Sự kiện "ĐIỂM DANH NGAY - NHẬN QUÀ LIỀN TAY" đã chính thức bắt đầu

Bạn hãy ĐĂNG NHẬP hoặc ĐĂNG KÝ tài khoản để tham gia nhé!

PBCN về bài thơ Bạn đến chơi nhà

Thảo luận trong 'Thơ Trung đại' bắt đầu bởi pun3be, 27 Tháng mười một 2009.

CHIA SẺ TRANG NÀY

Lượt xem: 46,000

  1. pun3be

    pun3be Guest

    "Điểm danh ngay - Nhận quà liền tay" chào đón HMforum quay trở lại


    zúp dới, lèm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học, bài Bạn đến chơi nhà ý. mai kt rùi. ai ráng zúp mình ngen! tks nhìu
     

  2. hình như tớ có thể nhưng chưa chắc chắn bạn phải theo cái dàn bài này nè:
    Mở Bài : thiệu đc tác giả tác phẩm và tình bạn của 2 người ( lưu ý là ko phải kể là tên hồi nhỏ là j đâu ) và giới thiệu đc cuộc gặp nhe.
    Thân Bài :
    -Tất cả đều có nhưng lại chỉ ở dạng tiềm ẩn thui
    -Nói lên tình cảm gắn bó của bạn với nhà thơ ( Qua từ ta với ta )
    Kết Bài : Khẳng định lại tình cảm của nhà thơ với bạn
    Chỉ cần thế thui là đủ rùi bạn ạ

    ( blog của mình nè nhớ ghé thăm nhé)
    ( http://vn.myblog.yahoo.com/mattroitinhyeu_142 )

    * Chú ý ko sử dụng màu chữ đỏ.
     
    Last edited by a moderator: 28 Tháng mười một 2009

  3. Bạn đọc xong bài này nhớ thanks mình nha!!

    Yêu nhất là tình cảm của mẹ, mạnh mẽ là tình cảm của cha, thân thiết là tình cảm anh em và thiêng liêng, bền chặt, lâu dài nhất vẫn là tình bạn. Trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện khá rõ nét về điều đó.
    Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, mất năm 1909, lúc còn nhỏ tên Thắng, quê ở thôn Vị Hạ, làng Và, xã Yên Đổ, nay thuộc Trung Lương, Bình Lục, Hà Nam, thuở nhỏ nhà nghèo, thông minh, học giỏi, sau đi thi đỗ đầu cả ba kì thi: Hương, Hội, Đình, do đó có tên là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông làm quan khoảng mười năm, nhưng đến khi thực dân Pháp xâm chiếm xong Bắc bộ, ông cáo quan về quê ở ẩn.
    Bài thơ này là bài thơ thành công, tiêu biểu nhất của ông, và cũng là bài thơ nổi bật, đại điện cho thơ Nôm Đường luật Việt Nam nói chung.
    Bài thơ này ông viết là một kỉ niệm của ông ở tuổi mà xưa nay hiếm. Nó bày bày tỏ về cảm xúc của ông và một người bạn quen nhau chốn quan trường, nay gặp lại nơi thôn quê thanh bình – nơi chôn rau cắt rốn của ông. Từng câu từ trong bài mượt mà mà thanh cao, tình cảm thắm thiết, gắn bó, mặn mà, đầy chất nhân văn. Nó thể hiện một con người chất phác, sống bằng tình cảm nơi ông. Câu thơ mở đầu như một tiếng reo vui, nó là khởi nguồn cho tất cả tình huống, cảm xúc trong bài. Gặp lai một người bạn cũ thật khôn xiết biết bao, đặc biệt là khi lại gặp nhau nơi chân quê. Tình nghĩa đó thật quý báu. Tuy sau bao vinh hoa chốn kinh thành nhưng vẫn nhớ về nhau, vẫn tìm thăm trò chuyện. Tuy mặn mà những tình cảm nồng hậu nhưng trong bài vẫn có những tình tiết vui vẻ. Hôm nay bác tới chơi nhà thật quý và hơn nữa là sau bao năm xa cách, nhưng ngặt nỗi hoàn cảnh điều kiện và đó là một tình huống khó xử đối với tác giả: trẻ thì đi vắng, chợ thị xa, ao sâu khó chài cá ... một loạt tình huống được liệt kê. Thật trớ trêu và cũng đầy hài hước. Lời thơ tự nhiên, vui vẻ, trong sáng tạo nên thanh điệu hoạt bát, toát lên được sự hiếu khách của chủ nhà trước một vị khách quý. Tuy tất cả đều thiếu vắng, ngay đến cả cái tối thiểu để tiếp khách như miếng trầu cũng không có thì câu cuối cùng lại là sự bất ngờ, đầy lý thú và cũng chất chứa những cảm xúc dạt dào, khó tả. Tình bạn ấy vượt lên trên cả nhưng lễ nghi tầm thường. Ba từ: “ta với ta” là tâm điểm, trọng tâm của bài. Âm điệu bỗng dưng thay đổi, thân mật, ngọt ngào. Nó không giống với ba từ “ ta với ta” trong bài Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Trong bài Qua đèo ngang thì 3 từ đó là nỗi trống vắng, hiu quạnh nơi đất khách, quê người, còn ba từ này trong bài bạn đến chơi nhà là nồng thắm tình cảm bạn bè chân thành, thanh tao, trong sáng. Nói cho cùng thì nhà thơ đã rất khéo léo lột tả sự nhiệt tình, nóng hổi, mến khác trước hoàn cảnh bất ngờ, thiếu thốn, nghèo khổ của tác giả. Và đằng sau nhưng câu từ dân dã kia là hai tình cảm chân chất, nhỏ nhẹ mà hóm hỉnh đang hướng về nhau. Tình cảm chính là điều mà tác giả mong đợi, khao khát nhất, và chỉ mình nó cũng là đủ để sưởi ấm một buổi trò chuyện, gặp mặt.
    Nói chung bài thơ này được tạo nên trên một hình ảnh không có gì về vật chất, tất nhiên không phải là thiếu thốn mà là chưa đủ độ, để rồi đúc kết một câu rằng:”Bác đến chơi đây, ta với ta” thật đậm đà, sâu sắc. Bài thơ này không chỉ là một lời bày tỏ chân tình của tác giả mà còn là một triết lý, một bài học, một định hướng về sự chuẩn mực rằng: tình bạn cao hơn mọi của cải, vật chất.
     
  4. thuha_148

    thuha_148 Guest


    Nguyễn Khuyến (1835-1909) là nhà thơ Nôm kiệt xuất của dân tộc. Ông để lại nhiều bài thơ nói về tình bạn: bạn cùng quê, bạn đồng học, bạn đồng khoa…

    Ai lên thăm hỏi bác Châu Cầu

    Lụt lội năm nay bác ở đâu…”

    (Lụt hỏi thăm bạn)

    Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”

    (Khóc Dương Khuê)

    Châu cầu, Dương Khuê là hai bạn đồng khoa của Nguyễn Khuyến. Bài “Bạn đến chơi nhà” là một trong những bài thơ Nôm đặc sắc của ông, nói lên một tình bạn đẹp.

    Câu nhập đề rất tự nhiên, như một lời nói mộc mạc của nhà thơ sau bao tháng ngày mới gặp lại bạn. Lời chao vồn vã, biểu lộ niềm vui mừng không xiết:

    “Đã bấy lâu nay bác tới nhà”.

