Văn 9 Tổng hợp kiến thức Truyện Kiều

Thảo luận trong 'Văn học trung đại Việt Nam' bắt đầu bởi xuanle17, 25 Tháng năm 2019.

Lượt xem: 291

  1. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế
    Sở hữu bí kíp ĐỖ ĐẠI HỌC ít nhất 24đ - Đặt chỗ ngay!

    Đọc sách & cùng chia sẻ cảm nhận về sách số 2


    Chào bạn mới. Bạn hãy đăng nhập và hỗ trợ thành viên môn học bạn học tốt. Cộng đồng sẽ hỗ trợ bạn CHÂN THÀNH khi bạn cần trợ giúp. Đừng chỉ nghĩ cho riêng mình. Hãy cho đi để cuộc sống này ý nghĩa hơn bạn nhé. Yêu thương!

    KIẾN THỨC CƠ BẢN TRUYỆN KIỀU

    I. TÁC GIẢ NGUYỄN DU:

    1. Tác giả Nguyễn Du (1765-1820)

    - Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên
    - Quê ở làng Tiên Điền – huyện Nghi Xuân – tỉnh Hà Tĩnh
    - Sáng tác nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm.
    a. Thời đại sống:
    Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội, xã hội phong kiến Việt Nam khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã “một phen thay đổi sơn hà”. Nhưng triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, triều Nguyễn lên thay. Những thay đổi động địa ấy tác động mạnh tới nhân thức tình cảm của Nguyễn Du để ông hướng ngòi bút của mình vào hiện thực, vào “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
    b. Gia đình
    Gia đình Nguyễn Du là gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan và có truyền thống văn chương. Nhưng gia đình ông cũng bị sa sút. Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi. Hoàn cảnh đó cũng tác động lớn tới cuộc đời ông.
    c. Cuộc đời
    Nguyễn Du có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học, có hiểu biết sâu rộng và từng trải, có vốn sống phong phú với nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người, nhiều số phận khác nhau. Ông từng đi sứ sang Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nhiều nền văn hóa rực rỡ. Tất cả những điều đó có ảnh hưởng tới sáng tác của nhà thơ.
    Nguyễn Du là con người có trái tim giàu lòng yêu thương. Chính nhà thơ đã từng viết trong Truyện Kiều “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Mộng Liên Đường Chủ Nhân trong lời nói Tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của Nguyễn Du với con người, cuộc đời:“Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thẫm trên tờ giấy khiến ai đọc cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đến đứt ruột”. Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có bút lực ấy.
    1. Về sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:
    - Sáng tác nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm.
    + 3 tập thơ chữ Hán gồm 243 bài.
    + Tác phẩm chữ Nôm có văn chiêu hồn, xuất sắc nhất là Đoạn Trường tân thanh
    thường gọi là Truyện Kiều'

    II. TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU
    1. Nguồn gốc và sự sáng tạo:

    - Xuất xứ Truyện Kiều:
    * Viết Truyên Kiều Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc).
    * Mặc dù mượn cốt truyện từ TQ thế nhưng với vốn văn hóa uyên bác của mình Nguyễn Du đã vận dụng, sáng tạo nên Truyện Kiều. Phần sáng tạo của Nguyễn Du hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định thành công của tác phẩm.
    - Nội dung: Từ câu chuyện tình ở TQ đời Minh biến hành một khúc ca đau long, xót thương cho số mệnh con người tài hoa nhưng lại bạc mệnh (Vượt xa Thanh Tâm Nhân Tài ở tinh thần nhân đạo).
    - Nghệ thuật:
    + Thể loại: chuyển thể văn xuôi thành thơ lục bát – thể thơ truyền thống của dân tộc gồm 3254 câu.
    + Nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả thiên nhiên, miêu tả tâm lí nhân vật, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình.
    + Ngôn ngữ Truyện Kiều: trình độ sử dụng ngôn ngữ đạt đến độ điêu luyện.
    2. Hoàn cảnh: Sáng tác vào đầu thế kỷ XIX(1805-1809)
    3. Thể loại:
    Truyện nôm: loại truyện thơ viết bằng chữa nôm. Truyện có khi được viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện nôm: truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được viết dựa trên cơ sở truyện dân gian; truyện Nôm bác học phần nhiều có tên tác giả được viết dựa trên cốt truyện có sẵn của văn học TQ hoặc do tác giả tự tạo ra. Truyện Nôm phát triển mạnh mẽ nhất ở nửa cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX.
    4. Ý nghĩa nhan đề:
    - Đoạn trường tân thanh: tiếng kêu mới về nỗi đau thương đứt ruột: bộc lộ chủ đề tác phẩm (tiếng kêu cứu cho số phận người phụ nữ).
    - Tên chữ nôm: Truyện Kiều: tên nhân vật chính Thúy Kiều – do nhân dân đặt.
    5. Tóm tắt Truyện kiều.
    a, Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước.

