HOCMAI Forum đã quay trở lại, MỚI MẺ - TRẺ TRUNG - NĂNG ĐỘNG
Hãy GIA NHẬP ngay

Kiểm tra về thơ và truyện hiện đại

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi 01263812493, 28 Tháng mười một 2010.

Lượt xem: 31,077

  1. 01263812493

    01263812493 Guest

    Hướng dẫn Cách gõ công thức Toán học, Vật lý, Hóa học forum mới


    1. Tóm tắt cốt truyện, tình huống chính và nêu chủ đề của các truyện ngắn: Làng (Kim Lân), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Chiếc lược ngà ( Nguyễn Quang Sáng).

    2.Phân tích nét nổi bật trong tính cách nhân vật ông Hai ( Truyện Ngắn Làng của Kim Lân). Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật này của tác giả. Quan hệ giữa tình yêu làng quê và lòng yêu nước của nhân vậ ông Hai.

    3.Vẻ đẹp trong cách sống, trong tâm hồn và những suy nghĩ của nhân vật anh thanh niên một minh trên trạm khí tượng giữa núi cao trong truyện Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.

    4.Cảm nghĩ của em về nhân vật bé Thu và tình cha con trong chiến tranh ở truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.

    5.Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong bài thơ: Đồng Chí ( Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật).

    6.Tình yêu con và lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng của người mẹ Tà-ôi biểu hiện trong những lời ru ở bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm.

    7.Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong các bài thơ : Đồng chí ( Chính Hữu), Đoàn thuyền đánh cá ( Huy Cận), Ánh Trăng ( Nguyễn Duy).

    8.Phân tích những hình ảnh biểu tượng: đầu súng trăng treo ( trong bài Đồng Chí), trăng ( trong bài Ánh Trăng). Chọn bình một đoạn (hoặc khổ) thơ đặc sắc trong các bài thơ đã học.

    Sắp kiểm tra mong mọi người làm nhanh nha ( thanks nhju` :D)
     
  2. bengoc5

    bengoc5 Guest


    1) mình chỉ tóm tắt thui nhé. Mấy cái kia mình ko hiểu câu hỏi cho lắm

    Làng (Kim Lân)
    Truyện kể về ông Hai quê ở làng Chợ Dầu.Ông gắn bó và yêu tha thiết làng quê mình.Ông thường khoe làng ông giàu đẹp,làng kháng chiến.Vì cuộc sống của gia đình,vì cuộc kháng chiến,ông phải rời làng.Tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ để nói chuyện về làng cho đỡ nhớ.Hằng ngày ông đến phòng Thông tin để theo dõi tin tức về làng.Một hôm,nhận được tin làng theo giặc,ông bàng hoàng,xấu hổ tủi nhục.Mấy ngày liền ông không bước chân ra khỏi nhà.Bế tắc,đau khổ,ông tâm sự với đứa con út cho vơi đi nỗi lòng.Rồi một hôm nhận được tin cải chính, ông Hai sung sướng tột độ.Mặc dù nhà bị đốt nhưng ông vẫn vui vẻ đi khoe và kể về làng như trước.
    Lặng lẽ SaPa (Nguyễn Thành Long)
    Trên một chuyến xe đi Lào Cai có bác lái xe,ông họa sĩ và cô kỹ sư.Qua lời kể của bác lái xe,họ biết được anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn.Đến SaPa,xe dừng lại,anh thanh niên được bác lái xe giới thiệu gặp ông họa sĩ và cô kỹ sư. Anh mời họ lên thăm nhà. Qua cuộc trò chuyện vui vẻ,thân mật, họ biết được anh thanh niên hằng ngày làm công việc đo gió,đo mưa, giúp vào việc báo trước thời tiết.Khâm phục trước tinh thần làm việc và sự cống hiến lặng lẽ của anh thanh niên,họa sĩ vẽ chân dung anh. Để không vô lễ,anh ngồi yên cho ông vẽ nhưng từ chối vì nghĩ mình không xứng đáng.Ba mươi phút trôi qua, họ chia tay nhau trong sự lưu luyến.Họa sĩ và cô kỹ sư đi tiếp chặng đường,còn anh thanh niên trở về với công việc thường ngày của mình.
    Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)
    Ông Sáu là một cán bộ kháng chiến,xa nhà nhiều năm.Mãi đến khi hòa bình lập lại ông mới có dịp về thăm nhà.Bé Thu không nhận ông là cha vì thấy xa lạ.Đến khi nhận ra người cha và tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ,ông dồn nỗi nhớ thương và tình yêu con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng cho con.Trong một trận càn của địch,ông đã hi sinh.Ông Sáu còn kịp đưa cây lược ngà cho người bạn đem về trao lại cho bé Thu.

    4) dàn ý nhé
    Tình cảm đứa con:
    - Bé Thu cũng rất thương yêu cha. Em tôn thờ và giữ trọn lòng thương nhớ cha qua bức ảnh.
    - Em ương bướng và chống đối anh Sáu, nhất định không chịu gọi anh một tiếng “BA” chỉ vì em dành tình thương yêu đó cho người cha mà em thương nhớ.
    - Khi nhận ra cha “hai tay em ôm chặt cổ ba...” như muốn giữ anh Sáu ở mãi bên cạnh.
    -Sự thông minh và sự ương ngạnh của bé Thu làm người đọc thương em hơn trách em.
    Tình cảm người cha:
    - Anh Sáu thương nhớ con xiết bao. Ngày về phép anh chỉ mong được ôm con vào lòng và gọi một tiếng “BA”.Nhưng nó không chịu gọi...
    - Những ngày ở bên con,anh chăm sóc chiều chuộng con.Nhưng nó vẫn lạnh nhạt với anh...
    - Ngày anh ra đi, bé Thu hiểu ra mọi việc. Nó ôm chầm lấy cha muốn rời...
    - Ở chiến khu, anh làm cho con chiếc lược bằng ngà. Mỗi chiếc răng lược là bao nhiêu tình cảm thương nhớ mà anh dành cho con.
     
