Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Ngữ Văn lớp 12 » Văn nghị luận » Nghị luận xã hội » Tư liệu cho văn nghị luận xã hội




Trả lời
  #1  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
Question Tư liệu cho văn nghị luận xã hội

1. Để làm tốt một bài văn nghị luận, cần có không chỉ kĩ năng làm văn mà còn cả nội dung kiến thức trình bày. Điều này càng đúng với nghị luận xã hội vốn yêu cầu người viết phải có những hiểu biết nhất định về những vấn đề XH mà mình bàn bạc.

2. Để có được những hiểu biết về các vấn đề XH, người học chủ yếu phải tự tìm hiểu, tích lũy qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sự quan sát hàng ngày,...Sách vở nhà trường rất hạn chế trong việc cung cấp những kiến thức dạng này. Mà cũng không thể cung cấp hết được các tư tưởng đạo lí, các hiện tượng vô cũng đa dạng của đời sống.

3. Nắm được vốn hiểu biết nhất định, bài làm của các bạn sẽ sinh động, cụ thể, giàu sức thuyết phục, tránh được việc bài viết chỉ đưa ra các nhận định chung chung, hời hợt.

Từ những lí do trên, từ hôm nay mình sẽ cung cấp cho mọi người tham khảo một số bài viết về các vấn đề XH phổ biến. Tất cả các số liệu, bài viết này đều được sưu tầm trên Internet.

---------------------------------------
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
Nguy cơ bệnh dịch từ nước thải và giải pháp
Sông đưa ô nhiễm đi, thế là quýt làm cam chịu. Thị xã Phủ Lý (Hà Nam) đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm do nước thải của Hà Nội theo sông Nhuệ chảy đến. Lượng nước thải khoảng 400.000 m3/ngày gồm nước thải bệnh viện, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt... đang làm ô nhiễm nước ngầm ở Hà Nội. Đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, các loại tảo độc trên các sông có nước thải. Sông Sài Gòn, các con kênh đen và gây ô nhiễm nước ngầm thành phố Hồ Chí Minh cũng nghiêm trọng không kém.
Gần đây có giả thiết rằng con Cầy hương là vật chủ mang virus gây bệnh SARS. Nếu giả thiết này là đúng, thì biết đâu trong thời gian tới, lại chẳng xuất hiện một loại vật nuôi tương tự được nhập lậu vào Việt Nam không được kiểm dịch, như trước đây nhập sâu làm thức ăn cho chim cảnh, nhập ốc bươu vàng về phá lúa, gần đây nhập lậu chân gà, nội tạng lợn được tẩm ướp hoá chất chống thối để hàng tháng không bị hư hỏng. Công tác kiểm dịch ở cửa khẩu biên giới còn nhiều bất cập, không ai dám bảo đảm một loại rác thải nào đó đem lại lợi nhuận cao không qua được biên giới.

Bệnh dịch xảy ra thì người dân chịu hết. Luật môi trường của nước ta ra đời từ năm 1993 chưa có một lực lượng chuyên trách (kiểu như cảnh sát môi trường) để đảm bảo sẽ được thực thi. Các đợt xuống đường thu gom rác, vận động người dân không đổ rác ra đường không phải là biện pháp triệt để. Thùng rác còn là của hiếm trên hè phố thì chắc chắn người dân còn đổ rác ra lòng đường. Chỉnh trang đường phố với biết bao rào sắt ở các hè góc phố, bồn hoa cây cảnh với nhiều công và chi phí trồng tỉa, chăm sóc phải chăng là ít tốn kém và thiết thực hơn việc đặt thêm các thùng rác trên hè phố ở chính chỗ đó?.

Hiện một số địa phương như Đà Nẵng, Quảng Ngãi, thành phố Hồ Chí Minh chỉ cấp giấy phép khi nhà đầu tư cam kết và có hồ sơ giải pháp đảm bảo môi trường. Nhưng việc di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ở các đô thị còn nan giải. Trước mắt chỉ có thể trông chờ vào ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân. Các đợt xuống đường làm sạch môi trường như dịp 27/4 vừa qua tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có hàng vạn người tham gia, liệu có thể duy trì được lâu dài? Từng có các phong trào người dân các khu tập thể ở Hà Nội những năm 70, hay phong trào quét dọn đường phố chiều thứ 7 duy trì được tới những năm 90 ở nhiều khu phố Hà Nội. Có khẩu hiệu tuyên truyền rằng đợt làm sạch môi trường 27/4 vừa qua nhằm “hướng tới SEA Games sắp tổ chức ở Việt Nam". Sao không “vì một môi trường lâu dài ở Việt Nam" có phải sẽ thuyết phục người dân hơn không?.
-----------

Mọi ngành, mọi nhà thải ra chất độc
Đầu tiên là các cơ sở công nghiệp hoá chất, sản xuất thuốc trừ sâu, phân bón và khai thác chế biến khoáng sản thải ra cyanua vượt quá tiêu chuẩn cho phép hơn 80 lần còn H2S gấp 4 lần. Tiếp đến là các cơ sở dệt may, cơ sở công nghiệp giấy, với nước thải có độ kiềm cao (độ PH 9 – 11), chứa nhiều kim loại nặng, chất hữu cơ đa vòng thơm chứa Clo độc hại rất khó phân huỷ trong môi trường tự nhiên. Loại nước thải này có chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD) có thể lên tới 700 mg/l và nhu cầu ôxy hoá học (COD) cao tới 2.500 mg/l, có thể gấp 17 lần tiêu chuẩn cho phép, thường không được xử lý trước khi đổ vào sông. phát triển kinh tế chưa dung hoà với bảo vệ môi trường. Ông Phùng Văn Vui, Chánh Thanh tra Cục Bảo vệ Môi trường “cụ thể hoá” rằng: “Cứ 4 đơn vị sản xuất thì có 1 cơ sở vi phạm”. Theo đúng luật thì nhiều nhà máy sẽ phải đóng cửa từ lâu, ví dụ như Gang thép Thái Nguyên. Nước thải của nhà máy này chứa nhiều phenon, kim loại nặng, NH4 (30 mg/l), các hợp chất hữu cơ (120 mg/l), làm ô nhiễm sông Cầu nghiêm trọng, nhất là vào lúc không phải là mùa lũ trong năm.

Nước thải bẩn đổ vào sông là tình trạng phổ biến ở các đô thị, nghiêm trọng nhất là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Một số cơ sở chế biến thực phẩm và giết mổ gia súc không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh lại bị quá tải lâu nay. Ở Hà Nội, 62 cơ sở giết mổ gia súc (37 cơ sở giết mổ lợn, còn lại là giết mổ trâu, bò) thì có 6 cơ sở tư nhân, tất cả số này dù đã có đầu tư nâng cấp nhà xưởng, bể chứa và đường ống nước, nhưng vẫn không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đều giết mổ thủ công. Chỉ có một cơ sở duy nhất tại Công ty chế biến thực phẩm Lương Yên là có hệ thống nhà xưởng máy móc giết mổ hoàn chỉnh. Chất thải từ quá trình giết mổ ở các cơ sở tư nhân đều chảy thẳng ra cống thoát nước thành phố, bể phốt là thứ hiếm hoi ở các lò mổ này. Vì thế, dù được nhân viên thú y kiểm định, không thể đảm bảo thịt đưa ra thị trường đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực chất các lò mổ này hiện nay chỉ là điểm “thu gom” các lò mổ tự phát, nhỏ lẻ để cơ quan thú y dễ kiểm dịch hơn mà thôi. Bỏ ra hơn 5 tỷ đồng để đầu tư cho mỗi lò mổ hiện đại được “cơ giới hoá” là điều mới nằm trong trong “kế hoạch". Tình trạng ở thành phố Hồ Chí Minh cũng tương tự.

Lò mổ “tự phát” tại nông thôn thì sao? Làng nào cũng có vài hộ gia đình làm nghề “hàng dát”. Tất nhiên, chất thải từ giết mổ thường chảy xuống ao, cũng như mọi loại chất thải sinh hoạt khác. Ao vẫn là nơi rửa bát, rửa rau, giặt chăn chiếu ở nhiều vùng nông thôn. Thuốc trừ sâu bị sử dụng bừa bãi, các loại bao túi đựng thuốc trừ sâu vương vãi bên bờ ruộng, cạnh đường làng... nhiều nơi. Và cá, tôm dưới ao nước bẩn cũng sẽ bị nhiễm bẩn. Còn tại Hà Nội, nơi ao đã bị lấp hầu hết, các hồ đều là nơi “chứa tạm” nước cống và chống ngập lụt cho thành phố. Nhưng cá nuôi ở Hồ Tây (hồ ít ô nhiễm nhất) bán vẫn rất chạy, xí nghiệp nuôi cá Hồ Tây ăn nên làm ra, đồng thời dân quanh hồ không ít người đang kiếm sống bằng cách câu cá trộm. Trai, ốc tại các hồ ao ô nhiễm của Hà Nội cũng tiêu thụ tốt. Dịch bệnh ở tôm nuôi tại các địa phương rộ lên gần đây như Long An và nhiều tỉnh miền Trung có nguyên nhân mấu chốt là môi trường nơi nuôi tôm đã bị ô nhiễm.

