Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Lớp 11 » Văn học VN từ đầu TK XX đến CM T8-1945 » Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Trích Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng) » Bài giảng về đoạn trích Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài




Trả lời
  #1  
Cũ 16-10-2008
loga2902 loga2902 đang ngoại tuyến
Thành viên
 
Tham gia : 16-10-2008
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
Post Bài giảng về đoạn trích Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài

1/ Tác giả Nguyễn Huy Tưởng (1912- 1960):
( sgk).
2. Vở kịch “ Vũ Như Tô” :
- Thể loại : bi kịch lịch sử.
( Thể kịch mà xung đột kịch được tạo dựng từ những mâu thuẫn không thể giải quyết được, mọi khắc phục mâu thuẫn đều dẫn đến “sự diệt vong những giá trị quan trọng”.
Nhân vật chính có say mê khát vọng lớn lao, có khi có những sai lầmtrong hành động, có kết thúc bi thảm nhưng mang ý nghĩa thức tỉnh, khơi gợi tính nhân văn của mỗi người).

A/ Tìm hiểu chung :
Trang bìa của vở kịch Vũ Như Tô
Chân dung Nguyễn Huy Tưởng và ảnh chụp cùng các bạn văn
Căn nhà quen thuộc của Nguyễn Huy Tưởng
Bìa cuốn nhật ký của Huy Tưởng
Bìa của vở kịch “Đêm hội Long Trì”
- Thời điểm sáng tác: viết năm 1941.
- Nội dung tác phẩm ghi lại những sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 -1517 ở thời Lê Tương Dực.
- Kết cấu ban đầu của tác phẩm gồm 3 hồi (đăng trên tạp chí Tri sau đó tác giả sửa lại thành vở kịch 5 hồi.Tân năm 1943-1944)
- Tóm tắt tác phẩm ( sgk).
3. Vị trí đoạn trích ở hồi 5 ( hồi cuối của tác phẩm)
Nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô trong vở kịch “Vũ Như Tô”
I. Đọc và giải nghĩa từ khó :
- Phân vai đọc . Chú ý dựa vào các chỉ dẫn sân khấu để thể hiện giọng đọc cho phù hợp với tình huống kịch:
+ Gịong Đan Thiềm lo lắng, hốt hoảng- cứng cỏi, đau đớn.
+ Gịong Vũ Như Tô thì băn khoăn, chất chứa những câu hỏi lớn vừa nhức nhối, vừa da diết; vừa khắc khoải và cuối cùng là đau đớn tột độ.
+ Gịong quân lính hỗn hào.
+ Gịong cung nữ bợ đỡ, lẳng lơ…

B/ Đọc hiểu
II. Phân tích văn bản:
1. Tìm hiểu các xung đột kịch trong đoạn trích:
* Tóm tắt các sự việc chính diễn ra trong hồi V của vở kịch?
* Theo em, “loạn” và “biến”, những sự việc khủng khiếp diễn ra trong hồi V xuất phát từ đâu? Liệu có cách giải quyết nào khác “loạn” và “biến”?
+ Mâu thuẫn 1: Tình huống kịch xảy ra trong hồi V xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng các phe cánh của chúng.
- Qúa trình phát triển của mâu thuẫn này đã chỉ ra tính tất yếu của hồi V :
+Mục đích xây Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ để ăn chơi hưởng lạc .
+Nguyên liệu và công sức để xây Cửu Trùng Đài, là tiền bạc,của cải mà vua đã ra sức bắt thuế, tróc thợ từ dân lành, làm cho nhân dân vất vả, đói khát, chết vì bệnh dịch, tai nạn.
Tương Dực không phải là một ông vua yêu nước, thương dân. Điều này tất yếu dẫn đến “loạn” và “biến”.
-Kết quả : hôn quân bị giết, hoàng hậu nhảy vào lửa… Cửu Trùng Đài hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Dực bị đốt thành tro.
*Ngoài mâu thuẫn giữa quan quân và vua, em thấy trong hồi V còn có mâu thuẫn nào khác?
+ Vũ Như Tô coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác và phần hồn của cuộc đời mình ( vì đây là công trình nghệ thuật tô điểm cho vẻ đẹp của đất nước) .
Vì nó, Ông sẵn sàng chấp nhận làm việc cho hôn quân bạo chúa; dù bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc; trị tội những thợ bỏ trốn…
- Mâu thuẫn 2 : Giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.
-Ngược lại trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài là hiện thân của sự ăn chơi xa xỉ, hiện thân của tội ác cha đẻ của nó –Vũ Như Tô- chính là kẻ thù của họ cần phải bị trị tội
Họ vui mừng khi Cửu Trùng Đài chaý, Vũ Như Tô ra pháp trường.
*Vì sao khi bị đưa ra pháp trường, Vũ Như Tô vẫn không thể trả lời được câu hỏi : “Ta tội gì?” hay vẫn một câu “Các ngươi không hiểu được ta”.
- Vũ Như Tô chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp.
- Ông không đứng về phía Lê Tương Dực, nhưng lại muốn mượn uy quyền, tiền bạc của hắn để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình.
- Nhưng lợi ích nghệ thuật mà Vũ Như Tô theo đuổi đã mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân.
Kết thúc trên chỉ ra tính bi kịch không thể điều hoà của mâu thuẫn.

2. Nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô :
a. Nhân vật Đan Thiềm :
- Đan Thiềm là một cung nữ nhưng lại có “bệnh” đam mê , trân trọng, nâng niu cái đẹp, cái tài của Vũ Như Tô - một kiến trúc sư biết sáng tạo cái đẹp.
- Vì mê đắm cái tài mà Đan Thiềm không quản ngại những điều thị phi, quên cả nguy hiểm của bản thân để bảo vệ Vũ Như Tô.
Đan Thiềm là một người biết “ biệt nhỡn liên tài”.
* Tấm lòng trân trọng , hết mình bảo vệ cái tài, cái đẹp của Đan Thiềm được biểu hiện trong đoạn trích như thế nào?
+ Đan Thiềm là người khuyên Vũ Như Tô ở lại để xây Cửu Trùng Đài (ở hồi 1), nhưng khi có biến lại tìm mọi cách thuyết phục ông trốn đi.
Cả 2 lời khuyên này đều “có ý nghĩa” duy nhất : bảo vệ cái tài, cái đẹp ( “khi trước trốn đi thì ông nguy, bây giờ trốn đi thì ông thoát chết”).
=> Đan Thiềm là một người không mơ mộng mà tỉnh táo, thức thời, hiểu đời, hiểu người (đây là điểm khác biệt giữa nàng và Vũ Như Tô).
-Tâm trạng của Đan Thiềm khi nhận ra thất bại của giấc mộng Cửu Trùng Đài:


+ Nàng đau đớn khi nghĩ đến sự sống chết của Vũ Như Tô.
+ Có đến 20 lần nàng thúc giục Vũ Như Tô
“ trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi”.
+ Lời thúc giục vừa van xin, vừa khẩn thiết, quyết liệt:
“ Ông nghe tôi ! …. Đợi thời là thượng sách ! Đừng để phí tài trời. Trốn đi !”
+ Có đến 4 lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó. + Nàng sẵn sàng lấy tính mạng của mình để đánh đổi sự sống còn của Vũ Như Tô “Đừng giết ông Cả . Kẻo tướng quân mang hận về muôn đời. Tha cho ông Cả. Tôi xin chịu chết”.
+ Đến khi “có trốn cũng không được nữa”, Đan Thiềm tìm mọi cách van xin tha tội cho Vũ Như Tô.

+ “Ông Cả! Đài lớn tanh tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”. + “ Xin cùng ông vĩnh biệt”.
+ Kết thúc lớp kịch thứ VII, chỉ còn tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm.

+ Những đổ vỡ của một giấc mộng lớn bây giờ thật tan hoang : ông cả, Đài lớn, cái tài, cái đẹp, tất cả đền tan tành trong cơn biến loạn.
=> Mọi cố gắng giữ gìn, bảo vệ không thành. Câu nói cuối cùng của Đan Thiềm là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu Trùng Đài – vĩnh biệt một giấc mộng lớn trong máu và nước mắt.
b.Nhân vật Vũ Như Tô :
- Học sinh trao đổi nhóm theo gợi ý :
* Trong lớp kịch thứ V, Đan Thiềm giục Vũ Như Tô đi trốn.Nàng cảnh báo “ông đừng mơ mộng nữa”. Vậy theo em, mơ mộng và vỡ mộng, phải chăng là tâm trạng đầy bi kịch của nghệ sĩ tài hoa Vũ Như Tô?
* Cái tài của Vũ Như Tô trong lớp kịch được thể hiện như thế nào?Qua tìm hiểu, em thấy gíâc mộng của Vũ Như Tô bắt đầu từ đâu?
* Trong cơn biến loạn, đâu là khoảnh khắc Vũ Như Tô nhận ra giấc mộng lớn đã tan tành? Tâm trạng của ông trong khoảnh khắc ấy?

