toi0bix
11-10-2010, 13:46
[Only registered and activated users can see links] .
|
View Full Version : ░░Từ điển Sinh học░░ toi0bix 11-10-2010, 13:46 [Only registered and activated users can see links] . toi0bix 11-10-2010, 14:05 Từ điển sinh học Box Sinh xuất bản 1.girlbuon10594 ([Only registered and activated users can see links]) 2.lananh_vy_vp ([Only registered and activated users can see links]) 3. toi0bix ([Only registered and activated users can see links]) 4. traitimbang_3991 ([Only registered and activated users can see links]) 5.sasukecoldly ([Only registered and activated users can see links]) 6.angel_97 ([Only registered and activated users can see links]) 7.vnhatmai26 ([Only registered and activated users can see links]) 8.bim198 9.goodfriend138 và sự giúp đỡ của một số thành viên diendan.hocmai.vn toi0bix 11-10-2010, 14:09 Các chuyên đề chính : Cách tra cứu ([Only registered and activated users can see links]) Các thuật ngữ Sinh học ([Only registered and activated users can see links]) Sinh lý học động vật ([Only registered and activated users can see links]) Sinh lý học thực vật ([Only registered and activated users can see links]) toi0bix 11-10-2010, 14:13 Click vào chuyên mục bạn muốn tra từ -> chọn chữ cái cần tra -> nhấn ctrl+F và gõ từ cần tra ^^ Rất đơn giản đúng ko ^^ ... Đặc biệt , từ điển sinh học box Sinh chỉ lưu trữ những thuật ngữ cơ bản , hay dùng với khái niệm được nêu ra một cách dễ hiểu nhất ;) Bắt đầu thôi nào ^_^ toi0bix 11-10-2010, 14:20 a ([Only registered and activated users can see links])b ([Only registered and activated users can see links])c ([Only registered and activated users can see links])d ([Only registered and activated users can see links])đ ([Only registered and activated users can see links])e ([Only registered and activated users can see links])f ([Only registered and activated users can see links])g ([Only registered and activated users can see links])h ([Only registered and activated users can see links])i ([Only registered and activated users can see links])k ([Only registered and activated users can see links])l ([Only registered and activated users can see links])m ([Only registered and activated users can see links])n ([Only registered and activated users can see links])o ([Only registered and activated users can see links])p ([Only registered and activated users can see links])q ([Only registered and activated users can see links])r ([Only registered and activated users can see links])s ([Only registered and activated users can see links])t ([Only registered and activated users can see links])u ([Only registered and activated users can see links])v ([Only registered and activated users can see links])x ([Only registered and activated users can see links])y . toi0bix 11-10-2010, 14:21 a ([Only registered and activated users can see links])b ([Only registered and activated users can see links])c ([Only registered and activated users can see links])d ([Only registered and activated users can see links])đ ([Only registered and activated users can see links])e ([Only registered and activated users can see links])fg ([Only registered and activated users can see links])h ([Only registered and activated users can see links])ik ([Only registered and activated users can see links])l ([Only registered and activated users can see links])m ([Only registered and activated users can see links])n ([Only registered and activated users can see links])o ([Only registered and activated users can see links])p ([Only registered and activated users can see links])q ([Only registered and activated users can see links])r ([Only registered and activated users can see links])s ([Only registered and activated users can see links])t ([Only registered and activated users can see links])u ([Only registered and activated users can see links])v ([Only registered and activated users can see links])x ([Only registered and activated users can see links])y ([Only registered and activated users can see links]) . toi0bix 11-10-2010, 14:22 a ([Only registered and activated users can see links])b ([Only registered and activated users can see links])c ([Only registered and activated users can see links])d ([Only registered and activated users can see links])đ ([Only registered and activated users can see links])efg ([Only registered and activated users can see links])h ([Only registered and activated users can see links])ik ([Only registered and activated users can see links])l ([Only registered and activated users can see links])m ([Only registered and activated users can see links])n ([Only registered and activated users can see links])o ([Only registered and activated users can see links])p ([Only registered and activated users can see links])q ([Only registered and activated users can see links])r ([Only registered and activated users can see links])s ([Only registered and activated users can see links])t ([Only registered and activated users can see links])uv ([Only registered and activated users can see links])x ([Only registered and activated users can see links])y ([Only registered and activated users can see links]) . goodfriend138 11-10-2010, 21:24 ÁC : chim họ quạ. Chim trưởng thành có lông trắng ở vai, sườn, bụng trên và hông, các phần còn lại đen (một vài điểm ở trên mình có ánh tím và lục). Mắt nâu thẫm, mỏ và chân đen.thường thấy ở Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ[Only registered and activated users can see links] Ấu trùng là một dạng chưa trưởng thành của động vật với hình thức phát triển, trải qua biến thái (chẳng hạn như: loài côn trùng, loài lưỡng cư). lananh_vy_vp 11-10-2010, 22:03 Acid deoxyribonucleic (viết tắt ADN hay DNA) là một phân tử acid nucleic mang thông tin di truyền mã hóa cho phân tử protein hoặc ARN. Alen(Allelle): là các trạng thái biểu hiện khác nhau của cùng một gen. Actin (còn gọi là sợi mỏng, đối lập với sợi dày) là một loại sợi trong cấu trúc cơ của động vật. Nó gồm 3 thành phần protein khác nhau: actin tropomyosin troponin Adenovirus là loại virut phổ biến nhất gây ra các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên thường gặp ở trẻ nhỏ vào mùa thu đông. [Only registered and activated users can see links] ARN di truyền : là ARN mang thông tin di truyền gặp ở đa số virus thực vật và một số thực khuẩn thể .Dạng ARN có thể ở dạng mạch đơn hay mạch kép . ARN thông tin (mARN) : là phiên bản của gen, mang các bộ 3 mã sao, làm nhiệm vụ khuôn mẫu cho dịch mã ở riboxom ARN thông tin (mARN) có cấu trúc mạch đơn kích thước không đồng nhất được tổng hợp từ các gen cấu trúc hay gen điều hòa và dùng làm khuôn để tổng hợp prôtêin ,gồm khoảng từ 75 -3000 ribônu. mARN chiếm từ 5 -10% tổng số ARN của tế bào . ARN vận chuyển(tARN) : là phân tử nhỏ chỉ có khoảng từ 73 -90 ribônu có cấu trúc bậc 3 có 3 chiều .Mỗi phân tử tARN chỉ liên kết tạm thời với 1 loại axit amin nhất định .Có trên 60 loại tARN được phát hiện .tARN có đời sống tương đối dài ( có thể qua nhiều thế hệ tế bào ). [Only registered and activated users can see links] ARN riboxom (rARN): chiếm tới 80% tổng số ARN trong tế bào và là thành phần chủ yếu cấu tạo thành các riboxom ngoài ra còn tìm thấy ở các bào quan như ti thể , lạp thể ....Được cấu tạo từ 160-13000 ribônu. [Only registered and activated users can see links] Axit amin là đơn vị cấu trúc cơ bản của prôtêin, mỗi axit amin đc cấu tạo từ 3 Nu (mã di truyền) [Only registered and activated users can see links] ATP(Ađênôzin triphôtphat) là phân tử mang năng lượng, là tiền tệ năng lượng của mọi tế bào, bởi ATP được dùng cho tất cả các quá trình cần năng lượng. [Only registered and activated users can see links] Axit nuclêic là tên gọi chung cho Axit deoxiribonucleic (ADN) & Axit ribonucleic (ARN) [Only registered and activated users can see links] ADN- pôlimeraza là 1 loại enzim tham gia quá trình nhân đôi ADN có 3 loại: ADN- pôlimeraza I có chức năng loại bỏ ARN mồi và sửa chữa ADN, ADN- pôlimeraza II có chức năng xác định sự bắt đầu và kết thúc tổng hợp một phân đoạn mới,ADN- pôlimeraza III có chức năng gia tăng chiều dài của sợi mới tổng hợp ADN-ligara là enzim tham gia quá trình nhân đôi ADN giúp gắn các đoạn Okazaki thành một mạch liên tục Amilaza là enzim có chức năng phân huỷ tinh bột thành glucôzơ Adenin là một loại Nucleôtit(viết tắt là A)-đơn phân cấu tạo nên axit Nuclêic(ADN,ARN) [Only registered and activated users can see links] AIDS là Hội chứng suy giảm miễn dịchh ở nguời làm cho khả năng chống bệnh suy yếu đến nỗi cơ thể bị các thứ bệnh hoành hành, điều trị không khỏi được. Alen trội: là gen có biểu hiện trạng thái trội. Alen lặn: là gen có biểu hiện trạng thái lặn.. An toàn sinh học là sự bảo vệ kinh tế ,môi trừong và sức khỏe của con nguời khỏi bị các loài sâu bọ và các thứ bệnh.....gồm những cố gắng ngăn chặn các loài sâu bọ và những thứ bệnh mới xảy ra giúp kiềm chế sự bộng phát của chúng. Âm đạo là bộ phận sinh dục có ở nữ gồm ống cơ cấu tạo đơn giản, có khả năng co giãn, nằm giữa bọng *** và ruột thẳng, xuất phát từ tử cung và thông ra bên ngoài, có ở đa số động vật có vú giống cái để tiếp nhận cơ quan giao phối của con đực khi giao phối. Âm hộ là bộ phận ngoài của cơ quan sinh dục nữ và thú giống cái, cửa vào âm đạo, trên giáp lỗ tiểu và âm vật, dưới giáp hậu môn ngoài ra còn đựoc gọi là cửa mình. Âm vật là một khối mô cứng dài nằmở giữa và phía trên của âm hộ, đầu âm vật được che một phần bởi nơi hai môi nhỏ hợp lại. Ang-xtrong là đơn vị đo chiều dài của 1 phân tử hay đại phân tử trung tế bào.Kí hiệu A^0 Alen gây chết là sự tương tác giữa các gen làm cho đời sau đựoc sinh ra có con sống có con chết. Át chế là hiện tượng gen trội lấn át gen lặn làm cho gen lặn ko biểu hiện tính trạng bim198 11-10-2010, 22:32 Anh đào : loài hoa Kanzakura , có 3 màu là màu trắng, hồng và đỏ . Thời gian tồn tại của một bông hoa anh đào thường kéo dài từ 7 đến 15 ngày, trung bình là khoảng 1 tuần. Tùy theo từng chủng loại hoa và điều kiện môi trường thời tiết mà tuổi thọ của hoa anh đào khác nhau. [Only registered and activated users can see links] Atiso (tên khoa học: Cynara scolymus) là loại cây là gai lâu năm có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu (quanh Địa Trung Hải) đã được người Cổ Hy Lạp và Cổ La Mã trồng để lấy hoa làm rau ăn [Only registered and activated users can see