Các loại nghề thủ công vừa phát đạt lại đã ô nhiễm, có thể kể đến làng gốm sứ Bát Tràng, các làng sơn mài ở Hà Tây, đồ gỗ Đồng Kỵ, làng rèn Vân Chàng...
---------------------

(Các bài ô nhiễm nguồn nước sẽ được cập nhật tiếp tại đây)

Thay đổi nội dung bởi: hunganhqn, 14-05-2009 lúc 13:09.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 16 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #2  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
Sự đe doạ từ tiếng ồn giao thông

Thế giới có khoảng 57 triệu người bị điếc hoặc nghe kém
Tiếng ồn giao thông là một trong những nguyên nhân gây điếc, tác hại xấu đến sức khoẻ con người.
Hiện nay, ở nước ta có hàng trăn nghìn người bị điếc hay nghe kém, trong đó số người không phải lao động trong môi trường ồn chiếm tỷ lệ lớn. Bệnh điếc hay nghe kém do tiếng ồn, đặc biệt là tiếng ồn giao thông đang ngày càng gia tăng.

Đinh tai nhức óc
Theo Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành phố Hà Nội, hiện nay ô nhiễm môi trường có quy mô, cường độ và tần suất vượt mức cho phép nhiều nhất ở Hà Nội là tiếng ồn. Thế giới đã chứng minh rằng ô nhiễm tiếng ồn tỷ lệ thuận với sự phát triển của đô thị. Các đô thị càng phát triển, mức ô nhiễm tiếng ồn càng cao. Nguyên nhân gây ồn rất đa dạng, chủ yếu từ sinh hoạt của người dân.

Tiếng ồn giao thông bao gồm tiếng ồn của động cơ, tiếng còi, tiếng ma xát giữa lốp với mặt đường, ma xát giữa không khí và phương tiện giao thông. Tuỳ theo môi trường giao thông, tốc độ của phương tiện, mà tiếng ồn loại này có thể trội hơn loại kia và ngược lại. Mức ồn trên của mỗi xe, lưu lượng xe chạy mỗi giờ, lưu lượng xe chạy mỗi giờ, thành phần dòng xe, tốc độ xe, độ dốc đường, chất lượng mặt đường. Mức ồn trung bình ban ngày dao động trong khoảng từ 31,3 dBA đến 79,2 dBA, ban đêm dao động trong khoảng từ 67,3 dBA đến 73,0 dBA. Thạc sĩ Lương Thuý Nga (Đại học Bách khoa), người trực tiếp điều tra, nghiên cứu mức độ tiếng ồn giao thông cho biết: “Mức ồn của dòng xe là mức ồn không ổn định, nó thay đổi liên tục trong một phạm vi và phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đồng thời nó thay đổi rất nhanh theo thời gian. Bởi vậy việc xác định chính xác mức ồn chung của dòng xe giao thông là một công việc khó khăn...”.

Cùng với quá trình đô thị hoá, tiếng ồn giao thông ngày một tăng và tăng mạnh. Khảo sát của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành phố Hà Nội tại một số nút giao thông và tuyến phố chính cho thấy: mức ồn giao thông trung bình từ 77 dBA – 82 dBA (cao hơn chỉ số tiêu chuẩn cho phép đối với khu vực dân cư nhiều lần). So với kết quả khảo sát trước đó 2 năm trong cùng một điều kiện về thời gian và không gian thì trung bình mức ồn đã tăng từ 4 – 5 dBA (mức ồn giao thông cao nhất tại các nơi khảo sát).
Nguyên nhân gây ra tiếng ồn giao thông cao là do sự gia tăng đột biết về số lượng các phương tiện giao thông. Năm 1993, Hà Nội có 94.000 xe máy, năm 1995 là 498.465, năm 2000 là 708.641, hàng năm tăng hơn 15%. Nguyên nhân khác: có lẫn các phương tiện giao thông trên cùng một tuyến đường (xe tải, xe khách, xe con, xe máy...); các xe sử dụng còi nhiều, thậm chí cả còi hơi; do mặt đường quá chật.

... và những tác hại
Tiếng ồn hại sức khoẻ trên cả 2 phương diện. Về sinh lý, nó gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn không ngon, gầy yếu. Về tâm lý, nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập trung, dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác. Người tiếp xúc với tiếng ồn lâu dài thường mất ngủ (koảng 70% - 80%), suy nhược (35%), đau đầu (40%); năng suất lao động của viên chức trong điều kiện yên tĩnh sẽ cao hơn khoảng 9% và sai sót trong việc ghi chép tài liệu ít hơn khoảng 29%. Ở các văn phòng có mức ồn 100 dBA, người ta phạm sai sót nhiều gấp 2 lần so với làm việc ở mức ồn 70 dBA.

Tiếng ồn còn có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng các bệnh thần kinh, tim mạch, tăng lượng catecholamin trong nước tiểu, tăng tỷ lệ mắc hội chứng dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hoá. Tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn sẽ bị ngễnh ngãng, dần dần dẫn đến điếc hoàn toàn. Thống kê về bệnh điếc nghề nghiệp của công nhân trong các ngành công nghiệp cho thấy: ngành đóng tàu và vận hành máy trên tàu biển có từ 10% - 19% người mắc bệnh; ngành khai thác than đá từ 16% - 18%; ngành sản xuất xi măng từ 5% - 10%; ngành dệt từ 8% - 12%; ngành bưu chính viễn thông khoảng 7,4%.
Hiện tại trên tất cả các tuyến đường đô thị của Hà Nội, độ ồn đã ở mức ô nhiễm trung bình. Thạc sĩ Lương Thuý Nga cho biết: “Ta chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn giao thông đến sức khoẻ cộng đồng. Nhưng thống kê từ năm 1995 – 1998 và những số liệu tổng hợp trong chương trình “Nhân lực y tế - chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Việt Nam năm 1992” của ngành y tế, số lượng người mắc bệnh tâm thần ở Hà Nội, một căn bệnh có liên quan đến tình trạng ô nhiễm tiếng ồn giao thông đang tăng lên trong những năm gần đây. Hà Nội là một trong những nơi có tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần cao nhất cả nước".

Tiếng ồn giao thông đang góp phần không nhỏ làm ô nhiễm môi trường, gây tác hại xấu tới sức khoẻ con người. Vì thế, tìm ra giải pháp khắc phục, làm giảm thiểu nó là cần thiết và cấp bách, đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội.

(Các bài ô nhiễm tiếng ồn sẽ được cập nhật tiếp bài này)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 13 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #3  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Hà Nội, thành phố trong... bụi

Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá. Những công trình hạ tầng cơ sở về cấp, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, đường sá, nhà hát, sân thi đấu thể thao, nhà ở... liên tục được sửa chữa, nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới. Có thể ví Hà Nội hiện nay như một đại công trường, hàng ngày tạo ra một lượng lớn bụi bẩn.
Quá tải
Nồng độ bụi bẩn ở Hà Nội ngày một nhiều hơn. Trung bình ở các nơi công cộng trong thành phố nồng độ bụi vượt quá chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần (theo tiêu chuẩn của các nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, nồng độ bụi ở các thành phố chỉ được phép vượt quá tiêu chuẩn cho phép 1-2 lần). Hứng chịu nhiều nhất là các khu vực đang xây dựng, cải tạo, sửa chữa: Mai Động, Thượng Đình, ngã tư Vọng, Cầu Diễn, Bắc Thăng Long, Chèm, Văn Điển, Láng – Hoà Lạc, Trần Duy Hưng..., vượt quá chuẩn cho phép 5 lần. Nồng độ các chất ô nhiễm khác đều vượt chuẩn nhiều lần, cực độc có Pb, SO2. Ô nhiễm do bụi cao nhất là vào hôm trời hành, gió mạnh.

Nguyên nhân gây ra bụi
Ngoài chuyện đổ rác bừa bãi của dân, thì phế thải rắn trong xây dựng (đất, đá, sỏi...), vật liệu thi công được coi là tác nhân chính gây bụi bẩn.

