HOCMAI Forum đã quay trở lại, MỚI MẺ - TRẺ TRUNG - NĂNG ĐỘNG
Hãy GIA NHẬP ngay

[ Lịch Sử 8] Khởi nghĩa Yên Thế và Phong trào Cần Vương

Thảo luận trong 'Việt Nam trong giai đoạn 1858 - 1897' bắt đầu bởi h.e.x, 16 Tháng hai 2009.

Lượt xem: 145,539

  1. h.e.x

    h.e.x Guest

    Hướng dẫn Cách gõ công thức Toán học, Vật lý, Hóa học forum mới


    Cho em biết những điểm giống và khác nhau giữa hai phong trào này. Tại sao lại chọn Yên Thế ? Phong trào Yên Thế có những ưu ngược điểm nào?
     
  2. tiendatsc

    tiendatsc Guest


    tớ chỉ biết Yen Thế là vùng đát đồi, cây cối rậm rạp ,địa hình hiểm trở nên lợi thế về mặt phòng ngự mà Pháp lại đang
    chiếm đóng Yên Thế nên nd nổi dậy sẽ có quân số lớn hơn
     
  3. maiphutho

    maiphutho Guest


    Chào em
    Điểm giống và khác nhau giữa hai phong trào nông dân Yên Thế và Phong trào Cần Vương
    Giống nhau:
    Đều là phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta.
    Đều có sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân.
    Đều thất bại
    Khác nhau:
    Lãnh đạo:
    Phong trào Cần Vương: Văn thân sĩ phu yêu nước dưới ngọn cờ Cần Vương
    Phong trào nông dân Yên Thế: Nông dân đứng đầu là Đề Thám
    Mục tiêu:
    Phong trào Cần Vương: Chống Pháp giành lại độc lập dân tộc.
    PTND Yên Thế: Mong muốn xây dựng cuộc sống bình quân bình đẳng và sơ khai về kinh tế và xã hội.
    Địa bàn hoạt động:
    Phong trào Cần Vương: Địa bàn hoạt động rộng khắp Bắc Kì và Trung Kì
    Phong trào nông dân Yên Thế: Vùng núi rừng Yên Thế của Bắc Giang.
    Tính chất:
    PT Cần Vương: Là phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp theo khuynh hướng phong kiến
    Phong trào Yên THế: Là phong trào nông dân mang tính tự phát.
    Phong trào Cần Vương phát triển qua hai giai đoạn và kết thúc sớm hơn PTND Yên Thế
    Phong trào nông dân Yên Thế phát triển qua 3 giai đoạn và kết thúc trước khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.
    Hi! Vậy thôi em nhé
    Chúc em thành công.


     
  4. hinhacon_ha

    hinhacon_ha Guest


    maiphutho oi, hình như bạn mới trả lời ý 1 còn hai ý sau thì sao nhỉ, giải thích nốt thanks trước cổ động tinh thần nha!!
     
  5. maiphutho

    maiphutho Guest


    Chào hinhacon_ha!
    Về việc tại sao lại chọn Yên Thế ? Phong trào Yên Thế có những ưu ngược điểm nào:
    1. Nguyên nhân chọn Yên Thế làm địa bàn hoạt động:
    Yên Thế là vùng đất phía Tây Bắc Giang, diện tích rộng cây cối rậm rạp, cây cỏ um tùm từ đấy có thể đi thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên nên rất thích hợp với lối đánh du kích, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự dã chiến, đánh nhanh và rút nhanh lại rất thuận tiện khi bị truy đuổi.
    2. Ưu, nhước điểm của phong trào nông dân Yên Thế
    2.1. Ưu điểm:
    - Diễn ra trong một thời gian dài gây cho Pháp không ít tổn thất
    - Thể hiện tinh thần yêu nước, quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta
    - Bước đầu giải quyết được yêu cầu ruộng đất cho nong dân
    - Để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho cuộc chiến đấu về sau.
    2.2. Nhược điểm
    - Chưa có sự liên kết với các phong trào yêu nước cùng thời.
    - NHiều lúc còn bị động.
    - Giai cấp lãnh đạo là nông dân, chưa có đường lối đúng đắn, chưa có hệ tư tưởng lãnh đạo
    - Là phong trào mang tính tự phát
    - Nhược điểm của PTND Yên Thế phản ánh sự bế tắc của PT yêu nước của VN những năm cuối thế kỉ XIX- đầu XX, đất nước lúc này rơi vào sự khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo.
    Hi! vậy thôi em nhé

