Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Ngữ Văn lớp 10 » [Ngữ văn 10] Văn thuyết minh




Trả lời
  #1  
Cũ 21-01-2013
assassin193 assassin193 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 01-06-2012
Bài viết: 22
Đã cảm ơn: 18
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
[Ngữ văn 10] Văn thuyết minh

Như tiêu đề, mong mọi người cho em dàn ý sơ lược bài văn thyết minh về Nguyễn Trãi, Phú sông Bạch Đằng, Đại cáo Bình Ngô ạ, nghĩa là mở bài ,thân bài, kết bài cần nêu những gì và cho em xin cả bài mẫu ví dụ cho 3 bài văn thyết minh trên
Thks mọi người rất nhìu
Tiêu đề

Thay đổi nội dung bởi: happy.swan, 21-01-2013 lúc 18:44.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Cũ 21-01-2013
l0v3_sweet_381's Avatar
l0v3_sweet_381 l0v3_sweet_381 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thư kí
 
Tham gia : 13-01-2013
Bài viết: 782
Điểm học tập:453
Đã cảm ơn: 619
Được cảm ơn 936 lần
Dàn ý thuyết minh về Nguyễn Trãi:
A- Mở bài: Giới thiệu chung về tác giả Nguyễn Trãi.
B- Thân bài: Thuyết minh những nét nỗi bật về sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi:
1.Các sáng tác chính.
2.Nguyễn Trãi – là nhà văn chính luận kiệt xuất.
3.Nguyễn Trãi – là nhà thơ trữ tình xuất sắc.
C – Kết bài
1.Tóm vài nét sơ lược về sự nghiệp thơ văn của tác giả.
2. Cảm nghĩ của bản thân.

_______________________
Nếu cần bài văn thuyết mình thì có thể tham khảo ở đây:
[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
__________________
. . .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn l0v3_sweet_381 vì bài viết này:
  #3  
Cũ 21-01-2013
nguyenhanhnt2012's Avatar
nguyenhanhnt2012 nguyenhanhnt2012 đang ngoại tuyến
Thành viên
Lớp phó
 
Tham gia : 01-06-2012
Đến từ: những đau thương
Bài viết: 854
Điểm học tập:620
Đã cảm ơn: 337
Được cảm ơn 537 lần
Tham khảo

Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là ánh “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.

"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi (1380-1442) là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.

Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.

Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước.

“Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có…”
__________________
Toán+Văn+Anh+Niềm Tin=>F-T-U

Bạn nghĩ bạn có thể hay không thể thì bạn đều ĐÚNG


[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn nguyenhanhnt2012 vì bài viết này:
  #4  
Cũ 21-01-2013
nguyenhanhnt2012's Avatar
nguyenhanhnt2012 nguyenhanhnt2012 đang ngoại tuyến
Thành viên
Lớp phó
 
Tham gia : 01-06-2012
Đến từ: những đau thương
Bài viết: 854
Điểm học tập:620
Đã cảm ơn: 337
Được cảm ơn 537 lần
Tham khảo

Tác giả

Trương Hán Siêu (?-1354), tự là Thăng Phủ, quê ở Ninh Bình. Vốn là môn khách của Hưng Đạo Vương. Dưới triều Trần Anh Tông, Trần Dụ Tông, ông làm quan to trong triều. Lúc mất được truy tặng Thái bảo, được thờ ở Văn Miếu.

Là bậc danh sĩ tài cao học rộng. Hiện còn để lại 4 bài thơ, 3 bài văn, nổi tiếng nhất là "Bạch Đằng giang phú".

"Phú" là gì?

"Phú" nghĩa đen là bày tỏ, miêu tả, là thể văn xuôi có vần dùng để tả cảnh vật, phong tục, tính tình. Phú được chia làm hai loại:

1. Phú cổ thể gọi là Phú lưu thuỷ, như một bài ca, hoặc một bài văn xuôi dài mà có vần.

2. Phú Đường luật là thể phú được đặt ra từ đời Đường vừa có vần vừa có đối, có luật bằng trắc nghiêm nhặt.

Bố cục một bài phú gồm có 6 phần: 1, Lung; 2, Biện nguyên; 3, Thích thực; 4, Phu diễn; 5, Nghị luận; 6, Kết.

Cách đặt câu trong một bài phú gồm có các kiểu sau: Câu tứ tự, câu bát tự, câu song quan, câu cách cú, câu gối hạc.

Có hay chữ (tài giỏi), có tài hoa mới viết được phú. Cần hiểu thi pháp về phú mới cảm nhận được cái hay của văn chương, tư tưởng của phú và văn tế

Chủ đề

"Bạch Đằng giang phú" đã ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ từng ghi bao chiến công oanh liệt của tổ tiên, biểu lộ niềm tự hào về đất nước ta có "đất hiểm" có lắm anh hùng hào kiệt, để đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập thanh bình bền vững.