Từ trung tâm đến ngoại ô, từ các trục giao thông chính đến ngõ ngách, đâu đâu cũng thấy xây dựng. Thành phố đã quy định về bảo đảm vệ sinh, tránh bụi bẩn, các công trình xây dựng nhà ở phải được che chắn kỹ, nhưng không ít chủ công trình đã lờ đi. Nhiều chủ phương tiện chở vật liệu, phế thải không che đậy kín, chở quá tải trọng, phóng nhanh làm rơi vãi ra đường phố.

Tại các mục 2 và 5 - Điều 22 của Quy định số 25/2002/QĐ-UB do UBND thành phố Hà Nội ban hành ngày 27-2-2002 ghi rõ: Các phương tiện cơ giới khi ra khỏi công trường phải được rửa sạch, bảo đảm không gây bẩn ra đường phố. Phế thải xây dựng khi vận chuyển từ trên cao xuống phải được đóng vào bao, đựng trong đường ống bọc kín, cấm để phế thải xây dựng rơi tự do từ trên cao xuống. Nhưng trên thực tế quy định trên hầu như không được chấp hành các công trình xây dựng cứ thoải mái thả rác từ trên các tầng cao xuống. Xe cơ giới đêm trước bùn đất quánh két ở lốp, ở thành, thùng xe ra sao thì ngày hôm sau vẫn thế.

Các công trình thi công, kè sông, đường giao thông, cầu vượt, đường hầm dành cho người đi bộ không hoàn thành đúng tiến độ, đã tạo nên một lượng bụi rất lớn: cụ thể là đường hầm ngã tư Vọng, hành lang Tây Sơn dài 6,8 km...
Ngoài ra còn có bụi, khói từ các khu công nghiệp tập trung (cũ và mới), ô tô, xe máy. Đa phần các cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu, dùng than đá mà không có thiết bị thu gom xử lý bụi. Các nhà máy đan xen với dân cư, cơ sở hạ tầng không được xây dựng đồng bộ nên cũng gây ô nhiễm nặng.

Giải pháp
- Xử phạt nghiêm minh.
- Kiểm tra, bảo dưỡng với xe máy, áp dụng tiêu chuẩn hàm lượng lưu huỳnh trong dầu diezel và xăng, quy định độ xả khí thải cho các loại máy, phương tiện dùng trong sản xuất thi công.


(Các bài ô nhiễm không khí sẽ được cập nhật tiếp tại đây)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 14 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #4  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
Aida! Quá 12000 kí tự/bài là nghỉ luôn. Thôi làm bài mới vây, mọi người chịu khó tìm vậy.
-------------------
Ô NHIẾM MÔI TRƯỜNG Ở NÔNG THÔN (!)
Nông thôn "kêu" mãi, nguồn nước tử thần vẫn chảy...!
Theo các nghiên cứu khoa học, con người có thể nhịn đói được khoảng 3 tuần nhưng họ sẽ chết khát nếu ba ngày không thể uống nước. Điều này cho thấy tầm quan trọng của nguồn nước sạch tới sự sống và sức khỏe của con người. Thế nhưng, theo các nghiên cứu, khảo sát gần đây nhất của các cơ quan chức năng, nước sinh hoạt nông thôn tại nhiều khu vực trên cả nước đă bị ô nhiễm trong nguồn thô ( chưa qua xử lý).

Kết qủa khảo sát cho biết mức độ ô nhiễm cao ở một số tỉnh như Hà Nam (64,03%), Hà Nội (61,63%), Hải Dương (51,99%), Đồng Tháp (37,26%)... Thậm chí có những mẫu hàm lượng Asen vượt qúa 100 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Kết quả kinh hoàng này cho thấy, những người dân nông thôn đang thực sự phải đối mặt nguồn nước tử thần.

Nếu nhìn vào bề ngoài, chúng ta sẽ nhận thấy diện mạo của nông thôn Việt Nam đang thay da đổi thịt. Những ngôi nhà tranh vách đất, những kí ức buồn và xơ xác về một nông thôn Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu đang dần biến mất. Thay vào đó là những ngôi nhà kiên cố, những khu công nghiệp mọc lên khắp nơi, những làng nghề thủ công đang dần hồi sinh. Nhưng tất cả những vẻ bề ngoài đó, không thể che lấp được những bất ổn về một hệ sinh thái nông thôn đang bị phá vỡ từng ngày từng giờ. Nghiêm trọng nhất là nguồn nước sinh hoạt ở các vùng quê – nguồn nước mà những người nông dân đang buộc phải dùng nó cho những nhu cầu hàng ngày đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nó chính là những tên thần chết vô hình đanh rình rập tính mạng của những người nông dân.

Theo các tài liệu khoa học trên thế giới, đã phát hiện thấy có hơn 300 mặt bệnh lây truyền qua nước. Có hai nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe liên quan đến nước, đó là do các vi sinh vật có khả năng truyền bệnh sang người và do các chất hóa học, phóng xạ gây ra.

Vi sinh vật truyền qua nước gây nên hầu hết các bệnh ở đường tiêu hóa. Vi khuẩn gây bệnh như tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy…; virus gây bệnh như bại liệt, viêm gan…; ký sinh trùng gây bệnh như lỵ amip, giun, sán… Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể con người trực tiếp qua đường nước uống hoặc nước dùng chế biến thực phẩm. Những bệnh này có thể gây thành dịch lớn làm số người tử vong cao, rất nguy hại cho cộng đồng nếu không có biện pháp phòng chống dịch tốt.

Khi nguồn nước nhiễm các hóa chất từ sản xuất, sinh hoạt của con người, nước thải từ các khu công nghiệp thường gây ra các bệnh mạn tính, bệnh ung thư, bệnh ảnh hưởng đến sinh sản và di truyền.
Nếu gọi nguồn nước ngầm đã qua xử lý thô như lọc qua bể lọc hoặc nước mưa là nước sạch thì mới chỉ có 36% người dân ở bắc Trung bộ và duyên hải Nam Trung bộ, 33% người dân ở đồng bằng sông Hồng và cao nhất là 39% nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long được sử dụng nguồn nước sạch này. Những nguồn nước đã được xử lý qua bể lọc thô hoặc nguồn nước mưa chỉ có thể tránh được các loại kim loại nặng trong đó như sắt chứ không thể lọc được hết những chất độc như asen. Đặc biệt là trong tình hình nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nặng nề như hiện nay, phương pháp dùng bể lọc thô như nhiều bà con nông dân vẫn dùng thời gian vừa qua hoặc sử dụng nguồn nước mưa không thể đảm bảo an toàn vệ sinh và đặc biệt là tránh khỏi bệnh tật.
Theo nghiên cứu này của các bộ ngành liên quan, chương trình đã chọn ngẫu nhiên 208 hộ gia đình sử dụng nước giếng khoan cho ăn uống và sinh hoạt tại ba xã của tỉnh Hà Nam (chiếm 10,8% số hộ có giếng đă được điều tra) để khám bệnh và chọn ngẫu nhiên 100 người trong số các đối tượng đến khám để làm các xét nghiệm cận lâm sàng. Kết quả cho thấy: Tình hình ô nhiễm asen trong nguồn nước giếng khoan ở khu vực nghiên cứu thí điểm là rất nghiêm trọng (94,4% cao hơn tiêu chuẩn cho phép, 57% tổng số giếng có nồng độ asen từ >100 đến >1000 mg/l). Tỷ lệ mắc bệnh chung của 3 xă này tương đối cao (Hoà Hậu: 51,8%, Bồ Đề: 49,5%, Vĩnh Trụ: 43,5%) so với một số vùng nghiên cứu khác về tình hình bệnh tật của nông thôn Việt Nam. Một số bệnh khác cũng có tỷ lệ cao hơn so với các khu vực nghiên cứu khác như bệnh ngoài da 28,3% (các nơi khác từ 5,7-13,6%). Tỷ lệ biến đổi sắc tố da, sừng hoá, bệnh lưu thai sản khá cao. Xét nghiệm hàm lượng asen trong tóc và trong nước tiểu của nhóm nghiên cứu cao hơn đáng kể so với người b́nh thường. Số đối tượng có asen tóc và asen niệu trên giới hạn bình thường là 50% và 25% tương ứng.

