Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Ngữ Văn lớp 8 » Làm văn » [văn 8]Viết bài tập làm văn số 5 – văn thuyết minh lop 8




Trả lời
  #1  
Cũ 24-11-2010
huyvip1712 huyvip1712 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 11-02-2010
Đến từ: Trái đất, nơi chứa đầy tình yêu nhất.
Bài viết: 39
Đã cảm ơn: 16
Được cảm ơn 286 lần
[văn 8]Viết bài tập làm văn số 5 – văn thuyết minh lop 8

Đề 1: Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt
Đề 2: Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em.
Đề 3: Giới thiệu về một loài hoa hoặc một loài cây.
Đề 4: Thuyết minh về một giống vật nuôi.
Đề 5: Giới thiệu một sản phẩm, một trò chơi mang bản sắc Việt Nam.
thank away.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 4 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến huyvip1712 với bài viết này:
  #2  
Cũ 24-11-2010
pengoc_dethuong_97's Avatar
pengoc_dethuong_97 pengoc_dethuong_97 đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 03-09-2010
Đến từ: sứ sở của những bông hồng tình yêu
Bài viết: 129
Đã cảm ơn: 93
Được cảm ơn 467 lần
Đề 3 nhé:
Mai vàng là một loại hoa mai có hoa màu vàng, khác với các loại hoa mai ở Trung Quốc, hay nhắc đến trong thi ca cổ là có màu trắng. Trên thế giới có ít nhất là 50 loài mai vàng phân bố rải rác ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, song chủ yếu tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á và châu Phi.

Mai và đào chính ra cùng dòng họ, nhưng về sau các nhà thực vật học nghiệm thấy đào (peach) hay mơ (apricot), mận (plum hay prune) và anh đào (cherry) là loại ra quả, nên tách riêng dòng họ mai ra. Mai có nhiều màu như: hoàng mai, hồng mai, và bạch mai. Ở Việt Nam người ta gọi hồng mai là hoa đào hay mơ, nở hoa dịp đầu xuân.

Về loại mai vàng tại miền nam có nhiều. Nếu như hoa đào, chi mai là đặc sản của miền bắc vào ngày tết, thì hoa mai vàng lại là đặc sản của miền nam. Mai vàng thuộc họ hoàng mai, là một loại cây rừng. Cây mai vàng cũng rụng lá vào mùa Ðông, thân, cành mềm mại hơn cành đào. Hoa mai vàng mọc thành chùm và có cuống dài treo lơ lửng bên cành, ở nách vệt cuống lá và hơi thưa. Hoa màu vàng, có mùi thơm, e ấp và kín đáo. Mai vàng còn có giống sau khi cho hoa còn kết quả màu đỏ nhạt bóng như ngọc, là mai tứ quí và nhị độ mai.

Mai trồng để lấy hoa vào dịp tết Nguyên đán được trồng từ hạt hay triết cành. Có thể trồng mai vàng ngoài vườn, vào bồn hay vào chậu đều được. Mai ưa ánh sáng và đất ẩm. Người miền Nam thường chơi hoa mai vàng vào những ngày tết. Còn giống hoa nước gọi là mai chiếu thủy, cây lá nhỏ, hoa nhỏ mọc chùm trắng và thơm, thường trồng vào núi đá non bộ, ra hoa mùa xuân, cây và cành được uốn tỉa lại thành cây thế.

Mai Tứ quý là một loại hoa mai vàng nhưng sau khi rụng cánh hoa còn lại đài hoa đỏ và hạt xanh (khi chín hạt sẽ chuyển thành màu đen), chính vì vậy loài mai này còn có tên là Nhị độ mai tức Mai nở hai lần.

