Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Ngữ Văn lớp 10 » Văn bản nghị luận » Phân tích tác phẩm Bình ngô đại cáo




Trả lời
  #1  
Cũ 22-01-2012
conan99's Avatar
conan99 conan99 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ trưởng
 
Tham gia : 14-10-2011
Đến từ: Thế giới của những con số
Bài viết: 386
Điểm học tập:75
Đã cảm ơn: 181
Được cảm ơn 396 lần
Phân tích tác phẩm Bình ngô đại cáo

Phân tích đoạn trích " Bình ngô đại cáo " trong SGK và tóm tắt cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Bài tập tết cần giúp ra tết phải nộp
__________________
Conan99
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến conan99 với bài viết này:
  #2  
Cũ 22-01-2012
huck's Avatar
huck huck đang ngoại tuyến
MEMVIP
Tớ là Ếch xanh
Bio Hero
Tớ là Ngôi sao nhỏ

Vạn sự khởi đầu nan
Lớp phó
 
Tham gia : 19-08-2011
Đến từ: •°¤*(¯`°ε[-ิิ_•ิ]зỞ đâu còn lâu mới nói=))ε[•ิ_-ิิ]з°´¯)*
Bài viết: 836
Điểm học tập:469
Đã cảm ơn: 1,610
Được cảm ơn 1,915 lần
Tham khảo nha^^~

Phân tích đoạn trích:

Bình Ngô đại cáo là hiện tượng có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam. Với ngòi bút của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi - nhân vật toàn tài số một của thời phong kiến - bài cáo không chỉ là sự tuyên bố về thắng lợi của sự nghiệp “Bình Ngô” như mệnh lệnh mà Lê Lợi giao phó. Hơn thế, tác phẩm đã trở thành áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Và điểm cốt lõi mà “Bình Ngô đại cáo” thể hiện ở cả hai tư cách ấy chính là lý tưởng “nhân nghĩa” mà nhân dân ta mãi mãi ngợi ca và hướng tới.
Lý tưởng nhân nghĩa của nhân dân ta là điểm cốt lõi đã được Nguyễn Trãi khẳng định một cách mạnh mẽ ngay từ câu đầu tiên của tác phẩm :
“Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”
Nhân nghĩa trước hết và hơn đâu hết được thể hiện ở mục tiêu an dân. Đem lại cuộc sống ấm no, yên ổn cho dân vốn là tư tưởng cả đời Nguyễn Trãi theo đuổi. Trong thơ văn của mình, ông không ít lần nhắc đến điều đó :
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng.
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Cũng luôn cánh cánh “làm cho khắp thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu”. Điều quan trọng là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí, một lý tưởng. Mặt khác, ngay ở những câu đầu tiên Nguyễn Trãi không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn ông đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Đó là trừ bạo, an dân. Muốn theo đuổi và thi hành tư tưởng nhân nghĩa không có cách nào hơn là hướng tới cuộc sống nhân dân.
Vấn đề cốt lõi đó của tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện ở cả hai mặt thống nhất : quan tâm đến sự yên ổn, no ấm cho dân cũng đồng nghĩa với việc phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù của nhân dân, diệt trừ những kẻ tham tàn bạo ngược. Kẻ thù của nhân dân ở đây được Nguyễn Trãi xác định cụ thể là kẻ thù xâm lược, là bọn “cuồng Minh” giày xéo lên cuộc sống nhân dân gây ra bao tai hoạ, đến mức:
Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội.
Nhơ bẩn thay thay nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi
Đây là một nét mới mà Nguyễn Trãi chỉ ra trong tư tưởng nhân nghĩa dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử dân tộc. Nội dung này không thấy trong tư tưởng, triết lý nhân nghĩa của đạo lý Khổng - Mạnh. Ngay trong nét nghĩa mới này vẫn thể hiện sự nhất quán với truyền thống nhân nghĩa đã xác định ở đầu tác phẩm.
Nhân nghĩa trước hết thể hiện ở lòng thương dân, chăm lo cho nhân dân. Cao hơn thế, trong quan hệ với kẻ thù xâm lược, tư tưởng ấy vẫn thể hiện một cách sáng ngời: chúng ta đánh giặc bằng mưu kế và đánh vào lòng người: “mưu phạt, tâm công”. Với tư cách là vị quân sư lỗi lạc của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã không ít lần dùng những áng văn chính luận “có sức mạnh hơn 10 vạn binh” của mình để công phạt, khuất phục kẻ thù khiến cho bọn chúng “chẳng đánh mà chịu khuất”. Không những thế, khi bọn chúng đã khuất phục, đã đầu hàng nhân dân ta luôn mở cho chúng con đường sống:
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Cấp cho phương tiện trở về:
Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền...
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa...
Dùng nhân nghĩa để đối xử với kẻ bại trận, xoa dịu hận thù để không gây hậu họa về sau cũng chính là đại nghĩa với nhân dân vậy. Bởi lẽ, như bài cáo đã khẳng định "Họ đã ham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng / Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức".
Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa của nhân dân ta được Nguyễn Trãi thể hiện trong bài cáo vừa toàn diện, vừa cụ thể ; vừa chỉ ra điểm cốt lõi, cơ bản vừa bổ sung những khía cạnh mới mẽ. Bởi thế nó trở thành điểm ngời sáng trong tư tưởng nhân dân, là tiền đề cho mọi hành động. Soi chiếu vào thực tiễn cuộc kháng chiến tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp ấy còn là căn nguyên tạo nên sức mạnh cho nghĩa quân Lam Sơn :
Đem đại nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân thay cường bạo
Với lí tưởng nhân nghĩa ấy, quân dân ta có thể khắc phục và vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể :
Khi Linh Sơn lương het mấy tuần.
Khi Khôi Huyện quân không một đội
Để rồi từ đó có thể lấy ít địch nhiều, dùng yếu chống mạnh mà làm nên thắng lợi vang dội, giúp cho :
Xã tắc từ đây bền vững
Giang sơn từ đây đổi mới
...Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu
Có thể nói, Nguyễn Trãi đã tổng kết tư tưởng nhân nghĩa của nhân dân ta thành một truyền thống, một nguyên lý cao đẹp bằng những lý luận và dẫn chứng đanh thép cùng những hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi tả. Lí tưởng nhân nghĩa ấy sẽ còn mãi trường tồn cùng sự vững bền vĩnh cửu của dân tộc, đất nước.