+ Cái tài của ông được ngợi ca đến mức siêu phàm, một thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”, “có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân”. + “ Tài kia không nên để uổng. Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai để tô điểm nữa”, “đừng để phí tài trời”.

- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài ba.
- Nhưng Vũ Như Tô vì quá khao khát đam mê chìm đắm trong cái đẹp mà trở nên mơ mộng, ảo vọng.
+ Gíâc mộng ấy bắt đầu từ khi ông quyết định xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xây dựng một công trình tô điểm cho đời.
+ Càng sáng suốt trong sáng tạo, thiết kế, thi công Cửu Trùng Đài, ông càng xa rời thực tế, càng ảo vọng.
-Trong thời khắc biến loạn dữ dội, Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn say sưa với giấc mơ Cửu Trùng Đài.
+ “ Ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông…”, ông vẫn cho là “họ hiểu nhầm”.
+ Tận mắt chứng kiến cảnh đốt phá, nghe tiếng quân reo tìm mình phanh thây, ông vẫn cho là điều “vô lý”.
+ Bị bắt dẫn về trình chủ tướng, ông hy vọng có thể “phân trần”, “giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta”
- Chỉ đến khi Cửu Trùng Đài bị cháy, Vũ Như Tô mới nhận ra sự thực về giấc mộng lớn đã tan tành.
+ Vũ Như Tô “rú lên” kinh hoàng và tuyệt vọng “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi!... Ôi mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài!”
Nỗi đau vỡ mộng hoá thành tiếng kêu bi thiết, não nùng, khắc khoải – Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường.
* Nỗi đau vỡ mộng của bi kịch Vũ Như Tô thức tỉnh chúng ta điều gì?
- Bi kịch Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở : Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống- NGHỆ THUẬT PHẢI VỊ NHÂN SINH thì nghệ thuật mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ, nâng niu, bảo vệ.
* Đánh giá những thành công về nghệ thuật của đoạn trích?
- Đoạn trích đã thể hiện một ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.
- Cách dẫn đắt các xung đột kịch thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động rất thành công.
- Các lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp, các tiếng reo, tiếng thét…tạo một không gian bạo lực kinh hoàng đến chóng mặt.
- Việc đặt nhân vật trong không gian cung cấm với các tên đất , tên người cụ thể ít nhiều có yếu tố sử sách làm cho vở kịch hoành tráng, có không khí lịch sử.
*Ý nghĩa của bi kịch Vũ Như Tô?
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn loga2902 vì bài viết này:
  #2  
Cũ 26-11-2008
lucky_sieuway_iub3d3thu0ng lucky_sieuway_iub3d3thu0ng đang ngoại tuyến
Thành viên
 
Tham gia : 25-11-2008
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
co ai giup oanh zoi:tra loi dum oanh cau hoi nay nha:vũ như tô cho xây dựng cửu trùng đài là đúng hay sai?tai sao?
là có công hay có tội?vì sao?
nếu em là vũ như tô em có xây cửu trùng đài hay không?
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn lucky_sieuway_iub3d3thu0ng vì bài viết này:
  #3  
Cũ 26-11-2008
amaranth's Avatar
amaranth amaranth đang ngoại tuyến
MEM VIP
Bí thư liên chi
 
Tham gia : 17-05-2007
Đến từ: Virginia, USA
Bài viết: 3,619
Đã cảm ơn: 69
Được cảm ơn 443 lần
Theo anh thì đó là sai, tại vì nó không phù hợp. Anh vẫn theo quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, nếu xây một cái đài lớn sánh ngang tầm nhật nguyệt để rồi chết đói cả lũ thì cái đài đó ai ngắm, ai khen?
Có công thiết kế ra cái đài đẹp, có tội là tiến hành hông phải lúc.
Nếu anh là Vũ Như Tô thì anh xây cái đài be bé thôi, hông xây thì chết, mà xây cái đài vĩ đại quá thì rốt cục sẽ không thành công.
__________________
!!! Phượng Hoàng niết bàn, dục hỏa trùng sinh !!!
ai cần gặp liên hệ nick yahoo: queenbee_pro_kinhcanbmt hoặc dongkha_20111995
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn amaranth vì bài viết này:
  #4  
Cũ 27-11-2008
meobongbecon meobongbecon đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 19-05-2008
Bài viết: 19
Đã cảm ơn: 21
Được cảm ơn 18 lần
theo em Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài là đúng với ước nguyện to lớn của 1 người tài giỏi như ông nhưng ông xây vào hoàn cảnh đó là không thực tế với ước nguyện bình yên của nhân dân lúc đó, như vậy ông xây Cửu Trùng Đài vừa là có công vừa là có tội. Với ông tác phẩm nghệ thuật còn quan trọng hơn sự sống của chính mình.Nói cho cùng ông sinh ra không đúng thời để rồi tài năng của ông không được dùng cho đúng với tài năng của mình.