Mai vàng nhiều cánh
Là loại mai vàng có nhiều cánh do lai tạo hoặc chọn lọc tự nhiên, những loài này luôn có hoa nhiều hơn 9 cánh, không giống như mai vàng năm cánh truyền thống tỉnh thoảng có những bông nhiều hơn 5 cánh.
thuyết minh về danh lam :
chùa Một Cột nằm ở phố chùa Một Cột , thuộc quận Ba Đình , bên phải lăng Chủ tịch HCM , xây dựng năm 1049.Đây là 1 cụm kiến trúc , gồm ngôi chùa và tòa đài xây giữa hồ vuông.
Cả cụm có tên là chùa Diên Hựu và đài Liên Hoa , đài này lâu nay quen gọi là Chùa Một Cột- hình vuông , mỗi bề 3m, mái cong , dựng trên cột đá hình trụ , cột có đường kính 1.20m , cao 4m ( chưa kể phần chìm dưới đất)đỡ 1 hệ thống ~ thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố , đỡ cho ngôi nhà dựng bên trên như 1 đóa sen vươn thẳng trên khu ao hình vuông có lan can bằng gạch bao quanh. Từ bên ngoài có lối nhỏ bằng gạch đi qua ao , đến 1 chiếc thang xinh xắn dẫn lên Phật đài. Trên cửa Phật đài có biển đề:" Liên Hoa Đài"(đài hoa sen) hgi nhớ sự tích nằm mộng của vua Lí Thái Tông dẫn tới việc xây chùa. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép:"Lí Thái tông(1028-1054)chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen , vua cũng đc. dắt lên toà. Khi tỉnh giấc , vua đem việc ấy hỏi các quan...Có ng` khuyên vua làm chùa , dựng cột đá ở giữa ao , làm tòa sen của Phật đặt trên cột đá như đã thấy trong mộng , để các sư chạy đàn , tụng kinh cầu cho vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu ( kéo dài cõi phúc). Chưa rõ qui mô của chùa vào thời điểm đó như thế nào , chứ qui mô của Liên Hoa Đài thì có 1 tấm bia cổ có ghi lại:'...Đào hồ Linh Chiều, giữa hồ vọt lên 1 cột đá , đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh trên hoa sen dựng tòa điện màu xnah đặt pho tượng Quan Âm.Vòng quanh hồ là dãy hành lang . LẠi đào ao Bích Trì , mỗi bên đều có cầu vồng bắc để đi qua. Phía sân cầu đằng trước , 2 bên tả hữu xây tháp lưu li". Như vậy thì qui mô Liên Hoa ĐÀi thời Lí to hơn bây giờ nhiều , cả ~ bộ phậnn hợp thành và hình dạng cũng phong phú hơn.
Thực tế , cụm chùa Một Cột đã qua nhiều lần sửa chữa. này 11-9-2954 trước khi rút, quân đội Pháp còn cho nổ mìn phá hủy Liên hoa Đài. Khi quân đội ta về tiếp quản thủ đô HN , Chính Phủ đã hco làm lại như cũ và đến tháng 4-1955 thì hoàn thành. Cạnh chùa còn có 1 cây bồ đề do Tổng thống Ấn độ Pra- xát tặng Chủ tịch HCM trong dịp Người sang thăm nước này. Chùa Một Cột đã đc. Bộ Văn hÓa xếp hạng di tích lịch sử , nghệ thuật , kiến trúc ngày 28-4-1962.
---------------------------------------------
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 10 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến pengoc_dethuong_97 với bài viết này:
  #3  
Cũ 24-11-2010
pengoc_dethuong_97's Avatar
pengoc_dethuong_97 pengoc_dethuong_97 đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn trưởng
 
Tham gia : 03-09-2010
Đến từ: sứ sở của những bông hồng tình yêu
Bài viết: 129
Đã cảm ơn: 93
Được cảm ơn 467 lần
Đề 2: Chùa Giác Lâm



Vị trí bề thế, nhưng quy mô lại khiêm tốn, chùa Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nhất của thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ Văn hóa ra quyết định số 1288 VH/QĐ ngày 16 - 11 - 1988 công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa. Chùa tọa lạc ở số 118 đường lạc Long Quân, phường 23, quận Tân Bình, trong vùng Phú Thọ Hòa.

Chùa vốn ở trên gò Cẩm Sơn, còn gọi là Cẩm Đệm và Sơn Can, do ông Lý Thụy Long, người Minh Hương, quyên tiền của xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý (1744), đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức miêu tả khu vực này như sau: rộng ba dăm, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà có nhã thú. Thi nhân du khách, mỗi dịp tết Thanh minh, Trùng cửu rảnh rỗi, kết bầy năm ba người đến mở tiệc thưởng hoa, chuốc chén ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa rộn ràng xa cách ra ngoài tầm mắt,?"

Năm 1772, Hòa thượng Viên Quang thuộc dòng Lâm tế tới trụ trì, từ đó mới đổi tên là Giác Lâm.

Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần thứ nhất, vào khoảng năm 1799 - 1804, Hòa thượng Viên Quang cho xây lại ngôi chùa. Đến năm 1906 - 1909, Hòa thượng Hồng Hưng với sự giúp sức của Hòa thượng Như Phòng, đã cho tôn tạo lại ngôi chùa một lần nữa. Các sự kiện này được ghi lại trong đôi liễn mừng lạc thành, nay còn treo ở chánh điện.

Khuôn viên chùa khá rông, nằm lọt giữa phố phường đông đúc, chung quanh là những bức tường xây. Qua cổng chùa, ngay giữa sân có dựng tượng Bồ - tát Quan Thế Âm dưới bóng cây bồ đề tán lá xanh tốt. Đây là cây bồ đề do Đại đức Narada mang từ SriLanca sang trồng ngày 18-6-1953. Nhân dịp này Ngài cũng cúng cho chùa Xá-Lợi Phật Thích-ca.

Ngày 17 tháng 6 năm 1994, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ khánh thánh Bảo tháp Xá-lợi và cung nghinh Xá-lợi Phật từ chùa Long Vân, Bình Thạnh về chùa Giác Lâm, tôn trí tại Bảo tháp (nguyên từ năm 1953, Xá-lợi Phật được đưa về tôn trí tại chính điện chùa Long Vân). Bảo tháp gồm 7 tầng, hình lục giác, mỗi tầng đều có mái ngói, cửa ra vào. Tháp được xây từ năm 1970 theo đồ án của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng, đến năm 1975 thì tạm ngưng cho đến năm 1993 mới được tiếp tục. Tháp cao 32m, mặt hướng Đông, là một trong những bảo tháp lớn và nổi triếng nhất thành phố.

Ngôi chùa có hình chữ nhật, dài 65m, rộng 22m, gồm 3 lớp nhà chính: chánh điện, giảng đường và nhà trai, không kể các dãy nhà phụ. Chùa có tất cả 98 cột. Trên cột có khắc 86 câu đối dính liền, chữ thếp vàng, khung viền chung quanh được trạm trổ rất công phu. Các đầu kèo đều tạc hình đầu rồng. Các bàn thờ trong chánh điện đều được làm bằng gỗ quý nên rất chắc chắn. Gian giữa có ba tấm bao lam hình Tứ quí (mai, lan, cúc, trúc), Tứ linh (long, lân, qui, phụng) và Cửu Long.

Chùa có 113 pho tượng cổ, chủ yêu bằng danh mộc (gỗ mít nài) được sơn son thếp vàng. Ngoài ra có 7 pho tượng đồng. Toàn bộ tượng, bao lam, ghế bàn, bảo tháp đều được chạm khắc cực kỳ tinh xảo. Pho tượng Phật cổ nhất ở chùa là tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi trên tòa sen, bằng gỗ, cao 0,65m; bề ngang hai gối 0,38m, được tôn trí ở giảng đường, có niên đại vào khoảng thế kỷ XVIII. Toà Cửu Long diễn tả sự tích đức Phật Thích-ca đản sinh, được đúc bằng đồng, tôn trí ở bàn thờ chánh điện. Khá đặc sắc về nghệ thuật tạc tượng là hai bộ Thập bát La-hán. Bộ La-hán nhỏ, mỗi pho tượng cao khoảng 0,57m (tượng cao 0.50m và đế cao 0.07m) được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX; bộ La-hán lớn, mỗi pho tượng cao khoảng 0.95m (tượng cao 0.80m và đế cao 0.15m) được tạo tác vào những năm đầu thế kỷ XX, đặt hai bên điện Phật ở chánh điện.

Bên trái khuôn viên chùa có khu mộ tháp của các vị Tổ đã trụ trì ở đây: Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Như Phòng,... Ở đây còn có cả tháp của Tổ Phật Ý, thầy của Tổ Viên Quang, trụ trì Sắc tứ Từ Ân, được dời về chùa Giác Lâm vào năm 1923.
-----------------------------------------------------------------------
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 9 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến pengoc_dethuong_97 với bài viết này:
  #4  
Cũ 20-12-2011
pham_duy_khanh pham_duy_khanh đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 13-12-2011
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 6 lần với 1 bài viết
Vị trí bề thế, nhưng quy mô lại khiêm tốn, chùa Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nhất của thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ Văn hóa ra quyết định số 1288 VH/QĐ ngày 16 - 11 - 1988 công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa. Chùa tọa lạc ở số 118 đường lạc Long Quân, phường 23, quận Tân Bình, trong vùng Phú Thọ Hòa.

