Diễn đàn học tập của Hocmai.vn
Liên hệ quảng cáo: xem chi tiết tại đây

Diendan.hocmai.vn - Học thày chẳng tày học bạn! » Ngữ văn » Lớp 11 » Văn nghị luận » [Văn 11] - Bài viết số 2: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam




Trả lời
  #121  
Cũ 17-11-2011
haha123vnvn haha123vnvn đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 15-11-2011
Bài viết: 7
Đã cảm ơn: 0
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
Mở bài:


-Giới thiệu hình tượng nguoi phụ nữ trong văn học nói chung.


-Cảm hứng về nguoi phụ nữ trong tự tình,của HXH và thương vợ của trần tế xương.


Thân bài:


-Thời đại hoàn cảnh,nội dung cơ bản trong thơ của 2 tác giả trên.


-Nguoi phụ nữ VN thời xưa đẹp nguoi và đẹp nết


+Tảo tần,chung thủy,son sắt:Bà tú,chịu thương chịu khó,tảo tần,''quanh năm buôn bán'' nuôi chồng nuôi con,thủy chung son sắt


+ Nguoi phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi,gian nan,vất vả,''hông nhan bạc phận''.


Trong tự tình:thân phận bẽ bàng,cô độc,tình duyên lận đận,hạnh phúc mong manh.


Trong thương vợ:lam lũ,vất vả


Viết về nguoi phụ nữ vớ mối đồng cảm sâu sắc là 1 biểu hiện của tinh thần nhân đạo.


Kết bài:


-Người phụ nữ xưa phải chịu nhiều bất hạnh và sự hạn chế của ý thức xã hội


-Nhắc nhở con nguoi phải biet trân trọng hạnh phúc của ngày hôm nay
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #122  
Cũ 21-11-2011
conan99's Avatar
conan99 conan99 đang ngoại tuyến
Thành viên
Tổ trưởng
 
Tham gia : 14-10-2011
Đến từ: Thế giới của những con số
Bài viết: 386
Điểm học tập:75
Đã cảm ơn: 181
Được cảm ơn 387 lần
Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng đường vô cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm. Trải qua bốn nghìn năm, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học dân gian: bà Âu Cơ đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng, bà mẹ Dóng kiên trì nuôi đứa con “Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc, nàng Quế Hoa, cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân... Nguồn tư liệu khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật của người phụ nữ “uy nghi chống nẹ trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống đồng”, Hai Bà Trưng, bà Triệu và những phụ nữ tài giỏi, dũng cảm khác của thời đại Ngô, Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê. Tây Sơn như Thái hậu Vương Vân Nga, Ỷ Lan nguyên phi, đô đốc Bùi Thị Xuân... đã được ghi vào lịch sử thành văn của dân tộc.

Cùng với sự phản ánh về lịch sử đất nước, lịch sử dân tộc, mọi nguồn tư liệu đã cho thấy, vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ nữ là những người đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng

Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền là người nữ sĩ đấu tranh chống giặc ngoại xâm.



Từ thế kỷ III trước công nguyên, trong những thời kỳ mà sử cũ gọi là “Bắc thuộc”, cùng với cả dân tộc, những người phụ nữ Việt Nam đã kiên quyết đứng lên chống bọn thống trị phương Bắc để giành lấy quyền sống. Vì khi có nạn ngoại xâm, phụ nữ là người trực tiếp chịu hậu quả nặng nề nhất. Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tràn vào Thăng Long ”làm cỏ nhân dân kinh thành”, vào thành Đông Đô, giặc Minh đã cướp bắt đàn bà con gái, mỗ bụng đàn bà có thai, giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp cho chủ tướng (năm 1909). Tướng giặc Trương Phụ bắt phụ nữ ta đưa về nước làm tôi đòi, tì thiếp (năm 1414). Nhà Minh ra lệnh buộc phụ nữ Việt Nam phải bím tóc, mặc áo ngắn, quần dài, theo phong tục của chúng. Thế kỷ XVIII, giặc Mãn Thanh và lũ tai sai bán nước trói phụ nữ vào cột ở giữa chợ, giết cả mẹ lẫn con vì họ đã đi theo nghĩa quân Tây Sơn...

Mở đầu truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là hai vị nữ anh hùng dân tộc: bà Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Đông Hán giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo (năm 40 đầu công nguyên) lôi cuốn một lực lượng quần chúng đông đảo chưa từng thấy, chỉ trong một thời gian, 65 thành đã giải phóng, mở ra một trang sử vẻ vang cho dân tộc.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, đã phủ định cái uy quyền “bình thiên hạ” của đế chế Hán đang thời kỳ thịnh đạt, đồng thời nó cũng khẳng định khả năng giành độc lập, mở đường cho các thế hệ sau đi tới thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nó còn chứng minh khả năng cách mạng to lớn của phụ nữ: không những chiến đấu dũng cảm chống ngoại xâm mà còn động viên, đoàn kết và lãnh đạo quần chúng rất tài giỏi.



Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc với câu nói hào hùng đầy khí phách của Bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người”.



Bằng những cách đánh giặc muôn hình muôn vẻ, các thế hệ phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến vẫn không ngừng tích cực tham gia vào sự nghiệp cứu nước.


Và nhiều phụ nữ khác ở thời Trần, thời Lê, thời Tây Sơn đã trực tiếp đánh giặc theo nhiều cách. Đấy là những người phụ nữ ở ven sông Bạch Đằng, đem hết thóc gạo trong nhà lương ăn cho quân sĩ, và mách Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giờ nước thủy triều của dòng sông quê hương, giúp nhà Trần lập nên chiến công sông Bạch Đằng lẫy lừng.

Trong phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII, đô đốc Bùi Thị Xuân, một tướng lĩnh trụ cột của Quang Trung – (Nguyễn Huệ), chỉ huy một đạo quân riêng gồm 5 nghìn quân phục màu đỏ, đã nhiều phen làm quân thù thất bại thảm hại, nhất là ở trận Trấn Ninh nổi tiếng.



Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta và cấu kết với phong kiến thống trị nhân dân ta, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã cùng với dân tộc, phát huy truyền thống đánh giặc cứu nước.



Người phụ nữ Việt Nam, không những chỉ xuất hiện khi vận nước lâm nguy mà ngay cả trong đấu tranh dưới mọi hình thức chống áp bức bất công. Sự phản kháng chế độ phong kiến, lễ giáo Khổng Mạnh khi âm thầm, lúc quyết liệt diễn ra suốt hàng nghìn năm.

Thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ngày càng suy tàn mọt ruỗng (thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh, “rạch đôi sơn hà làm cho trăm họ lầm than”), trong phong trào nông dân khởi nghĩa, cuộc đấu tranh của phụ nữ chống ách thống trị phong kiến đã lan rộng ra nhiều lĩnh vực: Bùi Thị Xuân trong quân sự, Hồ Xuân Hương trong văn học...và còn biết bao nữ danh nhân khác. Ca dao, truyện, thơ, truyện tiếu lâm thời kỳ đó đã phản ánh trung thực sinh động.



Lịch sử Việt nam còn ghi đậm nét những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền, người phụ nữ cần cù trong lao động: “sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu”... “vai vác cái cày, tay đuổi con trâu, cái cuốc cho lẫn cái gầu, con dao rựa phát đèo đầu gánh phân”...

Theo sử liệu, ngay từ thế kỷ X và XV, đã có lúc Nhà nước huy động tới một triệu người vào quân đội, chiếm tỉ lệ một phần năm dân số. Người phụ nữ phải đảm đang lao động sản xuất



Việc điều động những lực lượng lao động lớn nam giới vào các công trình tập trung, đào sông, khơi mương, đắp máng, đắp đê phòng lụt và những việc đắp thành lũy, xây cung điện, dựng đền đài làm cho phụ nữ trở thành lực lượng lao động quan trong trong nông nghiệp.



Lịch sử của nhiều ngôi làng trù mật ở Trung du đồng bằng ngày nay đã bắt đầu­ từ ba thế kỷ trước, với điều ghi nhận về những ng­ười phụ nữ đầu tiên đã cùng với bà con khai rừng, bạt đồi, đuổi thú, phát cỏ mà làm nên ấm no, thịnh vượng cho cả một vùng.

Lập đư­ợc những thành tích lao động ấy hiển nhiên ngư­ời phụ nữ phải có một đầu óc lo liệu. Chỉ một việc đi cấy thôi, người phụ nữ cũng phải : “Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mư­a, trông gió, trông ngày, trông đêm”. Trong quá trình làm nông nghiệp đời này qua đời khác, ý thức lao động dần dần đi vào tình cảm trở thành bản chất tốt đẹp của ng­ười phụ nữ. Lao động kiên trì, nhẫn nại trở thành lẽ sống của phụ nữ vì chồng con, vì gia đình, vì đất nư­ớc.



Với sự tham gia đông đảo, quan trọng và thư­ờng xuyên của ngư­ời phụ nữ, nền nông nghiệp Việt Nam x­ưa đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hàng nghìn năm tr­ước, nông nghiệp của ta đã giải quyết đư­ợc việc chuyển vụ, tăng vụ. Lúa đã đư­ợc trồng đến 2 vụ, 3 vụ năm và hơn nữa tại một số vùng lên tới 4 vụ ở thế kỷ XIII. Nhiều cây rau quả cũng đã đư­ợc trồng trọt từ rất sớm ở Việt Nam. Và cùng với kết quả đó là cả một kho tàng kinh nghiệm sản xuất đã đư­ợc tích lũy xây d­ựng qua nhiều thế kỷ. Người phụ nữ ngày xư­a tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung, đến những tấm gấm thời Lý... Đây là những ng­ười mà từ những thế kỷ đầu công nguyên - theo sự ghi chép của sử liệu thành văn - đã lập đ­ược những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm; một năm tám lứa, tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nư­ớc ngoài chuộng mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của ng­ười phụ nữ lao động Việt Nam.



Những đức tính quý báu đầu tiên của ng­ười phụ nữ gánh vác gia đình x­a là trung hậu đảm đang.

Đảm đang gia đình trong tình hình phải luôn luôn đối phó với thiên tai, địch họa, người phụ nữ càng thông cảm gắn bó với bà con, xóm giềng thành một cộng đồng nư­ơng tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn. Đức tính vị tha, khiêm như­ờng thủy chung nh­ư nhất trở thành một truyền thống “thương ngư­ời như­ thể thư­ơng thân”.



Mặt khác, tính khiêm nh­ường, lòng vị tha, đức tính hy sinh và lòng yêu thư­ơng sâu sắc của người phụ nữ tỏa ra trong gia đình, khiến cho ng­ười phụ nữ có một vị trí đặc biệt. Xã hội x­ưa đối với ngư­ời phụ nữ chủ gia đình đã biểu lộ sự kính nể.

Đô hộ đất nước ta, bọn phong kiến phương Bắc tìm mọi cách đồng hóa dân tộc ta. Vì vậy lịch sử Việt Nam cũng là lịch sử bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc, trong đó người phụ nữ giữ vai trò rất tích cực.

Trách nhiệm của các bà mẹ Việt Nam nuôi dạy con cái từ tuổi bé thơ đến lúc trưởng thành, đã được xã hội ta từ xưa đánh giá cao “cha sinh không bằng mẹ dưỡng”



Hòa với dòng sữa và mối tình của mẹ, tiếng ru xưa gợi lên đầu óc đứa con thơ những nhận thức và tình cảm đầu tiên mà sau đó, cho mãi đến lúc lớn khôn, con người vẫn còn ghi nhớ mãi.

Những bài học, những kinh nghiệm đúc kết trong hàng nghìn năm lịch sử, những tình cảm, tâm lý, đạo đức của dân tộc Việt Nam, một phần quan trọng do những phụ nữ xưa gìn giữ và truyền thụ cho đời sau.