links] traitimbang_3991 14-10-2010, 21:59 +Biến dị (change ; variation): hiện tượng con sinh ra ,khác với bố mẹ và khác nhau về nhiều chi tiết +Bảng bennet : là bảng kẻ để xác định các tổ hợp khi biết các giao tử . +BẢN CHẤT VÀ NUÔI DƯỠNG : sự tương tác giữa các nhân tố di truyền và môi trường trong việc xác định những đặc điểm quan sát được ở một sinh vật. +bào tư : (spore )Cơ quan sinh sản của một số loài thực vật bậc thấp, sau khi được phát tán theo gió, nước đến nơi có điều kiện thích hợp sẽ mọc thành cá thể mới. +BÀI TIẾT :quá trình đưa ra khỏi cơ thể các sản phẩm chuyển hoá cuối cùng, các chất lạ, nước, các muối, các chất hữu cơ thừa, đã được đưa vào cùng với thức ăn và nước uống +BÀNG QUANG : túi cơ có vách mỏng để tích tạm thời nước tiểu ở phần lớn các động vật có xương sống (trừ chim và một số loài bò sát). +BAO CHUNG: vòng các lá bắc mọc dưới hoa, thường thấy ở thực vật hạt kín với cụm hoa dày đặc (cụm hoa hình đầu, hình tán), dùng để bảo vệ. Còn gặp BC ở ngành Rêu (Bryophyta) là sản phẩm của mô để bảo vệ túi trứng. +Bạch tạng (albinism): là bệnh giảm sắc tố di truyền. Biểu hiện của bệnh bạch tạng là da bị giảm hay mất hẳn sắc tố, tóc bạc. người bệnh sợ ánh sáng, bị giảm thị lực, không chịu được ánh sáng mặt trời, da nhạy cảm với tia cực tím và dễ bị ung thư da ở vùng tiếp xúc với ánh sáng. +Bạch biến (vitiligo): là bệnh giảm sắc tố da khu trú, tự phát. chỗ da bị bạch biến không có tế bào sắc tố. +Bạch cầu( hay bạch huyết cầu): (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch +Bạch huyết: là dịch trong suốt bao bọc các mô của cơ thể, giữ cân bằng chất lỏng, và loại bỏ vi khuẩn khỏi các mô. Bạch huyết thâm nhập hệ tuần hoàn qua các mạch bạch huyết. +bazơ nitơ: là thành phần cấu tạo nên các đơn phân Nuclêic gồm các loại:ađênin(A),timin(T),xitzin(x),guanin(G),ur axin(U) +Bản năng: là khuynh hướng vốn có của một sinh vật đáp lại một tác động hay điều kiện cụ thể. +bản năng sinh sản: gọi cách khác là bản năng duy trì nòi giống....mỗi loài đều có ý thức ngay từ khi sinh ra Vd: Cá rô đồng leo lên ruộng vào mùa mưa, sự di cư này chính là để tìm một vùng nước sâu hơn để đẻ trứng. +bản năng sinh tồn: là tìm cách để bảo vệ mạng sống Vd:ngựa vằn thấy sư tử thỳ chạy ;)) +bất thụ: là ko có khả năng thụ phấn +bản đồ di truyền(bản đồ gen): là bản đồ phân bố các gen trên các NST của một loài +BẢN ĐỒ GIỚI HẠN : sơ đồ phản ánh vị trí những chỗ có thể bị cắt bởi các enzim giới hạn trên một phân tử ADN. +BỘ RĂNG: phần phụ cứng ở trong xoang miệng dùng để nghiền, xé thức ăn. +bộ xương: đảm nhận các vai trò trong việc tạo hình cơ thể, tạo các khoang chứa cơ quan nội tạng, hỗ trợ quá trình vận động, là nơi sản sinh của các tế bào máu[Only registered and activated users can see links] 9rQ2NjfwwzspkuoX7o&t=1&usg=__vaQ430TEix_ZUpUXyO9SaGE0wkU= +bộ NST lưỡng bội(2n): là bộ NST có 2n NST đơn ở trong tế bào của các loài sinh vật ( gồm các cặp NST tương đồng) , được tạo ra từ sự tổ hợp lại các giao tử của bố (cho n NST) và mẹ(cho n NST .Số lượng NST trong bộ NST lưỡng bội đặc trưng cho từng loài [Only registered and activated users can see links] VD: bộ NST của người +bộ NST đơn bội(n): là bộ NST chứa 1NST của mỗi cặp NST tương đồng trong bộ NST lưỡng bội 2n +bộ ba(mã bộ ba hay mã di truyền): mỗi bộ ba là tổ hợp của 3 Nuclêic +BIOTIP : nhóm sinh vật trong một quần thể, có cùng thuộc tính di truyền và có cùng phản ứng như nhau với ngoại cảnh. +BIẾN HÌNH: sự biến đổi hình thái về mặt đại thể cũng như vi thể của tế bào, mô (vd. chu kì biến hoá của kí sinh trùng) cũng như bệnh lí (vd. tế bào viêm). +BIẾN THÁI: 1. Ở thực vật: hiện tượng hình thành cơ quan sinh dưỡng thực vật điển hình diễn ra trong quá trình chủng loại phát sinh (rễ, chồi, lá) và được xem như kết quả thích nghi của sinh vật với môi trường sống. Vd. biến đổi của một lá kèm thành tua cuống, cơ quan dự trữ (lá, cành) hoặc phần của hoa. 2. Ở động vật: sự trải qua một hay nhiều lần biến đổi tăng kích thước, hình dạng của động vật trong quá trình phát triển. BT xuất hiện ở tất cả các động vật có giai đoạn ấu trùng. [Only registered and activated users can see links] +BÌU : bao da chứa tinh hoàn, treo trực tiếp vào phần sau dương vật ở động vật có vú đực. +BUỒNG TRỨNG:bộ phận của cơ quan sinh dục cái, có chức năng sản xuất tế bào trứng và hocmon sinh dục. +BAO NOÃN HOÀNG: lớp vỏ bọc lấy noãn hoàng, thông với ruột phôi ở trứng một số loài động vật. +BAO NOÃN: [ nang trứng], túi đầy dịch trong suốt; hình tròn, bầu dục hoặc hình quả lê; nằm trong lớp đệm vỏ của buồng trứng động vật có vú, chứa tế bào trứng (noãn). +BAO RỄ MẦM: bao bảo vệ quanh rễ mầm ở các cây họ Lúa. +BAO MYELIN: lớp vỏ bao quanh sợi trục tế bào thần kinh. +BỨC XẠ QUANG HỢP:vùng quang phổ của ánh sáng Mặt Trời có bước sóng từ 0,4 đến 0,76 µm mà thực vật có thể hấp thụ được trong quá trình quang hợp nhờ diệp lục và các sắc tố khác. +BỰA RĂNG: lớp phủ trên răng do nước bọt kết hợp với đường và các mảnh thức ăn khác +Bàng quan: khi cả 2 loài không ảnh hưởng gì đến nhau Ví dụ: Các cây trong rừng và con báo +bổ trợ: là các tác nhân hỗ trợ, giúp đỡ nhau để cùng phát triển ;)) +băng huyết: là Hiện tượng chảy máu nhiều một cách bất thường từ cơ quan sinh dục nữ +bướu cổ: là một loại bệnh xuất hiện khi thiếu i-ốt +BỆNH LÍ GEN: bệnh xuất phát từ các biến đổi bất thường ở các giao tử (tinh trùng hay noãn), do các sai lệch nhiễm sắc thể (như hội chứng Đao) gây ra, rất ít lây truyền; do các gen bệnh lí trên các nhiễm sắc thể, bệnh có thể bẩm sinh hay không bẩm sinh +bệnh Giang mai (syphilis): là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Treponema pallidum, thường lây theo đường sinh dục nhưng cũng hay truyền từ mẹ xuống thai nhi và trong lúc truyền máu. +bệnh truyền nhiễm: là các bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác qua nhiều con đường lây truyền như khi giao tiếp, qua đường máu............. +Bệnh di truyền: là những bệnh do cha mẹ truyền cho con qua tế bào sinh dục (trứng hoặc tinh trùng). +Bệnh Xương thuỷ tinh (hay còn gọi là bệnh giòn xương, bệnh tạo xương bất toàn) người bị bệnh này có thể gãy xương tự phát, biến dạng xương, lùn, các bất thường của răng +bệnh máu khó đông (Hemophilia): Bệnh xuất hiện do cơ thể thiếu hụt hoặc không có đủ các yếu tố làm đông máu. khi bị thương chảy máu sẽ rất khó cầm máu......có thể dẫn đến chết người +bóng đè: bóng đè là hiện tượng ta thức dậy một nửa : vùng não cảm giác đã "tỉnh", vùng vận động thì còn "ngủ". rất dễ xảy ra khi ta ngủ trong trạng thái mệt mỏi. Khi bị bóng đè đầu óc hoàn toàn tỉnh táo nhưng cơ thể thì không cử động được. +Bệnh Chân voi: là bệnh lý trong đó một số vùng của cơ thể (nhất là chân, tay, bộ phận sinh dục) bị sưng to quá mức. Nguyên nhân là do hệ bạch huyết ở đó bị tắc nghẽn, khiến dịch bạch huyết tích tụ lại rất nhiều. Da và tổ chức dưới da ở khu vực tổn thương thường dày lên, có thể bị viêm tấy do bội nhiễm vi khuẩn khác. +Bệnh lao (còn gọi là TB): là bệnh do vi trùng (vi khuẩn) gây ra. Bệnh lao thường tấn công phổi, ngoài ra còn có thể tấn công các bộ phận khác như phổi, bộ phận sinh dục....... +Bệnh Down ở người: Người bị bệnh này thừa một NST số 21 (47 XX/XY + 21). Triệu chứng: Người ngu đần, cơ thể phát triển không bình thường, cổ ngắn, gáy rộng và dẹt, khe mắt xếch, lông mi ngắn và thưa, lưỡi dài và dày, ngón tay ngắn, không có con. + Bệnh Turner (Hội chứng Tớcnơ): thiếu 1 NST số 45. XO thiếu 1 NST X/Y. Triệu chứng: Bệnh biểu hiện ở phụ nữ như: Nữ lùn, cổ ngắn, vú không phát triển, âm đạo hẹp, dạ con hẹp, không có kinh nguyệt, trí nhớ kém. + Bệnh Kleinfelter (siêu nam): Mang bộ NST 47 có thêm 1 NST Y: XYY. Triệu chứng: Nam người cao, chân tay dài, mù màu, ngu đần, tinh hoàn nhỏ. +Bệnh siêu nữ: Mang bộ NST 47 có thêm 1 NST X: XXX. Triệu chứng: Nữ vô sinh, rối loạn kinh nguyệt, buồng trứng và dạ con không phát triển, si đần. +Bệnh di truyền phân tử: là những bệnh do các đột biến gen làm ảnh hưởng tới protein mà chúng mã hoá như mất hoàn toàn protein, mất chức năng protein hay làm cho protein có chức năng khác thường và dẫn đến bệnh. +Bệnh loạn dưỡng Đuxen: là bệnh do đột biến gen lặn xảy ra trong gen Dystropin liên kết với X--> protein Dystrophin ở bề mặt tế bào cơ không được tổng hợp-->cơ thoái hoá-->tổn thương chức năng vận động.Bệnh biểu hiện ở 3-5 tuổi, nặng dẫn đến tàn phế.Tử vong nhiều ở tuổi 18-20. +Bệnh pheninketo niệu: là bệnh do đột biến trong gen mã hoá enzim chuyển hoá pheninalanin-->tirozin.Pheninalanin không được chuyển hoá nên ứ đọng trong máu -->não làm đầu độc tế bào thần kinh -->bệnh nhân điên dại, mất trí. sasukecoldly 14-10-2010, 22:08 CAROTENOIT: (A. carotenoids), nhóm sắc tố màu vàng, da cam hoặc đỏ gồm caroten và xantophin (xanthophill) có ở tất cả các sinh vật quang hợp (như những sắc tố phụ trong quang hợp); ngoài ra C còn có ở một vài bộ phận của động vật (lông, tế bào mỡ, lòng đỏ trứng). C góp phần cùng antoxianin làm thành màu vàng của lá vì lúc đó màu xanh lá cây do diệp lục (bình thường che lấp màu của nhóm C) đã giảm xuống. C cũng có nhiều ở một số hoa, quả như cà chua, gấc, vv. C có ba đỉnh hấp thụ cực đại ở vùng ánh sáng xanh tím của quang phổ. C màu da cam có trong cà rốt. Phân tử của caroten có thể chia thành hai phần giống nhau tạo vitamin A trong quá trình tiêu hoá của động vật có xương sống. Xantophin giống caroten nhưng phân tử có thêm oxi. Xt. Sắc tố quang hợp. CẤY TRUYỀN HỢP TỬ: (cg. di thực phôi), phương pháp hiện đại trong công nghệ sinh học: truyền hợp tử từ vật nuôi cái này sang vật nuôi cái khác. Được thực hiện ở vật nuôi cho sữa, trước hết là ở bò sữa và trâu sữa. CTHT chỉ dùng trong công tác nhân giống đối với những con cái đặc biệt có sản lượng sữa cao, được xếp vào cấp đặc cấp hoặc cấp kỉ lục. Bằng phương pháp CTHT, một con cái một năm cho được 7 - 15 hợp tử, truyền cho các con cái khác nuôi thai và nuôi con sau khi đẻ. CHẤT CHUN : thành phần có tính đàn hồi của mô liên kết, chủ yếu ở dưới da, các dây chằng, thành động mạch; là một protein không tan trong nước, kháng axit, kháng bazơ và enzim tiêu đạm nhưng bị elastaza của dịch tuỵ tiêu huỷ. Bằng phương pháp nhuộm đặc biệt, qua kính hiển vi quang học, nhìn thấy CC dưới dạng sợi hoặc những hạt bắt màu đen. Trong quá trình lão hoá của người, CC bị tiêu hao dần (thoái hoá, đứt đoạn, tan rã...), góp phần làm cho da nhăn nheo, gây tổn thương xơ vữa động mạch CHẤT CƠ BẢN: bao gồm