Chùa vốn ở trên gò Cẩm Sơn, còn gọi là Cẩm Đệm và Sơn Can, do ông Lý Thụy Long, người Minh Hương, quyên tiền của xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý (1744), đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức miêu tả khu vực này như sau: rộng ba dăm, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà có nhã thú. Thi nhân du khách, mỗi dịp tết Thanh minh, Trùng cửu rảnh rỗi, kết bầy năm ba người đến mở tiệc thưởng hoa, chuốc chén ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa rộn ràng xa cách ra ngoài tầm mắt,?"

Năm 1772, Hòa thượng Viên Quang thuộc dòng Lâm tế tới trụ trì, từ đó mới đổi tên là Giác Lâm.

Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần thứ nhất, vào khoảng năm 1799 - 1804, Hòa thượng Viên Quang cho xây lại ngôi chùa. Đến năm 1906 - 1909, Hòa thượng Hồng Hưng với sự giúp sức của Hòa thượng Như Phòng, đã cho tôn tạo lại ngôi chùa một lần nữa. Các sự kiện này được ghi lại trong đôi liễn mừng lạc thành, nay còn treo ở chánh điện.

Khuôn viên chùa khá rông, nằm lọt giữa phố phường đông đúc, chung quanh là những bức tường xây. Qua cổng chùa, ngay giữa sân có dựng tượng Bồ - tát Quan Thế Âm dưới bóng cây bồ đề tán lá xanh tốt. Đây là cây bồ đề do Đại đức Narada mang từ SriLanca sang trồng ngày 18-6-1953. Nhân dịp này Ngài cũng cúng cho chùa Xá-Lợi Phật Thích-ca.

Ngày 17 tháng 6 năm 1994, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ khánh thánh Bảo tháp Xá-lợi và cung nghinh Xá-lợi Phật từ chùa Long Vân, Bình Thạnh về chùa Giác Lâm, tôn trí tại Bảo tháp (nguyên từ năm 1953, Xá-lợi Phật được đưa về tôn trí tại chính điện chùa Long Vân). Bảo tháp gồm 7 tầng, hình lục giác, mỗi tầng đều có mái ngói, cửa ra vào. Tháp được xây từ năm 1970 theo đồ án của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng, đến năm 1975 thì tạm ngưng cho đến năm 1993 mới được tiếp tục. Tháp cao 32m, mặt hướng Đông, là một trong những bảo tháp lớn và nổi triếng nhất thành phố.

Ngôi chùa có hình chữ nhật, dài 65m, rộng 22m, gồm 3 lớp nhà chính: chánh điện, giảng đường và nhà trai, không kể các dãy nhà phụ. Chùa có tất cả 98 cột. Trên cột có khắc 86 câu đối dính liền, chữ thếp vàng, khung viền chung quanh được trạm trổ rất công phu. Các đầu kèo đều tạc hình đầu rồng. Các bàn thờ trong chánh điện đều được làm bằng gỗ quý nên rất chắc chắn. Gian giữa có ba tấm bao lam hình Tứ quí (mai, lan, cúc, trúc), Tứ linh (long, lân, qui, phụng) và Cửu Long.

Chùa có 113 pho tượng cổ, chủ yêu bằng danh mộc (gỗ mít nài) được sơn son thếp vàng. Ngoài ra có 7 pho tượng đồng. Toàn bộ tượng, bao lam, ghế bàn, bảo tháp đều được chạm khắc cực kỳ tinh xảo. Pho tượng Phật cổ nhất ở chùa là tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi trên tòa sen, bằng gỗ, cao 0,65m; bề ngang hai gối 0,38m, được tôn trí ở giảng đường, có niên đại vào khoảng thế kỷ XVIII. Toà Cửu Long diễn tả sự tích đức Phật Thích-ca đản sinh, được đúc bằng đồng, tôn trí ở bàn thờ chánh điện. Khá đặc sắc về nghệ thuật tạc tượng là hai bộ Thập bát La-hán. Bộ La-hán nhỏ, mỗi pho tượng cao khoảng 0,57m (tượng cao 0.50m và đế cao 0.07m) được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX; bộ La-hán lớn, mỗi pho tượng cao khoảng 0.95m (tượng cao 0.80m và đế cao 0.15m) được tạo tác vào những năm đầu thế kỷ XX, đặt hai bên điện Phật ở chánh điện.