Thời gian vừa qua, báo chí đã nói rất nhiều đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước một cách nghiêm trọng ở các vùng nông thôn Việt Nam đặc biệt là những khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và làng nghề. Nếu ai đã một lần đến làng ung thư tại Lâm Thao – Phú Thọ thì đều có thể thấy được sự kinh hoàng mà những người dân nơi đây phải gánh chịu từ những nguồn nước chết xả ra từ các khu công nghiệp quanh đó. Nguồn nước xung quanh khu vực này đã bị nhiễm độc nghiêm trọng, ngay cả nguồn nước ngầm. Những cây lương thực thực phẩm vẫn mọc lênh xanh mướt, nhưng đó là màu xanh chết chóc. Các nhà khoa học đã nghiên cứu những mẫu cây ở khu vừng này và trong những cây xanh ấy đều bị nhiễm kim loại nặng và là tác nhân có thể gây ung thư. Những người dân ở Thạch Sơn – Lâm Thao – Phú Thọ vẫn phải sống trong sợ hãi dưới lưỡi hái của tử thần, không còn con đường nào khác để tự cứu mình. Sau Thạch Sơn, người ta đã kinh hoàng phát hiện ra hàng loạt những làng ung thư ở Hà Tây, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Nam, và mới đây nhất là Thuỷ Nguyên (Hải Phòng)… được nhắc tới. Theo khảo sát của bệnh viện K, trong 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm ở nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hiện, có khoảng 70.000 người bị chết vì căn bệnh này, tăng hơn nhiều so với trước đây. Bệnh ung thư không chỉ gia tăng ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, mà còn trở nên phổ biến đối với nhiều vùng nông thôn.

Điều đáng buồn, dường như làng ung thư đang trở thành một hiện tượng không còn hiếm hoi ở nông thôn Việt Nam, và tất cả đều liên quan trực tiếp đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và tác nhân trực tiếp chính là nguồn nước không đảm bảo.
Chúng ta hãy nhìn vào sự thay đổi của các vùng nông thôn Việt Nam: Đó là những trụ sở ủy ban hoành tráng được xây to đẹp, nhiều khi phô trương quá mức, những ngôi nhà to đẹp lố nhố mọc lên làm cho bộ mặt nông thôn bị đô thị hóa một cách nửa vời. Thế nhưng, hầu như những công trình đầu tư cho vệ sinh môi trường mà quan trọng nhất là nguồn nước sạch cho người dân thì không hề được chú ý. Hầu hết nguồn nước của những người dân nông thôn đang sử dụng được lấy trực tiếp từ nước ngầm.

Gần đây, chúng ta nhắc nhiều đến khái niệm văn minh nông thôn. Chúng ta cho rằng, nông thôn xây những ngôi nhà to, xây những trụ sở đẹp, đường làng nông thôn được bê tông hóa, đời sống vật chất của người dân khấm khá lên điều đó chứng tỏ nông thôn đã văn minh, hiện đại và bắt kịp thành phố. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Văn minh nông thôn cần những thứ nhỏ hơn, đơn giản hơn và thiết thực hơn, đó là những thứ liên quan trực tiếp đến sức khỏe của người dân, đó là những thứ liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày của họ mà nguồn nước sạch là một ví dụ cụ thể nhất.

Nước sạch là một trong những điều kiện để đảm bảo cho vệ sinh cá nhân, vệ sinh nhà cửa, vệ sinh trong lao động, vệ sinh ăn uống và các điều kiện khác cho sức khỏe. Muốn có nước sạch thì phải đảm bảo vệ sinh môi trường từ nguồn nước đến các khâu như khai thác, vận chuyển, dự trữ, sử dụng. Khi những người nông dân chưa thể có được một nguồn nước sạch hơn, an toàn hơn và một không gian sống khỏe mạnh, trong lành, chừng đó chúng ta chưa thể nghĩ tới văn minh cho những người nông dân chân lấm tay bùn.

Và vẫn phải nhắc lại một con số đã rất cũ: Hơn 70% dân số nước ta vẫn là nông dân và họ đang sinh sống ở các vùng nông thôn. Không thể nghĩ đến văn minh, hiện đại khi hơn 70% dân số ấy vẫn chưa thể có được một môi trường sống an toàn, một nguồn nước sạch và văn minh hơn hiện nay. Bài toán này, vẫn đang chờ lời giải của tất cả chúng ta.
---------------------
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 13 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #5  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
Môi trường nông thôn: Thảm họa đã đến...

Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến các hệ sinh thái nông nghiệp và nông thôn. Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần môi trường, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, cản trở sự phát triển bền vững. Càng ngày, những vấn đề ô nhiễm môi trường càng trở nên phổ biến rộng rãi, len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường nhật của người dân nông thôn. Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng nông thôn và hậu quả là lâu dài, không những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau.

1. Kinh hoàng ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam
Vấn đề đầu tiên phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn.
Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước sạch như đã được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn, nhất là khu vực miền núi còn rất thấp. Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng số liệu sau:

Bảng tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng
TT Vùng Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch (phần trăm)
1 Vùng núi phía Bắc: 15
2 Trung du Bắc Bộ & Tây Nguyên: 18
3 Bắc Trung Bộ & Duyên hải miền Trung: 35-36
4 Đông Nam Bộ: 21
5 Đồng bằng Sông Hồng: 33
6 Đồng bằng Sông Cửu Long: 39

Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được sử dụng nguồn nước (tạm coi là) sạch. Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân số được cấp nước sạch.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán...Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt, kém phát triển gây tử vong nhất là ở trẻ em. Có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém . Có thể thấy, nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau
Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có kiểm soát.

Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức trung bình cho 1 ha gieo trồng, bình quân 80 - 90 kg/ha (cho lúa là 150 - 180kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430kg/ha, Hàn Quốc - 467kg/ha, Trung Quốc - 390 kg/ha. Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến MT nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp; Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N - P - K, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là những áp lực chính cho nông dân và môi trường đất.

Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập quán sử dụng phân bắc, phân chuồng tươi vào canh tác. Ở ĐBSCL, phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Thuốc bảo vệ thực vạt (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là rất độc đối với mọi sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi trường đất - nước gây ra ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất, nước.
Hiện nay, nước ta chưa sản xuất được nguyên liệu thuốc BVTV mà phải nhập khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước.
Đặc biệt ở rau xanh, sâu bệnh có thể làm tổn thất trung bình từ 10 - 40% sản lượng nên đầu tư cho thuốc BVTV sẽ mang lại lợi nhuận trên 5 lần. Chính vì vậy, lượng thuốc BVTV sử dụng cho rau thường quá mức cho phép. Điều này dẫn đến ô nhiễm đất, nước. Từ môi trường đất, nước và nông sản, thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào cơ thể con người và tích tụ lâu dài gây các bệnh như ung thư, tổn thương về di truyền. Trẻ em nhạy cảm với thuốc BVTV cao hơn người lớn gấp 10 lần. Đặc biệt thuốc BVTV làm cho trẻ thiếu ôxi trong máu, suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết.

Điều đáng quan tâm là tình hình ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có thuốc BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng không chỉ riêng ở nông thôn mà còn cả ở các thành phố lớn có sử dụng nông sản có nguồn gốc từ nông thôn.

Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn. Hàng năm khoảng 10% khối lượng thuốc được nhập lậu theo đường tiểu ngạch. Số này rất đa dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo và vẫn lưu hành trên thị trường. Thứ hai là việc sử dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho thuốc cũ, hết niên hạn sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên cả nước. Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Và cuối cùng là việc bảo quản thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ để thuốc BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc.

Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có khoảng 1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất là khu vực đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng nghề các loại, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây, Thái Bình và Bắc Ninh,... Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%). Do đó, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động xấu tới chất lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khoẻ của dân làng nghề. Kết quả phân tích chất lượng nước thải một số làng nghề dệt nhuộm tại Thái Bình cho thấy, đa số các chỉ tiêu phân tích đều vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt BOD5, COD đều vượt tiêu chuẩn từ 2 - 5 lần.

Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than. Do đó, lượng bụi và các khí CO; CO2; SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất trong nhiều làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất gạch đỏ (Khai Thái - Hà Tây); vôi (Xuân Quan - Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 6.000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò; 250 tấn bùn; 10m3 đá sinh ra nhiều loại bụi, SO2; CO2, CO; NOx, và nhiều loại chất thải nguy hại khác, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng tới hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc Ninh và Hưng Yên…

Ô nhiễm môi trường đất chủ yếu tập trung ở các làng nghề tái chế kim loại. Kết quả nghiên cứu của Đề tài KC.08.06 cho thấy, một số mẫu đất ở làng nghề tái chế chì thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, Hưng Yên cho thấy, hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 - 69,68 ppm; hàm lượng Pb2+ từ 147,06 - 661,2 ppm . Hàm lượng các kim loại nặng trong nước cũng rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Bên cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi người mỗi ngày thải ra 0,4 - 0,5 kg chất thải. Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30% chuyên chở về những nơi tập trung rác. Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan quản lý và biện pháp xử lý. Chủ yếu là tập trung để phân huỷ tự nhiên và gây nên những gánh nặng cho công tác bảo vệ môi trường.