Đối với con người, người chồng, người yêu đi xa, hình ảnh người mẹ, người vợ cũng là hình ảnh của quê hương đất nước, và cũng tạo nên những tình cảm dân tộc và những hình ảnh tích cực khác trong đời sống xã hội.





Trong nền văn chương bác học của dân tộc, những người phụ nữ có điều kiện được ăn học cũng đem tài nghệ và tâm hồn hòa vào các dòng văn thơ chung, góp phần vào việc phát triển nền văn hóa dân tộc.






Những trang sử cũ và những nguồn tư liệu đã phản ánh hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử:

- Lao động thông minh, cần cù

- Là trụ cột gia đình, nuôi già dạy trẻ

- Là người nghệ sĩ tài hoa, sáng tạo và bảo vệ văn hóa dân tộc.

- Là người chiến sĩ giữ n­ước kiên cư­ờng, bất khuất.

Lịch sử và dân tộc đã ghi nhận vai trò tích cực khả năng và cống hiến to lớn của ng­ười phụ nữ cổ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nư­ớc và giữ nư­ớc trên mọi lĩnh vực. Song ách thống trị về mặt giai cấp của các thế lực phong kiến kéo dài hàng nghìn năm chất nặng lên đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Việt Nam, của ng­ười phụ nữ Việt Nam.





Đến tuổi lấy chồng, ngư­ời con gái không có quyền đ­ược lựa chọn ng­ười chồng. Với tục “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và với lệ thách cư­ới ngư­ời con gái trở thành một vật trao đổi mua bán.

Một khi việc “gả bán” đã xong, ng­ười con gái rời nhà cha mẹ, sống cuộc đời “xuất giá tòng phu”, ngư­ời vợ không còn giữ đư­ợc địa vị tư­ơng xứng với vai trò của mình trong gia đình, trái lại còn bị ng­ược đãi đủ điều.







Từ giữa thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn phản động đã đầu hàng nhục nhã khi thực dân Pháp xâm lư­ợc nư­ớc ta. Nư­ớc ta đã trở thành một n­ước thuộc địa và nửa phong kiến.



Ngay từ nhữ­ng năm đầu xâm lư­ợc Việt Nam, giặc Pháp đã đốt phá, giết chóc và hãm hiếp, gây biết bao tai họa cho nhân dân và phụ nữ ta ở khắp nơi.





Toàn thể nhân dân Việt Nam bị áp bức bóc lột, trong đó giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là lực l­ượng chủ yếu vùng dậy đấu tranh chống bọn thống trị thực dân phong kiến. Phụ nữ Việt Nam chiếm số đông trong nhân dân lao động không những bị áp bức về dân tộc, về giai cấp mà còn bị giáo lý phong kiến kìm hãm trói buộc, nên họ có tinh thần đấu tranh cách mạng mạnh mẽ. Có phụ nữ tham gia thì cách mạng mới thành công, mặt khác, chỉ khi nào cách mạng thành công, dân tộc đư­ợc độc lập, giai cấp đ­ược giải phóng, thì phụ nữ mới được giải phóng.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn conan99 vì bài viết này:
  #123  
Cũ 18-01-2012
dbofmylove dbofmylove đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 18-01-2012
Bài viết: 7
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 0 lần
tuy em học thấp hơn mọi người ,nhưng đọc qua đề tài này em thấy hơi có cảm xúc , nên góp một chút xíu phần mở bài nhé :
Trong vô số những số phận đau khổ , cùng cực dưới chế độ xã hội phong kiến , có lẽ số phận người phụ nữ đều được các nhà văn nhân đạo đau xót chân trọng và tập trung viết về họ . Họ là hình tượng tiêu biểu cho những số kiếp bi đát của những con người trong cuộc đời bế tắc , là những con người có đủ tài năng , có đức hạnh thanh cao nhưng lại bị cuộc đời vùi dập xô đẩy . Trong số những tác phẩm viết về đề tài này , nổi bật nhất phải kể đến Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần tế Xương.
XIN NGƯỜ GỬI ĐỀ NÀY ĐỌC < RỒI CHO NHẬN XÉT LUÔN NHÉ !!!![COLOR][/COLOR]
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #124  
Cũ 26-02-2012
zhi_no1's Avatar
zhi_no1 zhi_no1 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 26-02-2012
Bài viết: 13
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 19 lần
Đề văn này, mình đã viết rồi, mình sẽ post phần mở bài,dàn ý( phần thân bài ) và kết bài lên , các bạn xem rồi cho mình vài lời nhận xét, góp ý nhé.

Đối với yêu cầu của đề, theo mình, các bạn nên đọc lại cả ba tác phẩm, tìm ra vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua ba tác phẩm đó, không nên phân tích vẻ đẹp của từng bài vì như thế sẽ không đáp ứng đúng yêu cầu của đề.

Mb:
Ca dao Việt Nam có câu:
" Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu "
Bao nhiêu lần đọc lại lời ca tha thiết ấy là bấy nhiêu lần lòng ta trào dâng niềm thương cảm, xót xa cho số phận người phụ nữ Việt Nam thời xưa. Vẻ đẹp và cuộc đời khổ đau bất hạnh mà họ phải gánh chịu đã làm lay động biết bao trái tim chan chứa yêu thương của các nhà thơ, nhà văn. Cũng bởi lẽ đó mà khi viết về họ, nhiều nhà thơ, nhà văn đã để lại những tác phẩm sống mãi với thời gian. Bánh trôi nước, Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương và Thương Vợ của Tú Xương là những tác phẩm như thế. Đến với các tác phẩm này, một lần nữa ta càng thấy rõ vẻ đẹp đức hạnh cùng cuộc đời đầy khổ đau oan trái của người phụ nữ trong xã hội cũ.