Bên trái khuôn viên chùa có khu mộ tháp của các vị Tổ đã trụ trì ở đây: Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Như Phòng,... Ở đây còn có cả tháp của Tổ Phật Ý, thầy của Tổ Viên Quang, trụ trì Sắc tứ Từ Ân, được dời về chùa Giác Lâm vào năm 1923.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 6 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến pham_duy_khanh với bài viết này:
  #5  
Cũ 04-02-2012
nhis21k5's Avatar
nhis21k5 nhis21k5 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 07-12-2011
Bài viết: 7
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 15 lần
ak có chùa Vĩnh tràng bạn
sao tòan vịnh hạ long k à
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến nhis21k5 với bài viết này:
  #6  
Cũ 04-02-2012
conan99's Avatar
conan99 conan99 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ trưởng
 
Tham gia : 14-10-2011
Đến từ: Thế giới của những con số
Bài viết: 386
Điểm học tập:75
Đã cảm ơn: 181
Được cảm ơn 396 lần
đề 5:trò chơi dân gian: Tò he, nếu ai chưa một lần được nghe và nhìn thấy chắc chắn không khỏi thắc mắc “Tò he là gì?”. Tò he là một đồ chơi rất dân dã, thô sơ, mộc mạc làm bằng thủ công nhưng lại rất sinh động, bắt mắt bởi hình dáng và màu sắc.

Xưa, Tò he là sản phẩm mang nhiều ý nghĩa: chơi, ăn, cúng, lễ…Cái tên “Tò he” cũng tồn tại trong dân gian từ khá lâu, và người làm nghề có ở nhiều nơi, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là làng Xuân La (xã Phượng Dực, Phú Xuyên- Hà Tây). Người dân xã Xuân La có câu ca: “Thứ nhất bánh đa, thứ nhì bánh cuốn, thứ 3 chim cò” để chỉ những nghề phụ của địa phương. “Chim cò” ở đây chính là nghề nặn Tò he. Tuy không phải nghề bí truyền nhưng hiện nay chỉ người dân Xuân La mới biết làm thứ đồ chơi này. Người đầu tiên đưa nghề nặn Tò he về làng là ông Vũ Văn Sai. Là người hay đi đây đó, khi sang Trung Quốc thấy những đồ chơi này hấp dẫn trẻ em, ông đã học về làm rồi truyền cho người dân trong làng. Ban đầu, người ta gọi là nghề chim cò vì trước đây đa phần người trong làng chỉ nặn những con chim, con cò để bán, sau gọi là nghề nặn chiến sĩ vì lúc đó người ta chỉ nặn những anh bộ đội, chị dân công. Về sau, người làng có sáng kiến gắn thêm những chiếc kèn vào đó để thu hút sự chú ý của trẻ em. Từ đó, nó mới có tên gọi là Tò he”.

Để nặn một tác phẩm tò he, công việc đầu tiên là phải chuẩn bị chất liệu gồm: bột gạo chín pha màu phẩm. Bột gạo được pha theo tỷ lệ 1 kg gạo tẻ với 1 lạng gạo nếp, trộn đều ngâm nước cho bở rồi đem giã hoặc xay thành bột, sau đó đem luộc hoặc đồ chín rồi bỏ ra thấu nhanh tay cho quyện, dẻo. Nếu vào những mùa nóng hoặc trời hanh khô, phải cho bột nếp nhiều hơn mới giữ được độ dẻo lâu. Khi bột đã thấu, mới cho tiếp các phẩm màu vào. Ngoài các màu chính như đỏ, vàng, xanh, đen, nếu cần những màu trung gian như hồng, ghi, cam… thì pha chế từ các màu cơ bản trên, rồi trộn vào bột. Màu sắc của bột làm tò he trước đây được chế từ những màu thực vật của cây cỏ, hoa lá trong thiên nhiên, nên có thể ăn được. Màu đen đốt ở rơm ra. Màu vàng chế từ hoa hòe, hoặc củ nghệ già. Màu đỏ lấy từ thân cây gỗ vang, hoặc chiết suất từ hoa hiên, quả dành dành… Màu xanh chàm lấy từ là chàm. Tất cả những màu trên, sau khi chiết suất, được pha thêm ít bột, rồi cho lên bếp quấy từ từ cho chín tới, vừa để diệt khuẩn, vừa giữ độ bền màu. Ngoài bột là vật liệu chính ra, người làm tò he còn phải chuẩn bị thêm một số phụ trợ khác như vòng nứa (nếu làm “bánh vòng”), que tre (nếu làm chim cò hoặc chiến sĩ) để làm đài hoặc làm cốt.