protein, glicoprotein, mucopolisacarit, muối khoáng, nước, vv.; là môi trường trao đổi chất giữa các tế bào và môi trường bên ngoài. CCB nằm trong khoang gian bào giữa các tế bào liên kết. Ở biểu mô, CCB tạo nên chất kết dính các tế bào biểu mô với nhau và tạo thành màng đáy ngăn cách lớp biểu mô với lớp đệm liên kết. CHẤT DẪN DỤ: các hợp chất hoá học hoặc thiên nhiên đặc trưng có tính hấp dẫn một số loài động vật như chuột, côn trùng, vv. Theo tính chất tác động, được chia ra một số nhóm: CDD sinh dục hấp dẫn (thu hút) các cá thể khác giới tính cùng loài; CDD dinh dưỡng hấp dẫn các sinh vật đến nguồn thức ăn. Trong số đó, CDD sinh dục có tác dụng đặc hiệu cho từng loài, có phạm vi ảnh hưởng rộng với bán kính hàng chục mét, có khi hàng kilômét; CDD dinh dưỡng thường có hiệu lực tác động yếu hơn. Ở Việt Nam, đã dùng CDD để diệt ruồi đục quả cam đạt kết quả tốt, đang khảo nghiệm sử dụng CDD để diệt sâu hại bông. Xt. Pheromon. CHẤT GÂY NGÁN: (tk. chất ức chế dinh dưỡng), hợp chất hoá học có tác dụng làm cho sâu hại ngán và tránh khỏi nguồn cây thức ăn, không trực tiếp giết chết mà gián tiếp làm chúng chết vì đói, đặc biệt đối với loài hẹp thực. Thường dùng các chất triphenylaxetat, hiđroxit và một số chất thơm chứa nitơ. Người ta đã sử dụng CGN để phòng trừ sâu hại lúa, rau. CHẤT NHIỄM SẮC: mạng lưới lỏng lẻo các sợi, thấy ở nhân không chia, tương ứng với vật liệu nhiễm sắc thể. Dựa vào các đặc tính nhuộm màu của chúng, phân thành chất nguyên nhiễm sắc và chất dị nhiễm sắc. Chất dị nhiễm sắc xoắn mạnh và đặc hơn nên bắt màu mạnh với kiềm. Người ta cho rằng, chất nguyên nhiễm sắc tham gia tích cực quá trình phiên mã và vì vậy nó tham gia tổng hợp protein. Chất nguyên nhiễm sắc bắt màu mạnh trong phân chia nhân, trong khi đó, chất dị nhiễm sắc không hoạt động. CHẤT PHÔI :. 1. Phần cơ thể truyền được những tính trạng của nó sang thế hệ sau, được nhà sinh học Đức Vaixman (A. Weismann; 1834 - 1914) tìm ra khoảng đầu thế kỉ 20. Ngày nay người ta cho rằng, phần lớn thông tin đó do ADN mang trong nhiễm sắc thể. 2. Chất tế bào đặc biệt của trứng ở phần lớn động vật, phát triển thành tế bào phôi có nhân. Nằm ở một đầu của trứng côn trùng, dưới thể liềm xám ở trứng lưỡng cư, trong nội bì của động vật có màng ối CHẤT SINH TRƯỞNG : những hợp chất hữu cơ với nồng độ rất thấp nhưng có hoạt tính điều khiển sinh trưởng và phát triển của thực vật nhờ tác động tương hỗ giữa chúng. Vd. auxin, giberelin, xitonin, axit abxisic và etilen. CO MẠCH: hiện tượng co hẹp các mạch máu nhỏ do cơ trơn co trong thành mạch. Xảy ra khi huyết áp giảm, nhiệt độ bên ngoài thấp hoặc bị đau do kích thích các sợi thần kinh CM hoặc tiết ađrenalin (x. Dây thần kinh vận mạch). CHOLESTEROL : (A. cholesterol), loại sterol (dẫn xuất béo) tìm thấy trong các tế bào động vật, trong mật, huyết cầu, màng tế bào, huyết tương và noãn hoàng, vv. Được xem là một trong những nguyên nhân của xơ vữa động mạch do bị lắng đọng lại trên thành mạch và làm hẹp mạch. CISTRON : (A. cistron), đơn vị chức năng của di truyền là một đoạn ADN xác định một chuỗi polipeptit riêng lẻ của một phân tử protein. Sự tồn tại của C có thể xác minh nhờ phép thử cis - trans (x. Gen). CHI: (sinh; genus; tk. giống), đơn vị phân loại trên loài trong hệ thống phân loại, gồm một hay nhiều loài gần nhau. Có thể chia thành phân C (phân giống), nhánh hay sectio, dãy hay phân dãy. Nhiều C gần nhau hợp lại thành họ. C dùng cho thực vật và vi sinh vật, giống dùng cho động vật. Có tác giả dùng C cho cả động vật. Vd. C Hải quỳ (Actinia). COCAIN: (A. cocaine; cg. metylbenzoylecgonin), C17H21O4N. Là ancaloit (hoạt chất) chủ yếu của lá cây côca Erythroxylum coca, họ Erythroxylaceae, mọc hoang ở miền núi Nam Mĩ (Pêru, Bôlivia, Côlômbia...). Cây này được trồng chủ yếu ở các nước Mĩ Latinh, Inđônêxia; mọc tốt ở các tỉnh phía nam Việt Nam. C là chất rắn, hình vảy trắng, tnc = 98 oC. Tan ít trong nước, tan được trong etanol và ete. Từ xa xưa, thổ dân Nam Mĩ đã dùng lá côca (nhai lá côca với một chút vôi tôi) làm thuốc kích thích gây hưng phấn. C được dùng liều nhỏ trong y học làm thuốc tê bộ phận, thuốc giảm đau (trong khoa tai - mũi - họng, mắt; trong bệnh đau dây thần kinh), nhưng nếu dùng nhiều lần sẽ gây quen thuốc và gây nghiện. C là một loại ma tuý nguy hiểm (dùng dưới dạng thuốc tiêm và thuốc hút), rất khó cai. Với liều cao, C gây ngộ độc: làm tê liệt hệ thần kinh trung ương và làm dãn đồng tử, gây ảo giác, rối loạn thị giác, co giật. [Only registered and activated users can see links] COLAGEN: (A. collagen), protein hình sợi, chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các protein của động vật có xương sống bậc cao. Có trong da, xương, sụn, thành mạch máu, răng. Cấu trúc đặc biệt rất bền gồm nhiều tropocolagen kết hợp với nhau. Mỗi phân tử tropocolagen gồm ba chuỗi polipeptit bện với nhau tạo thành cấu trúc siêu xoắn. Chứa khoảng 35% glixin, 11% alanin, 12% protein và chỉ một lượng nhỏ các axit amin khác. C tan trong dung dịch kiềm (10%), không tan trong nước và dung môi hữu cơ. Đun với nước hoặc dung môi hữu cơ trong thời gian dài, C chuyển thành gelatin. CỘNG SINH: (symbiosis), việc chung sống của hai hoặc nhiều cá thể thuộc các loài khác nhau kết hợp thường xuyên với nhau, có lợi cho cả hai hoặc nhiều bên. Vd. những sinh vật đơn bào trong dạ cỏ của loài động vật nhai lại tiêu hoá xenlulozơ của thực vật, chuyển thành glucozơ mà kí chủ đồng hoá được, là những sinh vật CS với kí chủ CỤM HOA: nhiều hoa tập hợp lại trên một trục chung, mà các hoa này được mọc ra trong nách lá hoặc lá bắc. Được chia ra: CH có hạn là kiểu CH có trục chính ngừng sinh trưởng rất nhanh, tạo ra một hoa ở đỉnh đầu, các hoa sinh ra sau do hình thành chồi bên như CH xim xoắn ốc, xim bò cạp, xim hai ngả, xim nhiều ngả gặp ở hoa layơn, vòi voi, mẫu đơn, tu hú, mò trắng, húng, tía tô, ích mẫu...; CH vô hạn với trục chính của hoa tiếp tục sinh trưởng tạo ra nhiều hoa mới và mới nữa, kết quả là các hoa nằm trên các cuống hoa bên phát triển đầu tiên, thường gặp CH chùm, ngù (phượng vĩ, lim xẹt), tán (cà rốt, rau mùi, thìa là), bông (lúa, huệ, ngô, cau, ráy, cỏ roi ngựa), CH hình đầu (cúc, cỏ nhọ nồi, thược dược, vạn thọ). Cấu tạo CH liên quan đến cách thụ phấn và thể hiện sự tiến hoá của thực vật hạt kín qua quá trình chọn lọc tự nhiên. CỤM GEN : tập hợp các gen liên kết chặt chẽ có xu hướng biểu hiện như một đơn vị riêng biệt vì trao đổi chéo giữa chúng rất hiếm xảy ra CUỐNG NOÃN: cấu trúc tạm thời thấy ở thực vật hạt kín có tác dụng nối phôi vào nội nhũ nuôi dưỡng sau khi thụ tinh. Cũng còn thấy ở một số thực vật hạt trần (như tuế) và dương xỉ (quyển bá Selaginella), CN nối phôi vào mô của thể giao tử cái. CN có thể đơn bào hoặc đa bào và phát triển từ tế bào ngoài trong số hai tế bào của lần phân chia đầu tiên của hợp tử CUTIN : (A. cutin), nhóm các hợp chất có tính chất như axit béo, tạo thành một lớp liên tục trên biểu bì của thực vật và chỉ bị ngắt bởi các lỗ vỏ. Không thấm nước, và ngăn cản sự xâm nhập của vật kí sinh vào cây. CỬA SỔ BẦU DỤC: lỗ nằm ở đáy ống tiền đình, có màng mỏng tách biệt tai giữa và tai trong ở động vật bốn chi. Truyền rung động từ xương bàn đạp tới ngoại dịch tai trong. CỬA SỔ TRÒN : một lỗ ở đáy ống màng nhĩ được đóng kín bằng một màng nằm giữa tai trong và tai giữa ở động vật có xương sống bậc cao. Màng này dịch chuyển để phù hợp với thay đổi áp suất của ngoại dịch do rung động của cửa sổ bầu dục gây ra. bim198 15-10-2010, 19:31 Ba đậu hội an ( Croton touranensis) là 1 loại cây thuộc họ thầu dầu Cây ưa sáng và ẩm, mọc rải rác dưới tán rừng thưa, ở ven rừng rậm hay dọc suối Cây gỗ lùn, lá nhẵn, mọc chụm ở đầu cành, hình mác ngược, dài 6 - 10cm, mép lá có răng, nhọn ở hai đầu, có 2 tuyến ở gần gốc của mặt dưới phiến lá [Only registered and activated users can see links] Ba đậu phú quốc ( Croton phuquocensis ) là 1 loại cây thuộc họ thầu dầu Mọc trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm. Lá hình mác hay thuôn, dài đến 15cm, mỏng, nhẵn, có 10 - 12 đôi gân bậc hai [Only registered and activated users can see links] Ba đậu tây(Hura crepitans) Là 1 loại cây thuộc họ thầu dầu Cây có nguồn Cây có nguồn gốc ở châu Mỹ nhiệt đới được nhập trồng làm cây bóng mát dọc đường, có khi trở thành cây hoang dại. Vỏ cây thu hái quanh năm. Hạt nhặt ở những quả chín. [Only registered and activated users can see links] Ba bét lông ( Mallotus barbatus ) Là 1 loại cây thuộc họ thầu dầu Ở Việt Nam: cây mọc trong rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới, thứ sinh, địa hình đồi và núi thấp, gặp ở hầu hết các tỉnh ở nước ta. [Only registered and activated users can see links] Ba gạc lá nhỏ ( Rauvolfia indochinensis) là 1 loại cây thuộc họ trúc đào Cây mọc ở chân đồi, bờ nương rẫy, bờ rào quanh làng và trảng cây bụi trên cát vùng ven biển miền trung . Lá có cuống ngắn, mọc vòng 3, phiến lá hình mác hoặc hình thuôn, đầu nhọn, mỏng. [Only registered and activated users can see links] Ba gạc lá to( Rauvolfia cambodiana ) là 1 loài cây thuộc họ trúc đào Mọc ở rừng thứ sinh vùng nương rẫy cũ, bãi hoang, đôi khi gặp cả trong rừng tre nứa. Lá có cuống dài 1 - 2cm, mọc vòng 3, tập trung nhiều ở đầu cành. [Only registered and activated users can see links] goodfriend138 15-10-2010, 19:58 bò Bướm ngày Bướm ngày là các loài côn trùng nhỏ, biết bay, hoạt động vào ban ngày thuộc bộ Lepidoptera, có nhiều loại, ít màu củng có mà sặc sỡ nhiều màu sắc cũng có. Thường chúng sống gần các bụi cây nhiều hoa để hút phấn hoa, mật hoa, góp phần trong việc giúp hoa thụ phấn. Bướm ngày nhiều khi gọi tắt là bướm, mặc dù bướm có thể chỉ đến bướm đêm (ngài).