Thay đổi nội dung bởi: meobongbecon, 27-11-2008 lúc 10:04.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn meobongbecon vì bài viết này:
  #5  
Cũ 28-11-2008
faustvn01's Avatar
faustvn01 faustvn01 đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 27-12-2007
Đến từ: Tiêu dao môn phái.(Nếu em không phải giấc mơ)
Bài viết: 134
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn 140 lần
Mình có cách nhìn hơi khác với Am và Meo.

Thực ra, việc phẩm bình một nhân vật lịch sử (hoặc sự kiện lịch sử) không phải nhất thành bất biến. Các quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá thường xuyên thay đổi theo thời gian, theo sự vận động và phát triển xã hội. Mỗi người, mỗi thời luôn chọn cho mình (dù ý thức hay không ý thức) một "điểm nhìn", một "lập trường" mang tính nguyên tắc để soi chiếu và đánh giá (như Am đã chọn quan điểm "NT vị nhân sinh"). Nhưng điều đáng nói ở đây là Vũ Như Tô không chỉ là một nhân vật lịch sử mà còn, và chủ yếu là, một nhân vật văn học (chúng ta đang bàn đến nhân vật Vũ Như Tô trong vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng chứ không phải bàn đến Vũ Như Tô trong lịch sử - sự phân định này khá tế nhị nhưng cần thiết).
Và trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã trực tiếp đưa ra câu trả lời cho câu hỏi đó (nhưng câu trả lời lại được thể hiện dưới dạng ... "một câu hỏi lớn không lời đáp"): "Đài Cửu Trùng không thành nên mừng hay nên tiếc? Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua là đồng bệnh với Đan Thiềm". Dụng ý nghệ thuật, và xét đến cùng, cũng là thành công lớn nhất về tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm không phải là ở chỗ tác giả đã TRẢ LỜI được câu hỏi Như Tô Đúng hay Sai, Công hay Tội mà chính là ở việc nhà văn đã Nêu ra câu hỏi đó và buộc mọi người cùng suy nghĩ tìm câu trả lời và cùng hành động để đổi thay.

Chính ở điểm này, mình cũng đồng ý với quan điểm của tác giả. Thực ra, không thể có một câu trả lời xác quyết cuối cùng cho câu hỏi việc làm của Như Tô là đúng hay sai, có công hay có tội. Nguyễn Huy Tưởng đã viết và bàn về Như Tô dưới tư cách của một người nghệ sĩ hiểu và cảm thông cho khát vọng sáng tạo, cống hiến của nghệ sĩ, với cái nhìn "biệt nhỡn liên tài" đầy trân trọng và xót thương chứ không phải với tư cách một sử gia với cái nhìn khách quan xoi xét, "đong đếm" đúng sai, công tội để làm tấm gương răn đời.

Nhắc đến đây, mình lại nhớ hồi bé có được học về câu chuyện ngụ ngôn của La Phong Ten: Con ve và con kiến. Câu chuyện kể về ve sầu và kiến ở gần nhà nhau nhưng có hai lối sống hoàn tòan khác biệt. Trong khi kiến cần mẫn, chăm chỉ làm lụng suốt ngày để kiếm ăn thì ve sầu cả mùa hè chẳng chịu làm gì, chỉ dong chơi, ca hát. Đến khi ngọn gió bấc thổi, mùa đông về, ve chẳng có gì ăn trong khi kiến, nhờ quá trình lao động chăm chỉ của mình, không phải lo cái đói, cái rét. Người ta nói, chuyện khuyên nhủ con người phải luôn chăm chỉ lao động (như kiến) và phê phán những người lười lao động (như ve). Thực ra không hẳn vậy. Ve không lười lao động. Nó đã lao động hết mình. Nó là hình ảnh của người nghệ sĩ hết mình cho nghệ thuật. Lao động của nó không phải là hàng ngày đi làm lụng kiếm ăn mà là hát ca cuộc sống. Đó cũng là một hình thức lao động - lao động nghệ thuật. Và nó đã lao động say mê, hết mình, nhiệt thành, không tính toán. Nó hiến đời mình cho nghệ thuật. Nhưng bi kịch của nó chính là ở chỗ không ai hiểu và ghi nhận cho thành quả lao động ấy. Tiếng hát không làm ra được miếng ăn, không chống được cái đói, cái rét khi đông về. Đó chính là bi kịch lớn của người nghệ sĩ (trong lịch sử xã hội thời Trung đại, những người làm nghề hát xướng bị xã hội coi khinh, cho là bọn "xướng ca vô loài").