Đồ nghề để tạo tác cũng rất đơn giản gồm: một con dao bài con, một chiếc lược chải tóc và một miếng sáp ong.Khi nặn đôi tay linh hoạt và khéo léo… Để tạo vân xoắn, bột màu được vê thành sợi nhỏ, quấn sát vào nhau theo chiều từ trong ra ngoài của lòng bàn tay. Các kỹ thuật ngắt bột, vê, dán phải chính xác thì sản phẩm mới sắc nét, có hồn
Ngày nay việc làm tò he đơn giản hơn. Thay vì giã bột, người ta dùng máy xay cho nhuyễn sau đó để khô rồi đem luộc. Khi luộc chín, họ để nguội rồi đem nhuộm màu. Người ta cũng dùng các loại màu công nghiệp để làm cho tiện, màu sắc cũng phong phú hơn. Người nặn tò he hiện nay cũng kiêm luôn nghề bán hàng. Họ không nặn sẵn tò he mà đi tới đâu nặn tới đó theo yêu cầu của khách hàng. Giá của mỗi con tò he cũng dao động từ 2.000-5.000 đồng.

Tò he cụ bán mấy đồng, con mua một chiếc cho chồng con chơi.
Chồng con đánh hỏng thì thôi, con mua chiếc khác con chơi một mình.

Người ta yêu Tò he ở cái mộc mạc, đậm tính dân tộc của tò he, ở tính thủ công từ những đôi tay khéo léo.

Ngày nay, sở dĩ Tò he chưa được quảng bá rộng rãi ra nước ngoài là vì nhựơc điểm của chất liệu tạo ra chúng: bột gạo rất rẻ và dẻo khi nặn nhưng lại không để được lâu, dễ bị mốc và khô, nứt. Mỗi sản phẩm tò he thông thường chỉ để được từ 3 đến 30 ngày(tuỳ thuộc vào tay nghề của thợ nặn, thời tiết và cách bảo quản). Một số nghệ nhân nghĩ ra cách thử nặn tò he bằng bột đao. Tò he làm bằng bột đao có thể để được rất lâu (khoảng 1năm) mà không sợ nứt, mốc. Nhưng nhược điểm là rất khó nặn và không đẹp bằng tò he làm từ chất liệu bột gao. Hơn nữa, khi nặn xong phải đem luộc lại - mất rất nhiều thời gian. Vì vậy, thợ nặn phải làm trước ở nhà rồi mới đem bán. Chính điều này làm mất đi cái hay của tò he - người mua được chứng kiến tận mắt bàn tay khéo léo của thợ nặn
__________________
Conan99
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 8 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến conan99 với bài viết này:
  #7  
Cũ 04-02-2012
nhis21k5's Avatar
nhis21k5 nhis21k5 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 07-12-2011
Bài viết: 7
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 15 lần
ai úp dùm tớ bài thuyết minh về chùa vĩnh tràng k giúp mình với
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến nhis21k5 với bài viết này:
  #8  
Cũ 28-02-2012
147789 147789 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 28-02-2012
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 2 lần với 1 bài viết
lon du me do qua sadasd jbssailsjandusahdsandkjsahdusandjasdhbsadwasdsadsa dsadsa
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến 147789 với bài viết này:
  #9  
Cũ 23-01-2013
hoahoa_123 hoahoa_123 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 19-01-2013
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 2 lần với 1 bài viết
ai giup tui bai nay đề 3 với thuyết minh về một loài cây với mai làm rui
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hoahoa_123 với bài viết này:
  #10  
Cũ 25-01-2013
hongngam_29's Avatar
hongngam_29 hongngam_29 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ phó
 
