Chào mừng bạn đến với HMForum. Vui lòng đăng ký để sử dụng nhiều chức năng hơn!

phân tích "thu điếu"

Thảo luận trong 'Câu cá mùa thu (Thu điếu - Nguyễn Khuyến)' bắt đầu bởi princekho242, 22 Tháng chín 2009.

CHIA SẺ TRANG NÀY

Lượt xem: 19,958

  1. princekho242

    princekho242 Guest

    Đặt chỗ PEN 2017 - Cập nhật theo mọi thay đổi của kỳ thi THPT QG

    Phương án thi năm 2017 sẽ không thay đổi


    Đề: Phân tích bài thơ: "Câu cá mùa Thu" ( Thu điếu) Giúp với cảm ơn mấy bạn trước nha. mình *** văn lắm giúp giùm:D
     
  2. ngocthinhdan

    ngocthinhdan Guest


    Thu điếu nằm trong chùm thơ thu ba bài nức danh nhất về
    1 thơ Nôm của Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói lên một nét thu
    đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn,
    buồn của một nhà nho nặng tình với quê hương đất nước. Thu điếu
    cũng như Thu ẩm, Thu vịnh chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào
    thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884).
    Hai câu thơ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo - Một chiếc thuyền
    câu bé tẻo teo mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc
    mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu nước trong veo có thể nhìn được
    rong rêu tận đáy tỏa ra khí thu lạnh lẽo như bao trùm không gian.
    Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi
    nên mới lạnh lẽo như vậy. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền
    câu bé tẻo teo tự bao giờ. Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền
    câu Bé tẻo teo nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi
    ra sự tun hút của cảnh vật (trong veo - bé tẻo teo). Đó là một nét
    thu đẹp và êm đềm.
    Hai câu thực (Sông biếc theo làn hơi gợn tí - Lá vàng trước gió
    khẽ đưa vèo) tá không gian hai chiều. Màu sắc hòa hợp, có sóng biếc
    với lá vàng Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng
    khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn hơi gợn tí.
    Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thư, tô đậm cái nhìn thấy và
    cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trọng dùng
    từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với độ
    bay xoay xoay khẽ đưa vẻo của chiếc lá thu. Chữ vẻo là một nhãn tự
    mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. ông thổ lộ
    một đời thơ mới có được một. câu vừa ý: Vèo trông lá rụng đầy sân"
    (cảm thu, tiễn thu).
    Bức tranh thu được mở rộng dần ra qua hai câu thơ:
    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
    Bầu trời thu xanh ngắt thăm thẳm, bao la. áng mây, tầng mây
    (trắng hay hồng ?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm,
    tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con
    đường làng đi về các ngõ xóm: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
    Vắng teo nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ
    nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. Ngõ trúc trong thơ Tam
    nguyên Yên Đo lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng
    khuâng, man mác:
    Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy
    Thuyền ai khách đợi bến dâu đây?
    (Nhớ núi Đọi)
    Ngõ trúc và tầng mây cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc
    của làng quê. Thi sĩ .như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm
    vào cảnh vật.
    Đến hai câu kết thì bức tranh thu mới xuất hiện một dối tượng khác:
    Tựa gối ôm cắn lâu chẳng được
    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
    Thu điếu nghĩa là mùa thu câu cá. Sáu câu đầu mới chỉ có cảnh
    vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ
    trúc mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế
    nhàn: tựa gối ôm cần. Một sự đợi chờ: lâu chẳng được. Một cái
    chợt tỉnh khi mơ hồ nghe cá đâu đớp động dưới chân bèo. Người
    câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc
    nghĩ vế một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy
    nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá đớp động sau tiếng lá thu
    đưa vèo, đó là tiếng thu của làng quê xưa. âm thanh ấy hòa quyện
    với một tiếng trên không ngỗng nước nào, như đưn hồn ta về với
    mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng
    cô đơn và lặng lẽ buồn: Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn
    thanh cao đáng trọng.
    Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái diệu xanh trong Thu điếu. Có
    xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo... và chỉ có một
    màu vàng của chiếc lá thu đưa vèo. Cánh đẹp êm đềm, tĩnh lặng
    mà man mác buồn. Một tâm thế nhàn và thanh cao gắn bó với
    mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét thu là một sắc
    thu, tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết. Vần thơ: veo
    - teo - vèo - teo - bèo, phép đối tạo nên sự hài hòa cân xứng, điệu
    thơ nhẹ nhàng bâng khuâng... cho thấy một bút pháp nghệ thuật
    vô cùng điêu luyện, hồn nhiên - đúng là xuất khẩu thành chương.
    Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngu tình tuyệt bút.
     