    Chữ “bác” gợi lên thái độ niềm nở, thân mật và kính trọng, một cách xưng hô thân tình. Đằng sau câu thơ - lời chào hỏi – có thể là những giọt lệ ứa ra ở khoé mắt đôi bạn già.

    “Đã bấy lâu nay” là bao năm tháng? Tính thời gian không được xác định cụ thể, nhưng chắc chắn là đã khá lâu, vì sức yếu, tuổi già… nên xiết bao đợi chờ, mong nhớ. Bộ phận trạng ngữ chỉ thời gian được đặt lên đầu câu thơ diễn tả sự xac cáhc nhớ mong, làm nổi bật ý thơ: niềm xúc động và niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn. Trong bài thơ “Khóc Dương Khuê”, có một chi tiết giúp ta cảm nhận được mọt phần nào cái hay, cái tình ẩn chứa trong câu nhập đề:

    “Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,

    Trước ba năm gặp bác một lần,

    Cầm tay hỏi hết xa gần

    Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can”.

    Chữ “bác” được nói đến trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” là bạn chí thân, ở xa, lâu ngày mới gặp nên Nguyễn Khuyến rất mừng và cảm động.

    Sáu câu thơ tiếp theo toát lên một nụ cười hóm hỉnh. Một ý thơ bao trùm: Đã lâu ngày bạn mới đến chơi, biết lấy gì đãi bạn đây? Một tình thế khá éo le: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa”. Chữ “thời” (thì) là một hư từ, rất ít khi xuất hiện trong thơ vì dễ rơi vào sự tầm thường nhạt nhẽo. Nhưng dưới ngòi bút Tam nguyên Yên Đổ, nó trở nên thanh thoát tự nhiên vô cùng, chứng tỏ ông có một bản lĩnh nghệ thuật già dặn, điêu luyện.

    Nguyễn Khuyến sau khi cáo quan, lui về sống bình dị ở chốn vườn Bùi quê cũ, với “năm gian nhà cỏ thấp le te”, với một cơ ngơi:

    “Chín sào tư thổ là nơi ở,

    Một bó tàn thư ấy nghiệp nhà”.

    (Ngày xuân dạy các con – 1)

    Phần thực và luận, tính hệ thống của ngôn ngữ thơ rất chặt chẽ, nhất quán ở một cách nói, một lối biểu cảm: Có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn thân! Có ao và cá, có vườn và gà, có cà và cải, có mướp và bầu… Bức tranh vườn Bùi thân thuộc hiện lên sống động, vui tươi. Một nếp sống thong dã chất phác, cần cù, bình dị đáng yêu. Một cuộc đời thanh bạch, ấm áp cây đời và tình người rất đáng tự hào. Chúng ta như cảm thấy Nguyễn Khuyến đang dắt tay bạn ra thăm vườn cây ao cá, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về quê ở ẩn. Phép đối hợp cách, chặt chẽ; cảnh với cảnh, thượng hạ, trắc - bằng phân minh, tạo nên một giọng thơ nhẹ nhàng, vui tươi lời thơ cân xứng, hoà hợp như cảnh vườn tược xinh xắn, hữu tình:

    “Ao sâu nước cả, khôn chài cá

    Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà”.

    Dân gian có câu: “Khách đến chơi nhà khong gà cũng vịt”. Qua các câu thơ trên, ta thấy Nguyễn Khuyến đang giãi bày với bạn: trong nhà ngoài vườn có bao nhiêu thứ, nhưng thực ra chẳng có gì để thết bạn, đãi bạn vì tất cả mọi thứ, mọi thức chưa đến lúc, đến thời! Câu thơ thứ bảy tiếp nối và mở rộng ý thơ trên, khẳng định luôn cái “không có”:

    “Đầu trò tiếp khách trầu không có”.

    Phải chăng cái nghèo của cụ Tam nguyên Yên Đổ đã đến mức ấy ư? “Vẻ chi một mớ trầu cay” (ca dao). Nhà thơ đã thậm xưng hoá cái nghèo, thi vị hoá cái nghèo. Một ông quan to triều Nguyễn về quê ở ẩn, với một cơ ngơi “chín sào tư thổ là nơi ở” thì không thể “miếng trầu là đầu câu chuyện” để tiếp bạn cũng “không có”. Đây là một lời thơ hóm hỉnh, pha chút tự trào vui vui, để bày tỏ một cuộc sống thanh bạch, một tâm hồn thanh cao của một nhà nho khước từ lương bổng của thực đan Pháp, lui về sống bình dị giữa xóm làng quê hương.

    Câu kết là một sự “bùng nổ” về ý và tình. Tiếp bạn chẳng cần có mâm cao, cỗ đầy, cao lương mĩ vị, cơm gà cá gỏi, mà chỉ có một tấm lòng, một tình bạn chân thành, thắm thiết:

    “Bác đến chơi đây, ta với ta”.

    Lần thứ hai, chữ “bác” đã xuất hiện trong bài thơ, thể hiện mọt sự trìu mến, kính trọng. Bác đã không quản tuổi già sức yếu, không quản đường sá xa xôi đến thăm tôi, còn gì quý hoá bằng! Tình bạn là trên hết. Không một thứ vật chất nào có thể thay thế được tình bạn tri âm, tri kỉ. Mọi cái đều “không có” nhưng lại “có”; tình bằng hữu thân thiết. Chữ “ta” là đại từ nhẵnng, trong bài thơ này là “tôi”, là “bác”, là “hai chúng ta”, không có gì cách bức nữa. Cụm từ “ta với ta” biểu lộ một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy và lắng đọng trong tâm hồn, toả rộng trong không gian và thời gian. Với cụm từ “ta với ta” trong câu thơ “Một mảnh tình riêng ta với ta” của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi buồn cô đơn của khách ly hương khi đứng trên đỉnh đèo Ngang lúc hoàng hôn, còn ở đây, trong câu thơ của Nguyễn Khuyến lại ấm áp tình đời và sau nặng tình bạn. Qua đó, ta cảm nhận được phần nào tính cá thể hoá cua ngôn ngữ và sắc điệu trữ tình tạo nên giá trị văn chương trong những bài thơ cổ.

    Có đọc qua một số bài thơ của Nguyễn Khuyến viết về tình bạn, ta mới thấy cái hay, cái ý vị của bài thơ “Bạn đến chơi nhà”:

    “Từ trước bảng vàng nhà sẵn có,

    Chẳng qua trong bác với ngoài tôi”

    (“Gửi bác Châu Cầu”)

    “Đến thăm bác, bác đang đau ốm,

    vừa thấy tôi, bác nhổm dậy ngay.

    Bác bệnh tật, tôi yếu gầy.

    Giao du rồi biết sau này ra sao?”

    (“Gửi thăm quan Thượng thư họ Dương”)

    Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, niêm luật, đối chặt chẽ, hợp cách. Ngôn ngữ thuần nôm, không có một từ Hán - Việt nào, đọc lên nghe thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên. Ta có cảm giác như Nguyễn Khuyến xuất thân thành chương. Đặc biệt bố cục bài thơ không theo qui cách; đề, thực, luận, kết – mà lại cấu trúc theo: (1+6+1) câu đầu nói lên niềm vui khi bạn đến; 6 câu giữa hóm hỉnh, cười vui không có gì để tiếp bạn; câu cuối chỉ có tình bạn đẹp mà thôi!