Tb:
*) Vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội cũ:
-) Trước hết ta thấy người phụ nữ trong xã hội cũ là hiện thân của cái đẹp. Họ màn tron mình một vẻ đẹp hoàn hảo, hoàn mĩ. Người phụ nữ trong bài thơ " Bánh trôi nước" là một phụ nữ duyên dáng, khỏe mạnh"
" Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nối ba chìm với nước non"
=> Phân tích dẫ chưng để thấy rõ vẻ đẹp duyên dáng, khỏe mạnh ấy.
Còn trong Tự tình, người phụ nữ hiện lên là người con gái đẹp, đang độ tuổi thanh xuân, tràn đầy sức sống:
" Trơ cái hông nhan với nước non"
"Hồng nhan" tức là má hồng, chỉ người con gái đẹp, yêu kiều.
-) Người phụ nữ trong xã hội cũ không chỉ đẹp về nha sắc mà họ còn đẹp cả về tâm hồn. Hiện lên ở họ trước hết là tấm lòng thủy chung, yêu chồng thương con:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông"
=> Phân tích dẫn chứng để làm rõ luận điểm đã nêu ở trên.
*) Cuộc đời khổ đau, oan trái của người phụ nữ:
-) Những người phụ nữa đức hạnh ấy những tưởng được hưởng cuộc sống hạnh phúc nhưng trai lại họ phải gánh chịu một số phận khổ đau, oan trái. Họ bị chà đạp phũ phàng, phải sống cuộc đời lận đận, phải phụ thuộc vào kẻ kháci:
" Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn"
=> Phân tích dẫn chứng.
-) Phải chăng vì sự bất công, ngang trái ấy mà người phụ nữ xưa luôn phải đau khổ, xót xa vì tình:
" Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăn bóng xế khuyết chưa tròn"
=> Phân tích dẫn chứng.
*)
+ Tuy nhiên dù cuộc đời có phũ phàng, bất hạnh có lớn cỡ nào thì người phụ nữ vẫn vươn lên, vẫn giữ trọn phẩm giá, tâm hồn cao đẹp của mình:
" Mà em vẫn giữ tấm long son"
=> Phân tích dẫn chứng
+ Hơn thế, người phụ nữ đa không cam chịu, không chấp nhận số phận mà họ vẫn khao khát tình yêu, hạnh phúc:
" Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn"
=> Phân tích dẫn chứng.

Tiểu kết: Nói tóm lại hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa hiện lên qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình và thương vợ là những người phụ nữ xinh đẹp, đảm đang tháo vát, thủy chung son sắt. Nhưng cuộc đời họ lại đầy rẫy những khổ đau oan trái, những bất hạnh éo le, cuộc sống vất vả, lận đận theo họ suốt đời. Mặc dù vậy nhưng người phụ nữ vẫn luôn tỏa sáng, luôn sống tốt, luôn làm tròn bổn phận của mình, vẫn khao khát, mơ ước một cuộc sống đẹp cho riêng mình.

Kb:

Xã hội cũ với những phong tục, quan niệm lạc hậu sai lầm, chà đạp người phụ nữ đã đi vào quá khứ mà sao mỗi lần đọc lại những tác phẩm ấy lòng ta vẫn bồi hồi, thương cảm. Phải chăng vẻ đẹp tâm hồn của những người phụ nữ ấy đã hóa thân để trở thành những viên ngọc tỏa sáng đến muôn đời sau. Càng thương cảm, càng xót xa cho những người phụ nữ ấy chúng ta càng tự hào về xã hội công bằng, tốt đẹp ngày hôm nay. Chỉ có xã hội ngày hôm nay người phụ nữ mới được tôn vinh, được trân trọng và bảo vệ.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có một thành viên đã cám ơn zhi_no1 vì bài viết này:
  #125  
Cũ 29-02-2012
leminh_27 leminh_27 đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 29-02-2012
Bài viết: 1
Đã cảm ơn: 1
Được cảm ơn 0 lần
Đề tài này rất thú vị, nếu liên hệ với hiện tại thì sẽ có nhiều điều để nói


[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #126  
Cũ 27-03-2012
hau_cute hau_cute đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 27-03-2012
Bài viết: 3
Đã cảm ơn: 0
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
ui mọi người phan tich hay wa,nhứn sao toàn nói tơi sư đau khổ bất hạnh of người fu nữ thế,?????????????
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #127  
Cũ 19-04-2012
tintincangxe tintincangxe đang ngoại tuyến
Thành viên
Thành viên của lớp
 
Tham gia : 13-04-2012
Bài viết: 19
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 4 lần
Viết được thì phải đọc 2 tác phẩm này chứ! Xem phần nội dung và ý nghĩa trong tập rồi dựa vào đó mà làm! Mình cũng nên bổ sung thêm về ý = cách tham khảo các bài rap: Sorry Mom, Người số 1, Mẹ tôi,... và các bài khác cùng chủ đề. Nhớ làm thật hay nhé!
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #128  
Cũ 19-04-2012
doi_denkno1 doi_denkno1 đang ngoại tuyến
Banned
Bàn phó
 
Tham gia : 20-03-2012
Bài viết: 85
Điểm học tập:6
Đã cảm ơn: 37
Được cảm ơn 33 lần
những hình ảnh "lặn lội thân cò.... quãng vắng.... eo sèo mặt nước....đò đông.." thể hiện cho ta thấy vẻ đẹp của người phụ nữ, với những phẩm chất vô cùng tốt đẹp, với đức hi sinh cao cả và sự cần cù, chịu khó..... Số phận éo le của người phụ nữ được lột tả vô cùng thành công qua biểu tượng "con cò" và từ đó nó đi vào văn thơ như một "công thức ngôn từ" truyền cảm đầy tính gợi mở ấn tượng.

Bài thơ với cái nhìn táo bạo (xét riêng trong thời kì phong kiến lúc bấy giờ), nhưng cũng là một nét mới đáng yêu trong dòng văn học cổ. Tú Xương đã sử dũng những điển cố trong ca dao và đưa vào tác phẩm một cách rất khéo léo:

"thân còn lặn lội bờ ao
gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non"......


hình ảnh "con cò" trong "thương vợ" tảo tần chăm lo cho "5 con với 1 chồng" cũng chính là hình ảnh con cò lận đận với bốn bề nước non trong câu ca dao trên. và không chỉ xuất hiện những yếu tố ngụ tình sâu sắc.... cái cảm giác bâng khuân day dứt trong từng câu thơ như lôi kéo người đọc tiếp tục hành trình khám phá hình ảnh người phụ nữ trong tác phẩm. Những tác phẩm thơ ca viết về người phụ nữ cũng như số phận của họ trong XH phong kiến không phải k có, cũng k fải ít... song, để tạo ra một cái nhìn chan chứa và pha chút dí dỏm với giọng thơ tinh nghịch mà vẫn truyền tải được hết những tư tưởng và ý nghĩa của tác phẩm k phải là dễ. Thế nhưng Tú Xương đã làm đc.....

