Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Ngữ Văn lớp 12 » Văn thơ 1954-1975 » Sóng (Xuân Quỳnh) » binh giang bai tho song cua xuan quynh




Trả lời
  #1  
Cũ 30-07-2009
pro_boss123 pro_boss123 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 30-11-2008
Bài viết: 2
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 2 lần với 1 bài viết
binh giang bai tho song cua xuan quynh

chào mình muốn các bạn phân tích dùm đề này nha nếu dược 2 bài càng tốt ai lam dược xin hậu tạ mình bó tay rùi suy nghĩ nát óc mà chả ra cứu mình vơi
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Cũ 22-09-2009
coykute's Avatar
coykute coykute đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 28-08-2009
Bài viết: 11
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 2 lần
Tác giả

Xuân Quỳnh (1942-1988). Nhà thơ nữ hiện đại, viết rất hay, rất nồng nàn về thơ tình. Những bài thơ hay nhất của chị: “Mùa hoa doi”, “Bao giờ ngâu nở hoa”, “Hoa cúc”, “Sóng”, “Thuyền và biển”, v.v… Tác phẩm “Chồi biếc” (1963), “Hoa dọc chiến hào” (1968), “Gió Lào cát trắng” (1974), “Lời ru trên mặt đất” (1978), “Sân ga chiều em đi” (1984), “Hoa cỏ may” (1989).


Xuất xứ

Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh viết vào ngày 29/12/1967, lúc nhà thơ 25 tuổi. Bài thơ rút trong tập “Hoa dọc chiến hào” tập thơ thứ 2 của chị.


Chủ đề

Tình yêu là sóng lòng, là khát vọng, là niềm mong ước được yêu, được sống hạnh phúc trong một mối tình trọn vẹn của lứa đôi.


Những điều cần biết, cần nhớ

1. Hình tượng “Sóng”

Ca dao có Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền. Một tình yêu đằm thắm, thiết tha. Xuân Diệu có bài thơ nổi tiếng, trong đó Sóng là hình ảnh người con trai đa tình “Anh xin làm sóng biếc – Hôn mãi cát vàng em – Hôn thật khẽ, thật êm – Hôn êm đềm mãi mãi – Đã hôn rồi, hôn lại – Cho đến mãi muôn đời - Đến tan cả đất trời – Anh mới thôi dào dạt…”

Trong bài thơ tình của Xuân Quỳnh, Sóng là hình ảnh thiếu nữ đang sống trong một tình yêu nồng nàn. Sóng lúc thì “dữ dội và dịu êm”, có khi lại “ồn ào và lặng lẽ”. Hành trình của sóng là từ sông “Sóng tìm ra tận bể”. Sóng bể muôn trùng, tình yêu vô hạn. Sóng nhớ bờ còn em thì “nhớ đến anh - cả trong mơ còn thức”. Sóng “con nào chẳng tới bờ…” cũng như tình yêu sẽ cập bến hạnh phúc. Và sóng sẽ tan ra trên đại dương, vỗ mãi đến ngàn năm, muôn đời. Cũng như tình yêu đẹp sống mãi trong lòng người và cuộc đời, đó là “biển lớn tình yêu”. Xuân Quỳnh lấy hình tượng Sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi chân thành và dạt dào khát vọng.

2. Tâm tình thiếu nữ

- Với thiếu nữ, tình yêu là khát vọng:

“Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

- Mối tình đầu chợt đến. Hạnh phúc đã cầm tay, thiếu nữ vẫn ít nhiều bối rối, tự hỏi lòng. Trong trắng và ngây thơ. Sự kỳ diệu của những mối tình đầu, xưa và nay vẫn là một điều bí ẩn đối với lứa đôi:

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”…

- Yêu lắm nên nhớ nhiều. “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi…” (Ca dao). “Nhớ gì như nhớ người yêu” (Tố Hữu). Với Xuân Quỳnh thì nỗi nhớ anh của em là triền miên, và cũng tha thiết, lớp lớp tầng tầng, mãnh liệt, nồng nàn không bao giờ nguôi:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được.