Bảng biểu tình hình phát sinh chất thải rắn:
Các loại chất thải rắn----------------------------------Toàn quốc------Đô thị----------- Nông thôn
Tổng lượng phát sinh chất thải sinh hoạt (tấn/năm)------12.800.000-----6.400.000------6.400.00
Chất thải nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm)--------------128.400---------125.000---------2.400
Chất thải không nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm)------2.510.000------1.740.000------770.000
Chất thải Y tế lây nhiễm (tấn/năm)---------------------------21.000
Tỷ lệ thu gom trung bình (phần trăm)-------------------------------------------71----------------20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung bình
theo đầu người (kg/người/ngày)--------------------------------------------------0,8---------------0,3
(Theo báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - Chất thải rắn)

Thời gian gần đây, vùng nông thôn Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngồn rác, nước và khí thải xả ra từ các khu công nghiệp trên cả nước. Chính nguồn rác, nước và khí thải này cũng đang phá hủy nghiêm trọng sự trong lành của môi trường nông thôn Việt Nam.

2. Cứu môi trường nông thôn: Bất lực?
Chúng ta đang phải chứng kiến sức tàn phá ghê gớm của ô nhiễm môi trường tới không chỉ cảnh quan nông thôn Việt Nam mà còn đối với sức khỏe của chính những người dân. Hãy nhìn những làng quê đang bóc đi cái vẻ hồn hậu, chất phác vốn có để khoác lên mình tấm áo kệch cỡm của một tên trọc phú. Và bên trong cái vẻ béo tốt giả tạo ấy chính là sự kiệt quệ của những vùng quê đang bị bóc lột, bòn rút đến những giọt máu cuối cùng. Hậu quả của nó thì đã nhỡn tiền: Ô nhiễm đổ lên những cánh đồng, những dòng sông quê còn bệnh tật đang đổ lên đầu những người dân nông thôn. Còn họ, những người nông dân thì chỉ biết đứng nhìn.
Tài nguyên đất ở các vùng nông thôn vẫn đang tiếp tục bị suy thoái trầm trọng, làm biến đổi các tính chất đất và không còn tính năng sản xuất. Các loại hình thoái hoá đất chủ đạo ở nước ta là: Xói mòn, rửa trôi, sạt và trượt lở đất; suy thoái vật lý (mất cấu trúc, đất bị chặt, bí, thấm nước kém); suy thoái hoá học (mặn hoá, chua hoá, phèn hoá); mất chất dinh dưỡng khoáng và chất hữu cơ; đất bị chua; xuất hiện nhiều độc tố hại cây trồng như Fe3+, Al3+ và Mn2+; hoang mạc hoá; ô nhiễm đất cục bộ do chất độc hóa học, khu công nghiệp và làng nghề; suy thoái và ô nhiễm đất ở khu khai thác mỏ.

Nguồn tài nguyên nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hàng loạt những dòng sông quê kêu cứu vì mức độ ô nhiễm đã gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép. Những nguồn nước ngầm cung cấp cho người dân nhiễm sắt, nhiễm chì, nhiễm phèn, nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và vô vàn loại chất độc hóa học do các khu công nghiệp, các làng nghề thải ra vào lòng đất. Ở những dòng sông, những ao hồ ở các vùng quê, những loài vật thủy sinh như tôm, cua, cá, ốc ếch và thậm chí ngay một loài sống dai như đỉa thì đến bây giờ, chỉ còn thấy lại trong kí ức của những già ở các vùng thôn quê.
Trên khắp các vùng nông thôn mọc lên những làng ung thư, làng bệnh tật. Những thứ bệnh “nan y” vốn dĩ chỉ có những người lười vận động, phải chịu nhiều chất độc hại mà thường chỉ ở các thành phố mới mắc phải thì nay trút xuống vai những người nông dân nhọc nhằn, nghèo khó. Không hiếm những người nông dân phải bán cả gia sản để về thành phố chữa chạy và cũng không ít những người khác phải ngậm ngùi chờ chết vì không có tiền để chống lại những căn bệnh tử thần.

Đã nhiều năm nay, báo chí nói nhiều đến việc ô nhiễm môi trường ở nông thôn, những hiểm họa từ ô nhiễm môi trường mà những người nông dân đang phải gánh chịu nhưng thực tế, không ai làm gì để giải quyết tình trạng đó. Chúng không giảm đi, mà càng ngày càng tăng lên với mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều lần.
Chúng ta hãy tự hỏi, chúng ta đang bất lực trước những hiện trạng này hay chúng ta thờ ơ đứng nhìn nó. Chúng ta phảỉ làm gì khi nghĩ về những người nông dân, hơn 70% dân số của chúng ta đang phải đối mặt?.

Thay đổi nội dung bởi: hunganhqn, 14-05-2009 lúc 12:59.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 14 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #6  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
HIV/AIDS
(Số liệu năm 2007)

Việt Nam hiện có hơn 133.000 người có HIV .
UNAIDS cho biết, Việt Nam là một trong ba quốc gia tại châu Á có Luật về phòng chống HIV/AIDS. Tuy nhiên, tổ chức này cũng cho biết, Việt Nam cần phải hài hòa hơn nữa trong những điều khoản được nêu ra trong Luật về phòng chống HIV/AIDS nhằm bảo vệ những nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội.

Theo thống kê của Bộ Y tế , Việt Nam hiện có hơn 133.000 người có HIV, trong đó số ca mắc AIDS là khoảng 27.000 người và hơn 15.000 bệnh nhân tử vong. Hiện nay, tất cả 64 tỉnh thành và trên 96% số quận huyện trong cả nước có người bị nhiễm HIV, trong đó độ tuổi từ 20-39 chiếm tới trên 78%.

Châu Á- Thái Bình Dương: có gần 5 triệu người nhiễm HIV, trong đó có 440.000 người mới nhiễm trong năm 2007 và khoảng 300.000 đã tử vong vì AIDS.

Thế giới:
- Ước tính khoảng 33 triệu (dao động từ 30,3 - 36,1 triệu) người sống với HIV trên toàn thế giới.
- 2,7 triệu (dao động từ 2,2 triệu - 3,2 triệu) trường hợp nhiễm mới trong năm 2007.
- 2 triệu (dao động từ 1,8 triệu - 2,3 triệu) người chết vì AIDS trong năm 2007.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 13 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #7  
Cũ 14-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
TAI NẠN GIAO THÔNG

Tai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản.


Tai nạn giao thông liên quan đến xe máy đang là "sát thủ" số 1 trong việc "giết hại" những người Việt Nam trẻ tuổi

Tai nạn giao thông liên quan đến xe máy đang là "sát thủ" số 1 trong việc "giết hại" những người Việt Nam trẻ tuổi và đứng thứ 3 về số người chết ở quốc gia Đông Nam Á này. Đây là những cảnh báo được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra mới đây.

Trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm qua, chúng tôi đã thấy được những vấn đề liên quan đến những thương tích từ tai nạn giao thông như thế", ông Hans Troedsson, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam cho biết, "gần như là Việt Nam đã không thể làm gì để ngăn chặn thảm hoạ này với điều kiện đường sá chật hẹp như hiện nay".

Mỗi năm có tới 12.000 người Việt Nam chết vì những tai nạn giao thông liên quan đến xe gắn máy trong vòng 5 năm qua, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Trịnh Quang Huân cho biết. Ông này còn nói thêm những tai nạn liên quan đến xe máy là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến những cái chết thương tâm của những người dưới 18 tuổi.

Hiện tại có tới 15 triệu xe máy các loại lưu thông trên những con đường của Việt Nam. Chỉ một số ít người đi xe máy đội mũ bảo hiểm và các quy định của pháp luật chưa thể cải thiện tình hình này. Mặc dù Chính phủ đã đưa ra những quy định bắt buộc người đi xe máy trên những con đường ngoài thành phố phải đội mũ bảo hiểm song mọi sự vẫn chưa có những biến chuyển tích cực.

Có lẽ Việt Nam phải học hỏi nhiều từ Thái Lan, nơi những quy định bắt buộc người đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm đã làm giảm tới 40% các thương tích liên quan đến tai nạn giao thông và giảm 20% số người chết trong vòng 3 năm qua.
-----------------------

Tai nạn giao thông, tại sao và làm thế nào?
Tai nạn giao thông hàng năm cướp đi sinh mạng của hơn 1,2 triệu người trên toàn cầu, 50 triệu người khác phải mang thương tật suốt đời. Phần lớn những nạn nhân này sống ở các quốc gia đang phát triển.

Tuần tới, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc sẽ thông qua việc triệu tập cuộc họp cấp bộ trưởng đầu tiên bàn về an toàn giao thông đường bộ. Con số nạn nhân của tai nạn giao thông cũng nhiều không kém số nạn nhân của các bệnh dịch nguy hiểm khác. Đối với trẻ em trong độ tuổi từ 5-14, tai nạn giao thông là nguyên nhân gay tử vong nhiều nhất và là nguyên nhân lớn thứ 2 sau HIV/AIDS gây tử vong cho những người trong độ tuổi từ 15-29.