Tóm tắt cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) sau rời về làng Ngọc Ổi (nay thuộc Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ Thái học sinh. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quí tộc. Ông ngoại và cha đều là người có lòng yêu nước thương dân. Nguyễn Trái đã được thừa hưởng tấm lòng vì dân vì nước ấy.
Ông là vị quân sư xuất sắc giúp Lê Lợi chiến lược, chiến thuật trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược.

Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào thực hiện hoài bão xây dựng đất nước thái bình thịnh trị, vua hoà dân mục, thì bỗng dưng bị chặn lại: ông bị nghi oan và bị bắt giam. Sau đó, ông được tha nhưng không được tin dùng nữa. Mười năm (1429-1439) Nguyễn Trãi chỉ được giao chức "nhàn quan", không có thực quyền. Ông buồn, xin về Côn Sơn (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Mấy tháng sau, Lê Thái Tông lại vời ông ra làm việc nước. Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra thảm hoạ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam: ngày 01 tháng 9 năm 1442, sau khi nhà vua đi duyệt võ, đã vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Khi vua dời Côn Sơn, về đến Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh) bị chết đột ngột. Lúc chết có Nguyễn Thị Lộ, người thiếp của Nguyễn Trãi, lúc ấy phụ trách dạy dỗ các cung nữ (chức Lễ nghi học sĩ) hầu bên cạnh. Bọn triều thần bấy lâu nay muốn hãm hại Nguyễn Trãi, nhân cơ hội này liền vu cho ông cùng Nguyễn Thị Lộ mưu giết vua, khiến ông phải nhận án tru di tam tộc (bị giết cả ba họ)
Nỗi oan tầy trời ấy, hơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải toả.
Nguyễn Trãi là một thiên tài nhiều mặt hiếm có. Đại cáo bình Ngô tuy viết bằng chữ Hán nhưng xứng đáng là áng "Hùng văn muôn thuở". Quốc âm thi tập là tập thơ tiếng Việt (chữ Nôm) sớm nhất có giá trị lớn còn lại đến ngày nay. Nguyễn Trãi đã góp phần xây đắp nền móng vững chãi cho văn học dân tộc.
Nguyễn Trãi - Bậc đại anh hùng dân tộc, nhân vật toàn tài số 1 của lịch sử Việt Nam. Ở Nguyễn Trãi có 1 nhà chính trị, 1 nhà quân sự, 1 nhà ngoại giao, 1 nhà văn, 1 nhà thơ mang tầm cỡ kiệt xuất vĩ đại.
__________________


