Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Ngữ Văn lớp 11 » Văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX » Thương vợ (Trần Tế Xương) » "Thương vợ" của Trần Tế Xương.




Trả lời
  #1  
Cũ 28-10-2011
phamhuong1995 phamhuong1995 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 06-12-2010
Bài viết: 2
Đã cảm ơn: 0
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
"Thương vợ" của Trần Tế Xương.

Mọi người ơi! Giúp mình làm bài văn này với. Đề baif là: Hình ảnh bà Tú trong "Thương vợ" của Tú Xương.

>> Bạn chú ý viết Tiếng Việt có dấu nhé!

Thay đổi nội dung bởi: thiensubinhminh123, 28-10-2011 lúc 13:17.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn phamhuong1995 vì bài viết này:
  #2  
Cũ 24-12-2011
anhtraj_no1 anhtraj_no1 đang ngoại tuyến
MEM VIP
Bí thư liên chi
 
Tham gia : 31-07-2011
Đến từ: ${\color{red}\circledast}{\color{red}\circledast}{\color{red}\circledast}{\color{red}\circledast}$
Bài viết: 4,100
Điểm học tập:2707
Đã cảm ơn: 4,000
Được cảm ơn 3,732 lần
Ca dao có câu : Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm sông hương mặc người.
Qủa thật đó là 1 lời khẳng định chắc chắn về 1 tấm lòng thuỷ chung son sắt, một tình cảm thương yêu mà người phụ nữ dành cho chồng mình. Trải qua nhiều năm chúng ta lại bắt gặp những tình cảm đó ở bà Tú trog bài "Thương Vợ " của Trần Tế Xương.Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận.
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không
TB: Có thể nói bài thương vợ là một bài thơ tâm sự thấm đượm nghĩa yêu thương. Mở đầu bài thơ Tú Xương đã khắc hoạ hình ảnh của vợ mìnhvới bao vất vả lo toan.
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
ở đây bà tú là một người vợ hiền thục, đảm đang và cũng chịu thương chịu khó. Được mang danh là bà tú nhưng bà lại phải "quanh năm buôn bán ở mom sông". Từ "quanh năm" như khẳng định một cái vòng xoáy của thời gian cũng là vòng quay trong công việc của bà. Công việc của bà cứ liên tiếp nối nhau cho đến hết ngày này qua ngày nọ. Nó không chỉi là cơ cực, vất vả , dải nắng dầm mưa mà đôi vai nhỏ bé của bà fải ghánh chịu,mà bà còn phải ghánh chịu bao mánh khoé của cuộc đời đen bạc. Rồi những khi thời tiết càng khắc nhiệt, địư thế càng khó khăn hiểm trở thì bà l;ại phải cố gắng nhiều hơn để "nuôi đủ năm con với một chồng"không chỉ nuôi đủ cho ông Tú mà còn fải "nuôi đủ năm con". Tác giả không nói vợ mình nuôi đủ sáu người mà lại nói "nuôi đủ năm con với một chồng"ở đây từ"với" đã làm tăng thêm sự đông đúc trong gia đình. Sự vất vả của bà lại càng tăng thêm:
Lặn lội thân cò khi quảng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Hình ảnh "thân cò khi quảng vắng" đã đêm đến cho người đọc nhiều liên tưởng xúc động qua ca dao
Con cò lặn lội bờ sông
Ghánh gạo nuôi chồng nước mắt nỉ non
Hoặc: con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Khi màn đêm buông xuống thì tất cả đã vào giấc ngủ say mê sau một ngày lao động mệt mỏi thì cò còn phải mò mẫm trong đêm tối để kiếm ăn. Phải chăng đây là hình ảnh của bà tú?Bằng cách sử dụng các từ láy"eo sèo", "lặn lội". Trần Tế Xương đã làm tăng thêm tính cam go, dai dẳng trong công việc của Vợ mình.
Trong hoàn cảnh ấy thì con người thường có ý nghĩa tiêu cực nhưng đối với bà tú thì bà không than thân, trách phận mà tự an ủi minh:
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Bà Tú lấy ông Tú xuất phát từ cái duyên, cái số, từ dây tơ hồng của ông tơ bà nguyệt. Chính vì lẽ đó dù"năm nắng mười mưa" để lo cho gia đìnhbà cũng" âu đành phận"và" chẳng dám quản công". Hơn nữa bà Tú sống với ông Tú đã có năm con, cùng nhau chia ngọt sẽ bùi, vượt qua bao sống gió nên bà hiểu rõ ông, do đó mà bà hôk hề than vãn. Phải chăng hiểu được vợ mà ông tú đã" thương vợ "hơn, muốn cùng vợ ghánh vác lo toan, nhưng:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
Có lẽ đây là lời nói của tác giả, thương vợ, thương cho mình, Tú Xương đã mượn lời vợ mình để chữĩ cả một cái xã hội với bao thói đơìư ăn ở bạc, bất công vì những người có tài như ông mà trở thành người thừa trong xã hội, Ông còn chưĩư chính mình vì ông cho rằng ông là người chồng hờ hững, vô tích sự.
KB:Qua đây ta thấy bài "thương vợ" là một bài thơ hay của tác giả với phong cách trữ tình. Bài thơ miêu tả bà túi nhưng ẩn đằng sau đó là một người mẹ, người chị , người vợ và người phụ nữ Việt Nam xưa và nay.Đó là một con người phụ nữ dịu dàng, đảm đang, tháo vát. Họ chỉ biết làm việc để lo toan cho chồng cho con. Ngoài ra bài thơ hay còn ở cách thể hiện của tác giả mượn lời vợ để chữi mình . chữi cái xã hội ngày đó.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 5 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến anhtraj_no1 với bài viết này:
  #3  
Cũ 26-02-2012
zhi_no1's Avatar
zhi_no1 zhi_no1 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 26-02-2012
Bài viết: 13
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 19 lần
Trong sự nghiệp thơ ca phong phú, đa dạng của Tú Xương, “Thương vợ” được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất. Cái hay của bài thơ là đã thể hiện được một cách thấm thía, cảm động thái độ trân trọng, tri ân của nhà thơ đối với sự hi sinh, tảo tần của vợ. Quan trọng hơn từ tác phẩm này người ta thấy hiện lên bức chân dung về người phụ nữ Việt Nam với những nét phẩm chất điển hình.