  3. bengoc5

    bengoc5 Guest


    5. ko biết bạn cần bài văn hay đoạn văn nên cho dàn ý lun nhé. Câu này là người lính wa 2 bài thơ hay người lính của 1 bài vậy bạn. ko nói rõ nên mình trộn hết cả 2 vào 1 vậy

    1) Người lính hiên ngang, dũng cảm :
    - Đọc qua hai bài thơ, người đọc nhận thấy hai người lính tuy ở hai thời kì khác nhau nhưng lòng yêu quê hương cao đẹp như nhau...
    - Từ trong cuộc đời họ bước vào trang thơ với những nét đẹp hiên ngang dũng cảm: Anh lính trong “Đồng chí” dũng cảm rời quê hương ra đi rời bỏ cuốc cày, cầm vũ khí chiến đấu. Vì lí tưởng “súng bên súng, đầu sát bên đầu” mà anh đã ra đi để lại “ruộng nương, gian nhà” trong nỗi nhớ thương thầm lặng “Ruộng nương...lung lay”.
    - Anh lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” có khác hơn. Anh hiên ngang đối mặt với bom đạn kẻ thù,ngồi vào những chiếc xe bị lột từng lúc một cách trần trụi “không có kính...ta ngồi”. Vì xe vỡ kính, anh bình tĩnh đối diện với bao khó khăn tràn vào “không có kính ừ thì có bụi”, “không có kính ừ thì ướt áo”.Phải là người bình tĩnh mới có thể đương đầu với thế giới bên ngoài“Nhìn thấy...buồng lái”
    2) Người lính lạc quan, yêu đời vượt khó khăn :
    - Trong “Đồng chí” người dù thiếu thốn “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá” vẫn không nề hà. Anh và đồng đội đã vượt qua những cơn “sốt run người” hay những lúc “vầng trán ướt mồ hôi”. Tuy gian khổ nhưng anh vẫn mỉm cười vượt qua... “Áo anh...không giày”.
    - Trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” người lính dù “mưa tuôn mưa xối” dù “bụi phun tóc trắng” vẫn ung dung đối mặt, xem thường khó khăn, lấy gian khổ làm thử thách cho cuộc đời mình, lạc quan yêu đời...hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. “Chưa cần thay...mau thôi”.
    3) Người lính đoàn kết gắn bó với nhau :
    - Tình đồng đội của những người lính là một nét đẹp luôn được ca ngợi. Họ cũng đoàn kết với nhau vượt qua mọi gian nan thử thách...
    - Người lính trong“Đồng chí”chia cho anh từng“đêm rét chung chăn”.Họ nắm tay truyền cho nhau nghị lực, niềm tin,giúp nhau vượt qua những lúc thiếu thốn, hiểm nghèo. Họ “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”,“thương nhau...tay”.
    - Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” để động viên nhau tiếp tục cuộc chiến đấu.Mỗi một“chiếc xe từ trong bom rơi”trở về đã là thành viên của tiểu đội lái xe Trường Sơn. Những giờ phút họ ngồi bên nhau chia nhau bát cơm, đôi đũa là trở thành “gia đình” của nhau. “Những chiếc xe... gia đình đấy”.
    4) Ý chí chiến đấu của người lính :
    - Điểm nổi bất ở những người lính là ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Họ ra đi với quyết tâm đánh đuổi kẻ thù chung. Cho nên dù đêm đông giá rét, dù gió lạnh thấu xương, họ vẫn “đứng cạnh nhau” quyết tâm chiến đấu “Đêm nay...trăng treo”.
    - Ở “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” quyết tâm của người lính thể hiện qua việc tiếp tục lên đường, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam thân yêu. Họ “lại đi, lại đi” với ý chí chiến đấu cao độ, giải phóng đất nước, đem bầu “trời xanh” về cho nhân dân. Quyết tâm này thể hiện qua lí tưởng chiến đấu “vì miền Nam phía trước”. “Xe vẫn chạy ...trái tim”.

    8) mình chọn bình khổ cuối đồng chí luôn nhé, có sẵn hình ảnh đầu súng trăng treo

    “Rừng hoang...trăng treo.”​
    Trong đêm đen con người và cảnh vật đang hòa vào nhau, chia sẻ với nhau nỗi gian khó của cuộc chiến đấu. “Đêm nay” là thời gian hiện thần, vượt thực, “rừng hoang sương muối” là không gian hiện thực.Đây chính là nơi thử thách cao nhất của tình đồng chí. Chiến trường khắc nghiệt không chỉ có cái chết mà thời tiết khí hậu rất gian khổ.“Sương đêm” buốt lạnh,“sương muối” cắt cả thịt da. Thế nhưng người lính vẫn bình tĩnh vượt qua vì bên họ có tình đồng đội:
    “Cuộc đời gió bụi pha sương máu
    Đợt rét bao lần cắt thịt da.”​
    Hình ảnh “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”đã làm cho không gian,thời gian hiện thực thêm ấm ấp tình người.Nó xua đi cái giá lạnh của “sương mưới” trốn “rừng hoang”.Đồng thời nói lên tư thế sẵn sàng chiến đấu. Người lính không cô đơn vì bên anh có đồng đội, cây súng là những người bạn đáng tin cậy“đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.Lúc ấy anh chợt bắt gặp hình ảnh thật kì lạ“đầu súng trăng treo”. “Đầu súng”là hiện thực của cuộc chiến tranh.“Trăng treo”là biểu tượng hòa bình.Hiện thực kết hợp lãng mạn, chiến sĩ và thi sĩ.Người lính nắm chắc tay súng chiến đấu là để bảo vệ hòa bình,bảo vệ cho cái đẹp tồn tại mãi trên quê hương Việt Nam. “Đầu sung trăng treo” còn là tựa đề cho tập thơ đầu tay của ông.“Trăng”là biểu tượng cho vẻ đẹp lãng mạn và nó cũng đã nói lên vẻ đẹp bình dị, cao cả, thiêng liêng của người lính. Anh dũng cảm ra đi chiến đấu,anh hi sinh một cách thầm lặng,anh yêu thương và cùng đồng đội trải qua gian khó. Vẻ đẹp đó đã được Chính Hữu thể hiện qua câu thơ cuối bài. “Súng” và “trăng” là hai chi tiết độc đáo ca ngợi tinh thần lạc quan, yêu cái đẹp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cái đẹp trường tồn mãi trên quê hương Việt Nam của người lính cụ Hồ.
     

  4. Sr vì Girl k tự tay vik đc vì lâu lắm . Mất công như lần tr'c vik xog thỳ U đã off nên cop cho rùi. Lấy lệ :). Hok có hứng vik nữa :). Chúc U thj tốt :D
     

  5. *Dàn ý

    :



    A.Mở bài



    Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân



    - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.



    B- Thân bài



    1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.



    2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.



    a. Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.



    - Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê.



    - Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.



    b. Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.



    - Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng, ông nhớ quá cái khong khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa?



    - Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bìh luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.



    c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.



    - Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.



    - Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.



    - Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.



    - Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.



    - Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:



    + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông, bố của nó.



    + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.



    + Qua đó, ta thấy rõ:



    Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).



    Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành. Tình cảm đó sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.



    d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.



    - Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.



    - Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.



    3. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.



    - Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.



    - Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.



    Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.



    C- Kết bài:



    - Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.



    - Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.
     

  6. 3.Vẻ đẹp trong cách sống, trong tâm hồn và những suy nghĩ của nhân vật anh thanh niên một minh trên trạm khí tượng giữa núi cao trong truyện Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.
    * Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là: đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu.

    - Vượt lên hoàn cảnh sống, những vất vả của công việc, anh có những suy nghĩ rất đẹp:

    + Đối với công việc, anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng.

    + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc, ta với công việc là một, sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”.

    + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.

    + Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc, đó là đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.

    - Từ những suy nghĩ đẹp về công việc, hạnh phúc và cuộc sống, ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao:

    + Mặc dù chỉ có một mình, không người giám sát, anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh, làm việc một cách nghiêm túc, tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Nửa đêm, đúng giờ “ốp”, dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. Ngày nào cũng vậy, anh làm việc một cách đều đặn, chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ, 11 giờ, 7 giờ tối và 1 giờ sáng.

    + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn, vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao, không một bóng người. Mới đầu, anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống, làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa, để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ.

    - Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt, một đàn gà đẻ trứng, một vườn hoa rực rỡ.

    - Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp:

    + Đó là sự cởi mở, chân thành với khách, rất qúy trọng tình cảm của mọi người, khao khát được gặp gỡ, được trò chuyện. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm, tặng hoa cho cô gái, mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà, tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi.

    + Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh.

    2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm, lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên:

    a) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn, chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn, để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn, ngọt hơn trước.

    b) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng, suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im... cho đất nước”.

    4.Cảm nghĩ của em về nhân vật bé Thu và tình cha con trong chiến tranh ở truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
    Đề này có trog 4rum mìh đó pạn :http://diendan.hocmai.vn/showthread.php?t=39853
     

  7. 5.Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong bài thơ: Đồng Chí ( Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật).
    *DÀN Ý CHI TIẾT :
    I. Mở bài :
    - "Đồng chí "của Chính Hữu và "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là những bài thơ đặc sắc viết về người lính trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước.
    - Cả hai bài thơ này đều lấy cảm hứng từ hình tượng anh bộ đội cụ Hồ nhưng do được sáng tác ở hai thời kỳ khác nhau, bởi những cá tính sáng tạo khác nhau cho nên ngoài những phẩm chất chung đẹp đẽ rất đáng tự hào của hình tượng anh bộ đội, ở mỗi bài thơ còn toát lên những cá tính riêng hết sức độc đáo.
    II. Thân bài :
    1. Những vẻ đẹp chung của hình tượng anh bộ đội cụ Hồ :
    - Những người lính chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp :
    Lòng yêu nước, ý chí quyết tâm và khát vọng chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc là những nét nổi bật nhất trong tâm hồn người lính ở cả hai thời kỳ kháng chiến cứu nước. Trong bài Đồng chí là những câu thơ
    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
    Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
    Còn trong bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính :
    Không có kính, rồi xe không có đèn,
    Không có mui xe, thùng xe có xước,
    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước :
    Chỉ cần trong xe có một trái tim.
    - Những con người dũng cảm, bất chấp khó khăn, coi thường thiếu thốn, hiểm nguy :
    Dù ở hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau của hai cuộc kháng chiến nhưng những vất vả, khó khăn, thiếu thốn của đời lính, lạ thay, lại khá giống nhau. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả, vẫn là một tinh thần can trường, dũng cảm, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, thiếu thốn :
    Trong bài thơ Đồng chí :
    Aùo anh rách vai
    Quần tôi có vài mảnh vá,
    Miệng cười buốt giá,
    Chân không giày...
    Và ở bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính :
    - Không có kính, ừ thì có bụi
    Bụi phun tóc trắng như người già
    - Không có kính, ừ thì ướt áo
    Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa...
    - Những con người thắm thiết tình đồng đội :
    Ở bài Đồng chí, tình đồng đội thắm thiết được gắn kết trên cơ sở của sự đồng cảm giai cấp của những người cùng chung cảnh ngộxuất thân :
    Quê hương anh nước mặn đồng chua
    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
    Nhưng tình cảm đó trở nên thắm thiết, sâu sắc là nhờ những gắn bó chan hoà cùng chia sẻ mọi buồn vui của cuộc đời người lính :
    Súng bên súng, đầu sát bên đầu
    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
    Đồng chí !
    Còn ở bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính :
    Những chiếc xe từ trong bom rơi
    Đã về đây họp thành tiểu đội
    Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
    - Những con người lạc quan, yêu đời, tâm hồn bay bổng, lãng mạn :
    Đêm nay rừng hoang sương muối
    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
    Đầu súng trăng treo.
    (Đồng chí -Chính Hữu)
    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
    Chung bát đũa là chung gia đình đấy
    Võng mắc chông chênh đường xe chạy
    Lại đi, lại đi, trời xanh thêm.
    (Bài thơ về tiểu đội xe không kính)
    2. Những nét riêng trong vẻ đẹp của hình tượng người lính :
    - Nét chân chất, mộc mạc của hình ảnh người nông dân mặc áo lính trong bài Đồng chí :
    + Chân chất, mộc mạc trong cái nhìn đồng đội :
    Quê hương anh nước mặn đồng chua
    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
    + Chân chất, mộc mạc trong nỗi nhớ :
    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính...
    - Nét ngang tàng trẻ trung của một thế hệ mới, cầm súng trong bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính :
    + Trẻ trung trong gian khổ :
    Không có kính, ừ thì có bụi
    Bụi phun tóc trắng như người già
    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
    + Ngang tàng trong khó khăn :
    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
    3. Chất giọng khá riêng của hai nhà thơ tạo nên hai chân dung đặc sắc về người lính :
    - Nét cô đọng, chắt lọc trong thể hiện cảm xúc, sử dụng hình ảnh, ngôn từ của Chính Hữu....
    - Nét phóng túng, tài hoa, sắc sảo trong sử dụng thủ pháp đối lập không có và có của Phạm Tiến Duật...
    Đó là những đóng góp riêng về cá tính và phong cách hai nhà thơ tạo nên hai bức chân dung đẹp về người lính.
    III. Kết bài :
    Cả hai bài thơ, trên một ý nghĩa nào đó, mang ý nghĩa cắm mốc cho thơ viết về người lính ở hai thời kỳ kháng chiến cứu nước. Trong đó, đọng lại lâu bền trong trí nhớ người đọc vẫn là những phẩm chất đẹp đẽ cùng những nét riêng rất đáng quý của anh bộ đội cụ Hồ được tác giả thể hiện bằng những tình cảm cùng những nỗ lực sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ.
     