Cái giá của hạnh phúc là ràng buộc?
Cái giá của tự do là cô đơn?
Nhưng gió sẽ chẳng còn là gió nếu nó mất tự do...


{♥}....ŊǿŦħĮŋĢ....{♥}

Thay đổi nội dung bởi: huck, 22-01-2012 lúc 12:33.
Trả Lời Với Trích Dẫn Đúng Sai
Có 7 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến huck với bài viết này:
  #3  
Cũ 22-01-2012
pokemon_011 pokemon_011 đang ngoại tuyến
Thành viên
Lớp trưởng
 
Tham gia : 30-09-2011
Đến từ: Thái Nguyên
Bài viết: 1,114
Điểm học tập:337
Đã cảm ơn: 561
Được cảm ơn 1,042 lần
Phân tích đoạn trích:
Tác giả Nguyễn Trãi sinh năm 1380 quê ở Chí Linh Hải Dương là bậc kì tài về chính trị, quân sự, văn học từng theo Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh lập nhiều công lao cho nước nhà. Về sự nghiệp văn chương ông có nhiều tác phẩm lớn như Bình Ngô Đại Cáo, Quân Trung Từ Mệnh Tập, Quốc Âm Thi Tập, ức Trai Tập… bài “Bình Ngô Đại Cáo” là một thiêng cổ hùng văn của lịch sử trung đại nhất là đoạn một của tác phẩm đã nói lên gần hết mục đích bài cáo.
Cáo là thể văn để thông báo về những việc của đất nước gồm hai loại cáo thường và đại cáo. “Bình Ngô Đại Cáo” thuộc loại đại cáo được Nguyễn Trãi viết sau khi đánh bại quân Minh. Đoạn một bài cáo là chủ đề tác phẩm được viết như sau:
”Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi. “
Nói về đoạn một giống như bốn đoạn khác của bài cáo được viết theo lối biền ngẫu vần đối với nhau, mỗi câu dài ngắn khác nhau để thể hiện được chất hào khí. Ở đầu bài cáo ta thấy được luận đề chính nghĩa đã nêu ra
”Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Như vậy việc nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở đây là yên dân và trừ bạo. Yêu dân chính là giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như vậy dân có yên thì nước mới ổn thật sự phù hợp với hoàn cảnh đất nước mới đánh đuổi giặc Minh. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý lấy dân làm gốc cho đến nay nước ta cũng làm như vậy. Việc nhân nghĩa tiếp theo chính là trừ bạo, bạo chính là quân nhà Minh, bọn gian tà bán nước cầu vinh chuyên đi hà hiếp nhân dân. Hai việc này tưởng như khác nhau nhưng lại rất có liên quan vì nếu không yên dân tất cường bạo khó yên nên hai việc này được nhấn mạnh và tiến hành cùng lúc.
Luận đề chính nghĩa của Nguyễn Trãi có sự nhân đạo và cả cho trị nước vốn là hai việc ông luôn muốn làm.Đoạn tiếp theo cũng là nội dung được nhấn mạnh của bài cáo chính là nền độc lập. Nền độc lập Nguyễn Trãi đã khẳng định nền độc lập qua các câu sau:
”Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có. “
