Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Lớp 7 » Các văn bản nghị luận » [Văn 7] Nghị luận giải thích 7




Trả lời
  #1  
Cũ 10-07-2011
lylinhyb's Avatar
lylinhyb lylinhyb đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 09-07-2011
Bài viết: 230
Điểm học tập:3
Đã cảm ơn: 68
Được cảm ơn 45 lần
[Văn 7] Nghị luận giải thích 7

Giúp mình làm bài văn này với nha: Em hãy giải thích câu tục ngữ: Tiên học lễ hậu học văn. Thanks mọi người nhiều!

Nhớ đặt đúng vị trí của chủ đề nhé em ;), thanks, nhoc_bb!
__________________
Nếu. . .
.
.
.
- cậu cho tớ 1 tài khoản mang tên
...
*** YÊU THƯƠNG
- Tớ sẽ trả lại cho cậu 1 ngân hàng mang tên
*** HẠNH PHÚC
-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-
.
.
.Và
nếu. . .
.
.
.
- cậu tặng cho tớ 1 trái tim mang tên
*** CHÂN THÀNH
- Tớ sẽ tặng lại cho cậu 1 trái tim mang tên
*** THỦY CHUNG

Thay đổi nội dung bởi: nhoc_bettyberry, 12-07-2011 lúc 19:11.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Cũ 12-07-2011
pecream.97's Avatar
pecream.97 pecream.97 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 04-05-2011
Bài viết: 218
Điểm học tập:3
Đã cảm ơn: 156
Được cảm ơn 244 lần
Phương châm giáo dục này xuất phát từ quan điểm đào tạo của Nho gia. Bản thân "lễ" là một phạm trù triết học chỉ đạo đức rất quan trọng của đức Khổng Tử và môn đệ. Hiểu tận cùng chữ "lễ" không phải dễ. ở đây tôi chỉ khai thác lễ trong phạm vi ngữ nghĩa có liên quan đến "văn" mà thôi.

"Lễ" có nghĩa là cách cư sử, giao tiếp có văn hoá giữa người với người theo chuẩn mực đạo đức được xã hội quy định trong các quan hệ giữa người trên với người dưới, giữa người dưới với người trên. Hiểu rộng hơn đấy chính là đạo đức nói chung, phải biết kính trên nhường dưới, lấy Nghĩa, Nhân chữ Tín...làm trọng. Còn "văn" là chữ. Hiểu rộng ra là ấy là kiến thức của con người được tích luỹ qua bao thế hệ. "Tiền" và "hậu" ở đây nên hiểu một cách tương đối. Không nên cho rằng người xưa chỉ chú trọng đến "lễ" mà quên "văn". Cả "lễ" và "văn" đều quan trọng như nhau, đặt đồng hàng, nhưng khi giáo dục thì phải lấy cái được làm trọng. Bác Hồ có lần đã nói: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Và dẫu cho rất đề cao đạo đức thì Người vẫn ý thức rõ mặt khiếm khuyết của nó.

Giao tiếp ngày thường, chúng ta gặp "lễ" trong các cặp từ sau "lễ phép", "lễ nghĩa"...(còn như "lễ tân" (ở khách sạn) "lễ đình", "lễ cưới"...tôi không bàn). "Phép" do đọc chệch từ chữ "pháp" mà ra. "Pháp" có nguồn gốc từ "pháp trị" của Hàn Phi Tử. Về sau Tử Tư dùng chính sách này để giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa. Nếu "lễ" tượng trưng cho đạo đức thì trong trật tự kết cấu này, cha ông ta đã lấy đức làm đầu. Nếu cá nhân nào có hành vi bất kính thì bị mắng là "vô lễ" chứ không phải là "vô phép". Với ta "lễ quan trọng hơn "pháp" nhiều, đành rằng cách nhìn nhận ở đây có thể xuất phát từ chính sách cai trị "Trong Pháp ngoài Nho" của đại đa số các chính trị gia cổ đại ở Trung Quốc cũng như ở ta.

"Nghĩa" là một trong những phạm trù triết học cốt lõi của Khổng Tử. Về sau Manh Tử phát triển mạnh về khái niệm này, đặt tên đồng hàng: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Với cách cấu tạo từ tương tự, một lần nữa, "lễ" lại đứng trước: "lễ nghĩa".