  8. 6.Tình yêu con và lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng của người mẹ Tà-ôi biểu hiện trong những lời ru ở bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm.
    *Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm ra đời ngay tại chiến khu Trị – Thiên, trong những ngày kháng chiến chống Mĩ đang dần đến thắng lợi nhưng vẫn còn vô cùng gian khổ. Nhà thơ đã tận mắt chứng kiến hình ảnh những bà mẹ Tà-ôi giã gạo nuôi bộ đội đánh Mĩ, để cảm xúc từ hiện thực thăng hoa thành những vần thơ có sức lay động mãnh liệt. Bài thơ “thể hiện tình yêu thương con gắn với lòng yêu nước, với tinh thần chiến đấu của người mẹ miền tây Thừa Thiên bằng những khúc ru nhịp nhàng, mang giọng điệu ngọt ngào trìu mến”.
    Người mẹ trong thi ca từ sau cách mạng tháng Tám luôn là hình tượng trung tâm, có sự phát triển về tầm vóc và chiều sâu tình cảm tư tưởng, hài hoà riêng chung. Từ những người mẹ trong thơ Tố Hữu thời kì kháng chiến chống Pháp như bà Bầm, bà Bủ, bà mẹ Việt Bắc đến người mẹ trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, chúng ta đã từng được cảm nhận sự gắn kết giữa người mẹ với cách mạng và kháng chiến. Đến thời kì kháng chiến chống Mĩ, với tính chất quyết liệt gian khổ, chúng ta từng gặp những vẻ đẹp như hình tượng người mẹ đào hầm giấu hàng sư đoàn dưới đất ở Đất quê ta mênh mông của nhà thơ Dương Hương Ly. Có thể nói hình tượng người mẹ trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm là sự kế thừa tốt đẹp những đặc trưng người mẹ quê hương – người mẹ chiến sĩ, tập trung những cảm xúc trong trẻo nhất của nhà thơ, gợi về vẻ đẹp tâm hồn của đồng bào dân tộc theo kháng chiến. Không phải ngẫu nhiên khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sĩ Trần Hoàn đã đặt lại tựa đề là Lời ru trên nương, bởi lẽ chính những lời ru đã làm thành cấu tứ của bài thơ, dẫn dắt ta vào một thế giới mang đậm bản sắc riêng của người Tà-ôi. Bài thơ như là minh chứng của tấm lòng đồng bào dân tộc một lòng tin theo Đảng, , thương con thương bộ đội, thương yêu núi rừng nương rẫy làng bản, thương đất nước. Tình thương thành điệp khúc xuyên suốt theo nhịp chày của mẹ :
    Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
    Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
    Có lẽ đây là lời của nhà thơ, hàm chứa bao trìu mến dành cho chú bé Tà-ôi như muốn góp thêm bao thương mến hoà cùng khúc ru của mẹ. Hình ảnh ấy khiến người đọc bồi hồi nhớ lại những câu thơ viết về người mẹ Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp của nhà thơ Tố Hữu :
    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
    Người mẹ chống Pháp và người mẹ chống Mĩ có những điểm tương đồng trong công việc. Nhưng ở Nguyễn Khoa Điềm, hình ảnh thơ này không xuất phát từ nỗi nhớ mà được cất lên ngay giữa hiện thực chống Mĩ. Nét đẹp của hình tượng được khơi lên từ tính chất công việc “Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội”. Người mẹ được khắc hoạ trong từng chi tiết sống động nhất, nổi bật với tứ thơ thật đẹp :
    Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng.
    Tưởng như trong động tác của mẹ cũng đã ngân lên nhịp điệu ru ngọt ngào và nhịp đưa em đều đặn an bình như trên một cánh võng êm. Tác giả hoàn toàn không thi vị hoá mà bằng ngòi bút tả thực giúp người đọc nhận ra : mồ hôi mẹ nóng hổi, vai mẹ gầy – bao vất vả như đọng cả trên đôi vai mẹ. Mỗi khúc ru hiện lên hình ảnh mẹ trong nhiều tư thế cũng như công việc khác nhau : giã gạo, tỉa bắp, chuyển lán, đạp rừng… như hoàn chỉnh bức chân dung lao động khoẻ khoắn cũng như niềm hân hoan được hoà vào những công việc kháng chiến. Không những thế, qua những hình ảnh này, ta còn hình dung một nhịp sống bình thản của những người dân và cán bộ chiến sĩ ở chiến khu chống Mĩ. Mặc dù, trong thực tế, đây là nơi hứng chịu rất nhiều bom đạn kẻ thù và luôn phải đương đầu với những cuộc hành quân lùng sục “tìm và diệt”, càn quét hòng xóa sạch dấu tích của vùng chiến khu đầu mối Bắc – Nam này. Cuộc sống khó khăn thiếu thốn đòi hỏi phải tự cấp tự túc, tăng gia sản xuất, bảo đảm nuôi quân đánh giặc. Hình ảnh người mẹ giã gạo khiến ta lại liên tưởng đến những nhịp chày trong bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo của cố nhạc sĩ Xuân Hồng. Ở đâu cũng vậy, khi cách mạng được bao bọc, chăm chút bằng tất cả tình cảm yêu nước của nhân dân, khi biết dựa vào dân thì không sức mạnh tàn bạo nào của kẻ thù có thể khuất phục.
    Gạo dành để nuôi quân, mẹ lại lên nương tỉa bắp, cùng với a-kay. Đàng sau hành động đó ẩn chứa vẻ đẹp của sự hi sinh, nhường cơm sẻ áo cho người cách mạng. Lòng mẹ bao dung lại được cảm nhận bằng bao tình cảm thương mến của nhà thơ :
    Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ
    Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi
    Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
    Mặt trời của mẹ, con nằm trên lưng
    Lời thơ thật dịu dàng như ru sâu thêm giấc ngủ cho em cu Tai, như muốn sẻ chia những vất vả nhọc nhằn trong công việc của mẹ. Không gian mênh mang của vùng núi rừng tây Thừa Thiên như mở ra với ánh mặt trời lan toả khắp núi đồi. Nổi bật giữa khung cảnh là người mẹ Tà-ôi với công việc cần mẫn. Nhưng mẹ không hề đơn độc chính vì có mặt trời của mẹ – em cu Tai đang ngon giấc. Với cách ví von đặc sắc này, nhà thơ đã tạo nên liên tưởng về mối quan hệ mật thiết của con người với núi rừng, nương rẫy. Không có tình cảm gắn bó, không thể tạo được liên tưởng thú vị giữa hạt bắp với con nằm trên lưng. Mặt trời không gợi ra cảm giác về độ nóng, độ chói mà trở thành hình tượng biểu trưng cho nguồn sống mạnh mẽ. Mặt trời của bắp đem lại hạt mẩy hạt chắc. Mặt trời của mẹ – em cu Tai là hạnh phúc, nguồn sống của mẹ. Những chú bé Tà-ôi được tắm trong ánh sáng sẽ trở nên vạm vỡ săn chắc, ánh mặt trời hào phóng ban tặng cho mẹ những đứa con khoẻ mạnh của núi rừng. Hình tượng sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm đã đem lại những rung cảm thẩm mĩ đặc biệt.