Nền độc lập của ta được Nguyễn Trãi liệt kê ra năm yếu tố thứ nhất là nền văn hiến, mỗi quốc gia, dân tộc đều phải có nền văn hiến riêng của mình từ văn hoá, xã hội, lịch sử tất cả đều khác và có nét riêng của mình như để khẳng định nền văn hiến đã có từ lâu không phải ai cũng có được. Thứ hai chính là cương thổ là núi, sông, đồng ruộng, biển cả đã được chia rõ ràng. Thứ ba là phong tục tập quán cũng như văn hoá nỗi miền Bắc và Nam. Ở đây là nhấn mạnh Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn. Thứ tư là triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền và thứ năm chính là nhân tài, là con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Từ năm yếu tố Nguyễn Trãi đã khái quát gần như toàn diện về nền độc lập của một quốc gia so với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, thật sự hay hơn về nội dung và đầy đủ, toàn diện hơn về một bản tuyên ngôn độc lập. Phần còn lại là chứng cớ để khẳng định nền độc lập, về các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử chúng đều thất bại là chứng cớ khẳng định rõ nhất.Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một - cũng như là bài cáo - chính là thể văn biền ngẫu được Nguyễn Trãi viết rất tài tình như câu:
”Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương”
Bốn triều đại mạnh nhất của ta với bốn triều đại hùng mạnh của Trung Quốc chứng tỏ ta chẳng hề thua kém gì chúng.
Đoạn trích đặt ở đầu bài cáo thể hiện được hai nội dung chính gần như hết bài cáo là nhân nghĩa và nền độc lập của dân Đại Việt. Chính vì vậy, đoạn trích có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta qua việc khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền độc lập riêng của mình.
Đoạn mở đầu là một sự thành công của Nguyễn Trãi là sự mở đầu của một áng văn thiêng cổ như ‘Bình Ngô Đại Cáo” giúp ta khẳng định các nội dung chính của bài cáo. Sự thành công rực rỡ của bài cáo không thể thiếu đoạn mở đầu. Từ đó đem lại sự tự hào cho dân tộc ta từ thời đại của Nguyễn Trãi cho đến tận ngày nay
__________________
Nếu một ngày bạn cảm thấy buồn và muốn khóc,hãy gọi cho tôi nhé.
Tôi không hứa sẽ làm cho bạn cười nhưng có thể tôi sẽ khóc cùng với bạn.

Và nếu một ngày nào đó bạn không muốn nghe ai nói nữa,hãy gọi cho tôi nhé.
Tôi sẽ đến bên bạn và chỉ im lặng.
Nhưng nếu một ngày bạn gọi đến tôi mà không thấy tôi hồi âm...
Hãy chạy thật nhanh đến bên tôi vì lúc đó tôi mới là người cần bạn.
Trả Lời Với Trích Dẫn Đúng Đáp án hay hơn Thông báo xác nhận sai
Có 10 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến pokemon_011 với bài viết này:
  #4  
Cũ 25-02-2012
s2linhs2 s2linhs2 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 25-02-2012
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
giúp tớ với ai làm được bài soạn bình ngô đại cáo k?
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn s2linhs2 vì bài viết này:
  #5  
Cũ 26-12-2012
kakashi05's Avatar
kakashi05 kakashi05 đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn phó
 