Muốn trở lại người có "lễ" thì phải học mà học thì phải thông qua chữ (văn). "Văn" ấy có thể đã thành văn và cũng rất có thể đang ở dạng truyền ngôn, bất thành văn. Do đó vai trò của người thầy là rất quan trọng, đặc biệt là ở tư cách đạo đức. Quan niệm này khác với lối giáo dục của phương Tây hiện đại. Người lên lớp chỉ truyền đạt mỗi kiến thức. Còn đạo đức của học sinh thì ít được quan tâm (đã có luật pháp chuyên trị). Học sinh đến lớp chỉ có mỗi thao tác là tiếp thu kiến thức (tuy nhiên qua kiến thức thì họ cũng học được đạo đức).

Ông cha ta từ ngày xưa đã quán triệt tinh thần giáo dục "tiên học lễ". Nếu một người có học mà không có "lễ" thì người đó được xem như là hạng bất nhân. Và người đào tạo ra học trò đó cực kỳ hổ thẹn. Lịch sử của ta đã ghi lại tên tuổi của nhiều bậc sư biểu, xứng đáng là thầy của muôn đời: Chu Văn An (1293-1370); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1409-1595) Nguyễn Thiếp (1723-1804)... học trò của họ, dẫu có thành đạt đến bao nhiêu đi chăng nữa cũng không bỏ rơi lễ nghĩa, đạo đức với thầy với nhân dân. Chuyện kể rằng, một hôm Phạm Sư Mạnh sau khi đỗ đạt, làm quan to ở triều, về thăm thầy (Chu Văn An). Dọc đường qua khu chơ đang họp, ông để lính thét dân dẹp đường, làm huyên náo. Biết được sự việc, Chu Văn An giận không cho Phạm Sư Mạnh gặp mặt. Quan lớn triều đình phải quỳ xin cả buổi thầy mới tha lỗi. Phải có những người thầy can trực, đạo đức như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước.

Xã hội hiện đại ngày nay, càng văn minh, con người dường như ít đạo đức, ít quan tâm đến nhau. Học nhiều không có nghĩa là có đạo đức.Tri thức rất cần cho phát triển nhân loại nhưng thiếu đạo đức thì nhân loại sẽ không tồn tại.

Khi những làn sóng văn minh đang đổ ập vào nước ta trong thời mở cửa, đề cao quan niệm giáo dục đứng dắn của người xưa là caáh thiết thực để kìm hãm những mặt tác hại từ những nước đã phát triển. Mặt khác nó còn có giá trị báo động sự băng hoại, phần nào, các giá trị truyền thống trong tâm lý cộng đồng, Đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

"Tiên học lễ, hậu học văn" là phương châm giáo dục của Nho gia. Song bởi do được sử dụng trong khoảng thời gian quá dài ở cộng đồng người Việt nên nó đã được dân gian hoá, rất gần gũi với nhiều tầng lớp. Nguyên tắc giáo dục ấy chính là sự phối hợp giữa gieo mầm đạo đức, truyền dạy chữ nghĩa tri thức, đề cao đạo đức, khẳng định vai trò số một của giáo viên. Đây là lối đào tạo ưu việt mà từ ngàn xưa ông cha ta đã đúc kết nên.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến pecream.97 với bài viết này:
  #3  
Cũ 13-07-2011
lylinhyb's Avatar
lylinhyb lylinhyb đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 09-07-2011
Bài viết: 230
Điểm học tập:3
Đã cảm ơn: 68
Được cảm ơn 45 lần
Phương châm giáo dục này xuất phát từ quan điểm đào tạo của Nho gia. Bản thân "lễ" là một phạm trù triết học chỉ đạo đức rất quan trọng của đức Khổng Tử và môn đệ. Hiểu tận cùng chữ "lễ" không phải dễ. ở đây tôi chỉ khai thác lễ trong phạm vi ngữ nghĩa có liên quan đến "văn" mà thôi.