    Vương Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng của một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân và Vương Quan. Trong buổi du xuân nhân tết thanh minh, Kiều gặp Kim Trọng “phong lưu tài mạo tót vời”. Giữa hai người chớm nở mối tình đẹp. Kim Trọng dọn đến ở trọ cạnh nhà Thúy Kiều, nhân trả chiếc thoa rơi, Kim trọng gặp Kiều bày tỏ tâm tình. Hai người chủ động tự do đính ước với nhau.
    b, Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc.
    Trong khi Kim trọng về Liêu Dương chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan. Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng còn nàng thì bán mình chuộc cha. Nàng bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó, nàng được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng - cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ. Nhưng rồi nàng lại bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đầy đọa. Kiều phải trốn đến nương nhờ cửa phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – một kẻ buôn người như Tú Bà. Kiều lại lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Tại đây, nàng gặp Từ Hải, một anh hùng đội trời đạp đất. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân oán. Do mắc lừa quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, Kiều phải hầu đàn rượu Hồ Tôn Hiến rồi ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, nàng trẫm mình ở sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu, lần thứ hai Kiều nương nhờ của phật.
    c, Phần thứ 3: Đoàn tụ:
    Sau nửa năm về chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều. Hay tin gia đình Kiều gặp tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng vô cùng đau đớn. Tuy kết duyên với Thúy Vân nhưng chàng vẫn không thể quên mối tình đầu say đắm. Chàng quyết cất công lặn lội tìm Kiều. Nhờ gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ. Chiều theo ý mọi người, Thúy Kiều nối lại duyên cũ với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.”

    III. GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    * Giá trị nội dung, nghệ thuật của Truyện Kiều:
    1. Giá trị nội dung:
    a) Giá trị hiện thực:
    Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và thế lực hắc ám chà đạp lên quyền sống của con người.
    *Bọn quan lại:
    - Viên quan xử kiện vụ án Vương Ông vì tiền chứ không phải vì lẽ phải.
    - Viên quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất tài, nham hiểm, bỉ ổi và trâng tráo.
    * Thế lực hắc ám:
    - Mã Giám sinh, Tú Bà, Sở Khanh… là những kẻ táng tận lương tâm. Vì tiền chúng sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm và số phận con người lương thiện.
    -> tác giả lên tiếng tố cáo bộ mặt bỉ ổi của chúng.
    Truyện Kiều phơi bày nỗi khổ đau của những con người bị áp bức, đặc biệt là người phụ nữ.
    - Vương Ông bị mắc oan, cha con bị đánh đập dã man, gia đình tan nát.
    - Đạm Tiên, Thúy Kiều là những người phụ nữ đẹp, tài năng vậy mà kẻ thì chết, người thì bị đày đọa lưu lạc suốt 15 năm.
    => Truyện Kiều là tiếng kêu thương của những người lương thiện bị áp bức đày đọa.
    b) Giá trị nhân đạo:
    - Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của con người. Ông xót thương cho Thúy Kiều – Một người con gái tài sắc mà phải lâm vào cảnh bị đọa đày “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
    - Là tiếng nói ngợi ca những giá trị phẩm chất cao đẹp của con người như nhan sắc, tài hoa, trí dũng, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, vị tha…
    - Ông còn tố cáo các thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của những con người lương thiện, khiến họ khổ sở, điêu đứng.
    => Phải là người giàu lòng yêu thương, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con người Nguyễn Du mới sáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị nhân đạo lớn lao như thế.
    2) Giá trị nghệ thuật:
    Truyện Kiều được đánh giá là tác phẩm chạm đến đỉnh cao nghệ thuật .
    - Về ngôn ngữ: Là ngôn ngữ văn học hết sức giàu và đẹp, đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật.
    + Tiếng Việt trong Truyện Kiều không chỉ có chức năng biểu đạt, phản ánh, biểu cảm(bộc lộ cảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ(vẻ đẹp của ngôn từ).
    + Ngôn ngữ kể truyện có 3 hình thức: trực tiếp(lời tác giả), nửa trực tiếp(lời tác giả mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật) . Nhân vật trong truyện xuất hiện cả với con người hành động và con người cảm nghĩ, có biểu hiện bên ngoài và thế giới bên trong sâu thầm.
    - Với Truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc.
    + Thành công ở thể loại tự sự, có nhiều cách tân sáng tạo, phát triển vượt bậc trong ngôn ngữ thơ và thể thơ truyền thống.
    + Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc họa nhân vật theo phương thức tự sự, miêu tả chi tiết bằng vài nét chấm phá mỗi nhân vật trong Truyện Kiều hiện lên như một chân dung sống động. Cách xây dựng nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lý thưởng hóa, được miêu tả bằng những biện pháp ước lệ, nhưng rất sinh động. Nhân vật phản diện của Nguyễn Du chủ yếu được khắc họa theo lối lý tưởng hóa, bằng bút pháp tả thực, cụ thể và rất hiện thực (Miêu tả qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động….. của nhân vật).
    - Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đa dạng , bên cạnh bức tranh thiên nhiên chân thực sinh động(cảnh ngày xuân), có những bức tranh tả cảnh ngụ tình đắc sắc (Kiều ở lầu Ngưng Bích)
     