    Người đọc còn nhận ra tấm lòng mẹ mênh mông trong hình ảnh mẹ con không cách xa : Lưng đưa nôi và tim hát thành lời . Lời tim ngân nga suốt ba đoạn thơ thành điệp khúc dạt dào thương mến :
    Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
    Mẹ thương a-kay…
    Khởi nguồn của mọi hành động cao cả bắt đầu từ tình yêu bình dị nhất. Điểm xuất phát của lời ru chính từ tấm lòng mẹ thương a-kay vô bờ bến này ! Còn tình thương nào bình dị, gần gũi mà sâu sắc bằng tình mẹ thương con ? Âm vang lòng mẹ cất thành lời ru, thành lời thơ đầy xúc cảm của Nguyễn Khoa Điềm, với những chiều liên tưởng gắn bó trực tiếp với từng công việc của mẹ, bộc lộ vẻ đẹp rất giản dị mà cao cả. Mẹ thương a-kay ! – rất ngắn gọn nhưng cũng rất đầy đủ, đẹp đẽ vẻ đẹp tâm hồn mẹ. Hơn thế nữa, đó là xuất phát điểm của những tình cảm thời đại : mẹ thương bộ đội. Có ranh giới nào của tình thương rất đầm ấm ấy không ?
    Sự sống của a-kay cũng là tương lai của buôn làng. Bởi thế cũng rất tự nhiên khi mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói. Cuộc sống của người Tà-ôi những năm chống Mĩ còn bao cơ cực thiếu thốn nhưng sức mạnh của tình thương sẽ giúp người mẹ vượt lên tất cả. Bàn tay mẹ cần mẫn tỉa bắp, gieo mầm sự sống với niềm mong mỏi thật bình dị : hạt bắp lên đều. Núi rừng, làng buôn và đứa con thân thương vô cùng với tâm hồn mẹ. Tình cảm yêu thương ấy còn thăng hoa trong những ước mơ về sự sống buôn làng. Đẹp thay và cũng dạt dào thương mến là lời thơ : Con mơ cho mẹ…hạt gạo trắng ngần, hạt bắp lên đều. Giấc mơ giản dị truyền sang em cu Tai còn chứa đựng niềm mong ước về tương lai của con :
    Mai sau con lớn vung chày lún sân
    … Mai sau con lớn phát mười kalưi
    Hình ảnh gắn với tương lai của con thật kì vĩ, như mang theo sức mạnh của các nhân vật sử thi huyền thoại. Ước vọng về con làm nên sức mạnh, sự bền bỉ của mẹ. Đồng thời còn hội tụ cả sức mạnh cộng đồng từ quá khứ đến hiện tại gắn với tinh thần cuộc chiến đấu lâu dài, vượt qua bao sóng gió thử thách.
    Cảm hứng của khúc ru cuối gắn liền với hiện thực khốc liệt và khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Mĩ, với nhịp sống chiến khu Trị – Thiên. Hình ảnh của mẹ trong đoạn thơ này có một sự thay đổi, không phải trong một dáng chênh chao trong nhịp chày nghiêng, không lặng thầm nhẫn nại gieo từng hạt giống mà rất dứt khoát mạnh mẽ :
    Mẹ đi chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
    Dáng vẻ con người được tô đậm qua hai động từ “đi” gợi tư thế chủ động với những công việc tiếp sức chiến đấu : chuyển lán, đạp rừng như hàm chứa ý thức tự hào của người Tà-ôi làm chủ vùng núi rừng của ta. Con người trong tư thế đối mặt với kẻ thù, quyết tâm chiến đấu giữ đất giữ rừng. Kẻ thù với dã tâm “đuổi ta phải rời con suối”, người Tà-ôi vẫn một dạ kiên trung ! Không chỉ có mẹ, mà anh trai cầm súng, chị gái cầm chông và em cu Tai cũng theo mẹ vào trận cuối. Những câu thơ hừng hực tinh thần bất khuất của người dân tộc miền tây Thừa Thiên, đem lại cảm hứng lạc quan của cuộc chiến đấu chống Mĩ. Sự trưởng thành của mỗi con người từ nhận thức đến hành động đã được khẳng định bằng hai câu thơ thật khoẻ khoắn :
    Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường
    Từ trong đói khổ, em vào Trường Sơn
    Tinh thần của bao thế hệ người Tà-ôi theo cách mạng đã truyền cả sang a-kay, dạt dào một niềm tin, khẳng định dứt khoát con đường em đi sẽ hoà vào đội ngũ chiến đấu với ý chí quyết thắng. Đó là cơ sở cho ước mơ thật đẹp :
    Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ
    Mai sau con lớn làm người Tự do
    Trong tình cảm của người Tà-ôi cũng như của những đứa con miền Nam chiến đấu chống Mĩ, Bác Hồ luôn là nguồn động viên, là biểu tượng sáng chói của cách mạng, của chiến thắng. Bởi vậy, mong ước được gặp Bác luôn là cảm xúc thường trực, dù cho thời điểm viết bài thơ này là 1971. Bởi lẽ, chỉ có thống nhất, mẹ mới được ra với Bác. Giấc mơ đẹp gắn liền với ước nguyện giành lại trọn vẹn non sông, thoả lòng Bác mong. Lời ru kết lại cùng hình tượng em cu Tai của tương lai là người Tự do của một đất nước hoà bình. Đó cũng là mong ước chung của nhân dân, của những người Việt Nam yêu nước.
    Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được những cảm xúc đồng điệu với bao người con miền Nam anh dũng thời chống Mĩ, nói lên trọn vẹn vẻ đẹp và tâm tư của người dân tộc miền tây Thừa Thiên trung dũng kiên cường, thủy chung với cách mạng. Cảm xúc bình dị trong sáng với hình tượng người mẹ đã làm nên sức hấp dẫn riêng của tác phẩm. Từ ngôn ngữ đến hình ảnh thơ đều đậm chất dân tộc, đem đến cho người đọc những cảm nhận đặc biệt thương mến cùng hoà theo lời ru cho giấc ngủ thanh bình của em bé Tà-ôi. Bài thơ toát lên tinh thần lạc quan cách mạng, kết đọng những ân tình sâu lắng của nhà thơ về nhân dân đất nước cũng như niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ.
    Niềm tin ngày ấy giờ đây đã thành hiện thực. Em cu Tai ngày ấy giờ đây cũng đã trưởng thành và sống làm người Tự do như niềm mong mỏi ngày nào thiết tha trong lời ru của mẹ. Nhưng lời ru ngày ấy mãi còn sức vang ngân trong lòng bao thế hệ, bồi đắp tình yêu quê hương đất nước, con người Việt Nam.
     