Em cám ơn chị nhiều nhé! Bài hay lắm ạ!
__________________
Nếu. . .
.
.
.
- cậu cho tớ 1 tài khoản mang tên
...
*** YÊU THƯƠNG
- Tớ sẽ trả lại cho cậu 1 ngân hàng mang tên
*** HẠNH PHÚC
-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-:-
.
.
.Và
nếu. . .
.
.
.
- cậu tặng cho tớ 1 trái tim mang tên
*** CHÂN THÀNH
- Tớ sẽ tặng lại cho cậu 1 trái tim mang tên
*** THỦY CHUNG
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Cũ 30-07-2011
tuntun301's Avatar
tuntun301 tuntun301 đang ngoại tuyến
Thành viên
Lớp phó
 
Tham gia : 27-12-2010
Đến từ: nơi đang đến
Bài viết: 960
Điểm học tập:6
Đã cảm ơn: 667
Được cảm ơn 389 lần
[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
chúc bạn học tốt
__________________



- -¤--^]. .Hạnh phúc là khi ta[^--¤- -
- -¤--^] . . yêu thương . . . . .[^--¤- -
- -¤--^] và được yêu thương.[^--¤- -
- -¤--^]để biết ta đang sống[^--¤- -

C'est la vie!
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn tuntun301 vì bài viết này:
  #5  
Cũ 30-07-2011
cop3muadong_dethuong_kut3's Avatar
cop3muadong_dethuong_kut3 cop3muadong_dethuong_kut3 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 31-12-2010
Bài viết: 48
Đã cảm ơn: 88
Được cảm ơn 27 lần
Giải thích sơ qua thui nha:

Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn

Sáu chữ trên không có xa lạ gì với người Việt chúng ta. Chúng đã biến thành những khẩu hiệu nằm trên đầu môi ngọn luỡi của các nhà sư phạm, của các bậc phụ huynh, của nhiều vị "dân chi phụ mẫu", và đôi khi cũng là chính sách của nhà nước nữa. Chúng ta cũng không lạ lẫm gì khi mà hầu hết những tác phẩm thi ca kinh điển của những bậc đại nho đều ca tụng và nâng lễ nghĩa lên thành một đức tính, tương đương với tam tòng tứ đức, đôi khi lại còn hơn thế nữa. Nguyễn Du coi lễ như là quy tắc, trong khi Nguyễn Ðình Chiểu lấy chữ lễ làm nòng cốt của nền tư tưởng đạo đức. Trong Lục Vân Tiên, cụ đồ họ Nguyễn nhắc đi nhắc lại không biết mệt cái chữ lễ mà cụ coi như là khuôn vàng thước ngọc đo cái giá trị làm người. Nói một cách khác, nhà thi sĩ mù lòa chất phác này đồng nghĩa lễ với luân thường đạo lý, và thường thì coi lễ như là nền tảng của đạo đức. Qua câu thơ "Thôi thôi, ngồi đó chớ ra. Nàng là phận gái ta là phận trai", ta nhận thấy một cách rõ ràng là cụ đồ họ Nguyễn đã đồng hóa lễ trong việc đối xử giữa trai-gái với quy luật "nam nữ thọ thọ bất thân" của thời Hán. Thực ra, cụ đồ Chiểu đã phản ánh cái tâm thức chung coi lễ không khác chi là quy luật của người bình dân Việt: "Cá không ăn muối cá ươn - Con không giữ lễ (nghe mẹ) trăm đường con hư" mà thôi. Thế nên, "tiên học lễ, hậu học văn" đã trở thành một quy tắc tất yếu, suy diễn từ lối nhìn bình dân như vậy.

Lối suy tư coi lễ là lề luật có phải là lối suy tư đại biểu duy nhất của Việt Nho hay không, đây là một điểm đáng được tranh luận. Theo thiển kiến của chúng tôi, quan niệm này chỉ đúng được phần nào, bởi lẽ câu hỏi quan trọng hơn nằm ở sau, đó là, nếu lễ là quy luật, thì đó là qui luật gì? Nếu nó chỉ là pháp luật, hình luật, thì lễ chưa phản ánh được cái lễ nghĩa của người Việt, nhưng nếu lễ là quy luật sống, thì nó mới thực là lễ nghĩa.