Bà Tú tên tật là Phạm Thị Mẫn, xuất thân dòng dõi nho gia “con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ”. Bà nhẫn nại, cam phận làm người vợ thảo hiền, làm chỗ dựa tinh thần cho cuộc đời Tú Xương - một trí thức không gặp thời, long đong trên con đường sự nghiệp.

Có lẽ vì thế mà hình tượng người vợ trở thành đề tài quen thuộc trong thơ của Tú Xương. Những bài thơ của ông viết về vợ thường mang nhiều sắc điệu: có khi là lời thủ thỉ tâm tình, lời bông đùa hóm hỉnh, cũng có lúc là nỗi niềm chua chát, xót xa nhưng bao trùm tất cả vẫn là thái độ trân trọng cảm thông, sự hàm ơn chân thành.

Nói đến người phụ nữ truyền thống là nhắc đến không gian gia đình, ở đó người vợ có vai trò quan trọng trong việc thu vén, chăm lo sự nghiệp, danh vị của chồng. Bà Tú cũng không phải là ngoại lệ, nhưng vào buổi Tây, Tàu nhốn nháo, không còn đâu cái cảnh thơ mộng “bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ”, bà Tú cũng phải cuốn theo guồng quay của cuộc đời phiền tạp, dạt theo cuộc bươn chải với đổi chác, bán mua:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”

Chân dung của bà Tú hiện lên không phải từ dáng vóc, hình hài mà từ không gian và thời gian công việc. “Quanh năm” không chỉ là độ dài thời lượng mà còn gợi ra cái vòng vô kì hạn của thời gian, nó chứng tỏ cuộc mưu sinh không có hồi kết thúc. Không gian “mom sông” vừa có giá trị tả thực - là doi đất nhô hẳn ra lòng sông, vừa gợi lên không gian sinh tồn bấp bênh, chông chênh.

Bà Tú phải hằng ngày xuất gia chường mặt ra với đời bởi trên vai bà là cả một gánh nặng gia đình: “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Biết bao hàm ý toát lên trong cụm từ “nuôi đủ”, nó vừa thể hiện sự chăm lo tận tụy chuyện cơm ăn áo mặc lại vừa hàm chỉ sự chịu đựng. Cách nói của nhà thơ đầy ý vị “năm con với một chồng”. Nhà thơ đã tự hạ mình ngang hàng với các con khi cay đắng, tủi hổ, xót xa nhận ra mình cũng là một thứ con trong gánh nặng của vợ.

Ca dao xưa khi nói tới hình tượng người phụ nữ thường liên tưởng tới hình ảnh con cò:
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
Tú Xương đã vận dụng sáng tạo chất liệu ca dao trong hai câu thơ:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Nhà thơ vừa tiếp thu, vận dụng văn học dân gian lại vừa có những sáng tạo độc đáo. Với việc dùng từ “thân cò”, tác giả vừa thể hiện danh phận khiêm nhường vừa làm nổi rõ số kiếp lận đận của bà Tú. Trong cấu trúc cú pháp của câu thơ, biện pháp đảo ngữ đã được sử dụng nhằm nhấn mạnh, gia tăng tính chất âm thầm nhọc nhằn trong công việc của bà Tú. Nếu như hình ảnh “đò đông” thể hiện tính chất bấp bênh trong cuộc mưu sinh thì từ láy “eo sèo” đã diễn tả sinh động sự ồn ào, nhốn nháo, phức tạp, nhục nhằn trong công việc hằng ngày mà bà Tú phải chịu đựng.

Không chỉ tần tảo, lam làm, chịu thương chịu khó, bà Tú trong “Thương vợ” của Tú Xương còn là con người bổn phận vị tha, lấy hi sinh làm hạnh phúc và lẽ sống của mình.

