách mạng tăng cao, tầng lớp trung gian ( trí thức tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận địa chủ nhỏ và vừa, một bộ phận binh lính Việt trong quân đội Pháp) ở thành thị đã ngả về phái cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta.
    - Cách mạng tháng tám năm 1945 diễn ra với sự kết hợp chặt chẽ giữa khởi nghĩa ở thành thị và nông thôn, trong đó khởi nghĩa ở thành thị giữ vai trò quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa
    d. ( BẢNG B) ý nghĩa của cách mạng tháng Tám năm 1945 đối với Việt Nam
    Cách mạng tháng Tám là trang sử vẻ vang trong lịch sử chống xâm lược và chống ách thống trị nước ngoài của dân tộc ta, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc bởi vì :
    -Cách mạng tháng Tám đã, đập tan chính quyền của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
    -Đưa dân ta từ người nô lệ thành người chủ của đất nước.
    -Đưa ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến thành một nước độc lập dân chủ nhân dân.
    -Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định, mở đường cho nhân dân ta tiến lên giành những thắng lợi huy hoàng hơn trong kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
    Câu 6.
    a. Khó khăn về chính trị, quân sự
    + Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa được củng cố. Đảng và nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền.
    + Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cách mạng Việt Nam ở trong tình thế bị bao vây, cô lập.
    + Lực lượng vũ trang còn non yếu
    b. Xác định kẻ thù nguy hiểm nhất
    - Sau cách mạng tháng Tám thành công, quân đội các nước Đông minh dưới danh nghĩa vào giải giáp quân Nhật kéo vào nước ta. Bao gồm quân Pháp, Nhật, Trung Hoa dân Quốc, Đế quốc Mĩ và quân Anh.
    - Bản chất chung của chúng là cách mạng Việt Nam. Đây là khó khăn lớn nhất nghiêm trọng nhất của cách mạng Việt Nam
    * Kẻ thù nguy hiểm nhất của cách mạng ta lúc này là thực dân Pháp vì:
    - Trung Hoa dân quốc:
    + Âm mưu của chúng: cách mạng non trẻ nước ta dưới danh nghĩa là giải giáp quân đội phát xít. Chúng sử dụng các phần tử tay sai nằm trong các tổ chức phản động như Việt Quốc, Việt Cách để âm mưu thành lập chính phủ bù nhìn
    + Sau khi cuộc chiến chống Nhật kết thúc, lực lượng cách mạng Trung Quốc phát triển không ngừng, trực tiếp đe dọa lợi ích của Trung Hoa dân quốc. Sớm muộn gì họ cũng phải rút về nước, mặt khác nội bộ đang có những mâu thuẫn, ta có thể lợi dụng khó khăn này để hạn chế hoạt động của chúng
    + Như vậy THDQ không phải là kẻ thù nguy hiểm nhất của cách mạng Việt Nam
    - Đế quốc Mĩ:
    + Lúc này Mĩ đang hậu thuẫn cho THDQ để chiếm nước ta. Tuy nhiên sau CTTG 2, Mĩ đang tập trung vào khu vực châu Âu và Trung Quốc chưa có điều kiện can thiệp sâu vào Việt Nam
    - Thực dân Anh:
    + Âm mưu của Anh: Dọn đường cho Pháp tái xâm lược Việt Nam
    + Sau thế chiến thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ khắp nơi, vốn là nước có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới nên Anh không có điều kiện ở lại Đông Dương lâu dài
    + Thực dân Anh không phải là kẻ thù lâu dài, nguy hiểm nhất của cách mạng nước ta
    - Nhật Bản:
    + Quân Nhật với 6 vạn quân đang chờ giải giáp, trong đó có bộ phận nghe theo lệnh thực dân Anh đánh lực lượng cách mạng ta
    + Nhật là nước bại trận, đang chờ được giải giáp để về nước vì thế sẽ không phải là kẻ thù lâu dài của cách mạng Việt Nam
    - Thực dân Pháp:
    + Âm mưu của Pháp: Quay lại xâm lược Việt Nam, nhận được sự hổ trợ của thực dân Anh, cùng với lực lượng phản cách mạng ở miền Nam ngày 23/9/1945 chúng bắt đầu tiến công Sài Gòn, mở đầu cho cuuoocj xâm lược nước ta lần thứ hai. Lợi dụng tình hình trên, các thế lực phản động như Đại Việt, Tờ rốt kít, các giáo phái ngóc đầu dậy cách mạng làm tay sai cho Pháp
    + Như vậy, với bản chất đế quốc thực dân chuyên đi xâm lược chiếm đất giành dân thì thực dân Pháp không dễ dàng gì từ bỏ thuộc địa cũ của mình. Phân tích âm mưu của các nước đế quốc đối với Đông Dương, Trung ương Đảng nêu rõ: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”

    inbound3429641669139806263.jpg inbound1984227324124074123.jpg

    Nguồn: Hà Thái Sơn
     
    Hồng Nhật thích bài này.
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->