Như mọi người đều thấy, ngay từ thời thơ ấu, chúng ta đã được đào tạo phải giữ đạo nghĩa, mà đạo nghĩa thường không phải chi khác hơn là chính lễ nghĩa. Lễ phép, lễ độ, lễ nghĩa, lễ nghi, lễ phục... là những quan niệm, hay nói đúng hơn là những quy luật (codes), những cách thế (manners), những biểu tượng (expressive symbols), những chuẩn mực (criteria) đo lường con người Việt. Chúng ăn sâu vào trong tâm não, chúng nằm chặt trong mạch máu, đến độ chúng ta đồng hóa lễ với giá trị, với nền đạo đức, và với tất cả cuộc sống của người Việt. Chúng ta đánh giá một người, một phụ nữ, một quan chức, một giáo chức và ngay cả một người học sinh tùy theo hành vi lễ độ, lễ phép của họ. Ta xem họ có giữ lễ và hành vi, ngôn ngữ, cách xử thế của họ có đúng lễ hay không: cha phải ra cha, con phải ra con, thầy phải ra thầy, trò phải ra trò. Chúng ta kính trọng một người nào đó cũng là vì họ giữ lễ giữ nghĩa. Chúng ta coi thường những người "vô lễ", "vô phép, vô tắc", "vô lương", những kẻ "bất nghĩa", "bất tín", "bất trung", "bất hiếu", "bất nhân", những người mà ta thường đùa cợt cho là người không ra người, ngợm không ra ngợm.


P/s: làm bừa
__________________
Trong cuộc đời nếu khi gặp khó khăn gì thì tình bạn sẽ mãi luôn bên ta.
cop3muadong_dethuong_kut3
Sẽ sát cánh bên ta từng ngày từng giờ và mãi theo ta trong suốt thời
thơ bé và tuổi hoa trò mực tím nhé các bạn?
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến cop3muadong_dethuong_kut3 với bài viết này:
  #6  
Cũ 28-08-2011
deltafoce11's Avatar
deltafoce11 deltafoce11 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 20-08-2011
Đến từ: land of death
Bài viết: 279
Điểm học tập:6
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 210 lần
Phương châm giáo dục này xuất phát từ quan điểm đào tạo của Nho gia. Bản thân "lễ" là một phạm trù triết học chỉ đạo đức rất quan trọng của đức Khổng Tử và môn đệ. Hiểu tận cùng chữ "lễ" không phải dễ. ở đây tôi chỉ khai thác lễ trong phạm vi ngữ nghĩa có liên quan đến "vǎn" mà thôi.

"Lễ" có nghĩa là cách cư sử, giao tiếp có vǎn hoá giữa người với người theo chuẩn mực đạo đức được xã hội quy định trong các quan hệ giữa người trên với người dưới, giữa người dưới với người trên. Hiểu rộng hơn đấy chính là đạo đức nói chung, phải biết kính trên nhường dưới, lấy Nghĩa, Nhân chữ Tín...làm trọng. Còn "vǎn" là chữ. Hiểu rộng ra là ấy là kiến thức của con người được tích luỹ qua bao thế hệ. "Tiền" và "hậu" ở đây nên hiểu một cách tương đối. Không nên cho rằng người xưa chỉ chú trọng đến "lễ" mà quên "vǎn". Cả "lễ" và "vǎn" đều quan trọng như nhau, đặt đồng hàng, nhưng khi giáo dục thì phải lấy cái được làm trọng. Bác Hồ có lần đã nói: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Và dẫu cho rất đề cao đạo đức thì Người vẫn ý thức rõ mặt khiếm khuyết của nó.

Giao tiếp ngày thường, chúng ta gặp "lễ" trong các cặp từ sau "lễ phép", "lễ nghĩa"...(còn như "lễ tân" (ở khách sạn) "lễ đình", "lễ cưới"...tôi không bàn). "Phép" do đọc chệch từ chữ "pháp" mà ra. "Pháp" có nguồn gốc từ "pháp trị" của Hàn Phi Tử. Về sau Tử Tư dùng chính sách này để giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa. Nếu "lễ" tượng trưng cho đạo đức thì trong trật tự kết cấu này, cha ông ta đã lấy đức làm đầu. Nếu cá nhân nào có hành vi bất kính thì bị mắng là "vô lễ" chứ không phải là "vô phép". Với ta "lễ quan trọng hơn "pháp" nhiều, đành rằng cách nhìn nhận ở đây có thể xuất phát từ chính sách cai trị "Trong Pháp ngoài Nho" của đại đa số các chính trị gia cổ đại ở Trung Quốc cũng như ở ta.

