Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Lớp 10 » Văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX » Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (bản Nôm Chinh phụ ngâm...) » Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Thi thử đại học 2014



Trả lời
  #1  
Cũ 24-03-2009
namsao namsao đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 24-03-2009
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 2 lần với 1 bài viết
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

cac ban oi giup toi lam bai thuyet minh nay` trong vong 1 tieng sau tui quay lai nhe thank cac ban ctrc' nha ;

Các bài viết xem nhiều nhất cùng chuyên mục:
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến namsao với bài viết này:
  #2  
Cũ 24-03-2009
diemhang307 diemhang307 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ trưởng
 
Tham gia : 15-03-2009
Đến từ: Hưng Yên
Bài viết: 313
Đã cảm ơn: 29
Được cảm ơn 242 lần
Trích:
Nguyên văn bởi namsao Xem Bài viết
cac ban oi giup toi lam bai thuyet minh nay` trong vong 1 tieng sau tui quay lai nhe thank cac ban ctrc' nha ;
Tương đồng với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện khẳng định những giá trị nhân văn và phản ánh số phận người phụ nữ cũng như khả năng vận dụng nhuần nhuyễn thể loại ngâm khúc và thể thơ song thất lục bát, song bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm lại có phần giản lược những suy tưởng triết lý cao siêu và hướng nhiều hơn tới cuộc sống đời thường. Tâm tình người chinh phụ tiêu biểu cho nỗi nhớ mong chồng, khát khao cuộc sống gia đình bình dị và ước mong về một ngày đoàn tụ vợ chồng. Đặt trong tương quan chung, ước mơ của người chinh phụ cũng hiền hoà, dung dị, gần gũi hơn so với người cung nữ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng - Đoàn, trong đó phải kể đến nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Tâm trạng nổi bật trong đoạn trích gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình - người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:





Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 - 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ "ngồi rèm thưa" mà trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi "trong rèm" chính là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương... Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị "vật hoá" tựa như tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là "bóng người" trống trải, vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định, không dễ nắm bắt với những "gà eo óc gáy sương", "hoè phất phơ rủ bóng"... Bên cạnh đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng hoạt động của con người:

Khắc chờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ "đằng đẵng", "dằng dặc" tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng "Hương gượng đốt", "Gương gượng soi", "Sắt cầm gượng gảy" mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý "hồn đà mê mải", "lệ lại châu chan" và "Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng"...

Ở đoạn thơ tiếp theo (câu 17 - 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền "non Yên", "đường lên bằng trời", "xa vời khôn thấu"... Các từ "thăm thẳm", "đau đáu", "thiết tha" gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:



- Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:

Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,

Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

Hình ảnh so sánh "sương như búa", "tuyết dường cưa" là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.

Bước vào đoạn cuối (câu 29 - 36), người chinh phụ vươn tới không gian thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:



Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!
Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.

Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:



- Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng

- Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun

- Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi

Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông...) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ. Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải - Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển - Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:

Khắc chờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 12 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến diemhang307 với bài viết này:
  #3  
Cũ 18-04-2009
loveweeds loveweeds đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 15-02-2009
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 2 lần với 1 bài viết
cái này hình như bạn nhầm qua phân tích tác phẩm rồi

Thay đổi nội dung bởi: loveweeds, 18-04-2009 lúc 08:13.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến loveweeds với bài viết này:
  #4  
Cũ 22-04-2009
thanhhungday's Avatar
thanhhungday thanhhungday đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 27-09-2008
Đến từ: Thiên hà Arkon... Thành phố alington... Hạm đội ĐiệnBiênPhủ...
Bài viết: 173
Đã cảm ơn: 10
Được cảm ơn 29 lần
Cool

Trích:
Nguyên văn bởi loveweeds Xem Bài viết
cái này hình như bạn nhầm qua phân tích tác phẩm rồi
Ừkm đúng thế!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
__________________
Mai Xa Trường
Mai xa trường bạn có buồn không?
Nghe nôn nao phượng lửa đốt trong lòng..
Mắt trào mắt và ngón tay xa ngón
Nắn nót hoài chẳng nên chữ chia ly....
Mai xa trường tạm biệt những mùa thi
Lớp học thân thương sân trường xa vắng
Giữ lại nhé một thời áo trắng
Nét bút học trò có nắng có mây
Mai xa trường tạm biệt những hàng cây
Trai bàng xanh lăn lóc ngủ quên ngày
Ngây thơ lắm chờ tày ai đến hái
Mai xa rồi...Giữ lại những cơn mơ
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn thanhhungday vì bài viết này:
  #5  
Cũ 05-05-2009
lan_anh_a's Avatar
lan_anh_a lan_anh_a đang ngoại tuyến
MEM VIP
Thủ quỹ
 