  2. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế

    CHỊ EM THÚY KIỀU
    Đầu lòng hai ả Tố Nga
    Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
    Mai cốt cách, tuyết tinh thần
    Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
    Vân xem trang trọng khác vời
    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
    Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,
    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
    Kiều càng sắc sảo mặn mà
    So bề tài sắc lại là phần hơn
    Làn thu thủy nét xuân sơn
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
    Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai
    Thông minh vốn sẵn tính trời
    Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
    Cung thương lầu bậc ngũ âm
    Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
    Khúc nhà tay lựa nên chương
    Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân
    Phong lưu rất mực hồng quần
    Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
    Êm đềm trướng rủ màn che
    Tường đông ong bướm ai về mặc ai.​
    1. Vị trí đoạn trích
    Vị trí đoạn trích “ Chị em Thuý Kiều” nằm ở phần mở đầu của tác phẩm (gặp gỡ và đính ước). Khi giới thiệu gia đình Thúy Kiều, tác giả tập chung miêu tả tài sắc hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều.

    2. Kết cấu đoạn trích: 4 phần
    + Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều.
    + Bốn câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân
    + Mười hai câu còn lại: Gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều
    + Bốn câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em.

    3. Giá trị nội dung và nghệ thuật:
    Giá trị nội dung “Chị em Thúy Kiều” là khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều là biểu hiện của cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.
    Giá trị nghệ thuật: Thúy Kiều, Thúy Vân và nhân vật chính diện, thuộc kiểu nhân vật lý tưởng trong Truyện Kiều. Để khắc họa vẻ đẹp của nhân vật lý tưởng, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước Lệ - Lấy vẻ đẹp của Thiên Nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người. Nhà văn không miêu tả chi tiết cụ thể mà chủ yếu là để gợi tả. Sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật hình ảnh Thúy Kiều.

    4. Nghĩa của một số từ:
    - Tố Nga: chỉ người con gái đẹp.
    - Mai cốt cách: Cốt cách của cây mai mảnh dẻ, thanh tao. Tuyết tinh thần: Tinh thần của Tuyết trắng và trong sạch. Câu này ý nói cả hai chị em đều duyên dáng, thanh cao, trong trắng.
    - Khuôn trăng dầy đặn: Gương mặt đầy đặn như trăng tròn, nét ngài nở nang: ý nói long mày hơi rậm, cốt tả đôi mắt đẹp. Câu thơ nhằm gợi tả vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân. Thành ngữ Tiếng Việt có câu “Mắt phượng mày ngài”.
    - Đoan trang: Nghiêm trang, đứng đắn (chỉ nói về người phục nữ).
    - Làn thu thủy: Làn nước mùa thu; nét xuân sơn: nét núi mùa xuân. Cả câu thơ ý nói mắt đẹp, trong sáng như nước mùa thu, lông mày đẹp thanh tú như nét núi mùa xuân.
    - Nghiêng nước nghiêng thành: Lấy ý ở một câu chữ hán, có nghĩa là: ngoảnh lại nhìn một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại nhìn cái nữa thì nước ta bị nghiêng ngả. Ý nói sắc đẹp tuyệt trần của người phụ nữ có thể làm cho ta say mê đến nỗi mất thành, mất nước.