Những nét lớn cần biết

1. "Bạch Đằng giang phú" được viết theo thể phú lưu thuỷ, có vần, tác giả sử dụng phép đối nhiều chỗ. "Bài ca cuối bài phú" là một sự sáng tạo. Nhân vật "khách" là nhân vật trữ tình - chính là nhà thơ.

2. Đoạn tả cảnh sắc Bạch Đằng giang hùng vĩ tráng lệ bằng cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng lịch sử là đoạn hay nhất:

"Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một mầu
Nước trời: một sắc
Phong cảnh: ba thu
Bờ lau san sát
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gẫy
Gò đầy xương khô..."

3. Bô lão xuất hiện cuộc đối thoại giữa "khách" và "bô lão" làm cho giọng điệu bài phú từ cảm xúc trữ tình chuyển thành anh hùng ca. Nhà thơ tái hiện lại cảnh tượng chiến trường một thời oanh liệt - trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng:

"Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã.
Cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao.
Đương khi ấy
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới.
Tì hổ ba quân.
Giáo gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân,
Chiến luỹ Bắc, Nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi
(...) Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi"

4. Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng khác nào trận Xích Bích, trận Hợp Phì trong Bắc sử. Nhà thơ tự hào khẳng định và ngợi ca:

"Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an...
(...) Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhan ..."

5. Bài ca về sông Bạch Đằng

Sông Bạch Đằng hùng vĩ, là mồ chôn quân xâm lược:

"Sông Đằng một giải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông."
Bài học giữ nước là bài học "đức cao" đó là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết chống xâm lăng. Ý tưởng sâu sắc, tiến bộ:

"Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao."

Tổng kết

"Bạch Đằng giang phú" là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Ngôn ngữ tráng lệ. Dòng sông hùng vĩ, hiểm trở. Dân tộc anh hùng có nhiều nhân tài hào kiệt. Nhà thơ thể hiện những tư tưởng sâu sắc tiến bộ về vinh và nhục, thắng và bại, tiêu vong và trường tồn, đất hiểm và đức cao... Đó là bài học lịch sử sáng giá đến muôn đời.

Có những câu văn như một châm ngôn khẳng định một chân lí lịch sử.

"Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh"
__________________
Toán+Văn+Anh+Niềm Tin=>F-T-U

Bạn nghĩ bạn có thể hay không thể thì bạn đều ĐÚNG


[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn nguyenhanhnt2012 vì bài viết này:
  #5  
Cũ 21-01-2013
assassin193 assassin193 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 01-06-2012
Bài viết: 22
Đã cảm ơn: 18
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
Trích:
Nguyên văn bởi nguyenhanhnt2012 Xem Bài viết
Tác giả

Trương Hán Siêu (?-1354), tự là Thăng Phủ, quê ở Ninh Bình. Vốn là môn khách của Hưng Đạo Vương. Dưới triều Trần Anh Tông, Trần Dụ Tông, ông làm quan to trong triều. Lúc mất được truy tặng Thái bảo, được thờ ở Văn Miếu.

Là bậc danh sĩ tài cao học rộng. Hiện còn để lại 4 bài thơ, 3 bài văn, nổi tiếng nhất là "Bạch Đằng giang phú".

"Phú" là gì?

"Phú" nghĩa đen là bày tỏ, miêu tả, là thể văn xuôi có vần dùng để tả cảnh vật, phong tục, tính tình. Phú được chia làm hai loại:

1. Phú cổ thể gọi là Phú lưu thuỷ, như một bài ca, hoặc một bài văn xuôi dài mà có vần.

2. Phú Đường luật là thể phú được đặt ra từ đời Đường vừa có vần vừa có đối, có luật bằng trắc nghiêm nhặt.

Bố cục một bài phú gồm có 6 phần: 1, Lung; 2, Biện nguyên; 3, Thích thực; 4, Phu diễn; 5, Nghị luận; 6, Kết.

Cách đặt câu trong một bài phú gồm có các kiểu sau: Câu tứ tự, câu bát tự, câu song quan, câu cách cú, câu gối hạc.

Có hay chữ (tài giỏi), có tài hoa mới viết được phú. Cần hiểu thi pháp về phú mới cảm nhận được cái hay của văn chương, tư tưởng của phú và văn tế

Chủ đề

"Bạch Đằng giang phú" đã ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ từng ghi bao chiến công oanh liệt của tổ tiên, biểu lộ niềm tự hào về đất nước ta có "đất hiểm" có lắm anh hùng hào kiệt, để đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập thanh bình bền vững.

Những nét lớn cần biết

1. "Bạch Đằng giang phú" được viết theo thể phú lưu thuỷ, có vần, tác giả sử dụng phép đối nhiều chỗ. "Bài ca cuối bài phú" là một sự sáng tạo. Nhân vật "khách" là nhân vật trữ tình - chính là nhà thơ.

2. Đoạn tả cảnh sắc Bạch Đằng giang hùng vĩ tráng lệ bằng cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng lịch sử là đoạn hay nhất:

"Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một mầu
Nước trời: một sắc
Phong cảnh: ba thu
Bờ lau san sát
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gẫy
Gò đầy xương khô..."