Tham gia : 22-03-2009
Đến từ: a8qv1
Bài viết: 540
Đã cảm ơn: 239
Được cảm ơn 292 lần
Trích:
Nguyên văn bởi diemhang307 Xem Bài viết
Tương đồng với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện khẳng định những giá trị nhân văn và phản ánh số phận người phụ nữ cũng như khả năng vận dụng nhuần nhuyễn thể loại ngâm khúc và thể thơ song thất lục bát, song bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm lại có phần giản lược những suy tưởng triết lý cao siêu và hướng nhiều hơn tới cuộc sống đời thường. Tâm tình người chinh phụ tiêu biểu cho nỗi nhớ mong chồng, khát khao cuộc sống gia đình bình dị và ước mong về một ngày đoàn tụ vợ chồng. Đặt trong tương quan chung, ước mơ của người chinh phụ cũng hiền hoà, dung dị, gần gũi hơn so với người cung nữ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng - Đoàn, trong đó phải kể đến nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Tâm trạng nổi bật trong đoạn trích gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình - người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:





Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 - 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ "ngồi rèm thưa" mà trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi "trong rèm" chính là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương... Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị "vật hoá" tựa như tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là "bóng người" trống trải, vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định, không dễ nắm bắt với những "gà eo óc gáy sương", "hoè phất phơ rủ bóng"... Bên cạnh đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng hoạt động của con người:

Khắc chờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ "đằng đẵng", "dằng dặc" tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng "Hương gượng đốt", "Gương gượng soi", "Sắt cầm gượng gảy" mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý "hồn đà mê mải", "lệ lại châu chan" và "Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng"...

Ở đoạn thơ tiếp theo (câu 17 - 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền "non Yên", "đường lên bằng trời", "xa vời khôn thấu"... Các từ "thăm thẳm", "đau đáu", "thiết tha" gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:



- Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:

Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,

Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

Hình ảnh so sánh "sương như búa", "tuyết dường cưa" là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.

Bước vào đoạn cuối (câu 29 - 36), người chinh phụ vươn tới không gian thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:



Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!
Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.

Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:



- Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng

- Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun

- Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi

Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông...) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ. Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải - Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển - Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:

Khắc chờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.
Bài này bạn lấy ở đâu mà mình thấy quen quá cơ !
__________________
[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
ERROR: If you can see this, then [Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.] is down or you don't have Flash installed.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #6  
Cũ 26-04-2010
duynhan1's Avatar
duynhan1 duynhan1 đang ngoại tuyến
Moderator được yêu thích nhất năm 2010
Moderator tích cực nhất năm 2011
Cống hiến vì cộng đồng
Bí thư liên chi
 
Tham gia : 26-10-2008
Đến từ: THPT Sào Nam, Duy Xuyên, Quảng Nam.
Bài viết: 4,371
Điểm học tập:376
Đã cảm ơn: 1,457
Được cảm ơn 6,262 lần
Trích:
Nguyên văn bởi lan_anh_a Xem Bài viết
Bài này bạn lấy ở đâu mà mình thấy quen quá cơ !
[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]

Cái bài đó giống y bài trong cái link trên )
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #7  
Cũ 01-05-2010
pe_lun_25's Avatar
pe_lun_25 pe_lun_25 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 03-02-2009
Bài viết: 49
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 3 lần
chán, thi học kì đúng vào bài này mà tớ lên mạng thì chỉ thấy mỗi cái bài mẫu đấy
__________________
Để vẽ một bức tranh hoàn hảo.....
Nhất thiết....
Bạn sẽ cần tới vài màu tối .....
~"~"~~"~"~
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #8  
Cũ 01-05-2010
thienthannho_nt30's Avatar
thienthannho_nt30 thienthannho_nt30 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 07-09-2009
Bài viết: 273
Đã cảm ơn: 171
Được cảm ơn 186 lần
Trích:
Nguyên văn bởi pe_lun_25 Xem Bài viết
chán, thi học kì đúng vào bài này mà tớ lên mạng thì chỉ thấy mỗi cái bài mẫu đấy
hơ giống tớ gớm, tớ cũng thi ngay bài đó, lên mạng kiếm phải lượt bớt mấy phần ko có trong đoạn trích ý
__________________
Không Thương :.[♥].: Không Nhớ :.[♥].: Không Mơ Mộng :.[♥].: :.[♥].: Không Buồn :.[♥].: Không Chán :.[♥].: Lệ Không Rơi :.[♥].: :.[♥].: Không Yêu Ai Cả :.[♥].: Lòng Băng Giá :.[♥].: :.[♥].: Không Nhớ Ai Cả :.[♥].: Hồn Tự Do :.[♥].: .. Tự do với cuộc sống :.[♥].: tHa? hOn^` cO^ -dOc
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #9  
Cũ 01-05-2010
doigiaythuytinh's Avatar
doigiaythuytinh doigiaythuytinh đang ngoại tuyến
MEM VIP
Bí thư
 