    Bài thơ nôm khó quên này cho thấy một hồn thơ đẹp, một tình bằng hữu thâm giao, chân tình, một tấm lòng hồn hậu, đẹp đẽ. Tình bạn của Nguyễn Khuyến trong sáng, thanh bạch, đối lập với nhan tình thế thái “còn bạc, còn tiền, còn đệ tử - Hết cơm hết rượu hết ông tôi” mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kịch liệt lên án. Hai nhà thơ sống cách nhau mấy trăm năm mà có chung một tâm hồn lớn: nhân hậu, thuỷ chung, thanh bạch. Tâm hồn đó, tấm lòng đó của tiền nhân đối với ngày nay vẫn xứng đáng là tấm gương sáng để mọi người soi chung. Nguyễn Khuyến không những là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam mà còn là nhà thơ của tình bạn trong sáng, thuỷ chung và cao đẹp rất đáng yêu, đáng kính.
     
  5. ngovietthang

    ngovietthang Guest


    Đã bấy lâu nay bác tới nhà
    Trẻ thời đi vắng chợ thời xa.

    Thành phần tình huống đã bấy lâu nay có tính cấu trúc. Nó phản ánh chu kỳ bạn đến nhà với tần suất thấp, rất thấp. Khoảng giữa chu kỳ đó là sự trống vắng. Thêm một từ nhưng vào giữa hai câu phá - thừa, mọi việc sẽ sáng tỏ. Điều đó ta có thể làm được và cần thiết phải làm, vì thơ Đường đòi hỏi phải tư duy mới tái tạo được hồn thơ, mà khi đã tư duy thì phải dùng kết từ, hệ từ, tất nhiên. Ngược lại, tác giả thơ Đường không tư duy thay ta. Họ chỉ nêu hiện tượng, sự việc, còn ta phải tự khám phá các mối quan hệ. Do đó, thơ Đường rất kiêng kỵ dùng kết từ, hệ từ. Nguyễn Khuyến cũng vậy, thơ nôm Đường luật của ông dường như vắng bóng các từ nhưng, vì, nếu, là... Còn khi đọc ta phải thêm vào để hiểu thơ ông. Với câu thừa, sự thể thật trớ trêu. Những tưởng khách đến chơi nhà thì nỗi cô đơn được giải toả, nào ngờ khách lại bước vào cõi riêng của chủ thể, ở đó chủ thể bị cô lập với thế giới, với con người, kể cả người thân. Vị thế thay đổi. Khách biến thành người chung cảnh ngộ. Nỗi cô đơn được nhân đôi.

    Không gian ở hai câu thực rất đặc biệt nếu đem so sánh với không gian tương đồng trong những bài thơ khác. Vẫn là "Vườn Bùi chốn cũ", quê hương ông, vẫn là ao ấy, vườn ấy, hàng dậu ấy, nhưng khi cần một không gian trống vắng để đối lập với một tâm cảnh ngổn ngang thế sự thì:

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo...
    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
    (Thu điếu)

    Khi dùng hơi men hòa giải với nỗi lòng trầm uất thì không gian biến hiện, chấp chới với người say:

    Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt
    Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
    (Thu ẩm)

    Khi tâm tư mang niềm hoài cổ thì nước ao trở thành tầng khói phủ làm mờ những giới hạn thời gian, hàng dậu đánh thức ký ức về chùm hoa quá khứ.

    Nước biếc trông như tầng khói phủ...
    Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái
    (Thu vịnh)

    Vậy mà ở đây, cái vườn Bùi chốn cũ thơ mộng kia biến đâu mất cả, chỉ còn trơ lại một không gian cách trở, ngoài tầm với của con người:

    Ao sâu nước cả, khôn chài cá
    Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

    Một sự lựa chọn cực đoan, nhưng đó chính là thơ Đường!

    Nếu như hai câu thực xác định một không gian ngoài chủ thể, thì hai câu luận lại điểm nhịp thời gian lặng lờ trôi, lãng quên chủ thể. Hãy thử thay đổi các loại cây quả, ví như:

    Đậu chửa ra cây vừng mới nụ
    Ngô vừa trổ bắp lạc đương hoa

    Bốn loại cây trên gieo trồng và thu hái một lần theo mùa vụ. Khoảng giữa thời gian đó không ăn được. Nếu vậy thì ta mất hướng. Khách có thể xui xẻo đến nhà vào lúc chủ nhà trắng tay lắm chứ. Nhưng Nguyễn Khuyến đã lựa chọn, ông chọn những cây ra hoa kết trái nhiều lần và con người thu hái dần dần trong một thời lượng tương đối dài. Bầu có quả vừa rụng rốn nhưng cũng có quả ăn được. Cà mướp cũng vậy. Cần nói rõ về cây cải. Nó là loại cây phát triển nhanh, chỉ cần một tháng sau khi gieo trồng đã có thể thu hái. Ở nông thôn, nó là loại rau phổ biến trong bữa ăn của mỗi gia đình suốt mùa thu - đông. Dân ta không bao giờ thu hái hết lớp này mới gieo trồng lớp khác. Họ trồng xen, trồng gối. Trong vườn bao giờ cũng có cải đủ loại: cây non ăn sống, cây vừa nấu canh, cây già muối dưa, ăn củ. Vậy là rõ. Ông đã lựa chọn, không những thế, ông còn bắt tất cả quả bầu đều phải vừa rụng rốn cùng một lúc. Cải, cà, mướp cùng chung số phận. Thật không gì có thể phi lý hơn! Bằng một loạt phó từ chỉ quan hệ thời gian chửa, mới, vừa, đương, ông dồn nén các thì tương đối hội tụ về một điểm trùng với thì tuyệt đối - thì phát ngôn thơ - rồi thì tương đối ra đi, hững hờ, vô cảm - đặc trưng muôn thuở của thời gian - để lại cho thì tuyệt đối cùng chủ thể trữ tình một con số 0 (không) tròn trĩnh: không cải, không cà, không bầu, không mướp.

    Có bạn đến chơi nhà thật, hay chỉ là một thủ thuật cấu tứ? Điều ấy không quan trọng. Vấn đề cốt lõi là ở chỗ ông đứng ngoài không gian, đứng ngoài thời gian. Và đó là cách ông tuyệt đối hoá nỗi cô đơn của mình.

    Từ lúc cáo quan về nhà, Nguyễn Khuyến là hai con người trong một tâm thân. Một con người thuộc cộng đồng, nghĩa là con người của gia đình, làng xóm, bạn bè, nhiều người quý mến nể vì, cũng không ít kẻ ghét ghen đố kỵ. Và một con người ngoài cộng đồng. Để giải mã triệt để bài thơ, ta xét hồ sơ con người ngoài cộng đồng.