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

“Thiếu nữ khát khao trong tình yêu, thủy chung trong tình yêu. Tâm tình trọn vẹn và hồn hậu dành tất cả cho người yêu: “Nơi nào em cũng nghĩ - Hướng về anh - một phương”

- Cũng như sóng ngoài đại dương “Con nào chẳng tới bờ - Dù muôn vời cách trở”, thiếu nữ sẵn sàng vượt qua mọi thử thách để đi tới một tình yêu hạnh phúc trọn vẹn “Như biển kia dẫu rộng – Mây vẫn bay về xa”.

- Tình yêu lứa đôi thật sự hạnh phúc khi tình yêu ấy hòa nhịp trong “biển lớn tình yêu” của cộng đồng:

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

3. Kết luận

Bài thơ “Sóng” là một bài thơ tình rất hay và mới. Hay ở nhạc điệu bồi hồi, thiết tha, say đắm. Hay ở hình ảnh kép: Sóng nhớ bờ, em nhớ anh, em yêu anh. Nói tình yêu là khát vọng của tuổi trẻ, đó là một điểm nới. Thiếu nữ bày tỏ tình yêu, thể hiện một ước mong chân thành đi tới một tình yêu đằm thắm, thủy chung, đó cũng là điểm mới. Tình yêu của lứa đôi không bé nhỏ và ích kỷ, tình yêu của lứa đôi như con sóng nhỏ được “tan ra” - giữa “biển lớn tình yêu” của đồng loại; đó cũng là một điểm mới nữa
__________________
tren buoc duong thanh cong khong co dau chan cua nhung ke luoi bieng bAn lA nGu0j dE^n v0j tA kHj m0j nGu0j b0? tA dJ
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Cũ 22-09-2009
ngocthinhdan's Avatar
ngocthinhdan ngocthinhdan đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ trưởng
 
Tham gia : 18-08-2009
Đến từ: **thiên đường nắng **
Bài viết: 305
Đã cảm ơn: 19
Được cảm ơn 361 lần
Phân tích

1. Đề

Thao thức cả đêm dài. Lòng bồn chồn nghe tiềng gà gáy văng vẳng trên bom, từ một con thuyền trên mặt hồ, trên dòng sông đưa tới. Nữ sĩ ngồi dậy "trông ra khắp mọi chòm", mọi thôn xóm, chỉ thấy mịt mùng mà lòng thêm "oán hận" - oàn hận về con đường tình duyên.

2. Thực

Hai câu 3, 4 đăng đối, phủ định để khẳng định tiếng "cốc" của "mõ thảm", tiếng "om" của "chuông sầu". "Mõ thảm" và "chuông sầu" là hai hình ảnh ẩn dụ cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của người đàn bà lỡ thì quá lứa, trắc trở trong tình duyên. Thao thức trong đêm dài, đau nỗi đau của đời mình như "mõ thảm", chẳng ai khua "mà cũng cốc"; tủi nỗi tủi của lòng mình như "chuông sầu", chẳng đánh "cớ sao om"?. Nỗi đau buồn, sầu tủi như thấm sâu vào đáy lòng, toả rộng trong không gian, kéo dài theo thời gian như những đêm dài. Đây là hai câu thơ hay nhất tả nỗi "thảm, sầu" trong sự trắc trở tình duyên.

"Mõ thảm không khua, mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh, cớ sao om?"

3. Luận


Hai câu 5, 6 đăng đối cũng là để tả tâm trạng "rầu rĩ", tủi giận về con đường tình duyên:

"Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm".

"Trước nghe những tiếng", là những tiếng gì? - Tiếng gà gáy trên bom? Tiếng "chuông sầu", "mõ thảm" dội lên từ lòng mình. Càng nghe càng thêm rầu rĩ, buồn tủi. Càng nghe càng "giận", hờn về tình duyên. Tình duyên được ví với trái cây, không còn "non xanh má phấn" nữa mà đã chín "mõm mòm", nghĩa là quá chín, đã nẫu đi. Cũng có nghĩa là đã quá lứa, đã lỡ thì! Trong câu thơ có nhiều lệ, nhiều tiếng thở dài, than thân, trách phận, buồn tủi về con đường tình duyên. Hồ Xuân Hương thương mình, thương cho những người đàn bà cùng cảnh ngộ.