Tham gia : 02-04-2009
Đến từ: Quảng Nam
Bài viết: 2,538
Điểm học tập:54
Đã cảm ơn: 1,098
Được cảm ơn 2,342 lần
Thân phận ngươờ phụ nữ luôn là đề tài muôn thửo trong các tác phẩm văn học trung đại. Nếu Truyện Kiều cuả N.D là tiếng kêu ai oán, đứt ruột của những biến cố số phận nàg K thì CPN của Đặng Trần Côn lại mang nội dung giải bày nỗi lòng của ngươờ chinh phụ trong thời kì chiến tranh lạon lạc. Tiếng nói ai oán đối với chiến tranh của người thiếu phụ trong khúc ngâm chung quy thì chỉ có sầu với nhớ và hết nhớ lại sầu nhưng diễn biến tâm trạng thì muôn hình ngàn vẻ không hề lặp lại, cục diện phát triển theo những bwocs ngoặc mới hết sức hợp lí mà tinh vi, xúc động.Chán ngán với hiện tại đau buồn, nàng lần về nhưng ngày êm đẹp ccủa quá khứ, đối diện với thực cảnh phũ phàng của hiện tại. CPN đã được dịch thành nhiều bản khác nhau, nhưng bản dịch của ĐTĐ được coi là bản dịch đặc sắc và thể hiện được tổng quát tư tưởng của tác phẩm. Bút pháp tả tình kì diệu đã tôn giá trị nhân văn bất diệt của tác phẩm.

Có đứa nhờ tớ cái mở bài bài nì
Làm rồi mà nó cứ CHÊ hoài
post lên thử mọi người cùng tk
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn doigiaythuytinh vì bài viết này:
  #10  
Cũ 20-03-2011
nguoimotsach nguoimotsach đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 20-03-2011
Bài viết: 2
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 0 lần
giúp mình với mai mình phải nộp lập àn ý bài này rồi mà không lam được giúp mình với nha . cảm ơn trước
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Hoá học (Thầy Trần Hải) :  Bài 6. Phương pháp giải nhanh toán hữu cơ
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Hoá học (Thầy Trần Hải) : Bài 6. Phương pháp giải nhanh toán hữu cơ
Củng cố kiến thức cơ bản Hóa THPT :  Bài 14: Phương pháp giải các bài toán kim loại + axit và muối
Củng cố kiến thức cơ bản Hóa THPT : Bài 14: Phương pháp giải các bài toán kim loại + axit và muối
Hóa học 10 - thầy Trần Hải  :  Bài 3. Hằng số cân bằng và bài tập vận dụng
Hóa học 10 - thầy Trần Hải : Bài 3. Hằng số cân bằng và bài tập vận dụng
Tiếng Anh  11 - cô Nguyễn Kiều Oanh : Revision
Tiếng Anh 11 - cô Nguyễn Kiều Oanh : Revision
Tiếng Anh  11 - cô Nguyễn Kiều Oanh :  Bài 4. Pronunciation/Speaking
Tiếng Anh 11 - cô Nguyễn Kiều Oanh : Bài 4. Pronunciation/Speaking
Bồi dưỡng HSG Toán lớp 7 : Bài 3. Bài toán chứng minh đẳng thức (Tiết 2)
Bồi dưỡng HSG Toán lớp 7 : Bài 3. Bài toán chứng minh đẳng thức (Tiết 2)
Ôn luyện Tiếng anh lớp 6 : Unit 8. Out and about
Ôn luyện Tiếng anh lớp 6 : Unit 8. Out and about
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Vật Lí (thầy Đặng Việt Hùng) : Giới thiệu về khoá học
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Vật Lí (thầy Đặng Việt Hùng) : Giới thiệu về khoá học
Củng cố kiến thức cơ bản Hóa THPT :  Bài 12: Củng cố kiến thức gốc về kim loại kiềm, kiềm thổ
Củng cố kiến thức cơ bản Hóa THPT : Bài 12: Củng cố kiến thức gốc về kim loại kiềm, kiềm thổ
Luyện thi đại học KIT-2: Môn Vật lí (Thầy Đặng Việt Hùng) : Bài 2. Bài giảng luyện đề số 15 (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-2: Môn Vật lí (Thầy Đặng Việt Hùng) : Bài 2. Bài giảng luyện đề số 15 (Phần 2)

Đề thi mới
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra cuối chuyên đề 1: VHDG Việt Nam
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra cuối chuyên đề 1: VHDG Việt Nam
Ngữ văn 10  10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10 10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10  10 : mainnq
Ngữ văn 10 10 : mainnq
Ngữ văn 10  10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10 10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10  10 : Đề thi
Ngữ văn 10 10 : Đề thi
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Nâng cao
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Nâng cao
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Cơ bản
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Cơ bản
Ngữ văn 10  10 : Chương IV. Văn học nước ngoài
Ngữ văn 10 10 : Chương IV. Văn học nước ngoài
Ngữ văn 10  10 : Chương III. Văn học  Việt Nam từ thế kỉ X...
Ngữ văn 10 10 : Chương III. Văn học Việt Nam từ thế kỉ X...
Ngữ văn 10  10 : Chương II. Văn học dân gian nước ngoài
Ngữ văn 10 10 : Chương II. Văn học dân gian nước ngoài




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 08:40.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Advertisement System V2.4 By   Branden

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.