  9. 7.Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong các bài thơ : Đồng chí ( Chính Hữu), Đoàn thuyền đánh cá ( Huy Cận), Ánh Trăng ( Nguyễn Duy).
    *
    Đề : Phân tích bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" - Huy Cận.
    DÀN Ý CHI TIẾT
    I- Mở bài :
    - Giới thiệu Huy Cận - Một nhà lãng mạn trước cách mạng tháng Tám - Nhà thơ cách mạng sau cách mạng tháng Tám.
    - Sớm hoà nhập vào cuộc sống mới, trong chuyến đi công tác ở Hồng Gai - sáng tác bài "Đoàn thuyền đánh cá".
    - Đây là bài thơ có giá trị đặc sắc, đánh giá được sự thành công trong bút pháp của Huy Cận.
    II-Thân bài :
    A- Phân tích :
    1) Cảnh đoàn thuyền ra khơi
    Mặt trời xuống biển như hòn lửa
    Sóng đã cài then đêm sập cửa
    - Hoàng hôn trên biển - bức tranh kỳ vĩ - biển chợt đỏ rực sáng hồng "như hòn lửa" - ánh sáng chợt loé lên rồi tắt - cả vũ trụ buông màn - sóng "cài then""đêm sập cửa" --> vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi. Lúc ấy : "Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi" --> Đánh cá trong thời điểm bất thường gặp nhiều khó khăn.
    - Người ngư dân vẫn cất cao tiếng hát tràn đầy niềm vui>
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
    Bút pháp lãng mạn - sản phảm của trí tưởng tượng --> Câu thơ đẹp, ý thơ phong phú hơn.
    2) Cảnh lao động đánh cá trên biển :
    - Biển giàu có bởi nguồn tài nguyên phong phú
    "Hát rằng cá bạc biển đông lặng
    ...
    Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi !"
    - Cá được so sánh với những con thoi lao nhanh giữa biển, và vì quá nhiều cá tạo thành một "đoàn thoi" để "dệt biển" - trí tưởng tượng phong phú mang vẻ đẹp riêng của biển - Đoàn cá được nhân hoá thành người thợ dệt lưới "Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!"
    - Biển đẹp hùng vĩ và thơ mộng. Đánh cá trên biển như cuộc du ngoạn về đêm đầy lý thú.
    "Thuyền ta ... biển bằng"
    Thuyền có gió làm lái, có trăng làm buồm - con người hoà vào vũ trụ, làm bạn với thiên nhiên --> lời thơ thể hiện cảm xúc mãnh liệt bay bổng.
    - Biển sáng đẹp như một bức khảm đầy sắc màu lấp lánh với màu sắc của nhiều loại cá :
    Cá nhụ, cá chim cùng cá đé
    Cá song lấp lánh đuối đen hồng.
    - Bầu trời đầy trăng sao - ánh sao lùa vào vịnh Hạ Long "Đêm thở sao lùa nước Hạ Long". Bằng trí tưởng tượng và bút pháp lãng mạn bay bổng, Huy Cận đã gây cho ta sự cảm xúc bất ngờ.
    - Con người trên biển lao động rất hăng say nhiệt tình.
    Ra đậu dựm xa dò bụng biển.
    Dàn đan thế trận lưới vây giăng
    Muốn chinh phục được thiên nhiên, những con người mới không nề nguy hiểm, ngoài biển khơi, họ như những chiến sĩ "dàn thế trận". Làm việc vất vả nhưng lại rất lạc quan, họ đang cất cao tiếng hát gọi cá :
    "Ta hát bài ca gọi cá vào
    Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao"
    Thật là lãng mạn. Đánh bắt cá mà chỉ cần hát là cá vào, lại có trăng cùng làm việc "gõ thuyền" gọi cá - Đó chính là niềm ước muốn khao khát chinh phục thiên nhiên.
    - Hinh ảnh người ngư dân hiện lên thật đẹp - vẻ đẹp của người lao động mới.
    "Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng".
    Ta có thể hình dung được những bắp thịt cuồn cuộn nổi lên, làn da sạm nắng dày dạn gió sương, vẻ mặt tươi vui rạng rỡ --> con người làm chủ thiên nhiên làm củ biển cả.
    - Biển lại rất ân tình : Cho ta cá như lòng mẹ nuôi lớn con người bao đời nay --> cách so sánh gây xúc động lòng người.
    - Công việc đánh cá về đêm trên biển đã kết thúc thời hạn.
    Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng.
    Họ đã thu về kết quả tốt đẹp : Cá đấy khoang, kéo nặng tay. Họ chuẩn bị chào dón một ngày mới.
    "Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông
    Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
    3) Cảnh đoàn thuyền trở về.
    - Đoàn thuyền trở về lại cất cao tiếng hát chào mừng thắng lợi
    "Câu hát căng buồm với gió khơi".
    - Con người đang cùng thiên nhiên đua tài "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời" --> Cách nói khoa trương nâng con người lên tầm cao ngang bằng vũ trụ.
    - Đoàn thuyền trở về trong cảnh trời bừng sáng. "Mặt trời đội biển nhô mau mới" - sự hoà hợp giữa thiên nhiên và con người trong sức sống của một ngày mới. Mỗi câu là một hình ảnh góp vào làm cho khổ thơ trở thành một bức tranh hùng vĩ và sống động - và đẹp nhất là hình ảnh "Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi" --> Hình ảnh tượng trưng "mắt cá huy hoàng" đó là thành tích của một đêm làm việc cật lực, là hình ảnh tương lai rạng rỡ huy hoàng trong cuộc sống mới.
    B- Đánh giá nhận xét :
    Bài thơ có nghệ thuật đặc sắc độc đáo, chính trí tưởng tượng dồi dào, bút pháp lãng mạn giàu sức sống đã sáng tạo nên những hình ảnh đầy thú vị, đầy chất thơ, làm đẹp thêm lên những con người lao động và công việc lao động đánh bắt cá trên biển.
    - Từ thể thơ, nhạc điệu trong thơ lúc sôi nổi say sưa, lúc thì ngân nga lâng lâng ... làm say lòng người. Bài thơ như lời hát đầy nhiệt tình của những con người yêu nghề, yêu biển hăng hái tích cực góp phần mình xây dựng xã hội mới ở những thời kỳ đầu của đất nước miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
    III- Kết bài :
    - Bài thơ tràn đầy chất lãng mạn trữ tình tạo nên sức sống phơi phới lôi cuốn mọi người. Với sự sáng tạo độc đáo Huy Cận đã đưa người đọc bước vào cuộc sống mới tràn đầy niềm tin, phấn khởi.
    - Bài thơ luôn giữ được vị trí xứng đáng trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
    Đề : Phân tích và so sánh cảnh ra khơi và cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá trong bài thơ "đoàn thuyền đánh cá" của Huy Cận.
    DÀN Ý :
    I. Mở bài :
    - Giới thiệu tác phẩm "Đoàn thuyền đánh cá "; tác giả : Huy Cận ; hoàn cảnh : Xây dựng chủ nghiã xã hội.
    - Đánh giá sơ bộ nội dung , nghệ thuật .
    - Viết lại hai khổ thơ.
    II. Thân bài :
    - Ý 1 (nêu thơ) : Cảnh ra khơi (nghệ thuật + nội dung).
    - Ý 2 (nêu thơ) : Cảnh trở về (nghệ thuật + nội dung)
    - So sánh cảnh ra khơi và cảnh trở về.
    a. Điểm giống nhau.
    b. Điểm khác nhau.
    III. Kết bài :
    - Đánh giá chung tác phẩm.
    - Mở rộng.
     