[Only registered and activated users can see links] Bọ rùa là tên gọi chung cho các loài côn trùng nhỏ, mình tròn hình cái trống, phủ giáp trụ, trên mặt cánh có những chấm đen (có loài không có). Người ta phân loại bọ rùa tùy theo số chấm và hình thái cơ thể. [Only registered and activated users can see links] kAmNCu527STlGJuxmE&t=1&usg=__5mg4wOC5Md80iiQe-hWRVKXVLv4= BÓI CÁ Việt Nam có gặp như Ceryle rudis (bói cá nhỏ) và Megaceryle lugubris (bói cá lớn) không phổ biến bằng các loài trong họ Bồng chanh (có người cũng gọi là bói cá), vì thế từ họ Bói cá nói chung khá mơ hồ. Nói chung bồng chanh nhỏ hơn bói cá. Tất cả các loài trong họ này đều là các chuyên gia ăn cá, không giống như nhiều loài trong hai họ kia, và có lẽ chúng là hậu duệ từ các loài ăn cá trong họ Alcedinidae đã vượt qua eo biển Bering để sang Tân Thế giới để tiến hóa trở thành bói cá lớn (chi Megaceryle), [Only registered and activated users can see links] Bìm bịp là tên chung để chỉ khoảng 30 loài chim do tiếng kêu của chúng tương tự như "bìm bịp" vào mùa sinh sản (từ tháng 3 tới tháng 7 hàng năm). [Only registered and activated users can see links] P7-AOU3GVjuT1lyQJs&t=1&usg=__A0iyD7xW_yhi9iMD2F3j4B6xSOE= bạch tuộc là loài động vật thân mềm,có 8 chân và đó cũng là cơ quan di chuyển,trên toàn bộ cơ thể bạch tuộc co những đốm tròn đó chính là cơ quan bảo vệ của chúng [Only registered and activated users can see links] báo sư tử là một dạng mèo khổng lồ tìm thấy ở Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Trong các tên của nó theo ngôn ngữ địa phương còn là báo cu ga, sư tử núi, báo, báo núi hay mèo sơn (painted cat). Ở Mỹ, báo được dùng để chỉ tới báo sư tử, mặc dù thuật ngữ báo đen thông thường là chỉ tới các biến thể nhiễm hắc tố của báo hoa mai hay báo đốm Mỹ thay là tới báo sư tử.[Only registered and activated users can see links] Oq5fA-F8ricv-P0-yE&t=1&usg=__x-dIzBai7yPRjXPd53a2YV1B1O8= báo lửa Báo lửa hay beo vàng châu Á (danh pháp khoa học: Catopuma temminckii, hay Profelis temminckii hoặc Felis temminckii), còn được gọi là beo vàng Temminck, là động vật ăn thịt thuộc họ Mèo có kích thước trung bình (dài 90 cm, cộng với đuôi dài 50 cm) cân nặng 12 đến 16 kg, chủ yếu sống hoang dã.[Only registered and activated users can see links] báo hoa mai là một trong bốn loài 'mèo khổng lồ' thuộc chi Panthera. (Các loài khác là sư tử, hổ và báo đốm Mỹ.) Chúng dài từ 1 đến gần 2 mét, cân nặng từ 30 đến 70 kg. Con cái thông thường có kích thước bằng khoảng 2/3 con đực. Phần lớn báo hoa mai có màu nâu hay nâu vàng nhạt với các đốm đen, nhưng lớp lông của chúng thì rất đa dạng. Các đốm có xu hướng nhỏ hơn về phía đầu, lớn hơn và có tâm nhạt ở phía thân. [Only registered and activated users can see links] lXtcGZFNyAML7Pl99Q&t=1&usg=__Fkez4mMVEeJGmixPBtVNaMFQRxM= con bê là con của con bò,hình dạng cũng không có gì khác vs con bò ,nhưng nhỏ và gầy hơn [Only registered and activated users can see links] dyN-XRKJOUtnFKrLwk&t=1&usg=__e_MzW491Z0AHxopQXymXLzG6i0o= bào ngư BÀO NGƯ: (Haliotidae; tk. ốc cửu khổng, ốc chín lỗ, cửu khổng, cửu khẩu), họ Ốc biển, lớp Chân bụng (Gastropoda). Thông thường, vỏ các loài ốc có tầng thân và tầng xoắn ốc nhưng vỏ BN có tầng thân rất phát triển, trong khi tầng xoắn ốc kém phát triển, chìm trong tầng thân. Vì vậy, toàn thân BN nom như một khối dẹt, được bọc trong tấm vỏ dẹt như cái đĩa. Song song với mép ngoài miệng vỏ có 7 - 9 gờ, đầu cuối các gờ tạo thành các lỗ (thường 7 - 9 lỗ, không kể các lỗ đã thoái hoá chỉ còn vết), đấy là các lỗ hô hấp của BN. Mặt ngoài vỏ có nhiều vân tím, nâu, xanh xen kẽ nhau; mặt trong có lớp xà cừ óng ánh. [Only registered and activated users can see links] bò biển BÒ BIỂN : (Hydrodamalis stelleri), loài thú biển thuộc bộ Hải ngưu (Sirenia). Thân to, thuôn, dài đến 8 m, đuôi có vây nằm ngang, nặng đến 3,5 tấn. Chi trước hình mái chèo, chi sau tiêu giảm. Da trần, dày, thô, màu đen, không lông. Thiếu răng, vòm miệng và mép hàm dưới có các tấm sừng. Ăn lọc, thức ăn chính là rong biển. Sống ở vùng biển nông quần đảo Kômanđo (Komandorskie Ostrova). Khai thác lấy thịt, mỡ. Đã tuyệt chủng từ 1765. BB được nhà thám hiểm người Nga Xtenle (G. W. Steller) mô tả đầu tiên năm 1741. [Only registered and activated users can see links] Qp1oNPTKAuUS80FvU0&t=1&usg=__gUfnYNjm6bburfk8XnE_pAdTaVc= BÒ SÁT : (Reptilia), lớp động vật có xương sống bốn chân đầu tiên thích nghi hoàn toàn với đời sống ở cạn. Da khô, thiếu tuyến da và có vảy sừng chống thoát hơi nước. Thở bằng phổi. Tim 4 ngăn chưa hoàn toàn: máu giàu oxi (đã khử cacbon đioxit) và máu đen vẫn trộn lẫn vào nhau. Thụ tinh trong. Trứng lớn, vỏ thấm vôi hoặc vỏ dai. Phôi phát triển không qua giai đoạn ấu trùng. BS là động vật biến nhiệt, tiến hoá từ lưỡng cư nguyên thuỷ. Trong lịch sử địa chất, BS xuất hiện từ cuối nguyên đại Palêôzôi. BS hiện nay chỉ là phần sót lại của thế giới BS rất phong phú trong đại Trung sinh (cg. Mêzôzôi). Trong các kỉ Triat, Jura và Krêta, BS đã phát triển rất đa dạng và sống cả trên cạn, dưới nước (BS dạng cá) và trên không. Kích thước BS lúc đó thường rất lớn (khủng long), có loài dài tới 26 m (Diplodocus). Phân tích giải phẫu học và tài liệu cổ sinh vật, người ta cho rằng từ BS cổ của đại Trung sinh có ba nhánh tiến hoá, xuất hiện và hình thành ba nhóm động vật: động vật có vú, chim và BS hiện nay. Đến cuối kỉ Krêta, tất cả các loài BS khổng lồ Trung sinh bị tuyệt diệt. Các loài BS hiện nay gồm các loài ở cạn như thằn lằn, rắn và ở nước như cá sấu, rùa. Xt. Diplodocus. [Only registered and activated users can see links] BỌ BIẾC : (Nitidulidae), họ côn trùng, phân họ Cánh cứng ăn tạp (Adephaga). Cơ thể gù, màu ánh kim, dài 1 - 6 mm. Hơn 2.000 loài, phân bố rộng. Sống trong phân, xác chết. BB ăn hoa (Meligethes sp.), sống trong bao hoa, làm héo hoa họ Cải, họ Hoa môi. Chi Carpophilus ăn xác các loài thực vật khô. Một số ăn hại nấm. Các loài thuộc phân họ Cryptarchinae ăn thịt ấu trùng mọt gỗ, bọ đầu dài, rệp cây, rệp sáp. BB gây hại trong nghề trồng nấm. Có thể diệt bằng thuốc xông hơi hoặc một vài loại hoá chất. BỌ CẠP : (Scorpiones), bộ động vật, ngành Có kìm (Chelicerata). Cơ thể dài 5 - 10 cm, có khi đến 20 cm. Có đôi chân xúc giác phát triển, tận cùng có đôi kẹp lớn. Phần bụng hẹp dài, rất linh hoạt, phân đốt, tận cùng đốt cuối có móc nhọn chứa tuyến độc. Thở bằng phổi. BC ưa sống ẩm, nóng ở các hốc đá dưới lá mục trong rừng ẩm nhiệt đới, có loài sống ở sa mạc ven biển. Hoạt động về đêm. [Only registered and activated users can see links] eDCjsJ5Ii-0aqLeXGE&t=1&usg=__RHFIowJ65rSa6M5BfTC0n4n9YmY= BỌ CHÉT : (Aphaniptera; Siphonaptera), bộ côn trùng hút máu. Dài 6 mm (cá thể cái lớn hơn đực), dẹp theo hướng hai bên, thích ứng với chuyển động nhanh trong lông của da động vật chủ. Là côn trùng không cánh thứ sinh. Phụ miệng kiểu cắt chích - hút. Chân phát triển, đặc biệt là chân sau thích nghi với vận động nhảy. Biến thái hoàn toàn. Ấu trùng hình giun, ăn cặn bã động vật thối rữa. Hoá nhộng trong kén. BC là kí sinh vật ở động vật máu nóng và người, đáng chú ý là BC người (Pulex irritans), BC chuột (Xenopsylla cheopis). BC là vật chủ trung gian truyền bệnh dịch hạch, giun chỉ cho người và động vật. BC gia cầm gây rụng lông, mất tiếng, mụn loét trên da.[Only registered and activated users can see links] BỌ GẠO: (Notonecta glauca), côn trùng ăn thịt thuộc bộ Cánh nửa (Hemiptera), đại diện điển hình của họ Bọ gạo (Notonectidae). Dài 1,5 - 2 cm, thường bơi ngửa. Sống ở ao, hồ. Phân bố rộng. BG đốt rất buốt, gây nhiều tác hại cho cá nuôi, nhất là cá bột, cá hương, cá giống. Phòng trừ bằng cách tẩy ao. [Only registered and activated users can see links] Buf5-tRSArcGgBOla4&t=1&usg=__df4FksEOrQEzeBdDDl-GgrH_PE0= BỌ GẬY: (tk. cung quăng), ấu trùng của muỗi, thường gặp trong các bể cạn, chum, lu, vại đựng nước sinh hoạt, các hốc cây, các mảnh chai lọ, mảnh bát vứt ngoài vườn và có chứa nước, ao hồ, bùn lầy nước đọng. BG sẽ trở thành muỗi trưởng thành và truyền nhiều bệnh nguy hiểm [sốt rét, sốt xuất huyết đănggơ (Ph. dengue), bệnh giun chỉ, vv.]. Để ngăn ngừa sự sinh trưởng của BG, cần đậy kín bể cạn và các phương tiện dự trữ nước, thường xuyên thau bể nước, chum vại, thu dọn các mảnh chai, lọ vỡ có nước, vv. Nuôi cá ở ao hồ để cá ăn BG. [Only registered and activated users can see links] lfJvWHlO4URHJZQtQQ&t=1&usg=__nC_BzU8Ubs_n2f1EvC7h3OGci8k= BỌ NGỰA : (Mantoptera), bộ côn trùng, lớp Côn trùng (Insecta). Dài đến 11 cm, đầu linh hoạt, chân phát triển, gai và chân trước tạo thành bộ phận vồ mồi. Chân kiểu vồ. Phụ miệng gặm nhấm. Cánh trước hẹp, cánh sau xếp quạt (có dạng không cánh thứ sinh). [Only registered and activated users can see links] xSIUJFzyEb66-yP4hI&t=1&usg=__3MyKLN7KPK2U9rgGHwphEjFIhdg= BỒ CÂU: (Columba), chi chim, họ Bồ câu (Columbidae), bộ Bồ câu (Columbiforme). Con trưởng thành nặng 800 - 1.000 g. BC nhà có khoảng 450 giống.BC ta nặng khoảng 0,6 kg (con mái), 0,9 kg (con trống), 0,5 - 0,7 kg (chim non 40 ngày tuổi), thịt thơm ngon, bay giỏi, tự kiếm ăn khá, đẻ nhiều. Chim con 45 ngày tuổi phải nuôi riêng chim đực, chim cái; ghép đôi cho phối giống khi đạt 6 - 8 tháng tuổi[Only registered and activated users can see links] vnhatmai26 21-10-2010, 22:10 CON CHÓ : ĐV nhỏ, màu xám , đc tiến hoá từ chó sói . Chó là con vật thủy chung, gần gũi với con người. Chó giúp con người rất nhiều việc như trông nhà cửa, săn bắt, và được coi là con vật trung thành, tình nghĩa với con người. [Only registered and activated users can see links] [Only registered and activated users can see links] lOÀI CHỒN Chồn lớn hơn chuột nhắt một chút, chúng có thể sống tại các vĩ độ cao cận kề Bắc cực; [Only registered and activated users can see links] CÓC: là các động vật có lớp da sần sùi, khi trưởng thành chủ yếu sống trên cạn.khí nở ra có ấu trùng là nòng nọc sống ở dưới nước [Only registered and activated users can see links] CON CÁO: *Cáo ĐV mõm dài kiểu cáo ("mặt cáo") và đuôi rậm 1 số loài khác đặc trưng tự nhiên thay đổi theo môi trường sống của chúng. Ví dụ, cáo Fennec (và các loài cáo khác thích nghi với cuộc sống trong sa mạc, như cáo Kit) có tai to và bộ lông ngắn, trong khi cáo Bắc cực có tai nhỏ và bộ lông dầy, cách nhiệt. Thức ăn của cáo chủ yếu là động vật không xương sống . [Only registered and activated users can see links] [Only registered and activated users can see links] CỌP (HAY CÒN GỌI LÀ HỔ) là một loài động vật có vú thuộc họ Mèo (Felidae), một trong bốn loại "mèo lớn" thuộc chi Panthera[4]. Hổ là một loại thú dữ ăn thịt sống. Phần lớn các loài hổ sống trong rừng và đồng cỏ (là những khu vực mà khả năng ngụy trang của chúng phù hợp nhất). [Only registered and activated users can see links] CULI: là loài thú cỡ nhỏ (chỉ bằng con mèo); thân dài 26 - 31cm, đuôi dài 2 - 4cm. Đầu tròn, mắt trố to; lông mềm mại, màu nâu vàng đỏ, xám tro ở mặt sống lưng, hoe đỏ ở hông và chi sau. Mặt bụng xám tro ở phần ngực và vàng đỏ nhạt ở phần còn lại; sọc thẫm dọc lưng, ngắt quãng không rõ nét; ngón chân có vuốt hay móng nhưng ngón cái bao giờ cũng có vuốt. [Only registered and activated users can see links] CULI SUNDA (danh pháp khoa học: Nycticebus coucang) là một