     
  6. hoidau219

    hoidau219 Guest


    k/n yên thế khác phong trào cần vương ở chỗ là k/n yên thế không xuất phát từ chiếu cần vương mà do nông dân ở đây đã 2 lần mất đất nên đứng lên k/n để giúp khỏi ách đô hộ của pháp
     
  7. hinhacon_ha

    hinhacon_ha Guest


    ai bảo bạn thế hình như bạn sai thì phải mình thấy hình như cả hai k\n này đều là do hưởng ứng chiếu cần vương mà thui, ai bảo ko hưởng ứng
     
  8. tiendatsc

    tiendatsc Guest


    Các bạn ơi,giúp tui với : Nhận xét cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
    Hết hôm nay tui phải nộp roài.
     
  9. tuananh13

    tuananh13 Guest


    cac ban ho cai :khởi nghĩa yên thế có đặc điểm gì khác so với các cuộc khởi nghĩa cùng thời
    ho to cai nha
    de kiem tra 1tiet
    >chú ý quy tắc chính tả khi post bài!
     
    Last edited by a moderator: 27 Tháng ba 2009
  10. mstm04

    mstm04 Guest


    Bạn chú ý lần sau nhớ đánh có dấu tất cả các chữ nha ( đây là quy định của diễn đàn oy`;) )
    Mình hiểu thế này 0 bik đã đầy đủ chưa nhưng vẫn post lên để bạn tham khảo :p

    1. Khởi nghĩa Yên Thế có những đặc điểm gì khác so với các cuộc khởi nghĩa cùng thời?

    Trả lời:

    - Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, có thời gian kéo dài nhất (gần 30 năm), quyết liệt nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến những năm đầu thế kỷ XX. Khởi nghĩa Yên Thế không chịu sự chi phối của tư tưởng "Cần vương" mà là phong trào đấu tranh tự phát của nông dân để tự vệ, bảo vệ quyền lợi thiết thân, giữ đất giữ làng. Nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt, buộc kẻ thù hai lần phải giảng hòa và nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta. Đặc biệt trong thời kì đình chiến lần thứ hai, nghĩa quân Yên Thế còn liên lạc với các nghĩa sĩ yêu nước theo xu hướng mới như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh...
     

  11. mình thì rõ là ngu sử nên ko giúp gì được các bạn,nhưng mình muốn nhờ các bạn giải gium mình cái này chút,la ai là người đầu tiên chế tạo ra súng trường theo kiểu Pháp và,phong trào Cần vương có ý nghĩa gì đối với nước ta lúc bấy giờ thế ạh
     
  12. tiendatsc

    tiendatsc Guest


    Đó chinh là Cao Thắng.
    Phong trào Cần vương thể hiện tinh thần chông giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Cho thấy,trong giai cấp quan lại,vẫn có nhưng vị quan liem khuyết,dám đương đầu với thực dân Pháp.
    Thể hiện truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta.tiêu biểu cho phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế kỉ XIX
    Phong trào đã nói lên tinh thần đoàn kết,bền vững của các dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.
    Các cuộc khởi nghĩa đã làm quân Pháp tổn thất nặng nề.Nó giáng 1 đòn vào âm mưu bình định của địch.Phong trào đã để lại nhiều bài học quý báu về xây dựng lực lượng phát triển phong trào cách mạng,tổ chức đấu tranh để tiến tới giải phóng dân tộc sau này.
     