"Nghĩa" là một trong những phạm trù triết học cốt lõi của Khổng Tử. Về sau Manh Tử phát triển mạnh về khái niệm này, đặt tên đồng hàng: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Với cách cấu tạo từ tương tự, một lần nữa, "lễ" lại đứng trước: "lễ nghĩa".

Muốn trở lại người có "lễ" thì phải học mà học thì phải thông qua chữ (vǎn). "Vǎn" ấy có thể đã thành vǎn và cũng rất có thể đang ở dạng truyền ngôn, bất thành vǎn. Do đó vai trò của người thầy là rất quan trọng, đặc biệt là ở tư cách đạo đức. Quan niệm này khác với lối giáo dục của phương Tây hiện đại. Người lên lớp chỉ truyền đạt mỗi kiến thức. Còn đạo đức của học sinh thì ít được quan tâm (đã có luật pháp chuyên trị). Học sinh đến lớp chỉ có mỗi thao tác là tiếp thu kiến thức (tuy nhiên qua kiến thức thì họ cũng học được đạo đức).

Ông cha ta từ ngày xưa đã quán triệt tinh thần giáo dục "tiên học lễ". Nếu một người có học mà không có "lễ" thì người đó được xem như là hạng bất nhân. Và người đào tạo ra học trò đó cực kỳ hổ thẹn. Lịch sử của ta đã ghi lại tên tuổi của nhiều bậc sư biểu, xứng đáng là thầy của muôn đời: Chu Vǎn An (1293-1370); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1409-1595) Nguyễn Thiếp (1723-1804)... học trò của họ, dẫu có thành đạt đến bao nhiêu đi chǎng nữa cũng không bỏ rơi lễ nghĩa, đạo đức với thầy với nhân dân. Chuyện kể rằng, một hôm Phạm Sư Mạnh sau khi đỗ đạt, làm quan to ở triều, về thǎm thầy (Chu Vǎn An). Dọc đường qua khu chơ đang họp, ông để lính thét dân dẹp đường, làm huyên náo. Biết được sự việc, Chu vǎn An giận không cho Phạm Sư Mạnh gặp mặt. Quan lớn triều đình phải quỳ xin cả buổi thầy mới tha lỗi. Phải có những người thầy can trực, đạo đức như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước.

Xã hội hiện đại ngày nay, càng vǎn minh, con người dường như ít đạo đức, ít quan tâm đến nhau. Học nhiều không có nghĩa là có đạo đức.Tri thức rất cần cho phát triển nhân loại nhưng thiếu đạo đức thì nhân loại sẽ không tồn tại.

Khi những làn sóng vǎn minh đang đổ ập vào nước ta trong thời mở cửa, đề cao quan niệm giáo dục đứng dắn của người xưa là caáh thiết thực để kìm hãm những mặt tác hại từ những nước đã phát triển. Mặt khác nó còn có giá trị báo động sự bǎng hoại, phần nào, các giá trị truyền thống trong tâm lý cộng đồng, Đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

"Tiên học lễ, hậu học vǎn" là phương châm giáo dục của Nho gia. Song bởi do được sử dụng trong khoảng thời gian quá dài ở cộng đồng người Việt nên nó đã được dân gian hoá, rất gần gũi với nhiều tầng lớp. Nguyên tắc giáo dục ấy chính là sự phối hợp giữa gieo mầm đạo đức, truyền dạy chữ nghĩa tri thức, đề cao đạo đức, khẳng định vai trò số một của giáo viên. Đây là lối đào tạo ưu việt mà từ ngàn xưa ông cha ta đã đúc kết nên
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến deltafoce11 với bài viết này:
  #7  
Cũ 28-08-2011
deltafoce11's Avatar
deltafoce11 deltafoce11 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 20-08-2011
Đến từ: land of death
Bài viết: 279
Điểm học tập:6
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 210 lần
Sáu chữ trên không có xa lạ gì với người Việt chúng ta. Chúng đã biến thành những khẩu hiệu nằm trên đầu môi ngọn luỡi của các nhà sư phạm, của các bậc phụ huynh, của nhiều vị "dân chi phụ mẫu", và đôi khi cũng là chính sách của nhà nước nữa. Chúng ta cũng không lạ lẫm gì khi mà hầu hết những tác phẩm thi ca kinh điển của những bậc đại nho đều ca tụng và nâng lễ nghĩa lên thành một đức tính, tương đương với tam tòng tứ đức, đôi khi lại còn hơn thế nữa. Nguyễn Du coi lễ như là quy tắc, trong khi Nguyễn Ðình Chiểu lấy chữ lễ làm nòng cốt của nền tư tưởng đạo đức. Trong Lục Vân Tiên, cụ đồ họ Nguyễn nhắc đi nhắc lại không biết mệt cái chữ lễ mà cụ coi như là khuôn vàng thước ngọc đo cái giá trị làm người. Nói một cách khác, nhà thi sĩ mù lòa chất phác này đồng nghĩa lễ với luân thường đạo lý, và thường thì coi lễ như là nền tảng của đạo đức. Qua câu thơ "Thôi thôi, ngồi đó chớ ra. Nàng là phận gái ta là phận trai", ta nhận thấy một cách rõ ràng là cụ đồ họ Nguyễn đã đồng hóa lễ trong việc đối xử giữa trai-gái với quy luật "nam nữ thọ thọ bất thân" của thời Hán. Thực ra, cụ đồ Chiểu đã phản ánh cái tâm thức chung coi lễ không khác chi là quy luật của người bình dân Việt: "Cá không ăn muối cá ươn - Con không giữ lễ (nghe mẹ) trăm đường con hư" mà thôi. Thế nên, "tiên học lễ, hậu học văn" đã trở thành một quy tắc tất yếu, suy diễn từ lối nhìn bình dân như vậy.