    Ông nhận học vị Tam nguyên Hoàng giáp từ vua Tự Đức. Ông trân trọng, tôn thờ cân đai áo mão vua ban. Mong muốn trọn đời của ông là phò vua giúp nước. Nhưng rồi vua Tự Đức băng hà. Lý tưởng trung quân ái quốc của ông sụp đổ. Với Nguyễn Khuyến, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Đồng Khánh là những ông vua bù nhìn. Hàm Nghi là ông vua hữu danh vô thực. Ông không hưởng ứng chiếu Cần vương vì thiếu dũng khí hay vì ông biết vận nước đã tận? Sự thật là cuối thế kỷ 19, tất cả các cuộc khởi nghĩa Cần vương đều bị dập tắt. Bài thơ chữ Hán Xuân dạ liên nga (Đêm xuân thương con thiêu thân) tương truyền ông làm để bày tỏ lòng tiếc thương người bạn đồng học, tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, chưa kịp khởi sự đã bị bắt và xử tử hình đêm ba mươi tết (1887) cho thấy khá rõ chính kiến của Nguyễn Khuyến về phong trào Cần vương. Ta nghiêng mình trước những văn thân yêu nước dám xả thân vì nghĩa lớn, nhưng không thể lấy họ làm toạ độ quy chiếu để đánh giá nhân cách của người khác. Động thái của họ chỉ để thành nhân, không thể thành công. Nguyễn Khuyến muốn điều ngược lại và ông bế tắc. Lịch sử đã an bài: gần như cả châu Á đã rơi vào nanh vuốt phương Tây, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Lẽ xuất xứ của các sĩ phu thời tao loạn là Dụng tắc hành, Xả tắc tàng. Ông đã tự xả, nhưng không tàng được. Ông giả điếc, và theo một nghiên cứu của Xuân Diệu, ông còn giả mù, giả câm để tránh chính quyền đương thời nhiễu sự, nhưng ông đã không chạy trốn được chính mình. Ông từ quan mà lòng vẫn bất an. Mặc cảm cay đắng Ơn vua chưa chút báo đền, Cúi trông hổ đất ngửa lên thẹn trời ông đeo đẳng đến lúc chết. Không ai hiểu ông. Người vợ tao khang của ông chỉ biết hay lam hay làm, thắt lưng bó que tần tảo. Con trai ông vẫn hăm hở với hư danh. Bạn bè ông kẻ cùng chí không cùng ý, người tặc lưỡi buông xuôi... Ông cô đơn.

    Bây giờ ta đã đủ hành trang để "vượt rào cản" hai câu kết:

    Đầu trò tiếp khách trầu không có
    Bác đến chơi đây ta với ta.

    Nguyễn Khuyến bao giờ cũng có trầu. Những lúc vắng nhà, ông vẫn không quên mang theo gói trầu têm sẵn. Nhưng nghịch lý trầu không có chưa phải là thần tứ. Phó từ phủ định không bất ngờ, sắc lạnh như một nhát chém, chặt đứt nẻo giao tiếp cuối cùng giữa chủ thể với thế giới. Đúng nghệ thuật thơ Đường là nghệ thuật của hư từ! Đại từ chỉ nơi chốn đây định vị một cõi riêng, cõi bị cô lập với không gian và thời gian thông lệ. Kết từ với không gợi tư duy mà chỉ đơn thuần liên kết, hơn thế nữa, hoà tan cái ta cụ thể bác trong cái ta cô đơn.

    Cụ Nguyễn Thị Đà (mất năm 1971, thọ 86 tuổi), cháu nội của nhà thơ, kể rằng: "Cứ vào khoảng chiều muộn, cụ thường ra sân ngồi trầm ngâm bên bể cạn non bộ, trước hai ông phỗng đá. Tại đây, khi hoàng hôn sắp xuống, cụ mới bắt đầu bữa rượu chiều. Cụ rót cho mình một chén, rót cho hai ông phỗng hai chén. Xong xuôi, cụ nâng chén mời hai ông phỗng. Hai ông phỗng không biết uống rượu. Cụ buồn rầu xoa đầu hai ông rồi lần lượt uống rượu cho cả hai. Cạn ba chén rượu, cụ ngồi thừ người một lúc rồi cúi đầu lặng lẽ bưng mặt khóc." (Nguyễn Khuyến và giai thoại - Bùi Văn Cường, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1987).

    Ta lại phải dùng hư từ với. Nhà thơ đã đồng nhất mình với hai ông phỗng, hay hai ông phỗng đồng nhất họ với nhà thơ?
     
  6. godrortol

    godrortol Guest


    Trong chương trình ngữ văn 7 , em đã học dc nhiều bài văn trung đại và các tác giả nổi tiếng . Nhưng có thể nói bài "Bạn đến chơi nhà " của Nguyễn Khuyến làm em thíck nhất.
    Bài thơ dc viết lúc bạn lâu ngày ko gặp của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê đến chơi nhà . Tác giả muốn đãi bạn 1 bữa thịnh soạn bằng thịt , cá .... nhưng vì hoàn cảnh " Trẻ thời đi vắng , chợ thời xa " " Ao sâu nước cả khôn chài cá " " Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà " nên NK ko thể đãi bạn mình 1 bữa thịnh soạn , đành thế tác giả đãi bạn bằng bữa cơm " Cây nhà lá vườn" nhưng trớ trêu rau quả trong vườn chưa đến mùa thu hoạch
    " Cải chửa ra cây cà mới nụ
    Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa"
    Vậy là ko có thể đãi bạn bữa cơm , người ta thường nói " Miếng trầu là đầu câu chuyện " nhưng nhà NK lại cũng ko có trầu . Thật hóm hĩnh , thế là NK bây giờ đón bạn bằng tấm lòng
    " Bác đến chơi đây ta voi ta ! "
    Em kính phục tình bạn của tác giả , một tình bạn chân thành , đằm thắm , một tình bạn ko thể trao đổi bằng vật chất
     
  7. godrortol

    godrortol Guest


    Góp ý giùm nha

    Trong chương trình ngữ văn 7 , em đã học dc nhiều bài văn trung đại và các tác giả nổi tiếng . Nhưng có thể nói bài "Bạn đến chơi nhà " của Nguyễn Khuyến làm em thíck nhất.
    Bài thơ dc viết lúc bạn lâu ngày ko gặp của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê đến chơi nhà . Tác giả muốn đãi bạn 1 bữa thịnh soạn bằng thịt , cá .... nhưng vì hoàn cảnh " Trẻ thời đi vắng , chợ thời xa " " Ao sâu nước cả khôn chài cá " " Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà " nên NK ko thể đãi bạn mình 1 bữa thịnh soạn , đành thế tác giả đãi bạn bằng bữa cơm " Cây nhà lá vườn" nhưng trớ trêu rau quả trong vườn chưa đến mùa thu hoạch
    " Cải chửa ra cây cà mới nụ
    Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa"
    Vậy là ko có thể đãi bạn bữa cơm , người ta thường nói " Miếng trầu là đầu câu chuyện " nhưng nhà NK lại cũng ko có trầu . Thật hóm hĩnh , thế là NK bây giờ đón bạn bằng tấm lòng
    " Bác đến chơi đây ta voi ta ! "
    Em kính phục tình bạn của tác giả , một tình bạn chân thành , đằm thắm , một tình bạn ko thể trao đổi bằng vật chất
     
  8. nhokbovip

    nhokbovip Guest


    Chaj! wua ze lun. Bạn chỉ cần nói lên tác giả đã nhấn mạnh bài văn có đặc điểm gì. Rồi ghi hết ra, tốt nhất là bạn cần làm dàn ý vậy ta sẽ có ý làm dễ thui. Chúc bạn KT tốt:):p:)>-b-(
     
  9. punksaju

    punksaju Guest


    @nhokbovip :
    Biểu cảm về phò giá về kinh và những câu ca dao về tình cảm gia đình thì bạn chỉ cần :
    - Nói đến tác giả của nhg~ bài đó
    - Viết nhg~ chi tiết trg bài đó và thêm 1 số từ biểu cảm vào
    -Cuối cùng viết một câu kết nêu cảm xúc riêng của bạn về nhg~ bài ấy
     

  10. mọi người chú ý nha vì đây là bài văn biểu cảm nên phải đan xen các cầu biểu cảm vào tránh xa vào phân tích kẻo mất điểm đo1 kinh nghiệm của tui mà
     