Những cung đường đựợc cho là nguy hiểm nhất thế giới là ở châu Phi. Nếu như ở Anh, tỷ lệ là 10.000 xe mới làm một người chết thì ở Ethiopia và Uganda, con số này là 190 người. Số người chết vì tai nạn giao thông gia tăng nhanh nhất ở châu Á và Mỹ La tinh, mặc dù đầu tư về đường sá và phương tiện giao thông ở các khu vực này cũng gia tăng.
Thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra chiếm từ 1-2% tổng thu nhập của các nước đang phát triển. Tại một số nước, hơn một nửa số bệnh nhân nặng đều là các nạn nhân của tai nạn giao thông. Đối với các nước nghèo, tai nạn giao thông gia tăng làm cho quốc gia đó ngày càng nghèo hơn.

Có nhiều lý do khiến tạn nạn giao thông ngày càng nghiêm trọng ở nhiều nước, như: Tài xế lái ẩu, xe không đảm bảo độ an toàn, hạ tầng giao thông kém, các quy định về chế tài còn lỏng lẻo…Ngoài ra, sự chưa đầy đủ trong các quy định của pháp luật và sự quan tâm chưa đúng mức của một vài chính phủ khiến người dân luôn phải đối mặt với mối nguy hiểm tính mạng mỗi khi ra đường.

Dehli (Ấn Độ) là nơi bạn có thể dễ dàng chứng kiến hiện thực hỗn độn trong hoạt động giao thông. Có thể nói đây là thủ đô của các vụ tai nạn xe cộ, với hơn 2.000 người chết trong một năm. Trong nội đô, người ta tran giành từng khoảng trống trong giao thông với xe tải, xe buýt, xe tay… Trên đường cao tốc, những tài xế xe 4x4 và xe tải có thể lao sát qua chân những phụ nữ đang vác củi, bởi đường cao tốc chạy qua những khu dân cư, còn trẻ con luôn mạo hiểm tính mạng để băng qua đường.

Thực ra, giảm thiểu số tai nạn giao thông không phải là diều quá khó khăn. Khi xây dựng các tuyến giao thông, những cơ quan có trách nhiệm cần đặc biệt chú ý tới vấn đề đảm bảo an toàn tính mạng cho những người tham gia giao thông. Từ năm 2000, Rwanda đã giảm được số người chết bởi tai nạn giao thông do giảm tốc độ xe lưu thông. Các quốc gia khác như Thái Lan và Việt Nam đã đưa Luật Giao thông vào giảng dạy trong các trường học, cũng như bắt buộc người đi xe máy đội mũ bảo hiểm. Ở Bogota-Colombia, những biện pháp đảm bảo an toàn giao thông đã làm giảm số người chết do tai nạn giao thông xuống ít nhất trong một thập kỷ qua.

Nếu không nhận được sự quan tâm đúng mức của Chính phủ, số người chết vì tai nạn giao thông sẽ tăng, đồng nghĩa với sự phát sinh những bất ổn xã hội và bất ổn chính trị, thậm chí ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế.

Như trường hợp vùng Nam Sahara thuộc châu Phi. Hai năm trước đây, các nước G8 đã đầu tư 1,2 tỷ USD để vùng này phát triển hệ thống đường cao tốc. Khoản chi cho đảm bảo an toàn giao thông đường bộ chỉ chiếm 1% tổng kinh phí xây dựng đường. Ủy ban An toàn giao thông đường bộ toàn cầu muốn Đại Hội đồng Liên Hợp quốc lập một quỹ khoảng 300 triệu USD để phát triển hệ thống đường bộ ở các quốc gia đang phát triển. Vấn đề là ở chỗ chính phủ các quốc gia này không nên ỷ lại vào sự giúp đỡ của quỹ nêu trên bởi người dân của họ vẫn phải hàng ngày tham gia giao thông trên các tuyến đường. Nên nhớ rằng đây đã là thế kỷ 21.
---------------------------

Biện pháp giảm tai nạn giao thông
Muốn khắc phục tai nạn giao thông vẫn ở mức cao ở nước ta, cần xác định đúng những nguyên nhân.
Tôi muốn đóng góp một số ý kiến về những nguyên nhân đó cùng các biện pháp khắc phục. Thật ra đây không phải là những phát hiện mới mẻ. Những điều này đã từng được các chuyên gia trong nước và nước ngoài nêu lên và nhấn mạnh, nhưng chưa được các nhà quản lý hữu trách quan tâm đúng mức.

1. Điều hành giao thông chưa hợp lý

Có quá nhiều chỗ giao cắt nhau, các ngã tư đèn xanh đèn đỏ chỉ nên cho đi từng làn một, vì nếu để 2 làn đối diện cùng đi một lúc, thì sẽ có một phần người tham gia giao thông muốn rẽ, họ sẽ cắt mặt làn đi thẳng, dễ gây ách tắc, tai nạn, lưu lượng thoát người chẳng những không tăng mà còn bị ùn lại, vì ai cũng muốn vượt cắt mặt nhanh, điều này ta tổ chức được, đâu cần phải mở rộng đường, xây đường vượt này nọ. Một số nút giao thông điều hành theo điều hành theo cách này đã giảm được ách tắc đáng kể.

Trên các trục đường, nếu bố trí được giải phân cách thì tốt, vì nó sẽ hạn chế được người tham gia giao thông tuỳ tiện sang đường, họ phải đến những vị trí quy định thì mới được sang hay rẽ.

2. Tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập

Muốn nhanh chóng tăng cường hệ thống đường sá mà đầu tư ít tốn kém hơn, cần khuyến khích việc sản xuất các trang thiết bị điều khiển trong nước (đèn xanh đỏ mà vẫn phải nhập ngoại, bao nhiêu tiến sỹ, kỹ sư điện tử để đâu?).

Sử dụng các vật liệu trong nước để làm đường giống như nhiều nước trên thế giới (làm đường bằng xi măng, kích thích các doanh nghiệp trong nước phát triển), hạn chế nhập vật tư ngoại để làm đường ( nhựa đường, atphan...). Cái nào làm được không tốn kém thì làm truớc.

3. Thực hiện chính sách giải tỏa công bằng và hợp lý

Muốn mở rộng đường sá, giải phóng mặt bằng được nhanh chóng và ít tốn kém ở các thành phố cần thực hiện chính sách công bằng, không nên đẩy người đang có nhà mặt đường lên nhà cao tầng, còn người ở trong hẻm thì tự nhiên được chui ra mặt đường lớn, gây ra khiếu kiện, dẫn đến đền bù nhiều, mất thời gian.

Vậy khi đề bù, chúng ta nên đền bù cho cả những hộ ở sâu 2 bên làn đường, sau đó, xây nhà cao tầng tại chỗ cho họ ở, tránh tình trạng phải xây nhà tái định cư ở nơi khác cho ngưòi bị giải toả ở. Khi đó, tầng 1 hoặc tầng 2 sẽ dành cho những người vốn ở mặt đường trước đây, còn tầng cao hơn sẽ dành cho người ở sâu trong ngõ... Như vậy, những hộ bị giải tỏa vẫn được sống trên trục đường cũ, còn người nông dân không bị mất đất cho tái định cư, sẽ có nhiều đất để trồng cây xanh, làm công trình phúc lợi.

Việc giải toả như trên cũng sẽ đỡ tốn tiền đền bù hơn, tạo ra một khu phố hiện đại, không còn bị lem nhem, xây dựng vô lối như nhiều con đường mới mở trước đây.

4. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các phương tiện tham gia giao thông

5. Không ngừng nâng cao dân trí và thường xuyên giáo dục ý thức cho người tham gia giao thông

Đã vi phạm là phải phạt ở múc cần thiết đủ sức răn đe, và thực hiện chủ yếu vói người lớn, trẻ em nhìn thấy sẽ học theo. Nếu chỉ quan tâm giáo dục trẻ em, mà ngưòi lớn cứ làm sai, trẻ em nhìn tấm gương phản diện của người lớn mà bắt chước, cho nên giáo dục đến mấy cũng không có hiệu quả.
(Đỗ Mai Thanh)
-------------------------

Kinh hoàng con số tai nạn giao thông Việt Nam
Cập nhật: 20/09/2007 - 17:29 - Nguồn: vnMedia.vn

Trong khuôn khổ hội thảo “Đại biểu dân cử với việc phòng chống tai nạn thương tích trẻ em” tổ chức tại Đà Nẵng (18 - 19/9), Thượng tá Trần Sơn, Phó phòng Tuyên truyền và Hướng dẫn điều tra xử lý tai nạn giao thông (TNGT) thuộc Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (Bộ Công an), đưa ra nhiều số liệu gây bàng hoàng về tình hình TNGT tại VN.