Hóa thân vào nhân vật bà Tú, nhà thơ đã nói hộ nỗi niềm tâm sự của vợ, đó là thái độ chín chắn trước duyên phận, độ lượng trước gia cảnh. Hiện lên trong tâm trí người đọc là hình ảnh một người phụ nữ lặng lẽ an phận, ráng sức lo toan, không trách phận than thân, không phiền lòng phẫn chí. Việc vận dụng thành ngữ số từ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” làm cho lời thơ trở nên cô đúc. Lời kể công, kể khổ của Tú Xương dành cho vợ trở nên trĩu nặng hơn, day dứt hơn. Sự cam chịu và đức hi sinh của bà Tú như càng nổi bật hơn.

Ý thức được nỗi nhọc nhằn gian truân của vợ mà không thể san sẻ, đỡ đần, hai câu kết của bài thơ là tiếng lòng mang nặng nỗi miềm chất chứa:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”

“Thói đời” ở đây phải chăng là sản phẩm của buổi giao thời đã tạo ra những người chồng hờ hững? để rồi người phụ nữ phải mang gánh nặng trụ cột gia đình. Câu thơ thể hiện nỗi dằn vặt, thái độ chân thành tự trách mình của nhà thơ đồng thời bộc lộ tâm trạng bất lực trong bi kịch tinh thần của người trí thức: trở thành người thừa ngay trong chính gia đình của mình.

Có thể nói với “Thương vợ”, Tú Xương đã khắc hoạ rõ nét và sống động hình ảnh người vợ tảo tần với những nét phẩm chất điển hình của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Đằng sau tiếng thơ là tiếng lòng tri ân trân trọng, cảm thông đồng thời là nỗi day dứt khôn nguôi của nhà thơ đối với người vợ thảo hiền.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến zhi_no1 với bài viết này:
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 3. Không gian con và hệ sinh (Phần 2)
Phần Đại số tuyến tính - thầy Lê Bá Trần Phương : Bài 3. Không gian con và hệ sinh (Phần 2)
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Trần Phương) : Bài 3. Phương trình vô tỉ (Phần 2)
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Trần Phương) : Bài 3. Phương trình vô tỉ (Phần 2)
Hoá học - Lớp 12 - Thầy Phạm Ngọc Sơn (2014-2015) :  Bài 8. Luyện tập Bạc - Vàng - Niken - Kẽm - Thiếc - Chì
Hoá học - Lớp 12 - Thầy Phạm Ngọc Sơn (2014-2015) : Bài 8. Luyện tập Bạc - Vàng - Niken - Kẽm - Thiếc - Chì
Hoá học - Lớp 12 - Thầy Phạm Ngọc Sơn (2014-2015) :  Bài 7. Luyện tập về hợp chất của sắt
Hoá học - Lớp 12 - Thầy Phạm Ngọc Sơn (2014-2015) : Bài 7. Luyện tập về hợp chất của sắt
Toán 11 - Thầy Nguyễn Thanh Tùng : Bài 11. Luyện tập
Toán 11 - Thầy Nguyễn Thanh Tùng : Bài 11. Luyện tập
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Trần Hải) :  Giới thiệu khoá học PEN-C
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Hoá học (Thầy Trần Hải) : Giới thiệu khoá học PEN-C
Luyện thi quốc gia PEN-C: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Bài 1. Danh từ và các kiến thức liên quan (Phần 1)
Luyện thi quốc gia PEN-C: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Bài 1. Danh từ và các kiến thức liên quan (Phần 1)
Toán cơ bản và nâng cao lớp 8 : Bài 10. Hình vuông
Toán cơ bản và nâng cao lớp 8 : Bài 10. Hình vuông
Toán cơ bản và nâng cao lớp 8 : Bài 9. Hình thoi
Toán cơ bản và nâng cao lớp 8 : Bài 9. Hình thoi
Tiếng Anh 7 : Unit 16: People and places
Tiếng Anh 7 : Unit 16: People and places

Đề thi mới
Ngữ văn 11 : Thơ duyên
Ngữ văn 11 : Thơ duyên
Ngữ văn 11 : Bài kiểm tra Chuyên đề 2
Ngữ văn 11 : Bài kiểm tra Chuyên đề 2
Ngữ văn 11 : Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu
Ngữ văn 11 : Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu
Ngữ văn 11 : Khóc Dương Khuê
Ngữ văn 11 : Khóc Dương Khuê
Ngữ văn 11 : Chương VI. Văn học nước ngoài (tiếp)
Ngữ văn 11 : Chương VI. Văn học nước ngoài (tiếp)
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ II - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ II - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ I - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ I - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Bài Ôn tập về văn học (học kỳ II)
Ngữ văn 11 : Bài Ôn tập về văn học (học kỳ II)
Ngữ văn 11 : Bài 40. Tôi yêu em (Pu-skin)
Ngữ văn 11 : Bài 40. Tôi yêu em (Pu-skin)
Ngữ văn 11 : Bài 39. Người trong bao (Sê-khốp)
Ngữ văn 11 : Bài 39. Người trong bao (Sê-khốp)




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 17:17.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.