  11. hên ghê, may mà trường ko ra đề này, ra là coi như die lun
     

  12. nhớ thanks nha pan

    Dàn bài nè bạn:
    MB:bài thơ bạn đến chơi nhà là 1 trong những bài thơ tiêu biểu của nguyễn khuyễn,thể hiện 1 tinh bạn đẹp, chân thành và xúc động
    TB:Đồng cảm,chia sẻ với hoàn cảnh đón bạn hết sức éo le,nan giải của nhà thơ
    + Cảm nhận nỗi vui mừng khôn xiết của nhà thơ khi lâu ngày gặp pan
    + thấu hiểu nỗi băn khoăn của nhà thơ khi muốn đãi bạn 1 bữa ra trò nhưng hoàn cảnh éo le không chiều lòng thi nhân
    * thấm thía giá trị của tình bạn chân thành sâu sắc
    - bất ngờ trước ứng xử tinh tế của nhà thơ
    - nhan được sâu sắc tình bạn tự nó đã là 1 bữa tiệc tinh thần vô giá hơn mọi thứ mâm cao cỗ đầy
    KB:bài thơ là 1 bản nhạc về tình bạn đẹp trong sáng,thuỷ chung,Bài thơ sẽ còn mãi vẹn nguyên giá trị ở mọi thời
     
  13. daonhattan99

    daonhattan99 Guest


    bạn đến chơi nhà

    Yêu nhất là tình cảm của mẹ, mạnh mẽ là tình cảm của cha, thân thiết là tình cảm anh em và thiêng liêng, bền chặt, lâu dài nhất vẫn là tình bạn. Trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện khá rõ nét về điều đó.
    Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, mất năm 1909, lúc còn nhỏ tên Thắng, quê ở thôn Vị Hạ, làng Và, xã Yên Đổ, nay thuộc Trung Lương, Bình Lục, Hà Nam, thuở nhỏ nhà nghèo, thông minh, học giỏi, sau đi thi đỗ đầu cả ba kì thi: Hương, Hội, Đình, do đó có tên là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông làm quan khoảng mười năm, nhưng đến khi thực dân Pháp xâm chiếm xong Bắc bộ, ông cáo quan về quê ở ẩn.
    Bài thơ này là bài thơ thành công, tiêu biểu nhất của ông, và cũng là bài thơ nổi bật, đại điện cho thơ Nôm Đường luật Việt Nam nói chung.
    Bài thơ này ông viết là một kỉ niệm của ông ở tuổi mà xưa nay hiếm. Nó bày bày tỏ về cảm xúc của ông và một người bạn quen nhau chốn quan trường, nay gặp lại nơi thôn quê thanh bình – nơi chôn rau cắt rốn của ông. Từng câu từ trong bài mượt mà mà thanh cao, tình cảm thắm thiết, gắn bó, mặn mà, đầy chất nhân văn. Nó thể hiện một con người chất phác, sống bằng tình cảm nơi ông. Câu thơ mở đầu như một tiếng reo vui, nó là khởi nguồn cho tất cả tình huống, cảm xúc trong bài. Gặp lai một người bạn cũ thật khôn xiết biết bao, đặc biệt là khi lại gặp nhau nơi chân quê. Tình nghĩa đó thật quý báu. Tuy sau bao vinh hoa chốn kinh thành nhưng vẫn nhớ về nhau, vẫn tìm thăm trò chuyện. Tuy mặn mà những tình cảm nồng hậu nhưng trong bài vẫn có những tình tiết vui vẻ. Hôm nay bác tới chơi nhà thật quý và hơn nữa là sau bao năm xa cách, nhưng ngặt nỗi hoàn cảnh điều kiện và đó là một tình huống khó xử đối với tác giả: trẻ thì đi vắng, chợ thị xa, ao sâu khó chài cá ... một loạt tình huống được liệt kê. Thật trớ trêu và cũng đầy hài hước. Lời thơ tự nhiên, vui vẻ, trong sáng tạo nên thanh điệu hoạt bát, toát lên được sự hiếu khách của chủ nhà trước một vị khách quý. Tuy tất cả đều thiếu vắng, ngay đến cả cái tối thiểu để tiếp khách như miếng trầu cũng không có thì câu cuối cùng lại là sự bất ngờ, đầy lý thú và cũng chất chứa những cảm xúc dạt dào, khó tả. Tình bạn ấy vượt lên trên cả nhưng lễ nghi tầm thường. Ba từ: “ta với ta” là tâm điểm, trọng tâm của bài. Âm điệu bỗng dưng thay đổi, thân mật, ngọt ngào. Nó không giống với ba từ “ ta với ta” trong bài Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Trong bài Qua đèo ngang thì 3 từ đó là nỗi trống vắng, hiu quạnh nơi đất khách, quê người, còn ba từ này trong bài bạn đến chơi nhà là nồng thắm tình cảm bạn bè chân thành, thanh tao, trong sáng. Nói cho cùng thì nhà thơ đã rất khéo léo lột tả sự nhiệt tình, nóng hổi, mến khác trước hoàn cảnh bất ngờ, thiếu thốn, nghèo khổ của tác giả. Và đằng sau nhưng câu từ dân dã kia là hai tình cảm chân chất, nhỏ nhẹ mà hóm hỉnh đang hướng về nhau. Tình cảm chính là điều mà tác giả mong đợi, khao khát nhất, và chỉ mình nó cũng là đủ để sưởi ấm một buổi trò chuyện, gặp mặt.
    Nói chung bài thơ này được tạo nên trên một hình ảnh không có gì về vật chất, tất nhiên không phải là thiếu thốn mà là chưa đủ độ, để rồi đúc kết một câu rằng:”Bác đến chơi đây, ta với ta” thật đậm đà, sâu sắc. Bài thơ này không chỉ là một lời bày tỏ chân tình của tác giả mà còn là một triết lý, một bài học, một định hướng về sự chuẩn mực rằng: tình bạn cao hơn mọi của cải, vật chất.
     