Tham gia : 16-12-2012
Bài viết: 66
Điểm học tập:39
Đã cảm ơn: 36
Được cảm ơn 21 lần
"bình ngô đại cáo" là "án thiên cổ hùng văn" thể hiện thiên tài của NT,đỉnh cao về tư tưởng ,và nghệ thuật của nền văn hiến đại việt trong thế kỉ XV.cùng với "lam sơn thực lục....","quân trung từ mệnh tập","ức trai thi tập","quốc âm thi tập",...."bình ngô đại cáo"đã làm cho ngôi sao Khuê trở nên tỏa sáng và lấp lánh ngàn thu.
mùa xuân năm 1428,cuộc kháng chiến 10 năm chống quân minh xâm lược hoàn toàn thắng lợi.Nt đã thay lời lê lợi viết "bình ngô đại cáo" tổng kết cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc "nên công oanh liệt ngàn năm",tuyên bố nước đại việt bước vào 1 kỉ nguyên mới độc lập bền vững,"muôn thủa nền thái bình vững chắc",....
1.nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của "bình ngô đại cáo",là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa lam sơn:
"việt nhân nghĩa cốt ở yên dân,
quân điếu phạt trước lo trừ bạo".
dấy quân khởi nghĩa vì thương dân,trừng phạt kẻ có tội(điếu phạt),tiêu diệt bọn giặc tàn bạo,đem lại cuộc sống yên vui cho nhân dân (yên dân),đó lả việc nhân nghĩa.nhân nghĩa vốn là học thuyết của nho giáo đầ cao đạo đức,tình nhân ái giữa con ng` với nhau.NT đã típ thu tư tưởng nhân nghĩa của nho giáo theo hướng lấy lợi ích của nhân dân và của dân tộc làm gốc. với NT,nhân nghĩa là iu nước,thương dân,fải đánh giặc để cứu nước,cứu dân ;"triết lí nhân nghĩa cũa NT chẳng wa là lòng iu nước thương dân: cái nhân nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng,chống ngoại xâm,diệt tàn bạo,vì độc lập của đất nước,hạnh phúc của nhân dân" (Phạm Văn Đồng).trong nhiều bức thư gửi tướng tá giặc minh, NT đã đứng trên lập trường của nhân dân và dân tộc,nêu cao nhân nghãi,cạch trần tội ác và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của bè lũ chúng: "nước mầy nhân dịp họ Hồ lỗi đạo,mượn tiếng là "điếu dân phạt tội"kì thực làm việc bạo tàn,ăn cướp đất nước ta,bốc lột nhân dân ta,thuế nặng hình phiền,vơ vét của quý,dân mọn các làng ko được sống yên. nhân nghĩa mà lại thế ư? "
(lại thư trả lời Phương Chính)
trên lập trường nhân nghĩa, NT đã khẳng định nền văn hóa VN,nền văn hiến Đại Việt và con ng` VN,1 dân tộc văn minh,anh hùng.lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng,NT đại diện cho đất nước chiến thắng đã nêu cao già trị lớn lao của truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta:
"nhu nước đại việt ta từ trước,
vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
núi sông bờ cõi đã chia,
phong tục bắc nam cũng #
từ triều đinh,lê,lí,trần,bao đời gây nân độc lập,
cùng hán,đường,tống,nguyên, mỗi bên xưng đế 1 phương.
tuy mạnh yếu từng lúc # nhau
song hào kiệtđời nào cũng có".