  13. lkhangkv

    lkhangkv Guest


    Mình nghĩ Nhược điểm của Khởi nghĩa YT còn 1 cái là bị bó hẹp trong 1 địa phương
    Dễ bị mua chuộc vì hoàn cảnh nghèo khổ , ý thức giác ngộ thấp
     
  14. hoidau219

    hoidau219 Guest


    theo mình thì mstm04 nói vậy là sai rùi vì k/n yên thế đều có cùng tư tưởng cứu nước giúp dân như p/t cần vương
     
  15. mstm04

    mstm04 Guest


    Hoidau219 nói vậy là sai rồi !!!! Bạn chưa hiểu rõ câu hỏi này ! Câu hỏi ở đấy là : Khởi nghĩa Yên Thế có những đặc điểm gì khác so với các cuộc khởi nghĩa cùng thời?
    Khởi nghĩa Yên Thế là cuộc khởi nghĩa tự phát do nông dân Yên Thế đứg lên, mang tính tự phát.Nó là phong trào đấu tranh tự phát của nông dân để tự vệ, bảo vệ quyền lợi thiết thân, giữ đất giữ làng.Những ng` tham gia phong trào này là nông dân bị mất đất, họ lên Yên Thế khai khẩn mong có đc 1 cuộc sống yên bình nhưng do thực dân Pháp tiến hành bình định họ buộc phải đấu tranh để bv quyền lợi của họ. Cuộc khởi nghĩa này 0 phải để cứu nc, giúp dân theo tư tưởng phò vua cứu nc như phong trào Cần Vương đâu bn ạ !!!
    @hoidau219 : bạn đag spam đấy !Bạn nên đọc lại nội quy diễn đàn.
    => Đề nghị các Mod box Sử xóa hộ mấy cái bài spam và sửa lại mấy bài viết 0 dấu trên đây đi ạ !
     
    Last edited by a moderator: 19 Tháng tư 2009
  16. betjt_love

    betjt_love Guest


    Cả làng ơi cho em hỏi: mục tiêu ,tính chất của phong trào Cần V­ương
     
  17. maiphutho

    maiphutho Guest


    Chào betjt_love!
    Đặc điểm của PTCV:
    Phạm vi hoạt động: Rộng lớn trên phạm vi cả nước nhưng chủ yếu là Bắc kì và Trung kì.
    Quy mô: Số lượng lớn nhưng còn mang tính chất địa phương, chưa có sự liên kết chặt chẽ và chưa phát triển thành phong trào có quy mô toàn quốc.
    Mục tiêu: Đánh Pháp giành lại độc lập dân tộc, bảo vệ quốc gia phong kiến
    Lãnh đạo: Văn thân, sĩ phu yêu nước.
    Phương pháp: Khởi nghĩa vũ trang.
    Tính chất: PT yêu nước theo khuynh hướng Phong kiến.
    Kết quả: Thất bại
    Em nên phân tích đặc điểm của PTCV theo các nội dung trên nhé!
     
  18. hocdi.vn

    hocdi.vn Guest


    Cuộc khỡi nghĩa yên thế do hưởng ứng phong trào cần vương.Đa số lực lượng trong phong trào là người dân nhập cư tìm lên vùng đất này.Vùng đát này râm rạp phù hợp cho cách đánh du kích
     
  19. lamthong10

    lamthong10 Guest


    Vậy phong trào yên thế có : Hoàng Hoa Thám đầu độc lính Pháp tại Hà Nội vào thời gian nào các bạn chỉ giúp
     
  20. hoamai02

    hoamai02 Guest


    các bạn có thể tham khảo thêm mấy tư liệu về cuộc khởi nghĩa Yên Thế sau:
    Phong trào nông dân Yên Thế (1884-1913)

    Phong trào nông dân Yên Thế là phong trào đấu tranh vũ trang lớn và kéo dài nhất trong phong trào chống Pháp cuối thế kỉ XIX sang hơn mười năm đầu thế kỉ XX.

