Chào mừng bạn đến với HMForum. Vui lòng đăng ký để sử dụng nhiều chức năng hơn!

{ Văn 8 }phân tích bài thơ "Quê hương" của nhà thơ Tế Hanh-Ngữ văn 8

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi anhthu25396, 3 Tháng bảy 2010.

CHIA SẺ TRANG NÀY

Lượt xem: 52,984

  1. anhthu25396

    anhthu25396 Guest

    Đặt chỗ PEN 2017 - Cập nhật theo mọi thay đổi của kỳ thi THPT QG

    Đăng ký gia nhập BQT DIỄN ĐÀN


    "Quê hương tôi có con sông xanh biếc
    Nước gương trong soi bóng những hàng tre
    Tâm hồn tôi là những buổi trưa hè
    Tỏa nắng xuống dòng sông xanh mát"
    Cũng với những vần thơ bình dị mà gợi cảm , nhà thơ Tế Hanh đã miêu tả một cách sâu sắc , tinh tế về quê hương mang một vẻ đẹp thân thương, trìu mến . Ta thấy được tình yêu quê hương tha thiết , nồng thắm của người con khi xa quê. Tiêu biều trong số những tác phẩm đó là bài thơ" Quê hương " rút trong tập thơ "Nghẹn ngào(1939)"
    Quê hương nơi đất mẹ quê cha , nơi ai ai cũng phải nhớ về , cũng in sâu vào tâm khảm mỗi người để yêu mến nhớ thương . Mở đầu bài thơ , tác giả viết :
    ''Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
    Nước bao vây cách biển nửa ngày sông ''
    Hình ảnh quê hương của tác giả hiện lên thật trìu mến , thân thương qua hai vần thơ''làng tôi'' .Làng của tác giả là một làng chài nghèo , bốn bề sông nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.Con sông mà Tế Hanh nhắc tới là sông Trà Bồng thuộc tỉnh Quảng Ngãi . Bằng những vần thơ giản dị nhưng hai câu thơ đã gợi nên khung cản làng chài đẹp đẽ , thanh bình . Hai câu thơ đầu tuy ngắn gọn , mộc mạc nhưng trong đó là cả một tình yêu quê hương tha thiết , luôn thường trực trong tâm hồn tác giả .

     
  2. th1104

    th1104 Guest


    Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào. Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng. Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù.
    Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ phối hợp cả hai kiểu gieo vần liên tiếp và vần ôm đã phần nào thể hiện được nhịp sống hối hả của một làng chài ven biển:
    Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
    Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
    Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
    Quê hương trong tâm trí của những người con Việt Nam là mái đình, là giếng nước gốc đa, là canh rau muống chấm cà dầm tương. Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây. một khung cảnh làng quê như đang mở ra trước mắt chúng ta vô cùng sinh động: “Trời trong – gió nhẹ – sớm mai hồng”, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sáng tràn ngập. Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đếùn là một báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi:
    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
    Nếu như ở trên là miêu tả vào cảnh vật thì ở đây là đặc tả vào bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Con thuyền được so sánh như con tuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Bên cạnh đó, những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng. Vượt lên gió. Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùng tráng:
    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
    Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xómTế Hanh mới có thể viết được như vậy.Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao và thiên nhiên.Cánh buồm trắng thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt đẹp.Có lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh trong thơ trên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật. Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thể hơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao. Đó chính là sự tinh tế của nhà thơ. Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió. Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhû nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình.
    Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài bơi thuyền ra đánh cá, thể hiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động, là sự phấn khởi, là niềm hi vọng, lạc quan trong ánh mắt từng ngư dân mong đợi một ngày mai làm việc với bao kết quả tốt đẹp:
    Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
    Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe
    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
    Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôi động của cánh buồm đón ghe cá trở về. Người đọc như thực sự được sống trong không khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá như thế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động không mệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi.
    Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ:
    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
    Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm
    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
    Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Cái độc đáo của câu thơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả. Hai câu thơ miêu tả về con thuyền nằm im trên bến đỗ cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Không phải người con làng chài thì không thể viết hay như thế, tinh như thế, và cũng chỉ viết được những câu thơ như vậy khi tâm hồn Tế Hanh hoà vào cảnh vật cả hồn mình để lắng nghe. Ở đó là âm thanh của gió rít nhẹ trong ngày mới, là tiếng sóng vỗ triều lên, là tiếng ồn ào của chợ cá và là những âm thanh lắng đọng trong từng thớ gỗ con thuyền. Có lẽ, chất mặn mòi kia cũng đã thấm sâu vào da thịt nhà thơ, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành nỗi niềm ám ảnh gợi bâng khuâng kì diệu. Nét tinh tế, tài hoa của Tế Hanh là ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”… Thơ Tế Hanh là thế giới thật gần gũi, thường ta chỉ thấy một cách lờ mờ, cái thế giới tình cảm ta đã âm thầm trao cảnh vật: sự mỏi mệt, say sưa của con thuyền lúc trở về bến…”
    Nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng mình là lúc nhà thơ bày tỏ tình cảm của một người con xa quê hướng về quê hương, về đất nước :
    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi
    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
    Nếu không có mấy câu thơ này, có lẽ ta không biết nhà thơ đang xa quê. ta thấy được một khung cảnh vô cùng sống động trước mắt chúng ta, vậy mà nó lại được viết ra từ tâm tưởng một cậu học trò. từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi. Màu của quê hương là những màu tươi sáng nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh yêu nhất những hương vị đặc trưng quê hương đầy sức quyến rũ và ngọt ngào. Chất thơ của Tế Hanh bình dị như con người ông, bình dị như những người dân quê ông, khoẻ khoắn và sâu lắng. Từ đó toát lên bức tranh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động hàng ngày của người dân.
    Bài thơ đem lại ấn tượng khó phai về một làng chài cách biển nửa ngày sông, lung linh sóng nước , óng ả nắng vàng. Dòng sông, hồn biển ấy đã là nguồn cảm hứng theo mãi Tế Hanh từ thuở “hoa niên” đến những ngày tập kết trên đất Bắc. Vẫn còn đó tấm lòng yêu quê hương sâu sắc, nồng ấm của một người con xa quê:
    Tôi dang tay ôm nước vào lòng
    Sông mở nước ôm tôi vào dạ
    Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả
    Kẻ sớm hôm chài lưới ven sông
    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển
    Vẫn trở về lưu luyến bến sông
    (Nhớ con sông quê hương – 1956)
    Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đấùt Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”.
    (Bài của học sinh Nguyễn Thị Ngọc Diễm – Văn khoá 5)


