HOCMAI Forum đã quay trở lại, MỚI MẺ - TRẺ TRUNG - NĂNG ĐỘNG
Hãy GIA NHẬP ngay

[Ngữ văn 8]Gấp!! Soạn 4 câu hỏi của bài thơ Quê hương-Tế Hanh

Thảo luận trong 'Các văn bản thơ VN giai đoạn 1930–1945' bắt đầu bởi tearing_saga_99, 13 Tháng một 2013.

Lượt xem: 21,469

  1. Hướng dẫn Cách gõ công thức Toán học, Vật lý, Hóa học forum mới


    Mong mọi người giúp đỡ! cảm ơn mọi người trước !!!
     
    Last edited by a moderator: 14 Tháng một 2013

  2. Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào. Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng.
    Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù.

    Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ phối hợp cả hai kiểu gieo vần liên tiếp và vần ôm đã phần nào thể hiện được nhịp sống hối hả của một làng chài ven biển:
    Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
    Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
    Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

    Quê hương trong tâm trí của những người con Việt Nam là mái đình, là giếng nước gốc đa, là canh rau muống chấm cà dầm tương.

    Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây. một khung cảnh làng quê như đang mở ra trước mắt chúng ta vô cùng sinh động: “Trời trong – gió nhẹ – sớm mai hồng”, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sáng tràn ngập.

    Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đến là một báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi:

    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

    Nếu như ở trên là miêu tả vào cảnh vật thì ở đây là đặc tả vào bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Con thuyền được so sánh như con tuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Bên cạnh đó, những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng. Vượt lên gió. Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùng tráng:

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

    Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xómTế Hanh mới có thể viết được như vậy.Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao và thiên nhiên.Cánh buồm trắng thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt đẹp.Có lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh trong thơ trên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật.

    Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thể hơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao. Đó chính là sự tinh tế của nhà thơ. Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió. Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhû nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình.

    Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài bơi thuyền ra đánh cá, thể hiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động, là sự phấn khởi, là niềm hi vọng, lạc quan trong ánh mắt từng ngư dân mong đợi một ngày mai làm việc với bao kết quả tốt đẹp:

    Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
    Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe
    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

    Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôi động của cánh buồm đón ghe cá trở về. Người đọc như thực sự được sống trong không khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá như thế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động không mệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi.

    Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ:
    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
    Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm
    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

    Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Cái độc đáo của câu thơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả. Hai câu thơ miêu tả về con thuyền nằm im trên bến đỗ cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo.

    Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Không phải người con làng chài thì không thể viết hay như thế, tinh như thế, và cũng chỉ viết được những câu thơ như vậy khi tâm hồn Tế Hanh hoà vào cảnh vật cả hồn mình để lắng nghe. Ở đó là âm thanh của gió rít nhẹ trong ngày mới, là tiếng sóng vỗ triều lên, là tiếng ồn ào của chợ cá và là những âm thanh lắng đọng trong từng thớ gỗ con thuyền.

    Có lẽ, chất mặn mòi kia cũng đã thấm sâu vào da thịt nhà thơ, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành nỗi niềm ám ảnh gợi bâng khuâng kì diệu. Nét tinh tế, tài hoa của Tế Hanh là ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”… Thơ Tế Hanh là thế giới thật gần gũi, thường ta chỉ thấy một cách lờ mờ, cái thế giới tình cảm ta đã âm thầm trao cảnh vật: sự mỏi mệt, say sưa của con thuyền lúc trở về bến…”
    Nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng mình là lúc nhà thơ bày tỏ tình cảm của một người con xa quê hướng về quê hương, về đất nước :

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi
    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

    Nếu không có mấy câu thơ này, có lẽ ta không biết nhà thơ đang xa quê. ta thấy được một khung cảnh vô cùng sống động trước mắt chúng ta, vậy mà nó lại được viết ra từ tâm tưởng một cậu học trò. từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi.

    Màu của quê hương là những màu tươi sáng nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh yêu nhất những hương vị đặc trưng quê hương đầy sức quyến rũ và ngọt ngào. Chất thơ của Tế Hanh bình dị như con người ông, bình dị như những người dân quê ông, khoẻ khoắn và sâu lắng. Từ đó toát lên bức tranh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động hàng ngày của người dân.