Tú Xương cũng hay thể hiện cái ngông nghênh nhẹ nhàng mà dí dỏm của mình bằng một giọng thơ mới, và cả một nét nhìn mang tư tưởng mới khác hẳn với những tư tưởng văn học cổ truyền.... Và điển hình trong những thể loại mới ấy chính là tác phẩm "thương vợ" của Tú Xương mà bạn đang hỏi. Ít nhà thơ nào lại viết về vợ mình với cái nhìn cảm thông, yêu thương thương và bao dung như vậy! Bạn có thể cảm thấy một tình cảm sâu sắc của nhà thơ, song cũng dễ dàng cảm nhận được những áp lực và cổ tục của lễ giáo phong kiến đang đè nặng lên đôi vai người phụ nữ ấy. Một tay người phụ nữ ấy chăm lo cho 5 con-1 chồng. Một tay người phụ nữ ấy "quanh năm buôn bán", "năm nắng mời mưa".... để rồi nhà thơ Tú Xương không còn biết dùng một từ ngữ nào có thể diễn tả hơn là "thân cò" lặn lội.... có lẽ nhà thơ vì "thương vợ" mà không thể làm gì giúp dược cho vợ nên chúng ta mới có tác phẩm này để mà học ngày hôm nay! hi hi...
những hình ảnh "lặn lội thân cò.... quãng vắng.... eo sèo mặt nước....đò đông.." thể hiện cho ta thấy vẻ đẹp của người phụ nữ, với những phẩm chất vô cùng tốt đẹp, với đức hi sinh cao cả và sự cần cù, chịu khó..... Số phận éo le của người phụ nữ được lột tả vô cùng thành công qua biểu tượng "con cò" và từ đó nó đi vào văn thơ như một "công thức ngôn từ" truyền cảm đầy tính gợi mở ấn tượng.

Bài thơ với cái nhìn táo bạo (xét riêng trong thời kì phong kiến lúc bấy giờ), nhưng cũng là một nét mới đáng yêu trong dòng văn học cổ. Tú Xương đã sử dũng những điển cố trong ca dao và đưa vào tác phẩm một cách rất khéo léo:

"thân còn lặn lội bờ ao
gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non"......


hình ảnh "con cò" trong "thương vợ" tảo tần chăm lo cho "5 con với 1 chồng" cũng chính là hình ảnh con cò lận đận với bốn bề nước non trong câu ca dao trên. và không chỉ xuất hiện những yếu tố ngụ tình sâu sắc.... cái cảm giác bâng khuân day dứt trong từng câu thơ như lôi kéo người đọc tiếp tục hành trình khám phá hình ảnh người phụ nữ trong tác phẩm. Những tác phẩm thơ ca viết về người phụ nữ cũng như số phận của họ trong XH phong kiến không phải k có, cũng k fải ít... song, để tạo ra một cái nhìn chan chứa và pha chút dí dỏm với giọng thơ tinh nghịch mà vẫn truyền tải được hết những tư tưởng và ý nghĩa của tác phẩm k phải là dễ. Thế nhưng Tú Xương đã làm đc.....

Tú Xương cũng hay thể hiện cái ngông nghênh nhẹ nhàng mà dí dỏm của mình bằng một giọng thơ mới, và cả một nét nhìn mang tư tưởng mới khác hẳn với những tư tưởng văn học cổ truyền.... Và điển hình trong những thể loại mới ấy chính là tác phẩm "thương vợ" của Tú Xương mà bạn đang hỏi. Ít nhà thơ nào lại viết về vợ mình với cái nhìn cảm thông, yêu thương thương và bao dung như vậy! Bạn có thể cảm thấy một tình cảm sâu sắc của nhà thơ, song cũng dễ dàng cảm nhận được những áp lực và cổ tục của lễ giáo phong kiến đang đè nặng lên đôi vai người phụ nữ ấy. Một tay người phụ nữ ấy chăm lo cho 5 con-1 chồng. Một tay người phụ nữ ấy "quanh năm buôn bán", "năm nắng mời mưa".... để rồi nhà thơ Tú Xương không còn biết dùng một từ ngữ nào có thể diễn tả hơn là "thân cò" lặn lội.... có lẽ nhà thơ vì "thương vợ" mà không thể làm gì giúp dược cho vợ nên chúng ta mới có tác phẩm này để mà học ngày hôm nay! Nhớ Thanks nha bạn
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #129  
Cũ 19-04-2012
doi_denkno1 doi_denkno1 đang ngoại tuyến
Banned
Bàn phó
 
Tham gia : 20-03-2012
Bài viết: 85
Điểm học tập:6
Đã cảm ơn: 37
Được cảm ơn 33 lần
Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng đường vô cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm. Trải qua bốn nghìn năm, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học dân gian: bà Âu Cơ đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng, bà mẹ Dóng kiên trì nuôi đứa con “Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc, nàng Quế Hoa, cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân... Nguồn tư liệu khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật của người phụ nữ “uy nghi chống nẹ trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống đồng”, Hai Bà Trưng, bà Triệu và những phụ nữ tài giỏi, dũng cảm khác của thời đại Ngô, Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê. Tây Sơn như Thái hậu Vương Vân Nga, Ỷ Lan nguyên phi, đô đốc Bùi Thị Xuân... đã được ghi vào lịch sử thành văn của dân tộc.

Cùng với sự phản ánh về lịch sử đất nước, lịch sử dân tộc, mọi nguồn tư liệu đã cho thấy, vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ nữ là những người đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng

Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền là người nữ sĩ đấu tranh chống giặc ngoại xâm.