Tham gia : 02-07-2011
Đến từ: ha noi
Bài viết: 258
Điểm học tập:96
Đã cảm ơn: 49
Được cảm ơn 219 lần
Hoa Ưu Đàm còn gọi là ưu đàm bát la, ưu đàm ba la, ưu đàm bạt la, ưu đàm bà la, ô đàm bà la, ô đàm la, ưu đàm bát, ưu đàm, ô đàm, là phiên âm Hán-Việt của từ "udumbara" trong tiếng Phạn hay tiếng Pali, có nghĩa là “loài hoa linh thiêng mang điềm lành từ Trời”, có truyền thuyết nói rằng "3.000 năm mới nở một lần". Theo kinh Phật, loài hoa này nở để báo hiệu chuyển luân vương hoặc một vị Phật giáng sinh. Kinh văn nhà Phật đều có nói về loài hoa Ưu Đàm thường tượng trưng cho những gì hiếm có khác thường, chỉ trên tiên giới, không có ở trần gian. Hoa chỉ xuất hiện khi có Đức Phật hay vị Kim Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện, đó là điềm lành hiếm có của nhân gian. Có hai giả thuyết khác nhau về việc nó nở ra sao. Một cho rằng, loài hoa chỉ nở 3.000 năm một lần. Thuyết khác lại cho rằng nó nở 12 năm một lần để báo hiệu.
Việc đề cập thời gian nở của hoa Ưu Đàm 3.000 năm một lần mang ý nghĩa biểu tượng hơn là nghĩa thực của nó. Kinh Phật có ghi vào thời khắc Đức Thích Ca Mâu Ni ra đời có hoa Ưu Đàm nở, tức là thể hiện sự hiếm hoi lắm nhân loại mới gặp được một vị Phật tại thế.
Hoa ưu đàm trong các kinh tạng của Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa bộ) bằng tiếng Pali chỉ hàm nghĩa ẩn dụ tôn giáo, chưa có các đặc điểm huyền bí mà sau này người ta thêm thắt vào. Udumbara trong kinh tạng tiếng Pali khi được dịch ra các tiếng khác, về cơ bản được dịch thành loài cây mà trong tiếng Việt gọi là cây sung (Ficus racemosa). Chẳng hạn trong Kinh tập (Sutta Nipata) của Tiểu bộ kinh (Khuddaka Nikaya), phần phẩm Rắn (Uragavagga), kinh Rắn (Uraga Sutta), hòa thượng Thích Minh Châu dịch như sau[1]:
Ai trong các sanh hữu,
Không tìm thấy lõi cây,
Như kẻ đi hái hoa,
Trên cây sung không hoa.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
Các bản dịch của Kinh tập sang tiếng Anh cũng dịch udumbara (hay udumbaresu/udumbaro) trong tiếng Pali[2] thành fig tree[3][4].
Tương tự, trong thiên Đại Phẩm (Mahavagga Samyuttapàli) của Tương Ưng Bộ kinh (Samyutta Nikaya), phần Tương Ưng Giác Chi (Bojjhanga-samyutta), hòa thượng Thích Minh Châu dịch udumbara (udumbaro)[5][6] thành cây sung:
“ "Và này các Tỷ-kheo, những cây lớn nào sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác, các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống? Ví như cây bồ-đề, cây bàng, cây sanh (pilakka/pilakkho), cây sung (udumbara/udumbaro), cây bách hướng (kacchaka/kacchako), cây kapitthaka/ kapitthano; những cây lớn này, này các Tỷ-kheo, sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác. Các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống."[7] ”
Tuy nhiên, trong kinh tạng tiếng Pali, udumbara/udumbarassa không chỉ có nghĩa là loại cây hiếm khi ra hoa, mà còn có nghĩa là cây giác ngộ, với vị Phật thứ 26 là Koṇāgamana (Phật Câu Na Hàm) đã giác ngộ dưới cây udumbarassa. Kinh Đại Bổn (Mahapadana Sutta) trong Trường bộ kinh (Digha Nikaya) có đoạn được hòa thượng Thích Minh Châu dịch như sau:
“ "Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassī[8], bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pàtali (bà-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhī[9], bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pundarika (phân-đà-ly). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhū[10], bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây sirĩsa (thi-lợi-sa). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Koṇāgamana[11], bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây udumbara (ô-tam-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa[12], bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây nigrodha (ni-câu-luật-đà). Này các Tỷ-kheo, nay Ta[13] là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa-la)."[14][15] ”
[sửa]Đại thừa
Tuy nhiên, trong các kinh tạng tiếng Hán của Phật giáo Đại thừa, hoa ưu đàm trở nên rắc rối hơn. Diệu pháp liên hoa kinh liên kết hoa ưu đàm với sự ra đời của chư Phật[16]:
"Chư Phật xuất thế
là sự khó có,
vì lẽ lâu xa
mới gặp một lần.
...........
Và rồi những ai
nghe nổi pháp này,
thì người như vậy
là người khó có.
Như hoa ưu đàm
ai cũng ưa thích,
đến như chư thiên
cũng thấy hiếm có,
vì lẽ thỉnh thoảng
mới trổ một lần.
...........
Nên người như vậy
hết sức khó có,
khó có hơn cả
hoa thiêng ưu đàm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 4 thành viên đã gửi lời cảm ơn đến hongngam_29 với bài viết này:
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Luyện thi quốc gia PEN-C: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Bài 3. Chữa những bài hay và khó của chuyên đề 3
Luyện thi quốc gia PEN-C: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Bài 3. Chữa những bài hay và khó của chuyên đề 3
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 14. PP nhân liên hợp trong giải PT vô tỷ (P2)- thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 14. PP nhân liên hợp trong giải PT vô tỷ (P2)- thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 17. PP đơn điệu của hàm số ( P1) - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 17. PP đơn điệu của hàm số ( P1) - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 16. PP nhân liên hợp trong giải BPT vô tỷ - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 16. PP nhân liên hợp trong giải BPT vô tỷ - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 12. PP đặt ẩn phụ không hoàn toàn - thầy Lưu Huy Thưởng
Luyện thi quốc gia PEN-C: Môn Toán (Thầy Phan Huy Khải) : Bài 12. PP đặt ẩn phụ không hoàn toàn - thầy Lưu Huy Thưởng
Chuyên đề Hình học giải tích - Thầy Lưu Huy Thưởng : Bài 2. Viết phương trình đường tròn ( P2)
Chuyên đề Hình học giải tích - Thầy Lưu Huy Thưởng : Bài 2. Viết phương trình đường tròn ( P2)
Chuyên đề Hình học giải tích - Thầy Lưu Huy Thưởng : Bài 1. Viết phương trình đường tròn ( P1)
Chuyên đề Hình học giải tích - Thầy Lưu Huy Thưởng : Bài 1. Viết phương trình đường tròn ( P1)
Luyện thi quốc gia PEN-C: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Bài 6. Chữa những bài hay và khó của chuyên đề 2
Luyện thi quốc gia PEN-C: môn Tiếng Anh - cô Nguyệt Ca : Bài 6. Chữa những bài hay và khó của chuyên đề 2
Chuyên đề Bất đẳng thức - thầy Trần Phương : Bài 11. Bất đẳng thức Bunhiacốpski (Phần 1)
Chuyên đề Bất đẳng thức - thầy Trần Phương : Bài 11. Bất đẳng thức Bunhiacốpski (Phần 1)
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Bài 8: Unit 8 (The story of my village) & An informal letter
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương : Bài 8: Unit 8 (The story of my village) & An informal letter