    5. Nghệ thuật ước lệ tượng trưng trong miêu tả hai chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du
    a) Bốn câu đầu: Giới thiệu khái quát về nhân vật.
    Với bút pháp ước lệ, tác giả đã gợi được vẻ thanh cao duyên dáng, trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” cốt cách như mai, tinh thần như tuyết. Đó là vẻ đẹp hoàn hảo mang tính hình thể, tâm hồn cả hai đều đẹp ‘mười phân vẹn mười”nhưng mỗi người lại mang vẻ đẹp riêng.
    b) Bốn câu tiếp theo: miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân.
    - Câu thơ mở đầu vừa giới thiệu Thúy Vân vừa khái quát vẻ đẹp của nhân vật, hai chữ trang trọng gợi vẻ cao sang, quý phái
    - Với cú pháp nghệ thuật ước lệ, vẻ đẹp của Vân được so sánh với những thứ cao đẹp nhất trên đời, trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Bằng thủ pháp liệt kê chân dung Thúy Vân được miêu tả toàn vẹn từ khuôn mặt,nét mày,làn da,mái tóc nụ cười,giọng nói, phong thái ứng xử nghiêm trang,đúng đắn. Mỗi chi tiết được miêu tả cụ thể hơn nhờ bổ ngữ, định ngữ, hình ảnh so sánh ẩn dụ.
    - Tác giả đã vẽ nên bức chân dung Thúy Vân bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chuốt : khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng: lông mày sắc nét như con ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc; mái tóc đen óng ả hơn mây , làn da trắng mịn màng hơn tuyết(“khuôn trăng…nét ngài”)
    - Chân dung Thúy Vân là chân dung mang tính cách số phận. Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ nhất của thiên nhiên nhưng tạo sự hòa hợp êm đềm với xung quanh: mây thua, tuyết nhường. Thúy Vân hẳn có một tính cách ung dung, điềm đạm, một cuộc đời bình yên không sóng gió .
    c) 12 Câu tiếp theo: Tả vẻ đẹp và tài hoa của Kiều.
    - Câu thơ đầu đã khái quát đặc điểm của nhân vật;”Kiều càng sắc sảo mặn mà”. Nàng sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn.
    - Gợi vẻ đẹp của Kiều tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ: thu thủy, xuân sơn, hoa liễu. Đặc biệt khi họa bức chân dung Kiều, tác giả tập trung gợi tả đôi mắt. Hình ảnh “làn thu thủy, nét xuân sơn” là hình ảnh mang tính ước lệ , đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ, gợi lên đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân. Đôi mắt đó chính là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh anh của tâm hồn, trí tuệ. Tả Kiều tác giả không tả cụ thể như khi tả Vân mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn. Vẽ hồn cho nhân vật gợi lên một vẻ đẹp chung của một trang giai nhân tuyệt sắc. Vẻ đep ấy làm cho hoa ghen liễu hờn, nước nghiêng thành đổ. Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kị hay ngưỡng mộ, say mê vẻ đep đó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyến rũ cuốn hút đến lạ lùng
    - Vẻ đẹp tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc biệt của Kiều. Tả Thúy Vân tác giả chi tả nhan sắc, còn tả Kiều tác giả tả sắc một phần thì dành hai phần để tả tài. Kiều rất mưc thông minh và đa tài “thông minh vốn sẵn tính trời”.Tài của Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến, hội đủ cầm, kì, thi họa”pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.”
    - Tác giả đặc tả tài đàn: là sở trường là năng khiếu, nghề riềng của nàng “cung thương lầu bậc,ngũ âm,nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”không chỉ vậy nàng còn giỏi sáng tác nhạc. Cung đàn bạc mệnh của Kiều là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm “Khúc nhà tay lựa nên chương/ Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Thông qua việc tả tài, Nguyễn Du thể hiện được cả cái tình của Thúy Kiều.
    - Chân dung Thúy Kiều là bức chân dung của một người con gái có sắc, có tài mà đặc biệt ở chỗ tài sắc này khiến tạo hóa phải ghen ghét, phải đố kị. Chính vì thế, mặc dù có tài năng, trí tuệ thiên bẩm, vẻ đẹp tuyệt trần cùng tâm hồn đa sầu đa cảm đã khiến Kiều không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, gian khổ bởi “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” hay “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cuộc đời Kiều hẳn là cuộc đời hồng nhan bạc mệnh.
    Nguyễn Du đã rất tinh tế khi miêu tả nhân vật Thuy Kiều: Tác giả dùng thủ pháp dùng mây để nẩy trăng cho nên việc miêu tả chân dung Thúy Vân trước đã làm nổi bật thêm bức chân dung Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp của cả hai nhưng lại mang đến những cảm nhận không giống nhau về vẻ đẹp của mỗi người, chỉ dành bốn câu thơ để tả Vân trong đó dành 12 câu thơ để tả Kiều, Vân thì tả nhan sắc , Kiều cả tài lẫn sắc.
    d. Bốn câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống hai chị em Kiều
    Hai câu cuối trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọc hai chị em hai bông hoa vẫn còn phong nộn nhụy trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”. Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh, theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong kiến.
    Tóm lại, đoạn trích đã thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du khắc họa nét riêng về nhan sắc, tài năng, tính cách, số phận nhân vật bằng bút pháp nghệ thuật cổ điển.
    v Bảng so sánh bức chân dung Thúy Kiều và Thúy Vân
    *Giống nhau: Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ để ca ngợi vẻ đẹp của cả hai chị em.
    *Khác nhau:
    - Mỗi người có một vẻ riêng, bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật hơn.