Lối suy tư coi lễ là lề luật có phải là lối suy tư đại biểu duy nhất của Việt Nho hay không, đây là một điểm đáng được tranh luận. Theo thiển kiến của chúng tôi, quan niệm này chỉ đúng được phần nào, bởi lẽ câu hỏi quan trọng hơn nằm ở sau, đó là, nếu lễ là quy luật, thì đó là qui luật gì? Nếu nó chỉ là pháp luật, hình luật, thì lễ chưa phản ánh được cái lễ nghĩa của người Việt, nhưng nếu lễ là quy luật sống, thì nó mới thực là lễ nghĩa.

Như mọi người đều thấy, ngay từ thời thơ ấu, chúng ta đã được đào tạo phải giữ đạo nghĩa, mà đạo nghĩa thường không phải chi khác hơn là chính lễ nghĩa. Lễ phép, lễ độ, lễ nghĩa, lễ nghi, lễ phục... là những quan niệm, hay nói đúng hơn là những quy luật (codes), những cách thế (manners), những biểu tượng (expressive symbols), những chuẩn mực (criteria) đo lường con người Việt. Chúng ăn sâu vào trong tâm não, chúng nằm chặt trong mạch máu, đến độ chúng ta đồng hóa lễ với giá trị, với nền đạo đức, và với tất cả cuộc sống của người Việt. Chúng ta đánh giá một người, một phụ nữ, một quan chức, một giáo chức và ngay cả một người học sinh tùy theo hành vi lễ độ, lễ phép của họ. Ta xem họ có giữ lễ và hành vi, ngôn ngữ, cách xử thế của họ có đúng lễ hay không: cha phải ra cha, con phải ra con, thầy phải ra thầy, trò phải ra trò. Chúng ta kính trọng một người nào đó cũng là vì họ giữ lễ giữ nghĩa. Chúng ta coi thường những người "vô lễ", "vô phép, vô tắc", "vô lương", những kẻ "bất nghĩa", "bất tín", "bất trung", "bất hiếu", "bất nhân", những người mà ta thường đùa cợt cho là người không ra người, ngợm không ra ngợm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #8  
Cũ 28-08-2011
deltafoce11's Avatar
deltafoce11 deltafoce11 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 20-08-2011
Đến từ: land of death
Bài viết: 279
Điểm học tập:6
Đã cảm ơn: 48
Được cảm ơn 210 lần
Học lễ và văn – hay còn gọi là giáo dục hiện giờ – để giúp con-người trở nên người hơn, loại bỏ bớt thú tính mà con người vẫn thường tự hào so với con vật. Vấn đề Bạo lực học đường giờ đã thành một chủ đề nhan nhản khắp mọi nơi, nhưng chỉ mạnh ai người ấy làm. Nhà trường thì vì danh tiếng mà giấu chuyện? Những người-tình-cờ-thấy thì rất AQ rằng không liên quan đến mình và phải chăng người dân bây giờ trong xã hội phát triển lại quay về làm dân Vũ Đại thời ấy?.