nền văn hiến đại việt,nền "văn hóa thăng long" được hình thành,xây đựng và phát triển wa 1 wa' trình lịch sử "đã lâu",đã có "từ trước" đằng đằng mấy nghìn năm. đại việt ko chỉ có lãnh thổ chủ quyền "núi sông bờ cõi",mà còn có thuần phong mĩ tục mang bản sắc riêng,có lịch sử riêng,chế độ riêng "bao đời gây nền độc lập",đã từng "xưng đế 1 vương",có nhìu nhân tài,hào kiệt. phải có mấy trăm năm độc lập dưới các triều đại đinh,lê,lí,trần....,fải có những trang sử vàng chói lọi (Lưu Cung thất bại,Triệu Tiệt tiêu vong,Toa Đô,O Mã Nhi bị giết tươi,bị bắt sống,...) fải có những con ng` "trí mưu tài thức" đã làm nên "thi thư " của đại việt,của nên văn minh sông hồng, thì NT mới có thể viết nên những lời tuyên ngôn đĩnh đạc hào hùng như vậy.nếu như 400 năm về trước,trong "nam quốc sơn hà",lí thường kiệt chỉ mới xác định được hai nhân tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia và lập trường dân tộc, thì trong "bình ngô đại cáo", NT đã bổ sung thêm 4 nhân tố nữa,đó là :văn hiến,phong tục,lịch sử và nhân tài. diều đó cho thấy ý thức dân tộccủa nhân dân ta đã phát triển trên 1 tầm cao mới trong thế kỉ XV,và đó cũng là tinh anh,tinh hoa của tư tưởng NT.
2. quân cuồng minh đã thừa cơ gây hoạ.
năm 1407,nhà minh sai trương phụ,mộc thạnh mang mấy chục vạn quân kéo sang xâm lược nước ta.lúc đầu thì lấy cớ "phù trần diệt hồ",nhưng sau đó,chúng đã chia cắt đất nước ta thành quận,huyện,thi hành 1 chính sách cai trị vô cùng độc ác :
"quân cuồng minh đã thừa cơ gây hoạ,
bọn gian tà còn bán nước cầu vinh".
NT đã căm giận lên án tội ác vô cùng dã man của quân "cuồng minh".chúng đã tàn sát nhân dân ta 1 các man rợ :
"nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ".
sử sách còn ghi lại bao tội ác chống chất của giặc minh trong suốt 1 thới gian dài hơn 20 năm "dối trời lừa dân,đ3 muôn nghìn kế" : rán mỡ ng` để lấy dầu,rút ruột ng` treo lên cây,thui ng` trên giàn lửa,phanh thây đàn bà có thai,...chúng bất nhân dân ta fải xuống biển mò ngọc trai,lên rừng sâu đãi cát,tìm vàng,cống nạp ngà voi,hươu đen,trả biếc...sưu thuế chồng chất,phu phen lao dịch nặng nề.chúng đã tàn fá môi sinh,môi trường,dồn nhân dân ta vào bước đường cùng,vào hố diệt vong:
"bại nhân nghĩa nát cả đất trời
nặng thuế khóa sạch ko đầm núi
(...)vét sản vật,bắt chim trả,chốn chốn lưới chăng
nhiễu nhân dân,bẫy huơu đen,nơi nơi cạm dặt
tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng..."
đằng sau những hành động dã man,mưu mô xảo quyệt,là bộ mặt ghê tỏm lũ ác ôn,bầy wỷ sứ fương bắc đang hoành hành trên xương máu.nước mắt,trên tính mạng và tài sản nhân dân ta :"thằng há miệng,đứa nhe răng,máu mỡ bấy no nê chưa chán". tội ác của giặc minh đối với nhân dân ta,ko thể ghi hết tội,ko thể rửa hết mùi dơ bẩn,trời đất ko thể dung tha,ng` ng` đều cặmận.câu văn cảm thán của NT cắt lên như 1 lời nguyền,chất chứa căm hờn,oán jận,xúc động lay tỉnh hổng ng`:
"độc ác thay,trúc nam sơn ko ghi hết tội
dơ bẩn thay,nước đông hải ko rửa sạch mùi!"
lấy trúc nam sơn,sông đông hải,cái vô hân để nói về tội ác và sự nhơ bần của quân "cuồng minh",cái cùng cực,cái vô cùng, NT đã ghi sâu vào lòng ng`,vào bia miệng đến nghìn năm vẫn chưa fai. NT đã từng "tiển cha lên ải bắc...",từng nếm mật nằm gai,là chứng nhân của lịch sữ gọi vua nhà minh hiếu chiến là "giảo đồng" (trẻ ranh, nhảy ranh),lũ tướng tá giặc minh là đồ "nhút nhát".đó cũng là tiếng nói căm thù,khing bỉ,là ý chí sắt đá chống quân xâm lược ,chống lũ bành trướng phương bắc tham tàn,hiếu chiến:
"thằng nahỹ ranh Tuyên Đức động binh ko ngừng,
đồ nhút nhát Thạnh,Thăng đem dầu chũa cháy!".
.ta đây núi lam sơn dấy nghĩa