3. Bô lão xuất hiện cuộc đối thoại giữa "khách" và "bô lão" làm cho giọng điệu bài phú từ cảm xúc trữ tình chuyển thành anh hùng ca. Nhà thơ tái hiện lại cảnh tượng chiến trường một thời oanh liệt - trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng:

"Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã.
Cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao.
Đương khi ấy
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới.
Tì hổ ba quân.
Giáo gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân,
Chiến luỹ Bắc, Nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi
(...) Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi"

4. Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng khác nào trận Xích Bích, trận Hợp Phì trong Bắc sử. Nhà thơ tự hào khẳng định và ngợi ca:

"Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an...
(...) Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhan ..."

5. Bài ca về sông Bạch Đằng

Sông Bạch Đằng hùng vĩ, là mồ chôn quân xâm lược:

"Sông Đằng một giải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông."
Bài học giữ nước là bài học "đức cao" đó là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết chống xâm lăng. Ý tưởng sâu sắc, tiến bộ:

"Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao."

Tổng kết

"Bạch Đằng giang phú" là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Ngôn ngữ tráng lệ. Dòng sông hùng vĩ, hiểm trở. Dân tộc anh hùng có nhiều nhân tài hào kiệt. Nhà thơ thể hiện những tư tưởng sâu sắc tiến bộ về vinh và nhục, thắng và bại, tiêu vong và trường tồn, đất hiểm và đức cao... Đó là bài học lịch sử sáng giá đến muôn đời.

Có những câu văn như một châm ngôn khẳng định một chân lí lịch sử.

"Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh"
cám ơn bác nguyenhanhnt2012 và các bác, nhưng bài thuyết minh Phú sông Bạch Đằng bác đưa hình như nhìn vô chỉ thấy bài thơ.....
Bác có bài tham khảo nào hay cái dàn ý để có thể đạt 2,5/5 điểm cho bài viết hông???

Thay đổi nội dung bởi: assassin193, 21-01-2013 lúc 18:43.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Hoá học (Thầy Vũ Khắc Ngọc) :   Bài 20. Một số phương pháp giải toán cơ bản (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Hoá học (Thầy Vũ Khắc Ngọc) : Bài 20. Một số phương pháp giải toán cơ bản (Phần 2)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Hoá học (Thầy Vũ Khắc Ngọc) :   Bài 19. Một số phương pháp giải toán cơ bản (Phần 1)
Luyện thi đại học KIT-1: Môn Hoá học (Thầy Vũ Khắc Ngọc) : Bài 19. Một số phương pháp giải toán cơ bản (Phần 1)
KIT-1: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Thực hành nguyên âm đôi và qui luật âm tiết mạnh/yếu
KIT-1: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Thực hành nguyên âm đôi và qui luật âm tiết mạnh/yếu
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 1. Ánh xạ (Phần 01)
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 1. Ánh xạ (Phần 01)
KIT-1: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Cấu trúc bảng âm và các khái niệm
KIT-1: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Cấu trúc bảng âm và các khái niệm
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 6. Ma trận nghịch đảo (Phần 02)
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 6. Ma trận nghịch đảo (Phần 02)
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 5. Ma trận nghịch đảo (Phần 01)
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 5. Ma trận nghịch đảo (Phần 01)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Chiếc lá cuối cùng (Phần hai)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Chiếc lá cuối cùng (Phần hai)
Hình học tổ hợp - Thầy Phan Huy Khải : Nguyên lí Dirichlet trong Các bài toán về khoảng cách
Hình học tổ hợp - Thầy Phan Huy Khải : Nguyên lí Dirichlet trong Các bài toán về khoảng cách
Hình học tổ hợp - Thầy Phan Huy Khải : Bài 04. Các ví dụ mở đầu về nguyên lý Dirichlet (Phần 03)
Hình học tổ hợp - Thầy Phan Huy Khải : Bài 04. Các ví dụ mở đầu về nguyên lý Dirichlet (Phần 03)

Đề thi mới
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra cuối chuyên đề 1: VHDG Việt Nam
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra cuối chuyên đề 1: VHDG Việt Nam
Ngữ văn 10  10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10 10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10  10 : mainnq
Ngữ văn 10 10 : mainnq
Ngữ văn 10  10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10 10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10  10 : Đề thi
Ngữ văn 10 10 : Đề thi
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Nâng cao
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Nâng cao
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Cơ bản
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Cơ bản
Ngữ văn 10  10 : Chương IV. Văn học nước ngoài
Ngữ văn 10 10 : Chương IV. Văn học nước ngoài
Ngữ văn 10  10 : Chương III. Văn học  Việt Nam từ thế kỉ X...
Ngữ văn 10 10 : Chương III. Văn học Việt Nam từ thế kỉ X...
Ngữ văn 10  10 : Chương II. Văn học dân gian nước ngoài
Ngữ văn 10 10 : Chương II. Văn học dân gian nước ngoài




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 10:31.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.