    Căn cứ Yên Thế ở phía tây Bắc Giang, có diện tích rộng từ 40 đến 50 km2, gồm đất đồi là chủ yếu, có cây cối rậm rạp, gò bụi um tùm. Từ đây có thể đi thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, xuống Phúc Yên, Vĩnh Yên... Tình hình suy sụp của nông nghiệp Việt Nam dưới thời Nguyễn đã làm cho nông dân nhiều vùng đống bằng miền Bắc buộc phải bỏ làng mạc đi nơi khác kiếm sống, trong đó có một số người đã lên Yên Thế. Từ giữa thế kí XIX, họ bắt đầu lập ra một số làng mạc và tổ chức làm ăn, chống lại các thế lực đe dọa từ bên ngoài tới. Khi thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ra Bắc Kì, Yên Thế trở thành đối tượng bình định đầu tiên của chúng. Để bảo vệ cuộc sống của mình, nông dân Yên Thế đã nổi dậy chống Pháp. Phong trào bắt đầu bùng nổ từ năm 1884 và kéo dài mãi tới năm 1913.

    Lãnh đạo phong trào đa số là nông dân, như: Cả Dinh, Cả Huỳnh, Cai Cờ, Cả Trọng (con Đề Thám). Nhưng người có công và đóng vai trò to lớn hơn cả là Lương Văn Nắm (Đề Nắm) và tiếp đó là Hoàng Hoa Thám (Đề Thám). Trong hàng ngũ chỉ huy còn phải kể đến nhiều nhân vật khác, đặc biệt có bà Ba Cẩn (vợ ba Dề Thám). Phương thức tác chiến của nghĩa quân là đánh du kích, lấy ít đánh nhiều. Nghĩa quân thường đánh những trận nhỏ, dựa vào địa hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh, rồi rút lui nhanh. Tên sĩ quan thực dân Galiêni (Galliéni) trong cuốn "Ba binh đoàn ở Bắc Kì"(l) đã nhận xét: nghĩa quân Yên Thế tất cả đều can đảm, thiện chiến, tuyệt đối phục tùng người chỉ huy, xuất sắc trong cách đánh phục kích và đánh trong rừng, hiểu biết một cách kì lạ mọi thuận lợi của địa hình để vận dụng trong chiến đấu. Nhờ chiến thuật đánh du kích mà nghĩa quân Yên Thế đã có thể duy trì được cuộc chiến đấu trong gần 80 năm ròng rã.

    Phong trào khởi nghĩa của nông dân Yên Thế được bắt đầu bằng việc chống trả cuộc hành binh của quân Pháp tháng 6-1884 vào căn cứ Yên Thế, do tướng Bờrie đờ Litxlơ chỉ huy. Trong cuộc hành binh này, quân Pháp đã bị các đội quân của Đề Nắm, Đề Thám chặn đánh quyết liệt, buộc chúng phải rút lui.

    Khởi nghĩa Yên Thế diễn ra qua bốn giai đoạn:

    Giai đoạn thứ nhất (1884 - 1892)

    Giai đoạn này, các toán nghĩa quân còn hoạt động riêng lẻ, chưa có sự phối hợp và chỉ huy thống nhất. Lúc bấy giờ xuất hiện hàng chục toán nghĩa quân của Đề Nắm, Bá Phức, Thống Luận, Tổng Tài, Đề Thuật, Đề Chung... Mỗi thủ lĩnh cầm đầu một toán quân và làm chủ một vùng. Trong giai đoạn này, tuy phong trào chưa được thống nhất vào một mối, nhưng nghĩa quân vẫn hoạt động có hiệu quả. Tháng 11-1890, nghĩa quân Đề Thám đã giành thắng lợi trong trận chống càn ở Cao Thượng. Từ đầu đến cuối tháng 12-1890, ba lần quân Pháp tấn công vào Hố Chuối, nhưng cả ba lần chúng đều bị nghĩa quân Đề Thám đánh bại.