lãnh tụ cuộc khỡi nghĩa là lê lợi.trong bic vĩnh lăng,các bài thơ "hạ tiệp","đề kiếm"...đều có nói đến lê lợi,nhưng chỉ trong "BInh2 ngô đại cáo",lê lợi mới được thể hiên 1 cách tuyệt đẹp,tiêu biểu cho tinh hoa và khí phách của đại việt.là 1 anh hùng của nhân dân già lòng iu nước,nuôi chí lớn phục thù,phục quốc,đã từng nhìu năm mai danh ẩn tích đón đợi thời cơ:
"ta đây,
núi lam sơn dấy nghĩa.
chốn hoang dã nương mình".
con ng` ấy đã gắn bó với nhân dân,đã đau trong nỗi đau lấm than của dân tộc,đã "nếm mật nằm gai",đã "đau lòng nhức óc suốt mấy chục năm trời",quyết ko đội trời chung với giặc:
"ngẫm thù lớn há đội trời chung,
căm giặc nước thề ko cùng sống"
con ng` ấy tiêu biểu cho trí tuệ VN,có 1 nhãn wan lịch sữ nhìn suốt thời gian và nắm chắc vận mệnh dân tộc:
"quên ăn vì jận,sách lược sao suy xét đã tinh,
ngẫm trước đến nay,lẽ hưng phế đắn đo càng kĩ
những trần trọc trong cơn mộng mị
chỉ băn khoăn 1 nổi đồ hồi".
ngày đầu khởi nghĩa,quân ko wa' 2000 ng`,có lúc "cơm ăn thì sớm tối ko được 2 bữa,áo mắc thì đông hè chỉ có 1 manh,...khí giới thì thật tay ko". (quân trung từ mệnh tập).thế và lực,giữa ta và giặc vô cùng chênh lệch :"vừa lúc cờ khởi nghĩa dấy lên-chính lúc quân thù đang mạnh". khó khăn,thử thách chồng chắt nặng nề.ngặt nghèo nhất là thiếu nhân tài hào kiệt:
"tuấn kiệt như sao buổi sớm
nhân tài như lá mùa thu
việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần
nơi duy ác hiếm ng` bàn bạc".
ng` anh hùng áo vải lam sơn,1 mặt "cỗ xe cầu hiền,thường chăm chăm còn danh fía tả",mặc # nêu cao quyết tâm "gắng chí phục thù jan nan",đồng cam cộng khổ với tướng sĩ,đoàn kết toàn dân để đánh giặc:
"nhân dân 4 cõi 1 nhà,dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới,
tướng sĩ 1 lòng phụ tử,hòa nước sông chén rượu ngọt ngào".
sức mạnh của nghĩa quân bất nguồn từ sức mạnh vô tận của nhân dân,của lực lượng đông đảo "manh lệ chi đồ tứ tập",của đoàn nghĩa sĩ "phụ tử chi binh nhất tâm".điều đó cho thấy cuộc khởi nghĩa lam sơn là 1 cuộc chiến tranh nhân dân do ng` anh hùng áo vải lãnh đạo.sức mạnh của nhân dân,tài năng xuất chúng của lãnh tụ là nguồn gốc của chiến thắng.ng` anh hùng ấy là 1 thiên tài quân sư "sách lược thao suy xét đã tinh...lẽ hưng phế đắn đo càng kĩ".ng` anh hùng ấy đã phát huy tinh hoa nền quân sự VN,để chỉ đạo chiến tranh,phát huy mọi tiềm năng của dân tộc,của tướng sĩ để chiến đấu và chiến thắng:
"thế trận xuất kì,lấy yếu chống mạnh
dùng quân mai phục,lấy ít địch nhiều"
có thể nói,cảm xúc trữ tình trong "bình ngô đại cáo" được thể hiện wa hình ảnh lê lợi,ng` anh hùng nghĩa quan lam sơn.lê lợi vừa bình dị,vừa vĩ đại,vị cứu tinh của đất nước xuất hiện và nếm trãibao cay đắng lầm than cùng nhân dân,từ máu đổ xương tan mà "nên công oanh liệt ngàn năm".NT đã có sự nhập thân,hóa thân kì diệu khi thể hiện tài trí,khí phách và tầm vóc vĩ đại của lê lợi,1 mặt nêu cao lòng tự hào dân tộc,tự hào về nền văn hiến VN,mặt # cũng thể hiện nhân cách,chí hướng,tài trí và tâm huyệt của mình.với cảm hứng anh hùng và cảm xúa trữ tình,NT đã dành những câu văn,đoạn văn đẹp nhất khi khac91 họa hình ảnh vị lãnh tụ nghĩa quân lam sơn.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 5 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến kakashi05 với bài viết này:
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 19. Bài toán chứa tham số - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 19. Bài toán chứa tham số - thầy Lưu Huy Thưởng
Toán 11 - Thầy Nguyễn Thanh Tùng : Bài 14. Luyện tập quan hệ song song
Toán 11 - Thầy Nguyễn Thanh Tùng : Bài 14. Luyện tập quan hệ song song
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Phạm Ngọc Sơn) :  Bài 37. Nhôm và hợp chất của nhôm
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Phạm Ngọc Sơn) : Bài 37. Nhôm và hợp chất của nhôm
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Phạm Ngọc Sơn) :  Bài 35. Kim loại kiềm thổ và hợp chất của kim loại kiềm thổ
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Phạm Ngọc Sơn) : Bài 35. Kim loại kiềm thổ và hợp chất của kim loại kiềm thổ
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Phạm Ngọc Sơn) :  Bài 34. Kim loại kiềm và hợp chất của kim loại kiềm
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Phạm Ngọc Sơn) : Bài 34. Kim loại kiềm và hợp chất của kim loại kiềm
Bồi dưỡng Học sinh giỏi Toán 5 : Bài 6. Tìm 2 số khi hiệu không đổi và biết hai tỉ số
Bồi dưỡng Học sinh giỏi Toán 5 : Bài 6. Tìm 2 số khi hiệu không đổi và biết hai tỉ số
Bồi dưỡng Học sinh giỏi Toán 5 : Bài 5. Tìm 2 số khi tổng không đổi và biết hai tỉ số
Bồi dưỡng Học sinh giỏi Toán 5 : Bài 5. Tìm 2 số khi tổng không đổi và biết hai tỉ số
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : REVIEW UNITS 7+8 (Tài liệu)
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : REVIEW UNITS 7+8 (Tài liệu)
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 18. PP đơn điệu của hàm số ( P2) - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 18. PP đơn điệu của hàm số ( P2) - thầy Lưu Huy Thưởng
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : REVIEW UNITS 4+5+6 (Tài liệu)
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : REVIEW UNITS 4+5+6 (Tài liệu)

Đề thi mới
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra cuối chuyên đề 1: VHDG Việt Nam
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra cuối chuyên đề 1: VHDG Việt Nam
Ngữ văn 10  10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10 10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10  10 : mainnq
Ngữ văn 10 10 : mainnq
Ngữ văn 10  10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10 10 : Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
Ngữ văn 10  10 : Đề thi
Ngữ văn 10 10 : Đề thi
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Nâng cao
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Nâng cao
Ngữ văn 10  10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Cơ bản
Ngữ văn 10 10 : Đề kiểm tra học kỳ II - Cơ bản
Ngữ văn 10  10 : Chương IV. Văn học nước ngoài
Ngữ văn 10 10 : Chương IV. Văn học nước ngoài
Ngữ văn 10  10 : Chương III. Văn học  Việt Nam từ thế kỉ X...
Ngữ văn 10 10 : Chương III. Văn học Việt Nam từ thế kỉ X...
Ngữ văn 10  10 : Chương II. Văn học dân gian nước ngoài
Ngữ văn 10 10 : Chương II. Văn học dân gian nước ngoài




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 12:12.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.