“Cái gì không hợp lễ thì chớ nhìn.
Tiếng nào không hợp lễ thì chớ nghe,
Lời nào không hợp lễ thì chớ nói,
Việc nào không hợp lễ thì chớ làm”

Nếu đem câu nói này của Khổng Tử ra phân tích đối với trường hợp vụ nữ học sinh bị bạn đánh tại vườn hoa Lý Thái Tổ thì chúng ta có biết:

- Cái không hợp lễ: Nhìn bạn đánh bạn (vẫn khoanh chân, vẫn mở mắt nhìn, vẫn cổ xúy)
- Tiếng không hợp lễ: Nghe bạn bè rủ rê
- Lời không hợp lễ: Lời chửi bạn
- Việc không hợp lễ: Đánh bạn

Đừng để chữ “tuổi teen” trở thành một khái niệm đáng sợ và đáng xấu hổ sau này trong cuộc đời của mỗi con người. Hãy để nó đúng cái trẻ trung, thông minh của tuổi trẻ. Đừng đó nó là sản phẩm không đáng có của tất cả hỗn loạn đang diễn ra trong xã hội giao thời Việt Nam (giao giữa cái tập trung bao cấp – mở cửa giao lưu, giao giữa cái bảo tồn truyền thống – tiếp thu tư tưởng mới). Đừng để thế giới cười vào xã hội chúng ta rằng kẻ nông dân mắt toét được mở đời đã sính điệu. Buồn lắm, xót lắm…
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Vật lí 12 - Thầy Đặng Việt Hùng (2014-2015) : Bài 2. Mạch điện xoay chiều đơn giản
Vật lí 12 - Thầy Đặng Việt Hùng (2014-2015) : Bài 2. Mạch điện xoay chiều đơn giản
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Bài 8: /θ/, /ð/, /ʒ/, /ʃ/
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Bài 8: /θ/, /ð/, /ʒ/, /ʃ/
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần ba)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần ba)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần hai)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần hai)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần một)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Trong lòng mẹ (Phần một)
Tiếng Anh 8 : Unit 5: Study habits (part 2)
Tiếng Anh 8 : Unit 5: Study habits (part 2)
Tiếng Anh 8 : Unit 5: Study habits (part 1)
Tiếng Anh 8 : Unit 5: Study habits (part 1)
Tiếng Anh 9 : Unit 2 Clothing (Part 2)
Tiếng Anh 9 : Unit 2 Clothing (Part 2)
Tiếng Anh 9 : Unit 2 Clothing (Part 1)
Tiếng Anh 9 : Unit 2 Clothing (Part 1)
Bồi dưỡng Học sinh giỏi Toán 5 : Bài 9. Hình thang (tiết 2)
Bồi dưỡng Học sinh giỏi Toán 5 : Bài 9. Hình thang (tiết 2)

Đề thi mới
Internal Test 9 : Hocmai.vn contest 2 2014.07
Internal Test 9 : Hocmai.vn contest 2 2014.07
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 04 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 04 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 05 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 05 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 03 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 03 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 02 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 02 (Đề Online)
Ngữ văn 6 :  Kiểm tra trắc nghiệm tổng hợp Tuần 1
Ngữ văn 6 : Kiểm tra trắc nghiệm tổng hợp Tuần 1
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 01 (Đề Online)
Luyện thi đại học KIT-3: Môn Tiếng Anh (Cô Nguyễn Ngọc An) 12 : Đề thi tự luyện số 01 (Đề Online)
Thi thử đại học 2014 12 : Đề thi thử đại học môn Vật lí tháng 6/2014
Thi thử đại học 2014 12 : Đề thi thử đại học môn Vật lí tháng 6/2014
Thi thử đại học 2014 12 : Đề thi thử đại học môn Tiếng Anh tháng 6/2014
Thi thử đại học 2014 12 : Đề thi thử đại học môn Tiếng Anh tháng 6/2014
Thi thử đại học 2014 12 : Đề thi thử đại học môn Hoá học tháng 6/2014
Thi thử đại học 2014 12 : Đề thi thử đại học môn Hoá học tháng 6/2014




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 23:25.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Advertisement System V2.4 By   Branden

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.