Theo ông, từ 2002 - 2006, TNGT ở VN năm sau tăng cao hơn năm trước và cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Riêng năm 2006, cả nước xảy ra 14.668 vụ TNGT đường bộ, đường sắt và đường thuỷ, làm chết 12.719 người và bị thương 11.273 người. Trong đó, TNGT đường bộ chiếm 14.161 vụ với 12.373 người chết, 11.097 người bị thương.

6 tháng đầu năm nay, cả nước tiếp tục xảy ra 7.648 vụ TNGT làm chết 6.898 người, bị thương 5.903 người. Riêng TNGT đường bộ xảy ra 7.342 vụ làm chết 6.683 người và bị thương 5.727 người.

Đáng chú ý, trong tổng số vụ TNGT đường bộ xảy ra năm 2006 thì có tới 144 vụ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 408 người, bị thương 493 người. Và chỉ trong 7 tháng đầu năm 2007 đã có 108 vụ TNGT nghiêm trọng làm chết 306 người, bị thương 414 người; so với cùng kỳ năm 2006 tăng cả về số vụ (33), số người chết (98) lẫn số người bị thương (86).

Thượng tá Trần Sơn nhấn mạnh, năm 2006, bình quân mỗi tháng cả nước có hơn 1.000 người chết, mỗi ngày có gần 35 người chết do TNGT. Tính sơ, số người chết do TNGT trong một năm ở VN bằng số người chết trong 120 cơn bão, bằng hậu quả của 53 cuộc chiến tranh kéo dài trên thế giới ngày nay.

“Hoặc so sánh theo một cách khác: Đem số người chết trong năm 2006 do TNGT chia bình quân thì mỗi tháng số người chết do TNGT ở VN bằng số thiệt mạng do khoảng 3 vụ nổ máy bay loại lớn. Trong ASEAN, VN đứng thứ 4 về phương tiện cơ giới đường bộ, đứng thứ 6 về số người dân trên một phương tiện cơ giới đường bộ nhưng lại đứng thứ 2 (chỉ sau Thái Lan) về số người chết và bị thương do TNGT!” - Thượng tá Trần Sơn nói.

Ông cũng cho biết thêm, theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tổn thất vật chất hàng năm ở VN do TNGT khoảng 885 triệu USD. Con số này còn cao hơn cả giá trị tiền thuốc sử dụng cho cả 84 triệu dân VN trong năm 2005 (817 triệu USD). Nếu so sánh với tổng thu ngân sách cả nước vừa được báo cáo tại Quốc hội thì con số 885 triệu USD chiếm hơn 5,5% tổng thu ngân sách cả nước/năm. Và nếu so với tổn thất toàn cầu do TNGT đường bộ khoảng 518 tỷ USD/năm (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, WHO) thì con số tổn thất gần 1 tỷ USD/năm của VN là quá nghiêm trọng.

“Nếu nói TNGT đang là thảm hoạ quốc gia cũng không phải quá lời. Mức độ TNGT ngày càng thảm khốc đã và đang là hiểm hoạ của dân tộc, đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của xã hội!” - Thượng tá Trần Sơn nhấn mạnh.

Thay đổi nội dung bởi: hunganhqn, 16-05-2009 lúc 18:08.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 15 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
  #8  
Cũ 14-05-2009
conu's Avatar
conu conu đang ngoại tuyến
MEM VIP
Lớp trưởng
 
Tham gia : 26-05-2007
Đến từ: Mỹ thuật công nghiệp
Bài viết: 1,345
Đã cảm ơn: 611
Được cảm ơn 1,068 lần
Cảm ơn những đóng góp tư liệu rất hữu ích, chúc bạn học và ôn thi đạt kết quả cao.
__________________
“YOU WILL WHEN YOU BELIEVE…”

CẢM ƠN HỌC MÃI, TẠM BIỆT CÁC BẠN.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 4 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến conu với bài viết này:
  #9  
Cũ 16-05-2009
lyyng lyyng đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 30-03-2008
Bài viết: 2
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 2 lần với 1 bài viết
con số tk co' chính xác là của năm 2007?

nhưng hình như tác giả chưa đưa ra việc Vn cải thiện tình hình giảm TNGT nhờ luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm vào 15/12/2007!
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến lyyng với bài viết này:
  #10  
Cũ 16-05-2009
hunganhqn hunganhqn đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 07-05-2007
Bài viết: 101
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 261 lần
MA TÚY

Ma tuý là từ chỉ các chất gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi đưa vào cơ thể dưới bất kỳ hình thức nào (uống, hút, hít, tiêm chích …) sẽ gây ****** hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau, gây ảo giác dẫn tới thay đổi một hoặc nhiều chức năng cơ thể ( về sinh lý và tâm lý) , làm cho người sử dụng nó có ham muốn không kềm chế được, phải gia tăng liều luợng để thoả mãn các cơn thèm khát ngày càng tăng, từ đó sức khỏe ngaà càng suy kiệt, nhân cách suy thoái, tiền bạc khánh kiệt …
Các chất ma tuý thường dùng là thuốc phiện, cần sa, heroin, cocain, moocphin, seduxen ….

--------------------------

Tác hại của Ma túy về mặt kinh tế và xã hội
(19/01/2008 - 08:45:31 PM)

Tệ nạn nghiện ma tuý gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước. Với trên 100.000 người nghiện hàng ngày dùng nhiều loại chất ma túy khác nhau có loại như hêroin: 100.000đồng/liều, có loại 30.000 đồng đến 70.000 đồng/liều, có người nghiện phải dùng 3 lần 1 ngày, mỗi năm số người nghiện sẽ tiêu phí hết trên 2.000 tỷ đồng.

- Về kinh tế:

Tệ nạn nghiện ma tuý gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước. Với trên 100.000 người nghiện hàng ngày dùng nhiều loại chất ma túy khác nhau có loại như hêroin: 100.000đồng/liều, có loại 30.000 đồng đến 70.000 đồng/liều, có người nghiện phải dùng 3 lần 1 ngày, mỗi năm số người nghiện sẽ tiêu phí hết trên 2.000 tỷ đồng.

Năm 2002, toàn thế giới có 200 triệu người nghiện ma tuý, tăng 10 triệu so với năm 2001. Ở Việt Nam trong bảy năm qua (1993 - 2000) tổng số người được cai nghiện là 166.203 lượt. Năm 2002 có 142.002 người nghiện được lập danh sách có hồ sơ kiểm soát, tăng 28.098 người so với năm 2001. Với tình trạng như vậy, số người nghiện ma tuý toàn thế giới hàng năm đã đốt hàng chục tỷ USD!

Tệ nạn nghiện ma túy đã làm cho Nhà nước hàng năm phải dành một khoảng ngân sách lớn cho công tác phòng chống ma túy đó là:

+ Chi phí cho công tác tuyên truyền giáo dục phòng chống ma túy.

+ Chi phí cho công tác vận động xóa bỏ cây thuốc phiện, cần sa.

+ Chi phí cho công tác tổ chức cai nghiện tại cộng đồng, xây dựng và quản lý các trung tâm cai nghiện.

+ Chi phí cho hoạt động kiểm soát ma túy ở biên giới, điều tra truy tố, xét xử tội phạm về ma túy.

+ Chi phí cho các hoạt động hợp tác quốc tế trong công tác phòng chống ma túy.

+ Chi phí về giam giữ cải tạo số người phạm tội về ma tuý.

Tệ nạn nghiện ma túy ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Để có tiền sử dụng ma túy hàng vạn người nghiện đã phạm tội trộm cắp, cướp của, giết người, buôn bán ma túy... Qua thống kê được biết 70% số vụ phạm tội hàng năm là do người nghiện ma tuý gây ra hoặc có liên quan đến ma túy. Trong số những người bị bắt hàng năm vì phạm tội, có từ 30 đến 50% số người phạm tội về ma tuý, năm 2001, số người phạm tội về ma túy chiếm trên 70% số người phạm tội. Tội phạm và ma tuý gắn bó chặt chẽ và là mảnh đất tốt để tham nhũng, cờ bạc, nghiện rượu, mại dâm... phát triển.