    Bài thơ đem lại ấn tượng khó phai về một làng chài cách biển nửa ngày sông, lung linh sóng nước , óng ả nắng vàng. Dòng sông, hồn biển ấy đã là nguồn cảm hứng theo mãi Tế Hanh từ thuở “hoa niên” đến những ngày tập kết trên đất Bắc. Vẫn còn đó tấm lòng yêu quê hương sâu sắc, nồng ấm của một người con xa quê:

    Tôi dang tay ôm nước vào lòng
    Sông mở nước ôm tôi vào dạ
    Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả
    Kẻ sớm hôm chài lưới ven sông
    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển
    Vẫn trở về lưu luyến bến sông
    (Nhớ con sông quê hương – 1956)

    Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đấùt Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”.


    nguon: google
     

  3. Bố cục gồm 4 phần:
    - 2 câu đầu: Giới thiệu chung về làng quê.
    - 6 câu tiếp theo: Cảnh thuyền ra khơi đánh cá trong buổi sớm mai hồng.
    - 8 câu tiếp theo: Thuyền cá trở về bến.
    - 4 câu cuối: Nỗi nhớ làng, nhớ biển quê hương.
    Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
    Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

    . Lời giới thiệu:
    Làng tôi
    nghề chài lưới
    Nước bao vây

     Lời giới thiệu ngắn gọn, mộc mạc
    nửa ngày sông
    Hỏi: Tác giả đã giới thiệu chung về
    làng quê của mình như thế nào?
    ?
    2 Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
    Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã,
    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang,
    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng,
    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
    2 Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
    Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
    trong
    nhẹ
    hồng
    Nhà thơ tả cảnh thuyền cùng trai tráng
    của làng ra khơi đánh cá như thế nào?
    ?

     Phong cảnh thiên nhiên tươi sáng,
    khoáng đạt
    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
    hăng
    Phăng
    vượt
    Chiếc thuyền
    con tuấn mã

    So sánh được sử dụng để miêu tả
    con thuyền có tác dụng như thế nào?
    Các tính từ, động từ nào cần lưu ý?
    ?
    Lối so sánh,
    động từ mạnh
    thể hiện khí thế
    lao động hăng say,
    sức mạnh khoẻ
    khoắn của người
    dân chài.
    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
    Tác giả so sánh “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng” có ý nghĩa gì và có ấn tượng như thế nào?
     Hình ảnh cánh buồm trắng căng phồng, no gió ra khơi được so sánh với mảnh hồn làng sáng lên vẻ đẹp lãng mạn. Từ đó, hình ảnh cánh buồm căng gió biển quen thuộc bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng vừa thơ mộng vừa hùng tráng.
     Hình ảnh cánh buồm là biểu tượng của linh hồn làng chài.
     Cánh buồm trắng căng phồng bay lướt trên dòng sông đổ òa ra biển rộng, cánh buồm giương to ngang dọc giữa biển khơi bát ngát.
    3. Cảnh thuyền về bến:
    Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
    ‘‘Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe,’’
    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm:
    Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
    3. Cảnh thuyền về bến:
    Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
    ồn ào
    tấp nập
     Bức tranh lao động náo nhiệt
    Hỏi: Không khí đánh cá khi thuyền đánh cá từ biển trở về được tái hiện như thế nào?
    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.
    Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
    3. Cảnh thuyền về bến:
    da ngăm rám nắng
    nồng thở vị xa xăm.
    im
    mỏi
    nằm
    Nghe
    Hỏi: Hình ảnh dân chài và con thuyền ở đây được miêu tả như thế nào?
     Lối tả chân thực, lãng mạn, phép nhân hoá
    Hỏi: Hai câu thơ tả con thuyền nằm im trên bến sau chuyến đi dài gợi cho em cảm xúc gì?
     Vẻ đẹp khoẻ khoắn. Cuộc sống vất vả nhưng thi vị.
    4. Tình cảm của tác giả
    ? Nỗi nhớ chân thành da diết, khôn nguôi
    ? Tình yêu quê hương đất nước
    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
    nước xanh
    cá bạc
    chiếc buồm vôi


    luôn tưởng nhớ
    mùi nồng mặn quá!
    Nhớ tới nước biển, cá, cánh buồm, mùi nồng mặn,…
    Nguồn net
     

CHIA SẺ TRANG NÀY