loại cu li thuộc phân họ Cu li. Loại linh trưởng di chuyển chậm này có mắt to lồi, tai nhỏ và gần như bị lông rậm che khuất. Đuôi của chúng chỉ là một mẩu cụt. Đây là loài sống trên cây, kiếm ăn ban ngày. Cu li Sunda sống ở châu Á. [Only registered and activated users can see links] bim198 21-10-2010, 22:17 CHUỐI RẺ QUẠT: (Streliziaceae), họ thực vật hạt kín, lớp Một lá mầm (Monocotyledones) tách ra từ họ Chuối (Musaceae). Đặc điểm: có hai hàng lá không xếp xoắn ốc, quả nang. Có 4 chi, 67 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mĩ, nam Châu Phi và Mađagaxca. Ở Việt Nam, có nhập loài CRQ (Ravenala madagascariensis) trồng làm cảnh ở công viên. [Only registered and activated users can see links] CỎ GẤU: (Cyperus rotundus; tk. hương phụ, cỏ cú), loài cỏ dại lâu năm, họ Cói (Cyperaceae). Thân ba cạnh, không phân nhánh, gốc phình ra thành củ nằm sâu trong đất. Mầm trắng, mọc lan nhanh, có lớp vảy bao bọc khi non, thành sợi khi già. [Only registered and activated users can see links] CỎ LỒNG VỰC: (Echinochloa crus - galli; tk. cỏ lồng vực nước, cỏ ngô), loài cỏ hằng năm, họ Lúa (Poaceae), giống cây lúa. Rễ hình sợi mảnh, màu trắng nhạt. Thân mọc đơn độc hoặc thành bụi nhỏ. Thân dài rộng, lá màu lục, hình mũi mác dài, nhọn đầu, phẳng, ráp ở mặt trên; mép lá sắc khi cỏ già. Cụm hoa hình chuỳ hẹp giống hình tháp, thẳng đứng. Quả bầu dục nhọn đầu. Hạt nhiều, nhẹ, nhỏ như hạt vừng. [Only registered and activated users can see links] CỎ MAY: (Chrysopogon aciculatus), loài cây lưu niên, họ Lúa (Poaceae). Bông nhỏ có cuống, gai dài, xếp ba chiếc ở một điểm, nhị 3, bao phấn đính giữa lắc lư. Quả có gai khô hay mắc vào quần áo. Cây ưa sáng, chỉ mọc ở các bãi trống. Được dùng chữa bệnh vàng da, vàng mắt, các bệnh về gan. [Only registered and activated users can see links] CỌ: (Livistona saribus; tk. tro, lá gồi, lá nón, kè), cây thân cột, họ Cau (Arecaceae). Thân thường mang các gốc cuống lá. Lá tập trung ở đỉnh, hình tròn, lớn, đường kính 1 - 2,5 m, xẻ nhiều thuỳ. Cuống dài, có 2 hàng gai khoẻ, 3 góc. Cụm hoa hình chuỳ to mọc ở nách lá, phân nhánh nhiều, dài tới 2 m. Quả hình bầu dục, màu trứng sáo. Hạt hình bầu dục. [Only registered and activated users can see links] CÓI: (Cyperus; tk. lác), chi thực vật thuộc họ Cói (Cyperaceae), mọc dại và gây trồng. Có hai loài C được trồng: 1) C bông trắng (C. tagetiformis; cg. lác voi), hoa trắng, dài 3 - 3,5 mm, chồi to, có vảy nâu; thân cao 60 - 180 cm, có 3 cành nhọn và vách ngăn ngang; lá ngắn, gié dài nhiều vảy, quả bế đen, dáng mọc nghiêng. Năng suất cao. Là cây được ưa trồng hơn cả. 2) C bông nâu (C. corymbosus; lác nước), cây có nhiều chồi và thân rễ; lá dài bằng nửa thân, có bẹ dài, gié dài 15 - 22 mm, mang 20 - 40 hoa; quả bế màu nâu đen. Đặc điểm sinh thái: nhiệt độ thích hợp cho C sinh trưởng 22 - 28 oC, dưới 12 oC ngừng sinh trưởng, trên 35 oC sinh trưởng chậm, độ ẩm không khí thích hợp 85%. Thích hợp nhất là đất phù sa ven biển hay ven sông nước lợ, pH 6 - 7, độ mặn khoảng 0,15‰. [Only registered and activated users can see links] CAM: là loài cây ăn quả cùng họ với bưởi. Nó có quả nhỏ hơn quả bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu da cam, có vị ngọt hoặc hơi chua. Loài cam là một cây lai được trồng từ xưa, có thể lai giống giữa loài bưởi (Citrus maxima) và quít (Citrus reticulata). Nó là cây nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10 cm. Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, có thể từ Ấn Độ, Việt Nam hay miền nam [Only registered and activated users can see links] CAU: còn gọi là tân lang hay binh lang, là một loài cây trong họ Cau (Arecaceae) được trồng nhiều tại khu vực nhiệt đới châu Á và Thái Bình Dương cũng như ở phía đông châu Phi. Nó là loại cây thân gỗ trung bình, cao tới 20 m, với đường kính thân cây có thể tới 20-30 cm. Các lá dài 1,5-2 m, hình lông chim với nhiều lá chét mọc dày dặc. [Only registered and activated users can see links] Cà Phê (Rubiaceae). Cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Thân non mầu tím, có lông, phía sau nhẵn. Cành non, có cạnh. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non mầu xanh lục, khi già mầu trắng mốc. Lá kèm mỏng ôm sát thân. Hoa nhỏ, lúc non mầu trắng, sau hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, dài 0,3-1,5cm, đài hoa hình chén hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ phát triển không đều. Tràng hoa dính liền ở phia dưới thành ống ngắn. [Only registered and activated users can see links] CÂY CHUỐI: Thuộc về họ Chuối. Nó được trồng chủ yếu để lấy trái cây của nó, và ở mức độ ít hơn là thân và để trang trí. Vì cây thường mọc lên cao, thẳng, và hơi vững, nó thường bị lầm lẫn với thân cây thật, trong khi "thân" chính của nó là một "thân giả" (tiếng Anh: pseudostem). Thân giả của một số loài có thể cao tới 2–8 m, với lá kéo dài 3,5 m. Mỗi thân giả có thể ra 1 buồng chuối màu vàng, xanh, hay ngay cả màu đỏ, trước khi chết và bị thay bằng thân giả mới. Quả chuối ra thành nải treo, mỗi tầng (gọi là nải) có tới 20 quả, và mỗi buồng có 3–20 nải. Các nải nhìn chung gọi là một buồng, nặng 30–50 kg. Một quả trung bình nặng 125 g, trong số đó vào khoảng 75% là nước và 25% là chất khô. [Only registered and activated users can see links] Oct_2004.jpg/410px-Luxor%2C_Banana_Island%2C_Banana_Tree%2C_Egypt%2C_ Oct_2004.jpg CHÈ: Cây chè vằng mọc hoang ở khắp nơi, mọc thành bụi hoặc bám vào các thân cây lớn hơn, đặc biệt nhiều ở vùng đồi núi cao, là loại cây bụi nhỏ, đường kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng đốt vươn dài hàng chục mét, phân nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc đối hơi hình mác, phía cuống tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên, mép nguyên, càng lên ngọn cành lá càng nhỏ. Lá chè vằng có 3 gân dọc trong đó 2 gân bên uốn cong theo mép lá, rõ rệt. Hoa chè vằng mọc thành xim nhiều hoa (chừng 7-9 hoa), cánh hoa màu trắng thường nở vào tháng 3 đến tháng 5 hàng năm. Quả chè vằng hình cầu cỡ hạt ngô, chín màu vàng, có một hạt rắn chắc. [Only registered and activated users can see links] CHI CHÀM: Chi Chàm (danh pháp khoa học: Indigofera) là một chi lớn của khoảng 700 loài thực vật có hoa thuộc về họ Đậu (Fabaceae). Chúng sinh trưởng trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới khắp thế giới, với chỉ một vài loài có mặt trong khu vực ôn đới ở miền đông châu Á. Các loài chủ yếu là cây bụi, một vài loài là cây thân thảo hoặc cây thân gỗ nhỏ, cao tới 5-6 m; phần lớn rụng lá vào mùa khô hay mùa đông. Lá kép lông chim lẻ với 5-31 lá chét; kích thước dài của lá dao động từ 3 tới 25 cm. Hoa nhỏ, mọc thành chùm dài 2-15 cm. [Only registered and activated users can see links] CƠM NGUỘI VÀNG: Cơm nguội vàng hay còn gọi là cây sếu, phác, cơm nguội Trung Quốc. Cây gỗ cao tới 20 m, với lá sớm rụng. Vỏ thân cây màu xám. Quả là loại quả hạch hình cầu, đường kính 5-7(-8) mm. Ra hoa giai đoạn tháng 3-4, kết quả tháng 9-10. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 26-10-2010, 22:30 dạng rễ có hai loại:rễ chùm và rễ cọc rễ chùm:gồm nhiều rễ to, dài gần bằng nhau, thường mọc toả ra từ gốc thân thành 1 chùm. rễ cọc:có rễ cái to khoẻ, đâm sâu xuống đất và nhiều rễ con mọc xiên. từ các rễ con lại mọc ra nhiều rễ bé hơn nữa. [Only registered and activated users can see links] dương xỉ thường sống ở những nơi ẩm ướt,rậm rạp lá có cuống dài,phiến lá xẻ thùy lá non cuộn hình vòi voi,thân ngắn hình trụ màu nâu.rễ dài nhưng ăn nông đã có mạch dẫn ở rễ,thân.lá làm thức ăn vận chuyển [Only registered and activated users can see links] [Only registered and activated users can see links] Diệp lục tố là sắc tố quang tổng hợp màu xanh lá cây có ở thực vật, tảo, vi khuẩn lam. Từ này có nguồn gốc Hán-Việt: "diệp" là lá, "lục" là xanh. Ngoài chất diệp lục, carotenoid và xantophyl cũng là các sắc tố cảm quang được tìm thấy ở thực vật và một số sinh vật quang tổng hợp khác. Các sắc tố này được cố định trong màng thylacoid của lục lạp. Chất diệp lục hấp thu mạnh nhất ánh sáng xanh dương và đỏ, kém ở phần xanh lá của phổ điện từ, do đó màu của mô chứa chất diệp lục giống màu cùa lá cây. dây leo gồm thân cuốn và tua cuốn [Only registered and activated users can see links] Dong là một cây thuộc Họ Hoàng tinh (Marantaceae). [Only registered and activated users can see links] dưa chuột là một cây trồng phổ biến trong họ bầu bí Cucurbitaceae, là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, nó được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm của nhiều nước. [Only registered and activated users can see links] dưa hấu là một loài thực vật trong họ Bầu bí (Cucurbitaceae), một loại trái cây có vỏ cứng, chứa nhiều nước, có nguồn gốc từ miền nam châu Phi và là loại quả phổ biến nhất trong họ Bầu bí. Dưa hấu có tính hàn có thể dùng làm thức ăn giải nhiệt trong những ngày hè nóng nực. [Only registered and activated users can see links] dưa lưới vỏ ngoài có hình dạng giôg cái lưới,thuộc họ bầu,bí.Hình tròn,bên trong có thịt,,hạt to,mềm có thể ăn được [Only registered and activated users can see links] dừa Loài cây cùng họ với cau, quả to có vỏ dày, cùi trắng, bên trong chứa nước ngọt. vỏ thương màu xanh,nặng [Only registered and activated users can see links] Dưa bở loài TV sinh trưởng và tạo quả ở điều kiện khí hậu khô, ấm áp và đầy đủ ánh sáng. [Only registered and activated users can see links] Cây dừa cạn là cây thảo sống lâu năm, cao 40 - 60cm, phân nhiều cành. Thân mọc thẳng, hình trụ nhẵn, lúc non màu xanh lục nhạt, sau chuyển hoa màu hồng hoặc trắng (hiếm hơn). [Only registered and activated users can see links] dâu trắng: Nó là một loài cây gỗ từ nhỏ đến nhỡ, lớn nhanh, có thể cao tới 15-20 m . Thân cành nhiều nhựa không gai, trên thân cành có nhiều mầm, mầm đỉnh, mầm nách, khi cắt tỉa mầm có khả năng cho bật mầm. Lá hàng năm rụng vào mùa đông. [Only registered and activated users can see links] đủ đủ: thuộc họ cau,dừa.........có lá to,phân tính,có cây đực và cây cái,cây đực ra hoa chùm,nhỏ và thơm,cây cái có quả hình bầu dục,,có hoa to k Cây duối mọc cao khoảng 4-8 m, rậm tán, cành đâm chéo nhau. Lá duối có dạng trứng nhọn, dài khoảng 3-7 cm, rộng 1,5-2,5 cm, mép có răng khía, trái vị ngọt khi chín. Đài lá (sepal) khá lớn nên mọc bao lên một phần của trái. [Only registered and activated users can see links] dâu tây: là một loại quả giả. Nó có màu