    Đến cuối năm 1891, nghĩa quân đã làm chủ hầu hết vùng Yên Thế, mở rộng hoạt động sang cả Phủ Lạng Thương. Năm 1891, quân Pháp lại tấn công Hố Chuối, nghĩa quân Đề Thám phải rút lên Đồng Hom. Tranh thủ thời cơ, chúng tiến nhanh vào vùng Nhã Nam, rồi vừa tổ chức các cuộc càn quét, vừa xây dựng các đồn bốt để bao vây nghĩa quân.

    Nhằm ngăn chặn các cuộc hành quân càn quét của địch, nghĩa quân đã lập một cụm cứ điểm gồm 7 hệ thống công sự ở phía bắc Yên Thế do Đề Nắm, Dề Thám, Bá Phức, Đề Tâm, Đề Tuất, Đề Chung, Tổng Tài chỉ huy. Lúc này, Dề Nắm là một trong những thủ lĩnh có uy tín nhất của nghĩa quân Yên Thế.Tháng 3-1892, Pháp huy động hơn 2.200 quân bao gồm nhiều binh chủng (công binh, pháo binh...) do tướng Voarông (Voiron) chỉ huy ào ạt tấn công vào căn cứ nghĩa quân. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân sau nhiều trận kịch chiến đã phải rút khỏi căn cứ. Lực lượng nghĩa quân bị suy yếu rõ rệt. Khó khăn ngày càng nhiều, một số thủ lĩnh ra hàng, một số khác hi sinh trong chiến đấu, trong đó có Đề Nắm bị giết vào tháng 4-1892.

    Để cứu vãn tình thế, Đề Thám đã đứng ra tổ chức lại phong trào và trở thành thủ lĩnh tối cao của nghĩa quân Yên Thế.

    Giai đoạn thứ hai (1893 1897).

    Trong giai đoạn này, nghĩa quân đã hai lần đình chiến với Pháp, lần thứ nhất vào tháng 10-1894, lần thứ hai vào tháng 12-1897. Sau khi Đề Nắm hi sinh, Dề Thám đảm nhận vai trò lãnh đạo phong trào Yên Thế. Ông đã khôi phục những toán quân còn sót lại ở Yên Thế và các vùng xung quanh, rồi tiếp tục hoạt động. So với giai đoạn trước, số lượng nghĩa quân tuy có giảm, nhưng địa bàn hoạt động lại mở rộng hơn.

    Năm 1894, nghĩa quân trở về Yên Thế tiến hành xây dựng lại căn cứ Hố Chuối, đồng thời mở rộng hoạt động ra các vùng thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang. Lúc này, các phong trào Bãi Sậy, Ba Đình, cũng như các đội quân kháng chiến của Đốc Ngữ, Đề Kiều đều đã tan rã, nên thực dân Pháp có điều kiện tập trung lực lượng đàn áp khởi nghĩa Yên Thế.

    Về phía nghĩa quân, tuy có giành được một số thắng lợi, nhưng lực lượng cũng suy yếu rõ rệt. Trong tình hình đó, Đề Thám thấy cần phải hòa hoãn với Pháp để tranh thủ thời cơ củng cố lực lượng. Tháng 10-1894, cuộc thương lượng giữa nghĩa quân Yên Thế và thực dân Pháp kết thúc. Kết quả quân Pháp phải rút khỏi khu vực Yên Thế, giao các tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng cho nghĩa quân kiểm soát. Nhưng thời gian hòa hoãn chưa được bao lâu, quân Pháp đã bội ước, lại tổ chức tấn công. Nghĩa quân Đề Thám đã chống đỡ quyết liệt. Để tránh những cuộc đụng độ lớn với địch, Đề Thám chủ trương chia nghĩa quân thành những toán nhỏ phân tán hoạt động trong rừng và ở các làng mạc. Nghĩa quân phải di chuyển hoạt động trong bốn tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên.

