Sự kiện "ĐIỂM DANH NGAY - NHẬN QUÀ LIỀN TAY" đã chính thức bắt đầu

Bạn hãy ĐĂNG NHẬP hoặc ĐĂNG KÝ tài khoản để tham gia nhé!

Sự phân bố khoáng sản ở Việt Nam

Thảo luận trong 'Vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên' bắt đầu bởi anhtuansc10, 19 Tháng bảy 2007.

CHIA SẺ TRANG NÀY

Lượt xem: 15,582

  1. anhtuansc10

    anhtuansc10 Guest

    Sổ tay hướng dẫn sử dụng HMforum phiên bản mới


    Ai Trả lời giúp em câu này cái:
    CMR ở VN Khoáng Sản Phân Bố hok Đồng Đều???
     
    Last edited by a moderator: 9 Tháng mười hai 2008
  2. anhtuansc10

    anhtuansc10 Guest


    đính chính : them theo ko gian và trữ lượng
     
  3. sonmoc

    sonmoc Guest


    Cái này em chỉ trả lời được một số ít ý như là :
    KS tập trung nhiều ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ trở thành ngành KT mũi nhọn của vùng
    KS tập trung ít ở vùng Tây nguyên và Đông Nam Bộ
    các loại khoáng sản nhiên liệu tập trung ở những vùng thuộc khu vực phía Bắc , còn các loại khoáng sản quý tập trung ở BTB
     
  4. sonmoc

    sonmoc Guest


    Khu vực miền núi phía Bắc có trữ lượng khoảng 224 triệu tấn khoáng sản kim loại

    Bộ Công nghiệp cho biết, theo kết quả tìm kiếm thăm dò, khu vực miền núi phía Bắc có trữ lượng khoảng 224 triệu tấn khoáng sản kim loại; trong đó, sắt có trữ lượng lớn nhất (213 triệu tấn), tiếp đến là titan (4,8 triệu tấn), mangan (3,2 triệu tấn), còn lại là chì-kẽm, đồng và thiếc.

    Địa điểm có mỏ tập trung vào 7 tỉnh là: Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng và Bắc Kạn. Trữ lượng khoáng sản kim loại dự báo của các mỏ sẽ lên đến gần 620 triệu tấn.

    Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công nghiệp, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến giai đoạn 1995-2003 chỉ vào khoảng 300.000-450.000 tấn/năm và chủ yếu khai thác quặng giầu từ các mỏ có quy mô nhỏ. Nhưng từ năm 2003-2004, do nhu cầu quặng sắt của Trung Quốc tăng cao nên sản lượng khai thác đã đạt gần 1 triệu tấn/năm (chủ yếu vẫn khai thác tận thu từ các điểm quặng nhỏ). Các mỏ khai thác tận thu không có thiết kế hoặc khai thác không tuân theo thiết kế nên không tận dụng được quặng cám. Công nghệ khai thác chủ yếu là thủ công, bán cơ giới hoặc thu gom quặng lăn, quặng lộ, mới chỉ giải quyết khâu tuyển rửa và phân cấp cỡ hạt nên gây tổn thất nhiều tài nguyên, đặc biệt, môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

    Khai thác, chế biến quặng chì kẽm hiện nay cũng mới dừng ở mức độ bán cơ giới và thủ công. Hầu hết các mỏ và điểm quặng có công suất nhỏ và rất nhỏ, năng suất lao động thấp. Sự phát triển quá mức, không theo quy hoạch của một số địa phương, đặc biệt là xuất khẩu quặng nguyên khai ồ ạt trong những năm qua đã làm thiếu quặng đầu vào của một số nhà máy chế biến, dẫn tới hiện tượng tranh chấp tài nguyên giữa cơ sở khai thác cũng như giữa các địa phương với nhau. Trước tình hình trên, Bộ Công nghiệp đã ban hành Thông tư hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản năm 2005-2010; trong đó có quy định không xuất khẩu quặng kẽm vào năm 2006. Việt Nam chưa phải là quốc gia giàu có về quặng chì kẽm và chỉ chiếm khoảng 1% trữ lượng quặng chì kẽm thế giới nhưng với trữ lượng tìm kiếm thăm dò hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu khai thác, chế biến hiện có và trong giai đoạn tới với quy mô mô vừa và nhỏ.
     
  5. anhtuansc10

    anhtuansc10 Guest


    wua em cảm ơn nha