xanh lục ánh trắng khi còn non và trở thành màu đỏ (ở phần lớn các loài) khi chín [Only registered and activated users can see links] chi dương: là một chi chứa các loài cây thân gỗ với tên gọi chung là dương. Các loài dương là những cây lá sớm rụng và lá của chúng chuyển thành màu vàng tươi trước khi rụng vào mùa thu. [Only registered and activated users can see links] DÁC : phần gỗ phía trong vỏ và ngoài lõi, trên mặt cắt ngang của khúc gỗ, đối với những loại gỗ phân biệt được D và lõi. D thường có màu vàng sáng hơn lõi, chứa nước và nhựa luyện. D là phần sinh trưởng sau, gỗ còn non, dễ bị côn trùng và nấm mốc xâm nhập, nên mau hỏng hơn. Gỗ lõi càng tốt, D càng chóng hỏng, vd. gỗ lim có lõi rất chắc bền nhưng D lại dễ bị mối mọt. Ở một số loại gỗ, D và lõi không phân biệt, gần giống nhau về chất lượng và màu sắc (vd. gỗ dẻ). DIỆP LỤC:(A. chlorophyll; cg. clorophin), nhóm sắc tố quan trọng nhất đối với quang hợp, có khả năng hấp thụ năng lượng ánh sáng Mặt Trời và biến năng lượng ấy thành năng lượng hoá học. Có nhiều loại DL: DLa (C55H72O6N4Mg), DLb (C55H70O5N4Mg), DLc, DLd. DLa có trong thực vật bậc cao và tảo; DLb có trong thực vật bậc cao và tảo lục; DLc có trong tảo khuê và tảo nâu; DLd có trong tảo đỏ. DL không tan trong nước, chỉ tan trong dung môi, do đó muốn tách DL ra khỏi lá, người ta thường dùng ete, rượu, hoặc axeton. Khi DL tác dụng với bazơ, xảy ra phản ứng xà phòng hoá, tạo nên muối clorophinat vẫn có màu xanh, tác dụng với axit hình thành nên pheophitin kết tủa và có màu nâu. Dung dịch DL bị mất màu ngoài ánh sáng và trong môi trường có oxi vì đã bị oxi hoá. Trên cơ sở số liệu về hàm lượng các DL và các sắc tố khác trong lá, người ta đánh giá khả năng quang hợp của thực vật, có thể xếp thực vật ấy vào các nhóm ưa sáng, ưa bóng, thực vật C4, C3… mà có biện pháp trồng trọt phù hợp để đạt năng suất cao. dành dành: Cây bụi, cao 1-2m. Lá mọc đối hay mọc vòng 3 cái một, nhẵn bóng. Lá kèm to bao quanh thân. Hoa to, trắng vàng rất thơm mọc riêng lẻ ở đầu cành. Quả hình trứng, có cạnh lồi, và đài tồn tại, chứa nhiều hạt. Thịt quả màu vàng. Loài dành dành núi (sơn chi tử) (Gardenia stenophyllus Merr.) có dáng nhỏ hơn, cũng được dùng. [Only registered and activated users can see links] dã hạt một giống lan thường mọc ở các quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á Châu nhưng nay phổ thông trên khắp thế giới bởi vì khá dễ trồng, nhiều hoa và hương thơm ngào ngạt. [Only registered and activated users can see links] goodfriend138 02-11-2010, 20:47 DỊCH: (sinh), chất lỏng sinh lí của mô sống, vd. trong tế bào, D ngoài tế bào (máu, huyết tương, huyết thanh, dịch vị, dịch não tuỷ, vv.). DỊ GIAO: hiện tượng khác biệt của các giao tử đực và cái của con lai về một gen hay nhiều nhóm gen. Thường gặp ở thụ phấn chéo của thực vật. Đối lập với DG là đồng giao. DỊ DƯỠNG: kiểu dinh dưỡng của sinh vật trong đó cơ thể không có khả năng tổng hợp các chất hữu cơ cần thiết cho mình từ các nguyên liệu vô cơ ban đầu, nguồn cacbon ban đầu cơ bản là cacbon hữu cơ. Phần lớn động vật là sinh vật DD. Có 2 kiểu DD: hoá dưỡng (hoá DD) gồm có động vật, phần lớn vi khuẩn; quang dưỡng (quang DD) chỉ gặp ở một số sinh vật như vi khuẩn tía không lưu huỳnh. Dương vật là một cơ quan sinh dục và tiết niệu bên ngoài của động vật giới đực thuộc lớp thú. Cơ quan này có chứa niệu đạo là đường dẫn chung cho nước tiểu khi tiểu tiện và tinh dịch khi phóng tinh. Bài này viết về dương vật ở loài người. Di truyền: là hiện tượng chuyển những tính trạng của cha mẹ cho con cái thông qua gen của bố mẹ+Di truyền học là một bộ môn sinh học, nghiên cứu về tính di truyền và biến dị ở các sinh vật + Di truyền độc lập: là sự di truyền của cặp tính trạng này không phụ thuộc vào sự di truyền của tính trạng khác và ngược lại. +di truyền liên kết với giới tính: là sự di truyền tính trạng do gen trên NST GIỚI TÍNH QUY ĐỊNH +di truyền giới tính: Là sự di truyền tính trạng đực cái ở sinh vật luôn tuân theo tỉ lệ trung bình 1 đực: 1 cái tính trên qui mô lớn được chi phối bởi cặp NST giới tính của loài. +Di truyền liên kết hoàn toàn: là hiện tượng một nhóm tính trạng được di truyền cùng nhau , được qui định bởi các gen trên 1 NST cùng phân li trong quá trình phân bào. +di truyền liên kết ko hoàn toàn: (hoán vị gen) là sự trao đổi tréo nhưng đoạn tương ứng của cặp NST tương đồng trong phát sinh giao tử đưa đến sự hoán vị của các gen tương ứng dịch mã: là quá trình tổng hợp chuỗi pôlipeptit ( mARN ---> prôtêin) +Di truyền y học: tìm hiểu xem biến đổi di truyền liên hệ tới sức khỏe và bệnh tật của con người như thế nào +Diễn thế sinh thái là quá trình biến đổi tuần tự của quần xã qua các giai đoạn khác nhau, từ dạng khởi đầu, được thay thế lần lượt bởi các dạng quần xã tiếp theo và cuối cùng thường dẫn tới một quần xã tương đối ổn định. +Diễn thế nguyên sinh: là diễn thế khởi đầu từ môi trường trống trơn (đảo mới hình thành trên tro tàn núi lửa, đất mới bồi ở lòng sông). Nhóm sinh vật đầu tiên được phát tán đến đó hình thành nên quần xã tiên phong. Tiếp đó là một dãy quần xã tuần tự thay thế nhau. Khi có cân bằng sinh thái giữa quần xã và ngoại cảnh thì quần xã ổn định trong một thời gian tương đối dài. Diễn thế nguyên sinh có thể xảy ra trên cạn hoặc đươi nước. +Diễn thế thứ sinh: là diễn thế xuất hiện ở một môi trường đã có một quần xã sinh vật nhất định. Quần xã này vốn tương đối ổn định nhưng do thay đổi lớn về ngoại cảnh làm thay đổi hẳn cấu trúc quần xã sinh vật. + DÂY RỐN: là dây nối thai nhi với bánh nhau(nhau thai) trong đó có hai động mạch và một tĩnh mạch rốn, đảm bảo sự trao đổi giữa máu của mẹ và con. +DÂY THẦN KINH: là dây nối liền một trung tâm thần kinh tới một phủ tạng của cơ thể, gồm có các sợi thần kinh góp lại thành bó, ở giữa các mô xơ - mô liên kết. Các DTK bao gồm: các DTK sọ não, các DTK tuỷ sống, các DTK sinh dưỡng (đối giao cảm và giao cảm). Tuỳ theo tác dụng sinh lí, DTK có thể là DTK cảm giác hay giác quan, DTK vận động, DTK bài tiết. DTK ngoại vi thường là DTK hỗn hợp. +DI CƯ: là tập tính di chuyển đi và lại theo chu kì của một phần hay toàn bộ một quần thể động vật đến vùng phân bố, thường theo các tuyến ổn định. DC liên hệ chặt chẽ với chu kì mùa và xảy ra do tác động của các yếu tố sinh thái như độ dài của ngày trong mùa xuân, thu. Vd. nhạn biển sinh sản ở bờ biển Bắc Cực Châu Mĩ và Á - Âu, đi trú đông quanh các tảng băng nổi cách xa tới 1.100 km về phía nam. +DI CHỨNG: là chứng bệnh, tật hình thành và tồn tại lâu dài sau khi khỏi bệnh vd. đường rò sau một vết gãy xương đã liền "can"; teo đét và biến dạng các chi dưới sau bệnh bại liệt, vv. Dị hợp: là hiện tượng cơ thể có hai alen khác nhau ở một locut VD: Aa DÒNG THUẦN: tập hợp các cá thể đồng hợp tử sinh ra từ những thế hệ nối tiếp bắt nguồn từ những cá thể đồng hợp tử và tiếp tục sinh ra đời con giống hệt nhau về mặt di truyền. +DI TRUYỀN TẾ BÀO: là lĩnh vực của di truyền học nghiên cứu quy luật di truyền và biến dị ở mức độ tế bào và chất trong tế bào (chủ yếu là nhiễm sắc thể). +DI TRUYỀN TẾ BÀO CHẤT: vật liệu di truyền xác định tính trạng nằm trong bào quan ngoài nhân như ti thể, lạp thể. Những tính trạng được kiểm tra bằng cách đó không di truyền theo định luật Menđen và chỉ được truyền qua dòng mẹ, vì chỉ có giao tử cái mới có một lượng đáng kể tế bào chất. DTTBC thấy có ở nhiều động vật, thực vật và sinh vật đơn bào. +DI TRUYỀN SINH THÁI HỌC: khoa học nghiên cứu di truyền quần thể trong mối liên quan với môi trường. +DỊ TẬT: tổn thương làm thay đổi hình thái thông thường và chức năng của một cơ quan hay một bộ phận của cơ thể, vd. sứt môi, teo thực quản +DỊ TẬT BẨM SINH: biểu hiện hình thái khác thường trong cơ thể của trẻ mới đẻ; thể hiện rõ ra ngoài như không có hậu môn, bàn tay 6 ngón; hoặc không hiện rõ ra ngoài và phải có thầy thuốc khám mới biết được như tồn tại ống động mạch, thông liên nhĩ, di truyền các gene trội trên nhiễm sắc thể thường Bệnh di truyền do các gene trội trên nhiễm sắc thể thường đựơc bắt gặp với tần số khoảng 1/200. Nếu tính riêng lẻ thì mỗi bệnh di truyền do gene trội trên nhiễm sắc thể thường là khá hiếm trong quần thể. Tuy nhiên, các bệnh phổ biến nhất có tần số gene khoảng 0,001. Tính trạng hay bệnh di truyền do các gene trội trên nhiễm sắc thể thường có một số các đặc điểm quan trọng. [Only registered and activated users can see links] di truyền quần thể Tự phối hay giao phối gần (gọi chung là nội phối) làm cho quần thể dần dần bị phân thành những dòng thuần có kiểu gen khác nhau. Trải qua nhiều thế hệ nội phối, các gen ở trạng thái dị hợp chuyển sang trạng thái đồng hợp. Số thể dị hợp giảm dần, số đồng hợp tăng dần. Da là cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể. Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợp vitamin B và D. Da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. Diện tích bề mẵt là 2m2 dấu vân tay: là hình của vân tay ta được ghi nhận lại để xem xét hoặc làm chứng minh thư,dấu vân tay của mõi người khác nhau [Only registered and activated users can see links] KDo7gpRNeFHW5HF9L0&t=1&usg=__SAo66adooUu0nDm0Eiw-WSaRd5A= DẤU CHUẨN DI TRUYỀN: các gen lặn và tính trạng tương ứng do chúng kiểm soát chỉ biểu hiện ở đồng hợp tử lặn. Khi genotip của dạng mẹ là aa và dạng bố AA thì DCDT được dùng để tách các cây không lai (aa) ra khỏi cây lai (Aa) trong sử dụng ưu thế lai ở cây trồng được nhân giống bằng ươm cây. DCDT được dùng để chọn lọc các thể đơn bội, vd. phương pháp dùng DCDT để tạo ra ngô đơn bội. DẠ DÀY: phần ống tiêu hoá nằm giữa thực quản và tá tràng ở động vật có xương sống. Là túi lớn, thành cơ dày, hai đầu thắt lại bằng hai cơ vòng, nơi nhận và chứa thức ăn trong những khoảng thời gian nhất định, tránh cho động vật không phải ăn liên tục DÂY THẦN KINH: dây nối liền một trung tâm thần kinh tới một phủ tạng của cơ thể, gồm có các sợi thần kinh góp lại thành bó, ở giữa các mô xơ - mô liên kết. Các DTK bao gồm: các DTK sọ não, các DTK tuỷ sống, các DTK sinh dưỡng (đối giao cảm và giao cảm). Tuỳ theo tác dụng sinh lí, DTK có thể là DTK cảm giác hay giác quan, DTK vận động, DTK bài tiết. DTK ngoại vi thường là DTK hỗn hợp. DẠ CỎ: ngăn thứ nhất trong dạ dày chuyên hoá của động vật nhai lại. Trong DC có rất nhiều vi khuẩn và các sinh vật cộng sinh tiết ra enzim xenlulaza giúp cho tiêu hoá thức ăn (chủ yếu là xơ xenlulozơ). Một phần thức ăn được tiêu hoá tại DC, còn phần