  14. Nguyễn Khuyến là nhà thơ nôm kiệt xuất của dân tộc ta đầu thế kỉ 20. Ông là tác giả của chùm thơ thu nổi tiếng: Thu điếu , thu vịnh , và thu ẩm. Ngoài ra , ông còn để lại nhiều bài thơ hay nói lên tình bạn cao quý , chân thành và cảm động. “Bạn đến chơi nhà” là một trong những bài thơ nôm tiêu biểu ấy.
    Câu nhập đề rất tự nhiên, mộc mạc , giản dị nhưng lại biểu lộ sự vồn vã, vui mừng khôn xiết của một người đã quá lâu rồi mới gặp lại bạn tri âm.
    “Đã bấy lâu nay bác tới nhà”
    Chữ “bác” gợi lên thái độ niềm nở, thân mật, và trân trọng, một cách xưng hô thân tình. Ta như cảm nhận được những giọt lệ đang ứa ra ở khóe mắt đôi bạn già tri kỉ đã quá lâu rồi mới được gặp nhau. Sự xa cách, nhớ mong làm nỗi bật niềm xúc động, niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn.
    “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
    Ao sâu nước cả, khôn chài cá
    Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà
    Cải chửa ra cây, cà mới nụ
    Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”
    Nối tiếp sự vui mừng khôn xiết là một nụ cười rạng rỡ nhưng cũng vô cùng hóm hĩnh. Nhà thơ đã tự tạo ra một tình huống éo le. Đoạn thơ như vẽ lên một bức tranh thân thuộc của khu vườn nơi thôn dã. Có ao cá, có gà, có cà, có cải, có mướp, có bầu…,có hai người bạn già đang cầm tay nhau đi dạo trong vườn, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về ở ẩn. Có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn. Ta có cảm giác như ông đang phân giải với bạn, nhưng cũng có cảm giác ông đang nói lên cuộc sống thanh bạch của chính mình. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” thế mà Nguyễn Khuyến thì “Đầu trò tiếp khách trầu không có”, sự thiếu thốn đã được ông nâng cao một cách hóm hỉnh, hài hước đến tột đỉnh. Tất cả để khẳng định :
    “ Bác đến chơi đây, ta với ta”
    Mọi cái đều “không có” ,chỉ có duy nhất một thứ, đó là tình bạn thắm thiết mà không một thứ vật chất nào có thể thay thế được. Tình bạn là trên hết. Tình bạn được xây dựng từ sự cảm thông , tôn trọng lẫn nhau, không vụ lợi. Cuộc đời một con người có được bao nhiêu người bạn thân như thế. Đoạn thơ như dạy cho chúng ta phải biết nuôi dưỡng tình bạn trong sáng như thế nào. Hãy trải lòng ra để sống với mọi người, đừng để vật chất làm hoen ố những tình cảm vốn rất đẹp trong mỗi chúng ta.
    Tóm lại, bài “Bác đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến được viết bằng lời thơ giản dị, mộc mạc nhưng thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, nói lên được tình bạn thâm giao, trong sáng, chân tình. Nó có tác dụng giúp chúng ta nhìn nhận lại chính bản thân mình, không bị cuộc sống vật chất của xã hội phát triển lôi kéo, giúp chúng ta luôn giữ được một tình bạn trong sáng, thủy chung, và cao đẹp vốn là bản chất của dân tộc Việt.
     
  15. bocapkhatmau

    bocapkhatmau Guest


    Trong chương trình ngữ văn 7 , em đã học dc nhiều bài văn trung đại và các tác giả nổi tiếng . Nhưng có thể nói bài "Bạn đến chơi nhà " của Nguyễn Khuyến làm em thíck nhất.
    Bài thơ dc viết lúc bạn lâu ngày ko gặp của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê đến chơi nhà . Tác giả muốn đãi bạn 1 bữa thịnh soạn bằng thịt , cá .... nhưng vì hoàn cảnh " Trẻ thời đi vắng , chợ thời xa " " Ao sâu nước cả khôn chài cá " " Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà " nên NK ko thể đãi bạn mình 1 bữa thịnh soạn , đành thế tác giả đãi bạn bằng bữa cơm " Cây nhà lá vườn" nhưng trớ trêu rau quả trong vườn chưa đến mùa thu hoạch
    " Cải chửa ra cây cà mới nụ
    Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa"
    Vậy là ko có thể đãi bạn bữa cơm , người ta thường nói " Miếng trầu là đầu câu chuyện " nhưng nhà NK lại cũng ko có trầu . Thật hóm hĩnh , thế là NK bây giờ đón bạn bằng tấm lòng
    " Bác đến chơi đây ta voi ta ! "
    Em kính phục tình bạn của tác giả , một tình bạn chân thành , đằm thắm , một tình bạn ko thể trao đổi bằng vật chất