  3. dbsk_93

    dbsk_93 Guest


    Cho bạn một số nhận định của Xuân Diệu nè:"Cái thú vị của Thu điếu là ở các điệu xanh" , xanh ao , xanh bờ , xanh sóng , .....
    "Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam ."
    đấy , tuỳ bạn sắp xếp
     
  4. thuha193

    thuha193 Guest


    Với bài này của bạn, mình có vài gợi ý. Theo mình, để phân tích đc bài thơ này thì phải nói đc 3 luận điểm chính sau:

    *LĐ1: Bức tranh thiên nhiên:

    - Cảnh mùa thu trong "Câu cá mùa thu" vs những chi tiết điển hình cho mùa thu ở làng quê Việt Nam.

    + Điểm nhìn của tác giả: Từ gần đến cao rồi từ cao xa trở lại gần.

    + Nét riêng của mùa thu đc gợi nên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật (màu sắc, đường nét, chuyẻn động). Cái hồn dân dã của mùa thu đồng ằng Bắc Bộ đc gợi lên từ khung ao hẹp, từ chiếc thuyền câu, từ cánh bèo, từ ngõ trúc quanh co.

    - Cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng, đc gợi lên từ hình ảnh, đg` nét, âm thanh. Bức tranh thu vắng bóng người "khách vắng teo"; các đg` nét, chuyển động rất nhẹ: sóng hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa...Đây là nghệ thuật lấy động tả tĩnh rất quen thuộc của thơ cổ Trung Đông.

    *LĐ2: Bức tranh tâm trạng:

    - Ngoại cảnh phản ánh tâm cảnh bởi cảnh thu đc cảm nhận qua tâm trạng.

    + Cõi lòng nhà thơ yen tĩnh, vắng lặng.

    + Tâm hồn thấm đượm nỗi buồn hiu quạnh nên nhà thơ cảm nhận cảnh thu vs nhiều gam màu lạnh.

    + Hồn người lan toả lên cảnh vật để rồi hồn thu lại đi vào hồn người.

    ~~> Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Khuyến: Một tâm trạng buồn trc hiẹn tình đất nước đau thương, một tình yêu thiên nhiên, một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng ko kém phần sâu sắc.

    *LĐ3: Thành công về nghệ thuật của bài thơ:

    "Câu cá mùa thu" vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa có những nét mới, thẻ hiện những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của tác giả.

    - Vẻ đẹp cổ điển: Tác giả sd thi đề, thi ảnh, thi bút quen thuộc của thơ cổ.

    + Về thi đề, viết về mùa thu vs cảnh uống ruợu, ngâm vịnh, câu cá,...là đề tài quen thuộc trong thơ ca trung đại Việt Nam.

    + Về thi ảnh, thơ ca trung đại khi nói về mùa thu thường có những hình ảnh ước lệ như thu thiên, thu thuỷ, thu diệp,..Ở "câu cá mùa thu" cũng có những yếu tố này.

    + Về thi bút, tác giả sử dụng bút pháp nghệ thuật lấy động tả tĩnh rất quen thuộc trong nghệ thuật phương Động (câu thơ "cá đâu đớp động dưới chân bèo")

    - Những sáng tạo nổi bật của tcs giả:

    + Thơ xưa khi viết về mùa thu thường sử dụng những hình ảnh ước lệ như sen tàn, cúc nở, lá ngô đồng rụng, rừng
    phong lá đỏ,.. Nguyễn Khuyến, khi viết về mùa thu đã sáng tạo trong những công thức, ước lệ đenm đến cho cảnh thu những nét vẽ hiện thực hơn, hình ảnh, từ ngữ đậm đà chất dân tộc. Cũng là "thu thiên" nhưng đó là chiéc ao làng quen thuộc của vùng chiêm trũng nơi miền quê Bình Lục. Cũng là "thu diệp" nhưng là chiếc lá thu rơi mang cả nỗi niềm tâm cảnh.

    + Tiếng Việt trong "Câu cá mùa thu" trong sáng, giản dị nhưng cũng rất tinh tế. Đặc biệt vần "eo" đc Nguyễn Khuyến sử dụng rất thần tình. Đây ko đơn thuần là hình thức chơi chữ mà chính là dùng vần để biểu đạt nội dung. Trong văn cảnh bài "Câu cá mùa thu", vần "eo" góp phần diễn tả một không gian thu nhỏ dần, phù hợp vs tâm trạng đầy ẩn khúc của cá nhân.
     

  5. Mình thấy hơi thiếu cái tình ở đây. Có một cái gì đó hơi trống trải và hơi thiếu cảm xúc của mình