lớn được ợ trở lại miệng và nhai lại lần nữa trước khi nuốt vào dạ tổ ong. DẠ LÁ SÁCH: ngăn thứ ba của dạ dày chuyên hoá ở động vật nhai lại. DLS là phần dạ dày cơ có nhiều nếp gấp tạo ra bởi lớp biểu mô cơ hình vảy xếp thành tầng và hoá sừng cứng. DLS là nơi hấp thụ trở lại lượng nước thừa. DẠ MÚI KHẾ: ngăn thứ tư và là ngăn cuối của dạ dày chuyên hoá ở động vật nhai lại. Được lót một lớp màng nhày chứa các hố vị, sinh ra axit clohiđric, pepsin, renin. DMK là dạ dày tiêu hoá thật sự. DẠ TỔ ONG: ngăn thứ hai của dạ dày chuyên hoá ở động vật nhai lại. Cỏ được đưa vào DTO sau khi đã được ợ ra nhai lại. Được lót bởi biểu mô nhiều lớp có hoá sừng và hình thành nên các nếp ngăn giống tổ ong. DỊ BÀO: (cg. dị thể), loại tế bào chuyên hoá nằm rải rác trong các nhóm tế bào khác nhau có thể chứa các chất khác nhau: tanin, tinh dầu, tinh thể và các sản phẩm bài tiết. Những tế bào cứng đơn độc cũng là DB. DỊ HÌNH: hiện tượng tồn tại một số kiểu hình thái trong chu trình sống (vòng đời) của một loài, được thể hiện qua sự xen kẽ thế hệ và có sự khác nhau rõ về hình thái như ở sứa, dương xỉ, rầy nâu, rệp cây. DỊ HOÁ: (sinh), quá trình phân giải các chất để sinh ra năng lượng cần thiết cho hoạt động sống và thải các chất cặn bã thừa, là một trong hai quá trình cơ bản của việc trao đổi chất trong cơ thể sống, nó ngược lại với quá trình đồng hoá là quá trình thu nhận và tổng hợp các chất cần cho cơ thể DỊ GIAO: hiện tượng khác biệt của các giao tử đực và cái của con lai về một gen hay nhiều nhóm gen. Thường gặp ở thụ phấn chéo của thực vật. Đối lập với DG là đồng giao. DỊCH THUỶ: dịch trong suốt, nhày, chứa trong buồng trước thuỷ tinh thể ở mắt động vật có xương sống. Do tuyến thể mi tiết ra, cung cấp chất dinh dưỡng cho thuỷ tinh thể và giác mạc. Ở mắt người, DT di chuyển từ hậu phòng qua đồng tử ra tiền phòng, rồi từ góc tiền phòng ngấm vào hệ thống dẫn lưu tới các tĩnh mạch củng mạc (DT chứa nhiều nhất trong tiền phòng). Áp suất của DT giữ ở mức độ cố định (10 - 20 mmHg) để cho nhãn cầu có sức căng; khi áp suất tăng, gây nên bệnh thiên đầu thống. Xt. Mắt; Glôcôm. Di truyền y học tư vấn là 1 ngành chẩn đoán di truyền học được hình thành trên cơ sở những thành tựu về di truyền người và di truyền y học. -Di căn là sự di chuyển của tế bào ung thư từ cơ quan bệnh sang cơ quan khác. Ví dụ: một người bị ung thư GAN. Đầu tiên các tế bào ung thư phát triển tại gan. Nếu phát hiện sớm và điều trị ngay từ giai đoạn này sẽ cho kết quả tốt nhất. Nếu tế bào ung thư phát triển mạnh nó sẽ vào máu lan đến cơ quan khác của cơ thể. Thường nhất là di căn đến phổi. Lúc này tế bào ung thư từ gan đi tới phổi phát triển, người ta gọi là ung thư gan di căn phổi. traitimbang_3991 09-11-2010, 11:04 dã tràng: là tên gọi chung để chỉ một vài nhóm cua biển nhỏ trong bộ Giáp xác mười chân, với tập tính vê cát thành từng viên nhỏ để tìm kiếm thức ăn khi thủy triều xuống. sinh sống trong khu vực ven bờ biển thuộc Ấn Độ Dương và miền tây Thái Bình Dương. [Only registered and activated users can see links] Dê: có một bộ lông tơ mịn bao phủ khắp người. Ở đa số các loài dê thì giống đực có sừng còn giống cái thì không. Cả dê cái và dê đực đều có râu. [Only registered and activated users can see links] Diều hâu:Chúng chủ yếu là các loài chim sống tại các khu vực miền rừng và đi săn mồi bằng cách lao đột ngột xuống từ chỗ nấp kín đáo. Thông thường chúng có đuôi dài và thị lực rất sắc bén. [Only registered and activated users can see links] Dơi : cấu tạo 2 chi trước của chúng giống như bàn tay con người với các ngón tay được nối liền bởi màng da và tạo thành đôi cánh. (chính xác thì ở dơi cánh được tạo bởi màng da nối liền xương cánh tay và các ngón tay) Dơi là loài thú duy nhất có thể bay được. [Only registered and activated users can see links] diệc: là họ chứa một số loài chim lội nước nằm trong bộ Hạc. Các tên gọi phổ biến của chúng trong tiếng Việt là vạc, diệc, diệc bạch hay cò [Only registered and activated users can see links] epMv7oVMSOET1h_aIY&t=1&usg=__fqyQJILcd0dXOmIvulVdlAyYkNc= dế: có tên khoa học Acheta assimilis là loài bọ cánh thẳng, có râu dài, cặp chân sau to, khỏe, đào hang sống dưới đất, chuyên ăn hại rễ câỵ. Trên thế giới ước tính có 1.000 loài dế khác nhau. [Only registered and activated users can see links] di chuyển sâu đo:là kiểu di chuyển co rộng->co hẹp-> dãn ra->co rộng->co hẹp->dãn ra............... di chuyển lộn đầu: là kiểu di chuyển đầu đưa lên trời rồi cho cái đầu vừa chỏng lên trời đó xuống đất cùng với đuôi rồi lại đưa đuôi lên trơqfi rùi cho xuống đất cùng đuôi và cứ thế.......... traitimbang_3991 09-11-2010, 11:28 ĐA ALEN: trạng thái có biểu hiện khác nhau của một dãy alen, xuất hiện do đột biến, vd. gen A có thể bị đột biến thành a1, a2, a3.. ĐA BÀO: những cơ thể mà cấu tạo gồm nhiều loại tế bào, mỗi loại tế bào thực hiện những chức năng khác nhau gọi là tế bào biệt hoá, trong khi ở những sinh vật đơn bào, chỉ một tế bào đảm nhiệm toàn bộ các chức năng sống ĐA BỘI: hiện tượng tế bào hay sinh vật chứa nhiều lần số lượng nhiễm sắc thể đơn bội. Hay gặp ở thực vật hơn động vật và có thể thấy số lượng rất lớn nhiễm sắc thể như bát bội, thập bội. ĐA HÌNH: 1. Dạng biến dị đặc biệt, trong đó sự tồn tại của nhiều kiểu các thể khác nhau trong loài chiếm tỉ lệ lớn. 2. Trạng thái của một vật thể vô cơ, một tế bào, một sinh vật (vi sinh vật), một bệnh (viêm, ung thư), biểu hiện ra ngoài dưới nhiều hình thái khác nhau, nhưng không thay đổi bản chất. ĐÍNH TRÊN BẦU: kiểu cấu tạo của hoa, có bao hoa và bộ nhị đính trên bộ nhuy, để tạo nên kiểu bầu dưới, bầu này dính với đế hoa. Kiểu ĐTB hay gặp ở cây họ Cúc và họ Hoa hồng. ĐỘNG DỤC: hiện tượng sinh lí có tính chu kì ở động vật có vú cái và phụ nữ, xảy ra trong thời kì rụng trứng, do các hoạt động nội tiết của buồng trứng chi phối, tạo nên những biến đổi của tử cung và âm đạo, chuẩn bị cho sự thụ tinh và chửa. ĐÔNG MÁU : hiện tượng máu từ thể lỏng trở thành thể đặc khi thoát ra ngoài cơ thể. Thời gian ĐM bình thường là từ 5 đến 7 phút. ĐAI VAI: cấu trúc của bộ xương bằng sụn hay xương nằm ở vùng trước cơ thể động vật có xương sống, khớp với chi trước hay vây. ĐÀI: vòng ngoài cùng của hoa, bao lấy các vòng khác trong suốt giai đoạn nụ. ĐẠI BÀO TỬ: bào tử lớn hơn của hai kiểu bào tử ở dương xỉ có bào tử khác loại và ở thực vật có hạt, từ đó phát triển thành giao tử cái. ĐẠI NÃO : phần gồ cao nhất của não người, gồm hai bán cầu não liên kết với nhau qua một dải các sợi thần kinh (thể chai). ĐẠI TRÀNG : phần cuối của ống tiêu hoá, hình chữ U ngược, bao quanh tiểu tràng, bắt đầu từ góc hồi manh tràng đến hậu môn. ĐÁY CHẬU : thành dưới ổ bụng của khung chậu, gồm các cơ và mạc bịt kín đáy của khung hoặc chậu hông ĐẺ : một hiện tượng trong sinh sản ở động vật. ĐEHIĐROGENAZA : (A. dehydrogenase), lớp enzim oxi hoá khử, xúc tác cho phản ứng tách 2 hiđro khỏi một chất này chuyển sang chất khác. Tham gia vào quá trình oxi hoá các chất sacarit, lipit, protein ĐIỂM BÙ: cường độ ánh sáng mà ở đó cường độ quang hợp cân bằng với cường độ hô hấp và hô hấp sáng, do đó, tổng số thay đổi O2 và CO2 bằng 0 (tức tỉ lệ O2 và CO2 bằng 1). ĐỐT BÌ : phần khúc thân của lá phôi giữa ở phôi động vật có xương sống, nằm dưới biểu bì và phát triển thành bì. ĐỘT BIẾN GEN : đột biến xảy ra bên trong các gen, do ngẫu nhiên hay do nhân tạo. Bản chất hoá sinh của ĐBG là do những biến đổi trong trình tự các cặp bazơ trong mạch polinucleotit như thay thế một cặp hay thêm cặp của các cặp trong gen ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NHIỄM SẮC THỂ:[/B] là sự thay đổi trong cấu trúc NST gồm : mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn, chuyển đoạn ĐƠN BÀO:các cơ thể chỉ cấu tạo bởi một tế bào (vd. vi khuẩn, nấm men, một số tảo, động vật nguyên sinh...). ĐƠN BỘI : cá thể sinh vật chỉ có một nửa số nhiễm sắc thể (n) so với sinh vật thường (lưỡng bội 2n). ĐƯỜNG NỐI:đường khớp hay đường gắn giữa các bộ phận nằm cạnh nhau. Vd. ĐN các mảnh xương hộp sọ hay các bờ của lá noãn ở thực vật. ĐƠN TÍNH:chỉ có một giới tính đực hay một giới tính cái. ĐƯỜNG AMIN: đường trong đó nhóm hiđroxyl (OH−) được thay bằng nhóm amin (– NH2). Đào thải :Trong quá trình tiến hóa và phát triển của loài , những cá thể sinh vật không có sự thay đổi để thích nghi với môi trường sống kịp thời sẽ bị loại ra và thay vào đó là một loại cá thể mới đã có sự thay đổi [B]Độc tố(toxin) :Là những chất mang độc tính có hại tới cơ thể của sinh vật bằng cách phá hủy các tế bào từ bên trong . -Đồng hồ sinh học (biological clock):Là một hệ thống trong cơ thể nhằm điều khiển các chu kì hoạt động hàng ngày (lặp đi lặp lại ) Đột biến (transform suddenly): Là những biến đổi liên quan tới vật chất di truyền ở cả cấp độ tế bào và cấp độ phân tử do các tác nhận vật lí hay hóa học . -Đường phân :Hay còn gọi là quá trình phân giải glucozo có thể xảy ra hầu hết ở tất cả các cơ thể sống .Là bước đầu tiên trong 3 bước quan trọng của hô hấp tế bào (hiếu khí).Kết thúc quá trình đường phân ta thu được 2 phân tử ATP ,và 2 phân tử NADH. ĐỘNG VẬT HỌC :khoa học nghiên cứu động vật, hiện nay là một hệ thống khoa học nghiên cứu động vật về nhiều mặt khác nhau: sinh học, sinh thái học, sinh lí học, tập tính học, giải phẫu học, hình thái học, vv. Định luật phân li độc lập:Các cặp nhân tố di truyền đã phân li độc lập trong quá trình phát sinh giao tử Động vật biến nhiệt: có thể thay đổi nhiệt độ cơ thể theo thời gian để tiết kiệm năng lượng (như hạ thấp thân nhiệt vào ban đêm, hay hạ thấp thân nhiệt trong thời gian ngủ đông); hoặc có nhiệt độ khác nhau ở các phần cơ thể khác nhau (như chim cánh cụt có nhiệt độ ở chân rất thấp, do đó chân không bị dính vào mặt băng, v.v...). - Động vật đẳng nhiệt: không cần phải có những cấu trúc cơ thể phức tạp để thay đổi thân nhiệt vì nhiệt độ môi trường tốt cho cơ thể ở hầu hết mọi thời điểm. - Động vật ngoại nhiệt: nhiệt độ cơ thể thay đổi theo môi trường (như các loài rắn rết, v.v...). Ưu điểm là chúng có thể tiết kiệm năng lượng. Nhược điểm là khi nhiệt độ môi trường bất lợi thì hoạt động sống bị giới hạn. - Động vật nội nhiệt: điều hòa thân nhiệt bằng các hoạt động trao đổi chất của bản thân (như thú hữu nhũ, chim, v.v...). Ưu điểm là chúng có thể huy động năng lượng hoạt động mạnh hầu như mọi lúc. Nhược điểm cũng là ưu điểm, vì có thể huy động năng lượng mọi lúc nên các loài này xài rất hao năng lượng. đậu