Từ thế kỷ III trước công nguyên, trong những thời kỳ mà sử cũ gọi là “Bắc thuộc”, cùng với cả dân tộc, những người phụ nữ Việt Nam đã kiên quyết đứng lên chống bọn thống trị phương Bắc để giành lấy quyền sống. Vì khi có nạn ngoại xâm, phụ nữ là người trực tiếp chịu hậu quả nặng nề nhất. Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tràn vào Thăng Long ”làm cỏ nhân dân kinh thành”, vào thành Đông Đô, giặc Minh đã cướp bắt đàn bà con gái, mỗ bụng đàn bà có thai, giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp cho chủ tướng (năm 1909). Tướng giặc Trương Phụ bắt phụ nữ ta đưa về nước làm tôi đòi, tì thiếp (năm 1414). Nhà Minh ra lệnh buộc phụ nữ Việt Nam phải bím tóc, mặc áo ngắn, quần dài, theo phong tục của chúng. Thế kỷ XVIII, giặc Mãn Thanh và lũ tai sai bán nước trói phụ nữ vào cột ở giữa chợ, giết cả mẹ lẫn con vì họ đã đi theo nghĩa quân Tây Sơn...

Mở đầu truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là hai vị nữ anh hùng dân tộc: bà Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Đông Hán giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo (năm 40 đầu công nguyên) lôi cuốn một lực lượng quần chúng đông đảo chưa từng thấy, chỉ trong một thời gian, 65 thành đã giải phóng, mở ra một trang sử vẻ vang cho dân tộc.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, đã phủ định cái uy quyền “bình thiên hạ” của đế chế Hán đang thời kỳ thịnh đạt, đồng thời nó cũng khẳng định khả năng giành độc lập, mở đường cho các thế hệ sau đi tới thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nó còn chứng minh khả năng cách mạng to lớn của phụ nữ: không những chiến đấu dũng cảm chống ngoại xâm mà còn động viên, đoàn kết và lãnh đạo quần chúng rất tài giỏi.



Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc với câu nói hào hùng đầy khí phách của Bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người”.



Bằng những cách đánh giặc muôn hình muôn vẻ, các thế hệ phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến vẫn không ngừng tích cực tham gia vào sự nghiệp cứu nước.


Và nhiều phụ nữ khác ở thời Trần, thời Lê, thời Tây Sơn đã trực tiếp đánh giặc theo nhiều cách. Đấy là những người phụ nữ ở ven sông Bạch Đằng, đem hết thóc gạo trong nhà lương ăn cho quân sĩ, và mách Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giờ nước thủy triều của dòng sông quê hương, giúp nhà Trần lập nên chiến công sông Bạch Đằng lẫy lừng.

Trong phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII, đô đốc Bùi Thị Xuân, một tướng lĩnh trụ cột của Quang Trung – (Nguyễn Huệ), chỉ huy một đạo quân riêng gồm 5 nghìn quân phục màu đỏ, đã nhiều phen làm quân thù thất bại thảm hại, nhất là ở trận Trấn Ninh nổi tiếng.



Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta và cấu kết với phong kiến thống trị nhân dân ta, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã cùng với dân tộc, phát huy truyền thống đánh giặc cứu nước.



Người phụ nữ Việt Nam, không những chỉ xuất hiện khi vận nước lâm nguy mà ngay cả trong đấu tranh dưới mọi hình thức chống áp bức bất công. Sự phản kháng chế độ phong kiến, lễ giáo Khổng Mạnh khi âm thầm, lúc quyết liệt diễn ra suốt hàng nghìn năm.

Thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ngày càng suy tàn mọt ruỗng (thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh, “rạch đôi sơn hà làm cho trăm họ lầm than”), trong phong trào nông dân khởi nghĩa, cuộc đấu tranh của phụ nữ chống ách thống trị phong kiến đã lan rộng ra nhiều lĩnh vực: Bùi Thị Xuân trong quân sự, Hồ Xuân Hương trong văn học...và còn biết bao nữ danh nhân khác. Ca dao, truyện, thơ, truyện tiếu lâm thời kỳ đó đã phản ánh trung thực sinh động.



Lịch sử Việt nam còn ghi đậm nét những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền, người phụ nữ cần cù trong lao động: “sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu”... “vai vác cái cày, tay đuổi con trâu, cái cuốc cho lẫn cái gầu, con dao rựa phát đèo đầu gánh phân”...

Theo sử liệu, ngay từ thế kỷ X và XV, đã có lúc Nhà nước huy động tới một triệu người vào quân đội, chiếm tỉ lệ một phần năm dân số. Người phụ nữ phải đảm đang lao động sản xuất



Việc điều động những lực lượng lao động lớn nam giới vào các công trình tập trung, đào sông, khơi mương, đắp máng, đắp đê phòng lụt và những việc đắp thành lũy, xây cung điện, dựng đền đài làm cho phụ nữ trở thành lực lượng lao động quan trong trong nông nghiệp.



Lịch sử của nhiều ngôi làng trù mật ở Trung du đồng bằng ngày nay đã bắt đầu­ từ ba thế kỷ trước, với điều ghi nhận về những ng­ười phụ nữ đầu tiên đã cùng với bà con khai rừng, bạt đồi, đuổi thú, phát cỏ mà làm nên ấm no, thịnh vượng cho cả một vùng.

Lập đư­ợc những thành tích lao động ấy hiển nhiên ngư­ời phụ nữ phải có một đầu óc lo liệu. Chỉ một việc đi cấy thôi, người phụ nữ cũng phải : “Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mư­a, trông gió, trông ngày, trông đêm”. Trong quá trình làm nông nghiệp đời này qua đời khác, ý thức lao động dần dần đi vào tình cảm trở thành bản chất tốt đẹp của ng­ười phụ nữ. Lao động kiên trì, nhẫn nại trở thành lẽ sống của phụ nữ vì chồng con, vì gia đình, vì đất nư­ớc.