Vũ Như Tô cũng vậy. Ông là một nghệ sĩ. Một nghệ sĩ chân chính, một tài năng lớn và một nhân cách cao cả. Ông đã lựa chọn và hành động như một nghệ sĩ chân chính. Và chỉ điều đó là có ý nghĩa đối với cuộc hiện sinh của ông, với cuộc đời ông, với khát vọng hòai bão của ông. Dù không được mọi người hiểu và ghi nhận, tác phẩm bị tiêu hủy, tính mạng bị tước đoạt, ông vẫn là một nghệ sĩ lớn. Sự lựa chọn và hành động (xây đài Cửu Trùng) của ông vẫn đáng để ngưỡng mộ và kính phục (nhìn từ góc độ một con người - một nghệ sĩ). Còn việc đài bị đốt trụi, Như Tô, Đan Thiềm bị giết là do "thời thế thế thời phải thế". Vấn đề đặt ra là phải thay đổi "thời thế", thay đổi hòan cảnh xã hội cho nhân văn hơn, tiến bộ hơn, để người nghệ sĩ vừa được tự do phát huy tài năng sáng tạo của bản thân vừa để nghệ thuật của họ phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

Mong được tiếp tục nghe những ý kiến của các bạn!
__________________
"Này Faust, ta mang đến cho ngươi một bản giao kèo." - Lời Mephisto
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến faustvn01 với bài viết này:
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 09. Tính đơn điệu của hàm số (Tài liệu)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 09. Tính đơn điệu của hàm số (Tài liệu)
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Review bài 6+7+8 (Tài liệu)
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Review bài 6+7+8 (Tài liệu)
Chuyên đề lý thuyết vô cơ nâng cao : Bài 6. Lý thuyết hợp chất lưỡng tính
Chuyên đề lý thuyết vô cơ nâng cao : Bài 6. Lý thuyết hợp chất lưỡng tính
Chuyên đề lý thuyết vô cơ nâng cao : Bài 5. Phản ứng axit - bazơ
Chuyên đề lý thuyết vô cơ nâng cao : Bài 5. Phản ứng axit - bazơ
Một số chuyên đề Ngữ văn 12 - Cô Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2014-2015) : Bài 16: Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Phần 1)
Một số chuyên đề Ngữ văn 12 - Cô Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2014-2015) : Bài 16: Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Phần 1)
Hình học 12 - Thầy Trần Viết Kính (2014-2015) :  Bài 11. Tìm tọa độ M thuộc mặt cầu thỏa mãn đk nào đó
Hình học 12 - Thầy Trần Viết Kính (2014-2015) : Bài 11. Tìm tọa độ M thuộc mặt cầu thỏa mãn đk nào đó
Vật lí 12 - Thầy Đặng Việt Hùng (2014-2015) : Bài 2. Mạch điện xoay chiều đơn giản
Vật lí 12 - Thầy Đặng Việt Hùng (2014-2015) : Bài 2. Mạch điện xoay chiều đơn giản
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Bài 8: /θ/, /ð/, /ʒ/, /ʃ/
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Bài 8: /θ/, /ð/, /ʒ/, /ʃ/
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần ba)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần ba)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần hai)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần hai)

Đề thi mới
Ngữ văn 11 : Thơ duyên
Ngữ văn 11 : Thơ duyên
Ngữ văn 11 : Bài kiểm tra Chuyên đề 2
Ngữ văn 11 : Bài kiểm tra Chuyên đề 2
Ngữ văn 11 : Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu
Ngữ văn 11 : Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu
Ngữ văn 11 : Khóc Dương Khuê
Ngữ văn 11 : Khóc Dương Khuê
Ngữ văn 11 : Chương VI. Văn học nước ngoài (tiếp)
Ngữ văn 11 : Chương VI. Văn học nước ngoài (tiếp)
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ II - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ II - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ I - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ I - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Bài Ôn tập về văn học (học kỳ II)
Ngữ văn 11 : Bài Ôn tập về văn học (học kỳ II)
Ngữ văn 11 : Bài 40. Tôi yêu em (Pu-skin)
Ngữ văn 11 : Bài 40. Tôi yêu em (Pu-skin)
Ngữ văn 11 : Bài 39. Người trong bao (Sê-khốp)
Ngữ văn 11 : Bài 39. Người trong bao (Sê-khốp)




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 12:04.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Advertisement System V2.4 By   Branden

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.