- Về xã hội:

Tệ nạn nghiện ma túy làm gia tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS. Theo thống kê trong số những người bị nghiện HIV thì có gần 70% là do nghiện hút ma tuý. Vì vậy, ma tuý là cầu nối làm gia tăng căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Ma túy phá hoại sức khoẻ của con người, người nghiện dễ mắc các bệnh tim mạch, gan, thần kinh. Họ thường gầy còm ốm yếu, kém ăn, kém ngủ, thần kinh rối loạn, trí nhớ kém, lười lao động... Khi dùng loại ma tuý kích thích hoạt động hoặc gây ảo giác làm cho người nghiện có những nhận thức và hành động không phù hợp với đạo đức, tập quán và pháp luật nên dễ dàng phạm tội.

Tệ nạn ma túy tác động làm gia tăng tệ nạn mại dâm (do sử dụng các chất ma túy kích thích).

Tệ nạn nghiện ma túy làm gia tăng tai nạn giao thông, trong đó có nhiều vụ do người nghiện ma túy không làm chủ được tốc độ gây ra.

Tệ nạn nghiện ma túy lan rộng trong thế hệ trẻ, tác động xấu về đạo đức, lối sống, sức khoẻ, tri thức của hàng vạn thanh thiếu niên, ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động của xã hội, đến tương lai tiền đồ của dân tộc.

Theo kết quả điều tra xã hội học cho thấy 80% số người nghiện ma tuý trả lời: sẵn sàng làm tất cả mọi việc kể cả phạm tội để có tiền thoả mãn nhu cầu ma tuý. Vì vậy, họ đã làm suy sụp kinh tế gia đình, họ bị mất việc làm, mất uy tín trong gia đình, bè bạn và xã hội. Theo số liệu thống kê thì trong số người nghiện ma tuý có 85,5% là đối tượng có tiền án, tiền sự. Do đó, ma tuý là tác nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, phá hoại hạnh phúc gia đình và làm xuống cấp thuần phong mỹ tục.

Tóm lại , tệ nạn nghiện ma túy ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đến hạnh phúc của mỗi gia đình, sức khoẻ và tính mạng của con người. Ma tuý còn làm biến chất một số cán bộ cơ quan nhà nước vì vậy cuộc chiến chống ma tuý còn diễn ra hết sức quyết liệt.
----------------------

Tác hại của Ma túy đối với bản thân và gia đình
(19/01/2008 - 08:47:20 PM)

Các chất ma tuý tác động gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thông qua tác động đến đường hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần kinh, hệ sinh dục.

Đối với bản thân:

+ Đối với hệ hô hấp:

Các chất ma túy kích thích hô hấp, gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ****** hô hấp nhất là dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Trong năm 2001 đã có trên 800 người chết vì sử dụng ma túy.

Một số trường hợp sử dụng côcain có thể bị phủ phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, nên tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản...một số trường hợp dẫn đến ung thư phổi.

- Đối với hệ tim mạch:

Các chất ma tuý làm tăng nhịp tim ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành, tạo nên cơn đau thắt ngực, có thể gây nhồi máu cơ tim. Chất ma túy cũng gây nên tình trạng co mạch, làm tăng huyết áp, có người sau khi hút thử vài hơi cần sa đã bị nhổi máu cơ tim, gây gai biến.

- Đối với hệ thần kinh:

Sử dụng ma tuý giai đoạn đầu có thể gây hưng phấn, lệ thuộc thuốc ... sau đó sẽ xảy ra những tai biến như co giật, xuất huyết, đột quỵ...

- Đối với hệ sinh dục:

Hầu hết người nghiện ma túy khả năng tình dục giảm rõ rệt, và điều này còn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian dài. Nam giới dùng ma tuý lâu sẽ bị chứng vú to và bất lực, phụ nữ có thể bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh.

Ngoài ra, người dùng ma túy còn bị những tác hại như huỷ hoại tế bào gan, ảo thính, ảo thị...

Đối với gia đình:

Tệ nạn nghiện ma túy phá vỡ hạnh phúc của hàng vạn gia đình. Nhiều người nghiện ma túy đánh đập vợ con, chém giết bố mẹ, ông bà để đòi tiền hút chích ma tuý, bán hết tài sản, thậm chí bán cả nhà ở để có tiền sử dụng ma túy, nhiều trẻ em phải bỏ học đi lang thang, nhiều bà vợ phải bỏ chồng vì trong gia đình có người chồng nghiện ma túy.
-------------

Thấy gì qua việc “trẻ hóa” đội quân nghiện ma túy?

80% số người nghiện ma túy trong độ tuổi lao động. Thay vì họ có thể lao động, đóng góp công sức cho gia đình mình và xã hội, thì trong 1 tháng họ đã thiêu hủy tài sản cá nhân và cộng đồng tương đương với lượng thu ngân sách của 1 tỉnh…

Đến tháng 6-2007 số người nghiện ma túy trong cả nước có hồ sơ quản lý là trên 168.000 người. Đáng chú ý là hiện nay độ tuổi của người nghiện ma túy đang ngày càng trẻ (dưới 18 tuổi chiếm 4,5%, dưới 30 tuổi là 68,3% và 80% ở độ tuổi lao động).

Hãy thử làm một phép tính. 80% số người nghiện là trong độ tuổi lao động, tương ứng với 134.400 người. Nếu mỗi người này chỉ tiêu 50.000 đồng/ngày cho việc sử dụng ma túy thì mỗi ngày đã “đốt” mất hơn 6,7 tỷ đồng, một tháng 30 ngày mất 201 tỷ đồng, gần bằng dự toán thu ngân sách của tỉnh Hà Giang (204 tỷ đồng), và xấp xỉ 4,5 lần dự toán thu ngân sách của tỉnh Lai Châu (45 tỷ đồng) cả năm 2006 (Số liệu theo Dự toán thu, chi ngân sách các tỉnh, thành phố của Bộ Tài chính ). Như vậy, thay vì họ có thể lao động, đóng góp công sức cho gia đình mình và xã hội, thì trong 1 tháng họ đã thiêu hủy tài sản cá nhân và cộng đồng tương đương với lượng thu ngân sách của 1 tỉnh!!!

Liên quan đến công tác tuyên truyền giáo dục về tác hại của ma túy với sức khỏe con người và tác hại với cộng đồng xã hội. Cách đây hơn chục năm, Bộ Giáo dục Đào tạo đã có chương trình giáo dục ma túy trong nhà trường. Song, phần lớn những người nghiện ma túy là những người từng học hành chểnh mảng, bỏ học… Vì thế nội dung giáo dục trong nhà trường cũng chỉ đến được với những người chăm chỉ đến lớp, đến trường. Thêm nữa, những người nghiện ma túy cũng là những đối tượng hầu như không theo dõi thông tin khoa giáo trên đài, báo, tivi. Chính vì vậy, công tác thông tin, tuyên truyền về ma túy và tác hại của ma túy chưa đạt được hiệu quả như mong muốn!./.

Theo báo cáo của Bộ Công an, đến hết ngày 30.6.2008, cả nước có khoảng 169.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, giảm 9.212 người (5,6%) so với cuối năm 2007. Trong 6 tháng đầu năm 2008, cả nước tái trồng 69,684ha cây thuốc phiện. Trong đó, Sơn La 41,593ha; Lai Châu 13,494ha; Điện Biên 1,774ha...
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 13 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hunganhqn với bài viết này:
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Những điểm mới trong khoá học Luyện thi KIT-1 môn Ngữ văn năm 2015
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Những điểm mới trong khoá học Luyện thi KIT-1 môn Ngữ văn năm 2015
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 26: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 26: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 25: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 25: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 24: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 24: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 23: Lai Tân (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 23: Lai Tân (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 21: Tương tư (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 21: Tương tư (Bài học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 21: Chiều tối (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 21: Chiều tối (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 20: Tương tư (Phần 2) (Học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 20: Tương tư (Phần 2) (Học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 20: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Thầy Nguyễn Quang Ninh) : Bài 20: Từ ấy
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 19: Tương tư (Phần 1) (Học thêm)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Ngữ văn (Cô Trịnh Thu Tuyết) : Bài 19: Tương tư (Phần 1) (Học thêm)

Đề thi mới
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 3: Văn học Việt Nam từ 1975 đến nay
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 3: Văn học Việt Nam từ 1975 đến nay
Ngữ văn 12 : Chiếc thuyền ngoài xa
Ngữ văn 12 : Chiếc thuyền ngoài xa
Ngữ văn 12 : Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Ngữ văn 12 : Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 2: Văn học Việt Nam từ 1954 đến 1975
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 2: Văn học Việt Nam từ 1954 đến 1975
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 1
Ngữ văn 12 : Bài kiểm tra cuối chuyên đề 1
Ngữ văn 12 : Tuyên ngôn độc lập
Ngữ văn 12 : Tuyên ngôn độc lập
Ngữ văn 12 : Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Ngữ văn 12 : Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt
Ngữ văn 12 : Bài 20. Vợ nhặt




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 06:26.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.