    nguồn:
     
  3. vothien14

    vothien14 Guest


    Trước cách mạng tháng tám, Tế Hanh là một nhà thơ của phong trào "Thơ mới", nhưng khác với giọng điệu sầu não, bi ai, thơ Tế Hanh là một hồn thơ chân thật, trẻ trung khỏe khoắn, "Quê hương" là một đề tài im đậm chất thơ của ông. Bài "Quê hương" là một sáng tác tiêu biểu của Tế Hanh.
    Bài thơ nói lên tình cảm yêu quê hương của tác giả, ột làng chài ven biển Quảng Ngãi, tình cảm ấy của tác giả như được nhân lên gấp nhiều lần khi ông phải xa quê hương, xa những con người "Dân chài lưới, làn ra ngăm rám năng".
    Trong bài thơ "Quê hương" nổi tiếng của Tế Hanh viết về cuộc sống làng quê ông, một làng chài lưới ở con sông Trà Bồng "Nước bao vây cách biển nửa ngày sông".
    Làng tôi vốn làm nghề chài lưới
    Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông
    Mở đầu là hai câu thơ giới thiệu về làng quê vô cùng giản dị của ông luôn nhớ tới vị trí nơi chôn rau cắt rốn, luôn có một tấm lòng hướng về quê hương.
    Rồi ở những câu thơ tiếp theo, ông nói đến hình ảnh của những người dân chài lưới ra khơi trong một ngày "Trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng" rất thuận lợi cho việc đánh bắt cá. Ông đã hồi tưởng lại tất cả những gì đẹp nhất về làng biển. Đặc biệt, nổi bật lên là biểu tượng chiếc thuyền - linh hồn của làng chài khi ra biển. Nó " hăng như con tuấn mã", "mạnh mẽ vượt trường giang". Ngoài ra cảnh sinh hoạt đông vui tấp nập sau mỗi lần đoàn thuyền đánh cá trở về cũng được tác giả in sâu vào tâm trí, vô cùng đẹp. Nhưng cái mà tác giả nhớ nhất là "cái mùi nồng mặn" và "làn da ngăm rám nắng" là những đặc điểm đặc trưng chỉ có ở vùng biển. Đó chính là nét đặc trưng của dân chài lưới. Cái vị muối mặn mòi " nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
    Thóang con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.
    Đến đoạn cuối của bài thơ tác giả đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình qua từ "nhớ". Phải chăng nó đã được tác giả dồn nén đến vỡ òa ở những câu cuối. Tuy xa cách nhưng tác giả luôn nhớ đến quê hương, tác giả nhớ mọi thứ của quê hương, từ "màu nước", "con cá" cho đến "chiếc buồm vôi".