    Trước sự truy lùng và vây quét ráo riết của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân ngày càng suy yếu. Để bảo toàn lực lượng, Đề Thám lại xin giảng hòa với Pháp lấn thứ hai. Thực dân Pháp lúc này cũng muốn chấm dứt xung đột để tiến hành khai thác thuộc địa. Vì vậy, tháng 12-1897, hiệp ước hòa hoãn giữa thực dân Pháp và nghĩa quân Đề Thám đã được kí kết với những điều kiện ràng buộc chặt chẽ hơn, nghĩa quân phải nộp cho Pháp tất cả vũ khí và phải bãi binh. Đề Thám bề ngoài tỏ ra là phục tùng, nhưng bên trong vẫn ngầm củng cố lực lượng.

    Giai đoạn thứ ba (1898 - 1908)

    Trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân Yên Thế vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu. Tại căn cứ Phồn Xương, nghĩa quân vừa sản xuất tự túc lương ăn, vừa tăng cường sắm sửa vũ khí, ra sức luyện tập. Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân ở Phồn Xương tuy không đông (khoảng 200 người), nhưng rất thiện chiến. Đồng thời, Đề Thám còn mở rộng quan hệ giao tiếp với các nhà yêu nước ở Bắc và Trung Kì.

    Tại Yên Thế, nghĩa quân Hoàng Hoa Thám đã hai lần đón tiếp nhà yêu nước Phan Bội Châu. Giữa năm 1906, Phan Châu Trinh cũng lên Yên Thế gặp Đề Thám. Đề Thám còn lập một căn cứ gọi là đồn Tú Nghệ dành cho các nghĩa sĩ miền Trung ra huấn luyện quân sự.

    Về phía Pháp, trong thời gian này chúng đã ráo riết lập đồn, bốt, mở đường giao thông..., tạo mọi điều kiện cần thiết để đánh đòn quyết định vào căn cứ nghĩa quân Yên Thế.

    Giai đoạn thứ tư (1909- 1913)

    Giữa năm 1908, xảy ra vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội có sự tham gia của Đề Thám. Nhân cơ hội này, thực dân Pháp chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt nghĩa quân. Tháng 1-1909, dưới quyền chỉ huy của đại tá Batay (Bataille), khoảng 15.000 quân cả Pháp và ngụy đã ào ạt tấn công vào Yên Thế. Nghĩa quân vừa chống đỡ, vừa chuyển dần xuống Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, rồi rút sang Tam Đảo, Thái Nguyên. Trên đường di chuyển, nghĩa quân vẫn tổ chức đánh trả quyết liệt, gây cho địch những thiệt hại nặng nề. Điển hình là trận chặn giặc ở đồn Hom, Yên Thế (30-1-1909); trận núi Hàm Lợn ở Tam Đảo, Phúc Yên (15-3-1909).


    Trước các cuộc vây quét tiêu diệt gắt gao của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân ngày càng giảm sút. Đến cuối năm 1909, hầu hết các tướng lĩnh đã hi sinh, hoặc sa vào tay giặc, như Cả Trọng, Cả Huỳnh, Cả Tuyển (con Nguyễn Thiện Thuật), Ba Biều, bà Ba Cẩn... Có một số người ra hàng như: Cả Dinh, Cai Sơn... Đến đây, phong trào coi như đã thất bại về cơ bản. Ngày 10-2-1913, Đề Thám bị giết hại tại một khu rừng cách chợ Gồ 2 km. Sự kiện này đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của phong trào nông dân Yên Thế.


    Khởi nghĩa Yên Thế trước sau là một phong trào đấu tranh tự phát của nông dân. Trong quá trình tồn tại, phong trào phần nào đã kết hợp được yêu cầu độc lập dân tộc với nguyện vọng dân chủ, bước đầu giải quyết được yêu cầu ruộng đất cho nông dân.


    Khởi nghĩa Yên Thế là phong trào đấu tranh lớn nhất của nông dân trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Sự tồn tại bền bỉ, dẻo dai của phong trào đã nói lên tiềm năng, ý chí và sức mạnh to lớn của nông dân. Nhưng nông dân chỉ có thể trở thành lực lượng cách mạng thật sự khi được giai cấp tiên tiến dẫn đường.

    thaks mình nha!^^
     

CHIA SẺ TRANG NÀY