    __________________
     
  16. bocapkhatmau

    bocapkhatmau Guest


    thank lam chi ho ban ơi bai lam ngn qua cha hieu gi lun
     
  17. plovem123

    plovem123 Guest


    "Bạn đến chơi nhà" hay một nét tâm thức văn hóa người Việt
    (GD&TĐ) - Người Việt gặp nhau thường hỏi “Bác/chú đã ăn cơm chưa?”. Việc ăn quan trọng đến nỗi ông Trời là đấng tâm linh toàn năng cũng phải kiêng dè: “Trời đánh còn tránh bữa ăn”. Cái ăn được đề cao và trở thành thường trực trong tư duy của người Việt, đến nỗi nhiều sự việc không liên quan đến ăn nhưng vẫn được ghép với ăn.
    1. Người Việt, một cư dân gắn với kinh tế nông nghiệp thiên về tự cung, tự cấp, thường túng thiếu nên rất coi trọng miếng ăn. Trong tâm thức của dân tộc luôn thể hiện điều đó. Thành ngữ Việt thường nói: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa rằng phải có cái ăn, bảo đảm được cái ăn đã thì mới có điều kiện đề cao, coi trọng hoạt động tinh thần, đạo lý; có năng lượng vật chất mới nói đến thực hành đạo.
    Người Việt gặp nhau thường hỏi “Bác/chú đã ăn cơm chưa?”. Việc ăn quan trọng đến nỗi ông Trời là đấng tâm linh toàn năng cũng phải kiêng dè: “Trời đánh còn tránh bữa ăn”. Cái ăn được đề cao và trở thành thường trực trong tư duy của người Việt, đến nỗi nhiều sự việc không liên quan đến ăn nhưng vẫn được ghép với ăn. Chúng tôi đã thử làm một phép thống kê qua cuốn Đại Từ điển tiếng Việt thì thấy có đến 551 mục từ liên quan đến từ “ăn”[1]. Như vậy, khác với người phương Tây coi việc ăn như điều kiện cần thiết, như phương tiện để làm việc; triết lý phương Tây nhắc nhở: “Người ta ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn” thì đối với người Việt “ăn uống là cả một nền văn hóa”[2].
    2. Đặt trong không gian văn hóa đó, sẽ dễ hiểu hơn khi đọc bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến. Bài thơ được làm sau khi nhà thơ từ quan về ở ẩn nơi quê nhà Yên Đổ. Nguyễn Khuyến vốn là một kẻ sĩ từng “cưỡi đầu người kể đã ba phen”, được vua Tự Đức ban cho cờ biển, áo mũ, cân đai để có danh xưng Tam Nguyên Yên Đổ. Ông là một bậc đại nho, cũng từng là một đại quan. Thế nhưng vị đại quan đó đã từ quan về quê hương sống cuộc đời bình dị. Nền văn hóa dân tộc thấm đẫm trong tâm hồn của vị đại quan, nhà thơ Nguyễn Khuyến. Làng quê Yên Đổ đó cũng là không gian cho bài thơ Bạn đến chơi nhà ra đời. Sau ba bài thơ thu, có lẽ bài thơ này là bài thơ thành công, tiêu biểu của ông, và cũng là bài thơ nổi bật, có thể đại điện cho thơ Nôm Đường luật Việt Nam nói chung.
    Bài thơ nói về tình bạn, tựa đề đã nói rõ. Từng câu từ trong bài rất bình dị mà lại chuyển tải tình cảm thân thiết, gắn bó, đậm chất nhân văn. Nó thể hiện một con người chất phác, sống trọng tình cảm ở nhà thơ Yên Đổ. Tuy mặn mà những tình cảm nồng hậu nhưng trong bài vẫn có những tình tiết hóm hỉnh. Như chúng ta đã biết, Nguyễn Khuyến vốn là một đại nho, một đại quan nhưng cách ông tiếp khách không phải là đem chuyện quan trường, chuyện văn chương, thơ phú, hay một chuyện gì lớn lao khác để mà nói. Ta hãy xem vị Tam nguyên nghĩ đến điều gì đầu tiên sau hai câu đề đầy vồ vập, vui mừng khi bạn đến nhà:
    Đã bấy lâu nay bác tới nhà
    Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
    Theo kết cấu của thơ Đường luật, cặp câu đề sẽ mở bài, đưa ra vấn đề. Câu thơ mở đầu hàm chứa sự mừng vui, là khởi nguồn, khái quát cho tất cả tình huống, cảm xúc trong bài. Nó vừa thông báo một thông tin về thời gian khá dài đôi bạn không gặp mặt qua cách nói “đã bấy lâu (đến) nay, bác (mới) tới nhà”, vừa cho thông tin về cảm xúc mừng vui của chủ thể khi bạn đến chơi. Vui mừng là đúng thôi, vì gặp lại một người bạn cũ cách biệt đã bấy lâu, nay được gặp lại nhau, đặc biệt là lại gặp nhau nơi thôn quê. Tuy sau bao vinh hoa chốn kinh thành nhưng vẫn nhớ về nhau, vẫn tìm thăm trò chuyện. Tình nghĩa đó mới thực trân quý. Nhà thơ Yên Đổ vui mừng, hồ hởi là phải.
    Trong niềm vui khi bạn đến nhà, điều đầu tiên nhà thơ cũng như bao người Việt khác, nghĩ đến việc “thết đãi” bạn. Câu thơ thứ hai đã đưa ra vấn đề đó “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa”. Khi đọc “Trẻ thời đi vắng” có thể khó hiểu nhưng tới hình ảnh, chi tiết “chợ thời xa” thì người đọc vỡ lẽ ra chủ ý của nhà thơ. Thế là nhà thơ – vị đại nho đã nghĩ đến việc thết bạn, nghĩ đến tìm món gì đó đãi bạn mà “chợ thì xa”, “trẻ thời đi vắng” không thể sai bảo. Cái khó khăn đã được đưa ra ngay trong đầu đề. Chẳng lẽ không còn cách nào? Không thể không. Phải tìm cách tiếp bạn. Mà dĩ nhiên tiếp bạn vẫn nghĩ đến “cái ăn” đầu tiên. Nhà thơ tìm đến những thực phẩm sẵn có với nguồn “tự cung tự cấp” của một nho sĩ ẩn dật theo phương thức “cày lấy ruộng mà ăn, đào lấy giếng mà uống”[3]. Và, suy nghĩ thứ hai của nhà thơ càng thể hiện tâm thức văn hóa Việt. Nhà thơ nghĩ đến thức ăn gắn bó nhất: cá, gà là những thứ gắn liền với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước của dân tộc Việt. Người Việt thường nói: “Cơm với cá như mạ với con”, lại cũng thường nói: “Khách đến nhà, không gà thì vịt”; “Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi”; “Khách đến nhà không con gà thì bát tép”. Nguyễn Khuyến cũng vậy:
    Ao sâu nước cả, khôn chài cá
    Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
    Phép đối “khôn” – “khó” đã phủ định hết. Như vậy những thức ăn cá, gà gắn bó với bữa tiệc đãi khách của người Việt cũng không thể có, không thể thực hiện. Nhà thơ nghĩ đến điều kiện tối thiểu của bữa ăn người Việt là rau quả. Điều đó lại thêm một biểu hiện nữa của tâm thức người Việt. Bởi “nằm trong khu vực của một trong những trung tâm trồng trọt, Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, phong phú vô cùng. Đối với người Việt Nam thì đói ăn rau, đau uống thuốc (tục ngữ) là chuyện tất nhiên”[4]. Tục ngữ, thành ngữ Việt Nam còn có nhiều câu khác về vai trò của rau trong bữa ăn như: “Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ”; “Ăn không rau như đánh nhau không chửi”… nó không thể thiếu như cách nói ví trong tục ngữ: “Cơm có rau, ốm đau có thuốc”. Cơm (phải) có rau (như) ốm đau (phải) có thuốc. Khi thêm các thành tố phụ như vậy sẽ dễ hiểu câu tục ngữ. Hay “Cơm không rau như đau không thuốc”, tức thể hiện sự cần thiết, tất yếu của rau trong bữa cơm. Thậm chí người Việt còn thậm xưng: “Cơm không rau, như nhà giàu chết không kèn trống”. Theo đó, cơm rau là điều kiện tất yếu và tối thiểu trong bữa ăn hàng ngày của người Việt. Nhà thơ Yên Đổ khi tiếp bạn, trong lúc bí bách nhất không thể không nghĩ đến bữa cơm rau đạm bạc, thế nhưng điều kiện của ông thật trớ trêu, hài hước:
    Cải chửa ra cây, cà mới nụ
    Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
    Nhà nghiên cứu Trần Nhật Lý đã tinh tế phát hiện “một loạt phó từ chỉ quan hệ thời gian chửa, mới, vừa, đương, ông [nhà thơ] dồn nén các thì tương đối hội tụ về một điểm trùng với thì tuyệt đối - thì phát ngôn thơ - rồi thì tương đối ra đi, hững hờ, vô cảm - đặc trưng muôn thuở của thời gian - để lại cho thì tuyệt đối cùng chủ thể trữ tình một con số 0 (không) tròn trĩnh: không cải, không cà, không bầu, không mướp”[5].
    Ở đây còn cần thấy phép đối của thể thơ Đường luật được nhà thơ khai thác đến tận cùng lợi thế, vận dụng tài tình để làm nổi bật ý nghĩa: vừa kết hợp tiểu đối – đối trung cú: cải – cà, bầu – mướp; vừa đối cách cú: cải – bầu, cà – mướp. Phép đối làm nổi bật một điều: tất cả đều chưa đến thời gian thu hoạch. Thật oái oăm. Hoàn cảnh, tình huống của nhà thơ đúng là khó xử. Thôi thì phải tìm đến điều kiện tối thiểu nhất trong giao tiếp xã giao hằng ngày của người Việt: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Nhưng:“Đầu trò tiếp khách trầu không có”.
    Đến đây người đọc “nhạy cảm” sẽ bắt đầu nghi ngờ: “Nguyễn Khuyến bao giờ cũng có trầu. Những lúc vắng nhà, ông vẫn không quên mang theo gói trầu têm sẵn”. Thậm chí nghi ngờ từ lúc nhà thơ “đã lựa chọn, không những thế, ông còn bắt tất cả quả bầu đều phải vừa rụng rốn cùng một lúc. Cải, cà, mướp cùng chung số phận. Thật không gì có thể phi lý hơn!”[6].
    Có nghĩa là nhà thơ đã dùng “thủ thuật cấu tứ” để “dựng” nên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn. Ông dựng lên làm gì vậy? Từ dụng ý này, có thể hướng cách hiểu bài thơ theo hướng khác như nhà nghiên cứu Trần Nhật Lý cho rằng Bạn đến chơi nhà là “một cõi cô đơn”[7] của nhà thơ. Thực ra phải hiểu bài thơ là sự đề cao tình bạn trong tâm thức người Việt. Bởi cái ý của tác giả rất rõ: “tình bầu bạn tự nó đã là một bữa tiệc của tinh thần”[8].
    Bác tới chơi nhà sau bao năm xa cách, thật đáng quý, hơn nữa lại gặp nhau ở chốn thôn quê. Nhưng ngặt nỗi hoàn cảnh thiếu thốn, điều kiện khó khăn, tình huống khó xử: trẻ thì đi vắng, chợ thì xa, ao sâu khó chài cá; đến cái thức ăn tối thiểu hàng ngày: cải, cà, bầu, mướp cũng đều... chưa thể thu hoạch. Thậm chí ngay cả cái tối thiểu tất yếu để tiếp khách là miếng trầu cũng… không. Thật trớ trêu và cũng đầy hài hước. Trớ trêu nhưng lời thơ cứ tự nhiên, vui vẻ, hóm hỉnh. Vậy là nhà thơ đang đùa rồi, nhà thơ cố tình nhấn mạnh sự thiếu vắng tất cả để câu thơ cuối cùng bật ra sự bất ngờ, lý thú nhưng chất chứa những cảm xúc dạt dào, khó tả:
    Bác đến chơi đây ta với ta.
    Giọng thơ trở nên thân mật. “Ta với ta” không hề giống với “ta với ta” trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi trống vắng, hiu quạnh nơi đất khách, quê người. Còn ở đây, kết từ “với” hòa hợp làm một cái “ta” khách thể “bác” với cái “ta” chủ thể nhà thơ, toát lên sự nồng thắm tình cảm bạn bè chân thành, thanh tao, trong sáng. “Thiếu vật chất nhưng còn tấm lòng là còn tình bạn”[9]. Vậy là rõ, tình bạn ấy vượt lên trên cả những thiếu thốn vật chất, những lễ nghi văn hóa.
    3. Bài thơ tập trung làm nổi bật tình bạn cao đẹp, tâm điểm của bài thơ là ở đó. Tình bạn còn xuất hiện trong nhiều bài thơ của Nguyễn Khuyến, bài thơ Khóc Dương Khuê nổi tiếng là bằng chứng xác thực cho điều ấy. Và, còn điều đáng nói là trong khi đề cao tình bạn, nhà thơ đã vô tình cho người đọc thấy một nét tâm thức văn hóa của dân tộc Việt. Hay nói đúng hơn, tình bạn của nhà thơ được thể hiện qua bài thơ thấm đẫm trong không gian văn hóa Việt.