    Các bạn cùng cho ý kiến nhận xét nha. Và cùng viết tiếp đoạn kết cho bài này nào.
     
    Sửa lần cuối bởi BQT: 18 Tháng bảy 2010
  4. chauan_1998

    chauan_1998 Guest


    Co the pãt cho minh phan tich doan
    "ngay hom sau on ao
    .......
    Nghe chat muoi tham dan trong tho vo"
    Nho la mot bai van dai do nghe chua!!!
     
  5. nhok_kon_dk

    nhok_kon_dk Guest


    mình có cái dàn bài nè:

    A.Mở bài: giới thiệu bài thơ Quê Hương và tác giả Tế Hanh. Nêu ý kiến khái quát của mình về tình yêu quê hương trong bài thơ.
    B.Thân bài: phân tích tình yêu quê hương trong bài thơ:
    +Khái quát chung về bài thơ: một tình yêu tha, thiết trong sáng, đậm chất lí tưởng, lãng mạn.
    +Cảnh ra khơi: vẻ đẹp trẻ trung, giàu sức sống, đầy khí thế vượt trường giang.
    +Cảnh trở về: đông vui, no đủ, bình yên.
    +Nỗi nhớ: Hình ảnh đọng lại: vẻ đẹp, sức mạnh, mùi nồng mặn của quê hương.
    C.Kết bài: cả bài thơ là một khúc ca quê hương tươi sáng, ngọt gào. Nó là sản phẩm của một hồn thơ trẻ trung, tha thiết, đầy mơ mộng.
     
  6. pear00

    pear00 Guest


    Mình có một đoạn ngắn, hi vọng giúp đỡ đc bạn ! Đây là phần bài ghép vào cảm nhận tinh tế của Tế Hanh nên có gì bạn sửa lại nhé !

    Không chỉ ghi đc đôi nét thần tình về cảnh ra khơi của những con thuyền đánh cá mà tác giả còn miêu tả đặc sắc cảnh đoàn thuyền trở về. Trước hết tác giả đã cảm nhận cái không khí nhộn nhịp, tấp nập của dân làng khi đón ghe về. Mọi người vui vẻ vì đc đoàn tụ sau những ngày tháng xa cách, sung sướng vì được mẻ cá lớn. Và dường như ta còn có thể nghe thấy câu nói của người dân chài lưới "Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe" - lời cảm tạ ông trời, cảm tạ thiên nhiên đã ban tặng cho họ nguồn sống. Giữa khung cảnh ấy, người dân chài lưới hiện lên thật độc đáo và bất ngờ. Tác giả không chỉ miêu tả “làn da ngăm rám nắng” - điển hình của con người làng chài, của người lao động trên biển mà còn cảm nhận bằng trực giác cái thần thái toát ra từ hình dáng ấy. Phải tinh lắm, nhất là phải gắn bó sâu nặng với nhữngv người dân làng chài quê hương thì mới nhận ra được cái “vị xa xăm” từ thân hình của họ. “Vị xa xăm là hương vị của phuơng xa, hương vị của gió, của nắng, của muối, của mặn mòi biển cả, khiến hình ảnh người dân chài lưới chân thực và lớn lao vô cùng. Một lần nữa cho thấy Tế Hanh có cái nhìn sâu sắc để nhìn thấy linh hồn của sự vật, cái tài diễn đạt cụ thể cái trừu tượng, vô hình.
    Không chỉ miêu tả hình ảnh con người làng chài mà tác giả còn có cái nhìn tinh tế về hình ảnh con thuyền sau khi đã vật lộn với sóng gió của đại dương. Cái tinh tế, cái hay, cái lạ ở chỗ tác giả không chỉ miêu tả con thuyền đang nằm im trên bến mà còn thấy sự mệt mỏi, say sưa, cảm nhận “chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Bằng biện pháp nhân hóa, tác giả đã khiến cho chiếc thuyền vốn là một vật vô tri vô giác bỗng trở thành một cơ thể sống, thực chất ra để gợi lên hình ảnh con người. Sau cuộc ra khơi xa thì con người chài lưới mệt mỏi trưor về nghỉ ngơi trong thư giãn, mãn nguyện. Họ có thể thấy chất muối của biển cả đang râm ran khắp cơ thể, dư vị của chuyến đi chỉ còn là hình ảnh thấp thoáng, chập chờn trong giấc ngủ êm dịu của họ. Câu thơ cho ta thấy tác giả có năng lực cảm thông kì diệu, sự cảm nhận tinh tế nhạy cảm tới từng chuyển biến nhỏ bé nhất.