    Thúy Vân

    Thúy Kiều

    - Dùng 4 câu thơ để tả Vân
    - Với Vân chỉ tả ngoại hình theo cú pháp liệt kê.
    - Với Vân chỉ tả sắc.
    - Miêu tả chân dung Thúy Vân trước để làm nỏi bật chân dung Thúy Kiều

    - 12 Câu để tả Thúy Kiều
    - Đặc tả đôi mắt của Kiều bằng lối điểm nhãn vẽ hồn cho nhân vật, gợi nhiều hơn tả.
    - Với Kiều tả cả tài, sắc:
    + Tác giả miêu tả khái quát: sắc mặn mà
    + Đặc tả vẻ đẹp đôi mắt: vừa gợi vẻ đẹp hình thức, vừa gợi vẻ đẹp tâm hồn
    + Dùng điến cố “nghiêng nước nghiêng thành” diễn tả vẻ đẹp hoàn hảo có sức lôi cuốn mạnh mẽ.
    +Tài năng: phong phú đa dạng, đều đạt tới mức lí tưởng .
    - Cái tài của Nguyễn Du biểu hiện ở chỗ thông qua việc miêu tả ngoại hình nhân vật làm hiện lên vẻ đẹp tính cách và tâm hồn thông qua đó đưa ra những tín hiệu ngôn ngữ dự báo về số phận nhân vật:
    + “thua, nhường”-> dự báo Thúy Vân sẽ có cuộc sống êm đềm, suôn sẻ
    + “hờn, ghen” -> dự báo Thúy Kiều gặp phải nhiều sự đố kị, ganh ghét -> số phận truân chuyên.
     
    Trang Ran Mori thích bài này.
  3. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế

    CẢNH NGÀY XUÂN
    Ngày xuân con én đưa thoi​
    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
    Cỏ non xanh tận chân trời​
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
    Thanh minh trong tiết tháng ba​
    Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
    Gần xa nô nức yến anh​
    Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
    Dập dìu tài tử giai nhân​
    Ngựa xe như nước, áo quần như nêm
    Ngổn ngang gò đống kéo lên,​
    Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay
    Tà tà bóng ngả về tây​
    Chị em thơ thẩn dan tay ra về
    Bước dần theo ngọn tiểu khê​
    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
    Nao nao dòng nước uốn quanh​
    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang​

    1. Vị trí: “Cảnh ngày xuân”là đoạn thơ tả cảnh ngày xuân trong tiết thanh minh và cảnh du xuân của chị em Kiều, nằm sau đoạn thơ Chị em Thúy Kiều. Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sang, náo nhiệt.

    2. Kết cấu đoạn trích: theo trình tự thời gian của cuộc du xuân.
    + Bốn câu đầu: Khung cảnh ngày xuân
    + Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh
    + Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về

    3. Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật.
    Giá trị nội dung của “Cảnh ngày xuân”: Là bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, có lễ hội tưng bừng náo nhiệt.
    Giá trị nghệ thuật: Sử dụng nhiều hình ảnh đắt giá và sáng tạo: Nhiều từ láy miêu tả cảnh vật và cũng là tâm trạng con người: Bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình.