    ad : plovem123
    nguồn: Giáo dục và Thời Đại.
     

  18. chào tất cả các bạn mình tên quỳnh biệt danh của mình là miumiu mình la thành viên moi của lop .mong các bạn giup do mình nhiêu nha
     
  19. dieuvuong

    dieuvuong Guest


    loz me khon nan hoc ngu chinbghhk ftyffgygiuhuhbjhbtjsbfskjbfdkvdkvdjvhv xbjvxhvdhxh vd dh dv
     

  20. Nhà thơ Nguyễn Khuyến là một nhà thơ rất giỏi của nền Văn học Việt Nam. Thuở nhỏ , dù nhà nghèo nhưng sẵn với đầu trí thông minh và tính siêng năng , cần cù nên ông học rất giỏi. Chưa dừng chân tại đó , ông còn thi đỗ cả ba cuộc thi : " Hương , Hội , Đình" và được mọi người gọi là " Tam Nguyên Yên Đỗ". Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Bộ cũng là lúc ông xin cáo quan về ở ẩn, trong thời gian đó ông đã làm nên nhiều tác phẩm đặc sắc cho nền Văn học Việt Nam. Bái thơ " Bạn đến chơi nhà" là minh chứng cho điều đó.
    Bài thơ " Bạn đến chơi nhà" nói về tình huống khó xử của Nguyễn Khuyến khi đột nhiên có một người cố hữu đến thăm.Trong bài thơ này , chính tác giả cũng đã nêu rõ là " bạn" chứ không phải là " khách" . Ý muốn nói lên sự thân thiết , tình bằng hữu lâu năm với nhau. Mở đầu bài thơ là câu :
    " Đã bấy lâu nay , bác đến nhà"
    Mở đầu bài thơ được tác giả thể hiện với giọng thơ hóm hỉnh , nhẹ nhàng và tự nhiên.Bộc lộ trong câu thơ là niềm vui bất ngờ , tỏ ý trân trọng , quý mến bạn.Câu thơ đó như một lời chào thân thiết , hể hiện niềm vui bất tận , xúc động vì đã bấy lâu rồi mới có thể gặp lại bạn hiền thuở xa xưa.Tác giả đã sử dụng đại từ nhân xưng là " bác và tôi" để nói lên sự gần gữi và thân thiết với nhau, gợi lên sự nể trọng cũng như thân tình để cho người đọc là chúng ta có thể cảm nhận được sự gắn bó giữa Nguyễn Khuyến va người bạn của ông ấy.Nhưng sau lời chào hỏi thân thương ấy , giọng thơ bỗng trở nên lúng túng hơn khi biết đến lúc cần phải chiêu đãi bạn:
    "Trẻ thời đi vắng , chợ thời xa
    Ao sâu nước cả , khôn chài cá
    Vườn rộng rào thưa , khó đuổi gà
    Cải chửa ra cây , cà mới nụ
    Bầu vừa rụng rốn , mướp đương hoa"
    Cách nói hớm hỉnh cho ta thấy trong tình huống này , Nguyễn Khuyến đã dùng biện pháp phóng đại để cường điệu hóa hoàn cảnh khó khăn , thiếu thốn của mình.Ta có thể hiểu rằng , sau lời chào hỏi bạn , tác giả đã nhắc đến từ " chợ" trong câu tiếp theo ý là để nói đến những món ngon có thể đem ra tiếp đãi bạn nhưng đành bất lực vì nhà xa chợ lại không có trẻ nhỏ sai vặt." Ao sâu mà nước lại lớn , nên không chài được cá; vườn rộng thênh thang , rào lại thưa nên khó có thể bắt gà; đến một quả bầu , quả bí hoặc một cây cải , mớ cà cũng chẳng có" vậy suy cho cùng trong nhà tác giả tất cả đều co nhưng lại không thể sử dụng được bởi vì người bạn này đến chơi không đúng lúc, không đúng với thời vụ để thu hoạch.Có thể nhận biết rằng các thứ ấy gợi lên không khí điền viên , quê kiểng, hiểu được cuộc sống của tác giả khi ở làng quê : đạm bạc , giản dị , luôn gắn bó với nông thôn .
    " Đầu trò tiếp khách , trầu không có"
    Người ta thường nói " Miếng trầu là đầu câu chuyện" nhưng trong lúc này đây , tại ngôi nhà nông thôn , chất phác này ngay cả miếng trầu cũng chẳng có thì thật là phi lý. Dù vậy nhưng người bạn của Nguyễn Khuyến chẳng hề tức giận vì không được tiếp đãi chu đáo hay vì không được chiêu đãi bằng những món ngon như lúc còn trong cung .Vì ông có thể hiểu rằng Nguyễn Khuyến đã tiếp đãi ông bằng cả tấm chân tình. Giữa họ là một tình bạn đậm đà thấm thiết , nó còn qý hơn so với những món " sơn hào. hải vị"
    " Bác đến chơi đây , ta với ta"
    Câu kết là sự " bùng nổ" ý và tình. Tiếp bạn chẳng cần có mâm cao , cỗ đầy, "sơn hào hải vị" mà chỉ cần có một tấm lòng.Câu thơ " ta với ta" trong bài " Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan là sự bắt gặp đối diện với chính mình, chính tâm trạng cô đơn u hoài của nữ sĩ. Còn " ta với ta" trong bài thơ này là sự bắt gặp của hai tâm hồn đồng điệu , hai con người gắn bó và thân thiết.
    Bài thơ " Bạn đến chơi nhà"được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật , ngôn ngữ thanh thoát , nhẹ nhàng và tự nhiên. Bài thơ này là một bài thơ hay nói về tình bạn , một tình cảm đậm đà thấm thiết như keo sơn. Một tâm hồn thanh bạch cao quý của hai con người hòa làm một , một cách sống thanh cao "trọng tình, trọng nghĩa".