Với sự tham gia đông đảo, quan trọng và thư­ờng xuyên của ngư­ời phụ nữ, nền nông nghiệp Việt Nam x­ưa đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hàng nghìn năm tr­ước, nông nghiệp của ta đã giải quyết đư­ợc việc chuyển vụ, tăng vụ. Lúa đã đư­ợc trồng đến 2 vụ, 3 vụ năm và hơn nữa tại một số vùng lên tới 4 vụ ở thế kỷ XIII. Nhiều cây rau quả cũng đã đư­ợc trồng trọt từ rất sớm ở Việt Nam. Và cùng với kết quả đó là cả một kho tàng kinh nghiệm sản xuất đã đư­ợc tích lũy xây d­ựng qua nhiều thế kỷ. Người phụ nữ ngày xư­a tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung, đến những tấm gấm thời Lý... Đây là những ng­ười mà từ những thế kỷ đầu công nguyên - theo sự ghi chép của sử liệu thành văn - đã lập đ­ược những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm; một năm tám lứa, tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nư­ớc ngoài chuộng mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của ng­ười phụ nữ lao động Việt Nam.



Những đức tính quý báu đầu tiên của ng­ười phụ nữ gánh vác gia đình x­a là trung hậu đảm đang.

Đảm đang gia đình trong tình hình phải luôn luôn đối phó với thiên tai, địch họa, người phụ nữ càng thông cảm gắn bó với bà con, xóm giềng thành một cộng đồng nư­ơng tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn. Đức tính vị tha, khiêm như­ờng thủy chung nh­ư nhất trở thành một truyền thống “thương ngư­ời như­ thể thư­ơng thân”.



Mặt khác, tính khiêm nh­ường, lòng vị tha, đức tính hy sinh và lòng yêu thư­ơng sâu sắc của người phụ nữ tỏa ra trong gia đình, khiến cho ng­ười phụ nữ có một vị trí đặc biệt. Xã hội x­ưa đối với ngư­ời phụ nữ chủ gia đình đã biểu lộ sự kính nể.

Đô hộ đất nước ta, bọn phong kiến phương Bắc tìm mọi cách đồng hóa dân tộc ta. Vì vậy lịch sử Việt Nam cũng là lịch sử bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc, trong đó người phụ nữ giữ vai trò rất tích cực.

Trách nhiệm của các bà mẹ Việt Nam nuôi dạy con cái từ tuổi bé thơ đến lúc trưởng thành, đã được xã hội ta từ xưa đánh giá cao “cha sinh không bằng mẹ dưỡng”



Hòa với dòng sữa và mối tình của mẹ, tiếng ru xưa gợi lên đầu óc đứa con thơ những nhận thức và tình cảm đầu tiên mà sau đó, cho mãi đến lúc lớn khôn, con người vẫn còn ghi nhớ mãi.

Những bài học, những kinh nghiệm đúc kết trong hàng nghìn năm lịch sử, những tình cảm, tâm lý, đạo đức của dân tộc Việt Nam, một phần quan trọng do những phụ nữ xưa gìn giữ và truyền thụ cho đời sau.

Đối với con người, người chồng, người yêu đi xa, hình ảnh người mẹ, người vợ cũng là hình ảnh của quê hương đất nước, và cũng tạo nên những tình cảm dân tộc và những hình ảnh tích cực khác trong đời sống xã hội.





Trong nền văn chương bác học của dân tộc, những người phụ nữ có điều kiện được ăn học cũng đem tài nghệ và tâm hồn hòa vào các dòng văn thơ chung, góp phần vào việc phát triển nền văn hóa dân tộc.






Những trang sử cũ và những nguồn tư liệu đã phản ánh hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử:

- Lao động thông minh, cần cù

- Là trụ cột gia đình, nuôi già dạy trẻ

- Là người nghệ sĩ tài hoa, sáng tạo và bảo vệ văn hóa dân tộc.

- Là người chiến sĩ giữ n­ước kiên cư­ờng, bất khuất.

Lịch sử và dân tộc đã ghi nhận vai trò tích cực khả năng và cống hiến to lớn của ng­ười phụ nữ cổ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nư­ớc và giữ nư­ớc trên mọi lĩnh vực. Song ách thống trị về mặt giai cấp của các thế lực phong kiến kéo dài hàng nghìn năm chất nặng lên đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Việt Nam, của ng­ười phụ nữ Việt Nam.





Đến tuổi lấy chồng, ngư­ời con gái không có quyền đ­ược lựa chọn ng­ười chồng. Với tục “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và với lệ thách cư­ới ngư­ời con gái trở thành một vật trao đổi mua bán.

Một khi việc “gả bán” đã xong, ng­ười con gái rời nhà cha mẹ, sống cuộc đời “xuất giá tòng phu”, ngư­ời vợ không còn giữ đư­ợc địa vị tư­ơng xứng với vai trò của mình trong gia đình, trái lại còn bị ng­ược đãi đủ điều.







Từ giữa thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn phản động đã đầu hàng nhục nhã khi thực dân Pháp xâm lư­ợc nư­ớc ta. Nư­ớc ta đã trở thành một n­ước thuộc địa và nửa phong kiến.



Ngay từ nhữ­ng năm đầu xâm lư­ợc Việt Nam, giặc Pháp đã đốt phá, giết chóc và hãm hiếp, gây biết bao tai họa cho nhân dân và phụ nữ ta ở khắp nơi.