4. Hai câu kết

Như một sự thách đố với số phận, với duyên số:

"Tài tử văn nhân ai đó ta?
Thân này đâu đã chịu già tom?"

Vừa nghi vấn, vừa cảm thảm, hai câu kết đầy nghịch lí. Nữ sĩ như vẫn tin vào tài năng của mình có thể xoay đổi được duyên phận, vẫn hi vọng tìm được bạn đời trăm năm trong đám tài tử văn nhân. Câu 6, nữ sĩ viết: "Sau giận vì duyên để mõm mòm", câu 8, bà lại nói:"thân này đâu đã chịu già tom!". "Già tom" nghĩa là rất già, già hẳn. Một cách "nói cứng", thể hiện một bản lĩnh cứng cỏi trước ngang trái cuộc đời. Đọc chùm thơ "Tự tình" cũng như tìm hiểu cuộc đời của nữ sĩ, về mặt tình duyên ta thấy hạnh phúc lứa đôi chưa một lần mỉm cười với bà. Người đọc mãi mãi cảm thông với những sầu tủi, cay đắng, oán hận của nữ sĩ, của những người phụ nữ duyên ôi phận hẩm, quá lứa lỡ thì.

Bài thơ gieo vần "om”, 5 vần thơ, vần nào cũng tài tình: "bom - chòm - om - mòm - tom". Vần nào cũng hóc hiểm, tạo nên âm điệu như thắt, như nén lại cái "oán", cái "hận", cái "ngang bướng" của một tâm trạng, một cá tính rất Xuân Hương. Duyên số và hạnh phúc - đó là vấn đề ám ảnh chúng ta khi đọc thơ "Tự tình" này của Hồ Xuân Hương.
Thương Vợ thì bạn dựa theo dàn bài này để làm.
Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà. Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Dòng trữ tình trong thơ Tú Xương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía. Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương.

Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vẵng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:

“Quanh năm buôn bán ở mom sống,

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm.

Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động:

“Con cò lặn lội bờ sông

Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”

Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động.

Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”:

“Năm nắng mười mưa dám quản công”

Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.

Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình.

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính.

Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú giành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Cũ 12-11-2009
pizz's Avatar
pizz pizz đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn phó
 
Tham gia : 25-06-2009
Đến từ: Hải Phòng
Bài viết: 62
Đã cảm ơn: 21
Được cảm ơn 12 lần
Không hiểu tại sao lại phân tích cái đề ông bà Tú với cả cái đề gì gì đó ở đây nhỉ. Bài của coykute viết cũng chả biết đề bài cần làm rõ là gì cả.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Những điểm mới trong khoá học Luyện thi KIT-1 môn Ngữ văn năm 2015
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Những điểm mới trong khoá học Luyện thi KIT-1 môn Ngữ văn năm 2015
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 26: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 26: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 25: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 25: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 24: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 24: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 23: Lai Tân (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 23: Lai Tân (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 21: Tương tư (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 21: Tương tư (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 21: Chiều tối (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 21: Chiều tối (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 20: Tương tư (Phần 2) (Học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 20: Tương tư (Phần 2) (Học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 20: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 20: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 19: Tương tư (Phần 1) (Học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 19: Tương tư (Phần 1) (Học thêm)

Đề thi mới
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 3: Văn học Việt Nam từ 1975 đến nay
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 3: Văn học Việt Nam từ 1975 đến nay
Ngữ văn 12 : Chiếc thuyền ngoài xa
Ngữ văn 12 : Chiếc thuyền ngoài xa
Ngữ văn 12 : Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Ngữ văn 12 : Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 2: Văn học Việt Nam từ 1954 đến 1975
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 2: Văn học Việt Nam từ 1954 đến 1975
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 1
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 1
Ngữ văn 12 : Tuyên ngôn độc lập
Ngữ văn 12 : Tuyên ngôn độc lập
Ngữ văn 12 : Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Ngữ văn 12 : Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 01:16.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.