    4. Thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên
    a) Bốn câu thơ đầu: Tác giả miêu tả cảnh vật với vẻ đẹp riêng của mùa xuân.
    - Hai câu đầu là hình ảnh khái quát về một ngày xuân tươi đẹp với hình ảnh én chao liệng trên bầu trời thanh bình tràn ngập ánh xuân tươi tắn trong sáng. Đồng thời đó cũng là lời ngỏ ý ngày xuân qua nhanh quá như “con én đưa thoi”. Mùa xuân chỉ có chín mươi ngày xuân mà nay đã ngoài sáu mươi. Nó đã đi hơn 2/3 thời gian của mùa rồi.
    - Hai câu thơ tiếp theo mới thực là bức tranh tuyệt mỹ “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Đây chỉ là bức trang đơn giản với vài nét phác thảo cỏ xanh và hoa trắng. Ấy vậy mà bức tranh này lại đủ cảnh đủ màu, khiến cho người đọc liên tưởng đến một không gian mùa xuân khoáng đạt.Nếu trong hai câu thơ cổ Trung Quốc “Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa” dùng hình ảnh cỏ thơm (Phương thảo) để mang đến mùi vị của mùa xuân thì Nguyễn Du lại dùng “cỏ xanh” để mô tả màu sắc ngày xuân. Đó là màu xanh non pha với màu vàng chanh tươi tắn hợp màu lam trong sáng của nền trời buổi chiều xuân làm thành gam nên cho bức tranh, trên đó điểm xuyết những đốm trắng của hoa lê. Bức tranh dung hòa những gam màu khác nhau mà rạo rực sức sống của mùa xuân. Chữ “trắng” đảo lên trước tạo bất ngờ sự mới mẻ tinh khôi, thanh khiết như kết tinh những tinh hoa của trời đất. Chữ “điểm” như được đan, được cài những điểm sáng nhờ bàn tay người nghệ sĩ tài tình, làm cho bức tranh trở nên có hồn, sống động.
    - Ngòi bút của Nguyễn Du thật là tài hoa, giàu chất tạo hình, ngôn ngữ biểu cảm lại mang đầy tính gợi tả! Tác giả đã rất thanh công trong nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi. Qua đó ta thấy tâm hồn con người tươi vui, phấn chấn qua cái nhìn thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, hồn nhiên, nhạy cảm tha thiết với vẻ đẹp thiên nhiên.
    b) Sáu câu thơ cuối: chị em Thúy Kiều du xuân trở về
    - Cảnh mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: Nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu bắc ngang nhưng đã nhuốm màu tâm trạng.
    - Bóng tịch dương đã chênh chếch xế chiều: “tà tả bóng ngả về tây”, dòng nước uốn quanh. Nhưng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật mà dường như con người cũng chìm trong cảm giác bâng khuâng khó tả. Cuộc du ngoạn xuân cảnh đã tàn, lễ hội tưng bừng náo nhiệt đã chấm dứt, tâm hồn con người cũng chuyển điệu cùng cảnh vật bước chân người thơ thẩn. Cảnh như nhạt dần lắng dần, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, không gian mang dáng dấp nhỏ nhoi, bé hẹp, phảng phất buồn. Tâm trạng con người có bâng khuâng xao xuyến về cuộc du xuân đã tàn, có cả linh cảm về việc gặp gỡ nấm mộ Đạm Tiên và chàng thư sinh Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”.
    *Nghệ thuật:
    - Sử dụng nhiều từ láy như nao nao, tà tà, thanh thanh không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Đặc biệt hai chữ “nao nao”thoáng gợi nên một nét buồn khó hiểu. Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều về trong sự bần thần, nuối tiếc và lắng buồn . “Dan tay” tưởng là vui nhưng thực là chia sẻ nỗi buồn không nói hết. Cảm giác bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở một vẻ đẹp tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng. Chính các từ này đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.
    - Đoạn thơ còn hay hơn bởi đã sử dụng bút pháp cổ điển:Tả cảnh ngụ tình.

    5. Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh (8 câu giữa)
    - Nguyễn Du đã rất tài tình khi tách hai từ lễ hội ra làm đôi để gợi tả hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: Lễ tảo mộ, hội đạp thanh
    - Không khí lễ hội được gợi tả từ một hệ thống từ ngữ nhiều sắc thái biểu cảm
    + Đoạn thơ sử dụng nhiều tính từ (nô nức, gần xa, ngổn ngang) miêu tả đã làm rõ hơn quang cảnh
    + Nhiều danh từ ghép (yến anh, tài tử, giai nhân, chị em, ngựa xe, áo quần) gơi tả sự đông vui tấp nập
    + Và nhiều động từ (sắm sửa, dập dìu) gợi được sự rộn ràng của ngày hội
    - Thông qua việc miêu tả buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã gợi nhắc đến truyền thống văn hóa lễ hội có từ xa xưa. Cụm từ “nô nức yến anh” là một ẩn dụ gợi lên hình ảnh từng đoàn nam thanh nữ tú náo nức, mong ngóng đến lễ hội, hòa nhập vào lễ hội. Trong lễ hội náo nhiệt kia, chúng ta có thể thấy nổi bật lên là hình ảnh những nam thanh, nữ tú, những tài tử giai nhân tay trong tay dạo chơi. Hình ảnh so sánh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” đã gợi tả hết sự đông vui.
     