  10. BÀI VIẾT THAM KHẢO :
    "Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
    Như sông như núi, như người Việt Nam"
    Việt Nam có nhiều phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Đề tài này chính là nguồn cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ sáng tác ra những bài văn, bài thơ hay. Một trong số đó là "Đoàn thuyền đánh cá" của Huy Cận sáng tác năm 1958. Trong bài thơ này có lẽ hay nhất là những câu thơ vẽ lên cảnh ra khơi và cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá :
    "Mặt trời xuống biển như hòn lửa
    Sóng đã cài then đêm sập cửa
    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi
    ....................................................
    Câu hát căng buồm với gió khơi
    Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
    Mặt trời đội biển nhô màu mới
    Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi"
    Cảnh ra đi vào lúc hoàng hôn của đoàn thuyền đánh cá thật đẹp ! Vẻ đẹp này đã được nhà thơ Huy Cận diễn tả bằng một bức tranh trong đó có cảnh mặt trời đang dần dần xuống biển "như hòn lửa". Chính nghệ thuật so sánh độc đáo này kết hợp với thể thơ dân tộc giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ đã làm ngây ngất người đọc, người xem khi đứng trước cảnh hoàng hôn rực rỡ của buổi chiều tà. Trong cảnh hoàng hôn lộng lẫy đó, chúng ta thấy "sóng đã cài then, đêm sập cửa", khi nhà thơ sử dụng nghệ thuật nhân hoá gán hành động "cài then" cho sóng và "sập cửa" cho đêm, khi nhà thơ thể hiện xuất sắc sự chuyển hoá của thiên nhiên đang bắt đầu về đêm. Thiên nhiên đã bắt đầu yên tĩnh thì lúc đó con người làm gì ? Hoạt động của con người đã được nhà thơ diễn tả bằng những câu thơ :
    "Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi"
    Cảnh ra khơi của đoàn thuyền đánh cá thật lôi cuốn, hấp dẫn. Cảnh đẹp này được thể hiện qua nghệ thuật tương phản được sử dụng một cách tài tình với hai hình ảnh đối lập nhau hoàn toàn : một bên là cảnh yên tĩnh nghỉ ngơi của con người và thiên nhiên , một bên là cảnh ồn ào náo nhiệt của đoàn thuyền đánh cá bắt đầu ra khơi. Đây chính là sự hăng say lao động của ngư dân Việt Nam, không quản ngại gian lao cực khổ trong công việc đánh cá, họ không ngần ngại khi ra đi trong đêm tối. Những người đánh cá chẳng những ra đi với tinh thần hăng say lao động mà họ còn ra đi với : "Câu hát căng buồm cùng gió khơi". Óc tưởng tượng của nhà thơ thật phong phú khi sử dụng bút pháp lãng mạn để đưa ra hình ảnh bất ngờ, thay vì nói "gió căng buồm" thì nhà thơ lại viết "câu hát căng buồm" để thể hiện tinh thần lạc quan vui tươi, phấn khởi mà người lao động đã mang theo ra khơi. Cảnh ra đi đẹp đẽ như vậy nhưng còn cảnh trở về thì sao ? Cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá được nhà thơ diễn tả :
    "Câu hát căng buồm với gió khơi
    Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời"
    Đoàn thuyền đánh cá đã ra đi và trở về vẫn với tinh thần lạc quan, phấn khởi, hy vọng mà nhà thơ đã cố tình thể hiện bằng hình ảnh : " Câu hát căng buồm với gió khơi" và chính nhờ tinh thần lạc quan, yêu đời này mà đoàn thuyền đánh cá đã "chạy đua cùng mặt trời". Hình ảnh nhân hoá đầy bất ngờ kết hợp với cách gieo vần hợp lý, sâu sắc, đầy hình ảnh cụ thể, đã thể hiện được sự vĩ đại to lớn của những con người lao động Việt Nam. Và đoàn thuyền đánh cá đã trở về khi :
    "Mặt trời đội biển nhô màu mới,
    Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi".
    Bình minh trên biển thật đẹp ! Vẻ đẹp này đã được diễn tả bằng hình ảnh gợi tả độc đáo mà Huy Cận đã sử dụng để vẽ lên một phong cảnh trong đó có cảnh mặt trời "đội biển" nhô màu mới. Vậy tại sao nhà thơ không dùng từ "nhô" lên hay "mọc" lên mà lại dùng từ "đội biển" ? Vì từ "mọc" lên hay "nhô" lên thường là sau một ngọn núi, còn từ "đội biển" mới diễn tả được chính xác nhất và cụ thể nhất cảnh mặt trời từ từ đội lên khỏi mặt biển. Và ánh mặt trời càng thêm chói lọi với muôn ngàn "mắt cá" phơi trên đoàn thuyền đang trở về.
    Sau khi phân tích xong cảnh ra đi và cảnh trở về, chúng ta thử tìm hiểu hai cảnh này có điểm nào giống nhau, điểm nào khác nhau ?
    Cảnh ra đi và cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá khác nhau về thời gian : đoàn thuyền ra đi khi trời tối, mặt trời đã tắt "sóng đã cài then, đêm sập cửa". Còn khi trở về lại vào lúc ánh ban mai xuất hiện, lúc "mặt trời đội biển nhô màu mới".
    Tuy nhiên, cảnh ra đi và cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá đều giống nhau ở hình ảnh : " Câu hát căng buồm cùng gió khơi". Như thế, đoàn thuyền đánh cá ra đi và trở về cùng mang một tinh thần lạc quan, vui tươi, phấn khởi của những con người đã được giải phóng, đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ đất nước, hăng hái lao động để dem lại nhiều tài nguyên, xây dựng đất nước giàu đẹp.
    Ở khổ thơ cuối xuất hiện thêm một hình ảnh mới :"Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi". Nhà thơ đã chọn điểm sáng để thể hiện kết quả rực rỡ của lao động khiến cho thơ thêm đẹp, thêm sáng.
    Phân tích xong bài thơ với một niềm cảm xúc dạt dào, em rất thán phục Huy Cận vì đã để lại cho đời những câu thơ tuy đơn sơ, giản dị, nhưng giàu tình ý, giàu tính nghệ thuật. Em càng thán phục hơn nữa khi nhà thơ đã khơi dậy trong lòng chúng em một tình cảm yêu mến quê hương đất nước bằng cảnh đẹp của một đoàn thuyền ra khơi và trở về trong lời ca, tiếng hát.
    Đất nước ta đẹp lắm ! Vẻ đẹp này chỉ được tăng thêm khi thế hệ trẻ chúng ta biết suy nghĩ và sẵn sàng tiếp bước cha anh góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, xây dựng nền văn học Việt Nam ngày càng dồi dào phong phú hơn.
     