Toàn thể nhân dân Việt Nam bị áp bức bóc lột, trong đó giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là lực l­ượng chủ yếu vùng dậy đấu tranh chống bọn thống trị thực dân phong kiến. Phụ nữ Việt Nam chiếm số đông trong nhân dân lao động không những bị áp bức về dân tộc, về giai cấp mà còn bị giáo lý phong kiến kìm hãm trói buộc, nên họ có tinh thần đấu tranh cách mạng mạnh mẽ. Có phụ nữ tham gia thì cách mạng mới thành công, mặt khác, chỉ khi nào cách mạng thành công, dân tộc đư­ợc độc lập, giai cấp đ­ược giải phóng, thì phụ nữ mới được giải phóng.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #130  
Cũ 19-04-2012
nunakute7 nunakute7 đang ngoại tuyến
Thành viên
Bàn phó
 
Tham gia : 27-06-2011
Bài viết: 51
Điểm học tập:3
Đã cảm ơn: 960
Được cảm ơn 58 lần
Bài thơ với cái nhìn táo bạo (xét riêng trong thời kì phong kiến lúc bấy giờ), nhưng cũng là một nét mới đáng yêu trong dòng văn học cổ. Tú Xương đã sử dũng những điển cố trong ca dao và đưa vào tác phẩm một cách rất khéo léo:

"thân còn lặn lội bờ ao
gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non"......


hình ảnh "con cò" trong "thương vợ" tảo tần chăm lo cho "5 con với 1 chồng" cũng chính là hình ảnh con cò lận đận với bốn bề nước non trong câu ca dao trên. và không chỉ xuất hiện những yếu tố ngụ tình sâu sắc.... cái cảm giác bâng khuân day dứt trong từng câu thơ như lôi kéo người đọc tiếp tục hành trình khám phá hình ảnh người phụ nữ trong tác phẩm. Những tác phẩm thơ ca viết về người phụ nữ cũng như số phận của họ trong XH phong kiến không phải k có, cũng k fải ít... song, để tạo ra một cái nhìn chan chứa và pha chút dí dỏm với giọng thơ tinh nghịch mà vẫn truyền tải được hết những tư tưởng và ý nghĩa của tác phẩm k phải là dễ. Thế nhưng Tú Xương đã làm đc.....

Tú Xương cũng hay thể hiện cái ngông nghênh nhẹ nhàng mà dí dỏm của mình bằng một giọng thơ mới, và cả một nét nhìn mang tư tưởng mới khác hẳn với những tư tưởng văn học cổ truyền.... Và điển hình trong những thể loại mới ấy chính là tác phẩm "thương vợ" của Tú Xương mà bạn đang hỏi. Ít nhà thơ nào lại viết về vợ mình với cái nhìn cảm thông, yêu thương thương và bao dung như vậy! Bạn có thể cảm thấy một tình cảm sâu sắc của nhà thơ, song cũng dễ dàng cảm nhận được những áp lực và cổ tục của lễ giáo phong kiến đang đè nặng lên đôi vai người phụ nữ ấy. Một tay người phụ nữ ấy chăm lo cho 5 con-1 chồng. Một tay người phụ nữ ấy "quanh năm buôn bán", "năm nắng mời mưa".... để rồi nhà thơ Tú Xương không còn biết dùng một từ ngữ nào có thể diễn tả hơn là "thân cò" lặn lội.... có lẽ nhà thơ vì "thương vợ" mà không thể làm gì giúp dược cho vợ nên chúng ta mới có tác phẩm này để mà học ngày hôm nay! hi hi...
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Chia sẻ/đánh dấu bài viết


Ðiều chỉnh Tìm trong bài viết
Tìm trong bài viết:

Tìm chi tiết
Xếp bài

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể đăng tập đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

BB codeMở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

 
Bài giảng mới
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Tôi đi học (Phần hai)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Tôi đi học (Phần hai)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Tôi đi học (Phần một)
Bổ trợ và Nâng cao kiến thức Ngữ văn 8 : Tôi đi học (Phần một)
Ngữ văn 6 : Em bé thông minh
Ngữ văn 6 : Em bé thông minh
Ôn luyện Toán lớp 6 : Bài16. Luyện tập
Ôn luyện Toán lớp 6 : Bài16. Luyện tập
Ôn luyện Toán lớp 6 : Bài 15. Ước chung, ước chung lớn nhất
Ôn luyện Toán lớp 6 : Bài 15. Ước chung, ước chung lớn nhất
Ôn luyện Toán lớp 6 : Bài 14. Bội chung nhỏ nhất
Ôn luyện Toán lớp 6 : Bài 14. Bội chung nhỏ nhất
Ôn luyện Toán lớp 8 : Bài 5. Đường trung bình của hình thang (tiết 1)
Ôn luyện Toán lớp 8 : Bài 5. Đường trung bình của hình thang (tiết 1)
Ôn luyện Toán lớp 8 : Bài 9. Hình bình hành
Ôn luyện Toán lớp 8 : Bài 9. Hình bình hành
Tiếng Anh 7 : Thì hiện tại hoàn thành (nâng cao)
Tiếng Anh 7 : Thì hiện tại hoàn thành (nâng cao)
Ôn luyện Toán lớp 9 : Bài 3. Liên hệ phép chia và phép khai phương
Ôn luyện Toán lớp 9 : Bài 3. Liên hệ phép chia và phép khai phương

Đề thi mới
Ngữ văn 11 : Thơ duyên
Ngữ văn 11 : Thơ duyên
Ngữ văn 11 : Bài kiểm tra Chuyên đề 2
Ngữ văn 11 : Bài kiểm tra Chuyên đề 2
Ngữ văn 11 : Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu
Ngữ văn 11 : Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu
Ngữ văn 11 : Khóc Dương Khuê
Ngữ văn 11 : Khóc Dương Khuê
Ngữ văn 11 : Chương VI. Văn học nước ngoài (tiếp)
Ngữ văn 11 : Chương VI. Văn học nước ngoài (tiếp)
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ II - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ II - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ I - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Đề kiểm tra Học kỳ I - Nâng cao.
Ngữ văn 11 : Bài Ôn tập về văn học (học kỳ II)
Ngữ văn 11 : Bài Ôn tập về văn học (học kỳ II)
Ngữ văn 11 : Bài 40. Tôi yêu em (Pu-skin)
Ngữ văn 11 : Bài 40. Tôi yêu em (Pu-skin)
Ngữ văn 11 : Bài 39. Người trong bao (Sê-khốp)
Ngữ văn 11 : Bài 39. Người trong bao (Sê-khốp)




Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 06:01.
Powered by: vBulletin v3.x.x Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Advertisement System V2.4 By   Branden

Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 196/GXN-TTĐT Cục Quản lý PTTH&TTĐT cấp ngày 11/11/2011.