  4. xuanle17

    xuanle17 Cựu Cố vấn Ngữ Văn Thành viên

    Bài viết:
    775
    Điểm thành tích:
    121
    Nơi ở:
    Thừa Thiên Huế
    Trường học/Cơ quan:
    Đh sư phạm huế

    KIỀU Ở LẦU NGƯ BÍCH

    Trước lầu Ngư Bích khóa xuân
    Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
    Bốn bề bát ngát xa trông
    Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
    Tin sương luống những rày trông mai chờ
    Bên trời góc bể bơ vơ
    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
    Xót người tựa cửa hôm mai
    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
    Sân lai cách mấy nắng mưa
    Có khi gốc tử đã vừa người ôm
    Buồn trông cửa biển chiều hôm
    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
    Buồn trông ngọn nước mới sa
    Hoa trôi man mác biết là về đâu
    Buồn trông nội cỏ rầu rầu
    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
    1. Vị trí đoạn trích :
    Đoạn trích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc. Sau khi bi Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị tú bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn , phẫn uất ,tủi nhục nàng định tự vẫn. Tú bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ vờ chăm sóc thuốc thang , hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế, Tú Bà đưa Kiều ra sống riêng ở lâu Ngư Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn.

    2. Kết cấu đoạn trích : 3 phần
    + Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn của Kiều.
    + Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ nàng.
    + Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật.

    3. Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích :
    - Giá trị nội dung “Kiều ở lầu Ngư Bích”: miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngư Bích.
    - Giá trị nghệ thuật: Nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay nhất trong “Truyện Kiều”.

    4. Hoàn cảnh và tâm trạng của Kiều thể hiện qua sáu câu thơ đầu :

    - Kiều ở lầu Ngư Bích thực chất là bị giam lỏng (khóa xuân).
    - Nàng trơ trọi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng: “Bốn bề bát ngát xa trông”. Cảnh “non xa” “trăng gần” gợi hình ảnh Lầu Ngư Bích đơn độc, chơi vơi giữa mênh mông nơi nước. Từ trên lầu cao nhìn ra những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt. Cái lầu trơ trọi ấy lại đang cầm tù một thân phận trơ trọi, đã không có bóng người lại càng không có lấy khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp hơn một chut. Chỉ có “cát vàng”, “bụi hồng” là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rơn ngợp của không gian. Không gian càng rộng lớn thì con người khi đứng trước không gian ấy sẽ rất nhỏ bé. Điều này càng khiến cho nỗi cô đơn, buồn tủi trong lòng Kiều tăng lên.
    - Cụm từ “mây sớm đèn khuya” lại gợi ra sự tuần hoàn của thời gian và sự khép kín của không gian. Tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi (“bẽ bàng mây sớm đèn khuya”). Kiều “thui thủi quê người một thân” và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương khiến tấm lòng Kiều như bị chia, bị xẻ làm đôi: “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Cho nên cảnh có đẹp đi chăng nữa thì Kiều vẫn không thấy vui chút nào.