  11. 8.Phân tích những hình ảnh biểu tượng: đầu súng trăng treo ( trong bài Đồng Chí), trăng ( trong bài Ánh Trăng). Chọn bình một đoạn (hoặc khổ) thơ đặc sắc trong các bài thơ đã học.
    *Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Hơn thế nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình.
    Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp, thơ mộng, rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó.
    Đầu súng trăng treo- đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao, súng và trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh trăng.
    ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ.
    Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng và trưng kết hợp nhau; súng tượng trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc.
    Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá, làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp, vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Chỉ có trăng “treo”. Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”, chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. ở đây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Nhưng có lẽ cô kết nhất, hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”.
    Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Nó là biểu tượng, là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Lãng mạng nhưng không thoát li, không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Lãng mạn vì con người cần có những phút sống cho riêng mình. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu.
    Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời, hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thưc.
     
  12. nlht20081997

    nlht20081997 Guest


    I.Tóm tắt
    Làng
    Ông Hai là một nông dân yêu làng chơ Dầu bằng một tình cảm rất đặc biệt. Ông tự hào làng ông giàu đẹp và có tinh thần kháng chiến cao. Nhưng ông phải theo vợ con đi tản cư. Ở nơi tản cư ông luôn theo dõi tin tức về làng. Khi nghe tin làng theo giặc, ông đau khổ, tủi hổ dẫn đến xung đột nội tâm, tuyệt vọng, bế tắc. Ông không dám đi đâu chỉ tâm sự với đúa con nhỏ về tình yêu sâu nặng với làng và tấm long thuỷ chung kháng chiến. Saud o91, tin Làng Dầu theo giặc được cải chính, ông vui mừng khoe khắp nơi. Và ông còn khoe Tây đốt làng, đốt cả nhà ông nữa.

    Lặng lẽ Sa Pa
    Trên chuyến xe khách lên Lào Cai, bác lái xe trò chuyện với cô kĩ sư trẽ và nhà hoạ sĩ lão thành và anh thanh niên làm nghề khí tượng trên đỉnh Yên Sơn mà bác có dịp quen biết trong 4 năm qua. Khi dừng lại lấy nước dưới chân đình Yên Sơn, bác giới thiệu cho họ gặp anh thanh niên. Anh đưa khách về thăm nơi ở và giới thiêu công việc của mình. Tuy cuộc gặp ngắn ngủi trong ba mươi phút nhưng để lại ấn tượng đẹp nơi cô kĩ sư và ông hạo sĩ về người thanh niên say mê nghề nghiệp thầm lặng và khiêm tốn trong công việc phục vụ sản xuất, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

    Chiếc lược ngà
    Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con, bé Thu không nhận cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không còn giống với người trong bức ảnh. Em đối với ba như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức day mạnh liệt trong em thì cũng là lúc ogn6 Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, người cha dồn heat tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm 1 cây lược ngà đệ tăng cô con gái bé bỏng. Trong 1 trận càn, ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp đưa lươc cho bạn để gửi về cho con.

    Chủ đề
    Làng: t/c yêu quê hương, đất nước.
    Lang le Sâp: những con người mới
    Chiec lược ngà: t/c gia đình thời CT.


     
    Last edited by a moderator: 2 Tháng ba 2012

CHIA SẺ TRANG NÀY