Đề thi mới
Thi thử đại học 12 : Đề đánh giá năng lực môn Tiếng Anh - Dành cho học sinh lớp 13
Thi thử đại học 12 : Đề đánh giá năng lực môn Tiếng Anh - Dành cho học sinh lớp 13
Thi thử đại học 12 : Đề kiểm tra năng lực môn Tiếng Anh - Dành cho học sinh lớp 12
Thi thử đại học 12 : Đề kiểm tra năng lực môn Tiếng Anh - Dành cho học sinh lớp 12
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương 10 : Revision test 1+2+3
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương 10 : Revision test 1+2+3
Hóa học 10 : Chương IV. Phản ứng hoá học
Hóa học 10 : Chương IV. Phản ứng hoá học
Hóa học 10 : Chương III. Liên kết hóa học
Hóa học 10 : Chương III. Liên kết hóa học
Hóa học 10 : Chương I. Nguyên tử
Hóa học 10 : Chương I. Nguyên tử
Hóa học 10 : Chương II. Bảng HTTH các nguyên tố hoá học
Hóa học 10 : Chương II. Bảng HTTH các nguyên tố hoá học
Toán 11 : Chương 2. Tổ hợp và xác suất
Toán 11 : Chương 2. Tổ hợp và xác suất
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương 10 : Pronunciation test
Tiếng Anh 10 - cô Nguyễn Thị Phương 10 : Pronunciation test
Internal Test 9 : Hocmai.vn contest 2 2014.08
Internal Test 9 : Hocmai.vn contest 2 2014.08




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 22:10.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.