    5. Tâm trạng nhớ thương Kim Trọng và cha mẹ
    - Kiều nhớ Kim Trọng trước nhớ cha mẹ sau .Theo nhiều nhà hủ nho thì như vậy là không đúng với truyền thống dân tộc, nhưng thật ra lại là rất hợp lý. Kiều bán mình cứu cha mẹ và em là đã đền đáp được một phần công lao sinh thành, đó là một người con hiếu thảo. Thế nhưng đốivới Kim Trọng, Kiều thấy mình như một kẻ phụ tình, phụ tấm lòng người yêu nên cảm thấy cắn rứt khôn nguôi.
    - Cùng là nỗi nhớ nhưng với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau:
    + Nhớ Kim Trọng: Kiều “tưởng” như thấy lại kỉ niệm thiêng liêng đêm thề nguyền đính ước “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”. Cái đêm ấy hình như mới ngày hôm qua. Một lần khác nàng nhớ về Kim Trọng cũng là “Nhớ lời nguyện ước ba sinh”. Kiều xót xa hình dung người yêu vẫn chưa biết tin nàng bán mình, vẫn ngày đêm mòn mỏi chờ trông chốn Liêu Dương xa xôi, Nàng nhớ người yêu với tâm trạng đau đớn: “Tấm son gọt rửa bao giờ cho phai”, có lẽ “tấm son” ấy là tấm lòng Kiều son sắc thủy chung dành cho Kim Trọng. Cũng có thể Kiều đang tủi nhục khi tấm lòng son đã bị dập vùi, hoen ố, không biêt đến bao giờ mới gột rửa cho được. Trong nỗi nhớ chàng Kim có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can.
    + Nhớ cha mẹ: Nàng thấy “xót” khi tưởng tượng, ở chốn quê nhà, cha mẹ nàng vẫn tựa cửa ngóng chờ tin tức người con gái yêu. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi vì không thể “quạt nồng ấp lạnh”, phụng dưỡng song thân, băn khoan không biết hai em có chăm sóc cha mẹ chu đáo không. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay, gốc tử đã vừa người ôm, cha mẹ ngày thêm gia yếu. Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa cho thấy sự xa cách vừa gợi được sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên lên con người và cảnh vật. Lần nào nhớ về cha mẹ, Kiều cũng “nhớ ơn chín chữ cao sâu” và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy của cha mẹ
    *Nỗi nhớ thương đã nói lên nhân cách Kiều: Hoàn cảnh của nàng lúc này thật xót xa đau đớn nhưng quên đi cảnh ngộ của bản thân, nàng đã hướng yêu thương vào những người thân yêu nhất. Trái tim nàng thật giàu yêu thương giàu đức hi sinh . Nàng thật sự là một người tình thủy chung, một người con hiếu thảo, một người có tấm lòng vị tha cao cả đáng quý.

    6. Tám câu cuối Kiều ở lầu Ngư Bích

    a) Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình;
    - Đoạn thơ này được xem là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển. Để diễn tả tâm trạng Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình” tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” để khắc họa tâm trạng của Kiều lúc bị giam lỏng ở lầu Ngư Bích.
    - Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng con người - mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lí do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một ghê gớm, mãnh liệt hơn.
    - Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ. Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác giả khắc họa qua điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn mà trông ra bốn phía, trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ hút tầm nhìn, có cả dự cảm hãi hùng của người con gái ngây thơ lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang ngược. Điệp ngữ”buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau. Điệp ngữ lại được kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tượng hình, dồn dập, chỉ có một từ láy tượng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.
    Cảnh 1: Buồn trông cửa bể chiều hôm,
    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.​
    Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội tâm nàng Kiều. Một cánh buồm nhỏ nhoi,đơn đôc giữa biển nước mênh mông trong ánh sang le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt, cũng như Kiều trong không gian vắng lặng của hiện tại nhìn về phương xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê hương. Con thuyền gần như mất hút, vẫn lênh đênh trên mặt biển khi mà những con thuyền khác đều đã cập bến, biết bao giờ mới tìm được bến neo đậu, cũng như Kiều còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với những người thân yêu.
    Cảnh 2 : Buồn trông ngọn nước mới ra
    Hoa trôi man mác biết là về đâu?​
    Những cánh hoa tàn lui trôi man mác trên ngọn nước mới xa khi Kiều càng buồn hơn bởi nàng như nhìn thấy trong đó thân phận mình lênh đênh, vô định, ba chìm bảy nổi giữa sóng nước. Cuộc đời không biết rồi sẽ trôi dạt đi đâu, sẽ bị dập vùi ra sao.
    Cảnh 3: Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu
    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.​
    Nơi cỏ “rầu rầu”, “xanh xanh”, “sắc xanh héo úa”, mù mịt, nhạt nhòa trải dài từ chân mây đến mặt đất, còn đâu cái” xanh tận chân trời” như sắc cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm.Màu xanh này gợi cho Kiều một nỗi chán ngán,vô vọng vì sống cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày vô vị,tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ.
    Cảnh 4: Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh.
    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.​
    Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng,càng dồn dập.Một cơn ”gió cuốn mặt duyềnh” làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên ầm ầm như vây quanh ghế Kiều ngồi. Cái âm thanh ”ầm ầm tiếng sóng” ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công. Tất cả là đợt sóng đang gầm thét, rít gào trong lòng nàng. Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như rơi vào vực thẳm một cách bất lực. Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng cũng rất ảo. Đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo qui luật “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
    - Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Tất cả là hình ảnh về sự vô định, sự mong manh, sự dạt trôi bế tắc,sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng,yếu đuối nhất. Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
     
Chú ý: Trả lời bài viết tuân thủ NỘI QUY. Xin cảm ơn!

Draft saved Draft deleted

CHIA SẺ TRANG NÀY

-->