mùa là bệnh mang tính truyền nhiễm và đôi khi là bệnh hay lây nguy hiểm đến tính mạng, gây ra bởi siêu vi trùng Variola. Loại bệnh đậu mùa thường được thấy và gây ra nguy hiểm được gọi là Variola chủ Đột biến gen: là những biến đổi nhỏ trong cấu trúc gen. Những biến đổi này thường liên quan đến 1 cặp nucleotit (được gọi là đột biến điểm) hoặc 1 số cặp nucleotit. Đột biến giao tử: phát sinh trong giảm phân hình thành giao tử Đột biến gen trội: biểu hiện ngay thành kiểu hình,biểu hiện ở 1 phần cơ thể Đột biến gen lặn: tồn tại ở di hợp tử không biểu hiện ở thế hệ đầu tiên, chỉ biểu hiện kiểu hình ở trạng thái đồng hợp tử lặn Đột biến Xoma: xảy ra trong nguyên phân của tế bào sinh dưỡng sẽ được nhân lên ở 1 mô. Có thể được nhân lên qua sinh sản sinh dưỡng nhưng không thể di truyền qua sinh sản hữu tính Đột biến tiền phôi: xảy ra ở những lần nguyên phân đầu tiên của hợp tử trong giai đoạn 2-8 phôi bào có thể truyền lại cho thế hệ sau bằng sinh sản hữu tính. Động vật là một nhóm sinh vật chính, được phân loại là giới Động vật (Animalia) trong hệ thống phân loại 5 giới. Nhìn chung, động vật là các cơ thể đa bào hoặc đơn bào, có khả năng di chuyển và đáp ứng với môi trường, có thức ăn là các sinh vật khác (dị dưỡng) Động vật nguyên sinh (Protozoa-tiếng Hy Lạp proto=đầu tiên và zoa=động vật) là những sinh vật xuất hiện sớm nhất trên hành tinh, là sinh vật đơn bào (nguyên sinh vật-Protista) có khả năng chuyển động và dị dưỡng. Đồng hóa là quá trình tổng hợp các chất đơn giản thành những chất phức tạp diễn ra trong cơ thể sinh vật và tiêu hao năng lượng. Quá trình này tạo lập những phân tử từ các đơn vị nhỏ hơn và thường thu năng lượng. Động vật có vú: (Mammalia; tk. thú), lớp động vật có xương sống, gồm các loài có 4 chi, tiến hoá nhất. Có thân nhiệt ổn định, lông mao. Trong da có tuyến mồ hôi và tuyến bã. Bộ răng phân hoá thành răng cửa, răng nanh, răng hàm và răng trước hàm. Não lớn. Có tai ngoài, tai giữa có 3 xương tai. Tim 4 ngăn, máu tĩnh mạch và động mạch tách biệt và cơ hoành tham gia vào các hoạt động hô hấp. Cá thể non sinh ra đã có khả năng vận động, sống bằng sữa mẹ do tuyến vú tiết ra. Động vật chân vây: (tk. động vật chân vịt), tên gọi chung động vật có vú ở biển, bộ Chân vịt (Pinnipedia). Thân thuôn, da có lông ngắn ánh bạc (trừ gấu biển); đuôi ngắn; chi 5 ngón biến thành vây chèo, các ngón không phân đốt, có thể có màng liên kết. Dưới da có lớp mỡ dày. Răng từ 18 (ngựa biển) đến 38 (chó biển), nanh khá dài. Chủ yếu sống ở nước Địa y: (Lichenes), quần hợp thực vật cộng sinh giữa tảo lục (hoặc tảo lam) và nấm. Đặc điểm sinh trưởng chậm nhưng có khả năng thích ứng với những môi trường không thuận lợi. Đoạn Okazaki: các đoạn ADN mới hình thành trong quá trình tổng hợp và sau đó nối lại với nhau thành một sợi liên tục, do nhà sinh học Nhật Bản Okazaki (R. Okazaki) tìm ra năm 1968 khi chứng minh cơ chế tổng hợp ADN. ĐỘNG VẬT ĂN CỎ : động vật có khả năng phân giải xenlulozơ của thành phần tế bào thực vật trước khi tiêu thụ các chất trong tế bào. Phần lớn các ĐVĂC nhờ hoạt động cộng sinh của các vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn kị khí) và động vật nguyên sinh ở trong dạ dày và ruột của chúng, phá huỷ cấu trúc xenlulozơ tạo thành các phân tử nhỏ hơn thuận tiện cho việc tiêu hoá. Cấu tạo bộ răng và hệ tiêu hoá có thay đổi để thích nghi với lối sống đó. ĐVĂC được chia thành hai nhóm: động vật nhai lại và động vật không nhai lại. ĐIỂM HÉO CỐ ĐỊNH: điểm mà đất bị khô tới mức cây không thể lấy được nước còn lại từ các phần tử đất nữa và bắt đầu héo. ĐỘNG VẬT BỐN CHI : động vật có xương sống gồm 4 chi như lưỡng cư, bò sát, chim, động vật có vú. ĐỘNG VẬT CÓ DÂY SỐNG: ngành chính của động vật, có xoang cơ thể phân đốt và đối xứng hai bên. ĐỐI XỨNG CƠ THỂ : sự sắp xếp các bộ phận trong cơ thể sinh vật đều tuân theo quy luật nhất định tuỳ theo cách vận chuyển, cách sống, vv. ĐƯỜNG MẤT OXI: phân tử đường trong đó nhóm hiđroxyl (OH–) được thay thế bằng H+. ĐMO quan trọng nhất là đeoxiribozơ (cấu tử của ADN). girlbuon10594 05-12-2010, 19:38 Enzim là một chất xúc tác sinh học được tạo ra bởi cơ thể sống. Enzim có bản chất là prôtêin. Ngoài ra, một số enzim còn có thêm một phần tử hữu cơ nhỏ gọi là côenzim. Chất chịu tác dụng của enzim tương ứng gọi là cơ chất. Trong phân tử enzim có vùng cấu trúc không gian đặc biệt chuyên liên kết với cơ chất được gọi là trung tâm hoạt động. Cấu hình không gian này tương thích với cấu hình không gian của cơ chất, nhờ vậy cơ chất liên kết tạm thời với enzim và bị biến đổi tạo sản phẩm. Exon là một chuỗi acid nucleic mà được thể hiện ở dạng trưởng thành của một phân tử RNA sau khi một trong hai phần của một RNA tiền thân (intron) đã được loại bỏ bằng cách nối-cis hoặc khi hai hoặc nhiều phân tử RNA tiền chất đã được ligated bởi nối-trans . Các phân tử RNA trưởng thành có thể là RNA thông tin hoặc hình thành một chức năng của một ARN không mã hóa như rRNA hay tRNA. Tùy thuộc vào ngữ cảnh, exon có thể tham khảo các trình tự trong các DNA hay RNA bảng điểm của mình. ECĐYSON:(A. ecdysone), hocmon loại steroit do động vật chân đốt (côn trùng, nhện, bọ cạp, vv.) tiết ra, có tác dụng thúc đẩy sự lột xác và biến thái. E tác động lên ADN để bắt đầu quá trình tổng hợp các protein và các enzim mới tham gia vào quá trình lột xác, hình thành cuticun. ENZIM CỐ ĐỊNH:(cg. enzim không tan), enzim đã được gắn vào một chất mang không hoà tan nên không di chuyển và không hoà tan được trong môi trường phản ứng. ECĐ có đầy đủ các tính chất của enzim, đồng thời có ưu điểm là sử dụng được nhiều lần, không trộn lẫn với các phẩm vật khác của phản ứng và dễ dàng tách ra khỏi hỗn hợp phản ứng, do đó có thể ngừng phản ứng ở bất kì giai đoạn nào. Có ba phương pháp điều chế ECĐ: a) Hấp phụ enzim lên chất mang không hoà tan như silicagen thuỷ tinh, xenlulozơ; b) "Nhốt" enzim vào trong một vi tiểu cầu có kích thước lỗ khá nhỏ đủ để giữ enzim, còn các chất khác qua lại tự do; c) Giữ enzim vào chất mang không hoà tan hoặc gắn nhiều phân tử enzim lại với nhau để tạo nên đại phân tử không hoà tan bằng liên kết đồng hoá trị. Vd. enzim glucoamilaza cố định được dùng để sản xuất một loại sản phẩm được gọi là xirô ngô. Nạp enzim glucoamilaza cố định dưới dạng hạt vào cột kiểu như cột trao đổi ion. Cho dung dịch hồ tinh bột ngô có nồng độ nhất định (35%) chảy qua cột, enzim glucoamilaza sẽ thuỷ phân tinh bột thành đường glucozơ. Nếu muốn thu được đường fructozơ thì cho dung dịch chảy tiếp qua một cột thứ hai chứa enzim glucoisomeraza không tan, enzim này sẽ chuyển đường glucozơ thành đường fructozơ. ETIĐIUM BROMUA:(A. ethidium bromide), chất thường dùng để nhuộm ADN. Dựa theo đặc tính ADN kết hợp với EB sẽ phát huỳnh quang dưới tia tử ngoại, EB bám rất chặt vào ADN bằng cách chen giữa các cặp bazơ của phân tử ADN và làm ADN tháo xoắn khi có nhiều EB. EXONUCLEAZA:(A. exonuclease), loại nucleaza chỉ tác động vào đầu tận cùng của axit nucleic và cắt ra từng nucleotit theo thời gian. E có thể chuyển hoá theo đầu 5' hoặc 3' của sợi ADN. E.coli (Escherichia coli): là vi khuẩn ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồmchim và động vật có vú), thường được sử dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn..Và quen thuộc khi làm vật trung gian để đưa các And tái tổ hợp vào . girlbuon10594 05-12-2010, 19:48 Fructozơ là một loại monosaccarit (monosaccarid, gluxit đơn giản, đường đơn), đồng phân với glucoz. Fructozơ là chất rắn kết tinh, dễ hòa tan trong nước, có vị ngọt gấp 1,5 đường mía (saccarozơ, saccaroz, sucrose), gấp 2,5 lần glucoz (đường nho). Fructozơ là loại gluxit có vị ngọt nhất. Trong mật ong có chứa khoảng 40% fructozơ, do đó mật ong có vị ngọt gắt. Fructozơ nóng chảy ở khoảng nhiệt độ 102 - 104°C. FEREĐOXIN:(A. ferredoxins), nhóm protein màu đỏ nâu ở cây xanh, tảo lam và một số vi khuẩn. Chúng chứa sắt dạng không liên kết với sunfua ở vị trí hoạt động. F là tác nhân khử mạnh (thế năng khử rất cao) và hoạt động như những chất mang điện tử, vd. trong quang hợp và trong cố định nitơ. FIBRIN:(A. fibrin), loại protein không hoà tan có tác dụng làm đông máu. Trong quá trình đông máu, tiểu cầu hay các mô giải phóng chất gọi là thromboplaxtin. Chất này với sự có mặt của ion canxi biến enzim prothrombin thành thrombin. Thrombin hoạt động biến fibrinogen trong huyết tương thành F và F sẽ kết tủa làm đông máu. F là một globulin, dưới dạng sợi trắng nhỏ như bông, chun giãn, làm thành một mạng lưới giam cầm những huyết cầu, huyết thanh và thành cục máu đông. FIBRINOGEN:(A. fibrinogen), chất globulin (protein) phân tử lớn, dài, có trong huyết tương, tạo ra fibrin tham gia quá trình làm đông máu. Bình thường huyết tương có 0,2 - 0,4 g F trong 100 ml. F tăng trong hầu hết các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt trong thấp khớp và viêm phổi, có thể dẫn tới 1 g/ 100 ml hoặc cao hơn nữa. F giảm khi tế bào gan bị tổn thương như xơ gan, suy gan. FLAVONOIT:(A. flavonoid), nhóm các hợp chất phổ biến trong thực vật có bộ khung hoá học là C6 ― C3 ― C6, trong đó C6 là vòng benzen. Là nguồn quan trọng các sắc tố không quang hợp trong thực vật. Được phân loại dựa theo nhóm C3 và các glicosit của nó có màu vàng nhạt và màu ngà; antoxianin và antoxianiđin mầu đỏ, xanh, tía và các dạng không màu: isoflavon, catecin và leucoantoxianiđin, là các chất tan trong nước và thường nằm trong không bào. FLUORETXEIN:(A. fluorescein; cg. uranin A hoặc 3,6 - đihiđroxofluoran), C20H12O5. Bột màu đỏ da cam. Không tan trong nước, ete, clorofom; tan trong etanol nóng, axit axetic nóng và kiềm. Dùng làm chất chỉ thị chuyển từ màu vàng ở pH = 3,6 sang màu lục huỳnh quang ở pH = 5,6. Khi brom hoá, biến thành eosin có màu đỏ, vì thế được dùng làm thuốc thử để nhận biết Br2 mới sinh; cho hơi Br2 tác dụng lên giấy tẩm F, màu vàng sẽ biến thành màu đỏ. Trong hoá học phân tích, còn dùng làm chỉ thị trong phương pháp Faian chuẩn độ kết tủa [phương pháp mang tên nhà vật lí Đức Faian (K. Fajans)]. FORAMINIFERA:(Foraminifera; foramen - lỗ, ferre - mang; tk. Trùng lỗ), động vật đơn bào, thường ở biển. Cơ thể nằm trong vỏ bọc kitin, hoặc vỏ vôi, dễ được bảo tồn trong trạng thái hoá thạch. Đặc điểm của F là sự xen kẽ trong chu kì sống gồm một thế hệ hữu tính và một hoặc nhiều thế hệ vô tính. Cá thể của thế hệ hữu tính khá lớn (đại cầu), còn thế hệ vô tính thì bé hơn (tiểu cầu). Kích thước các cá thể của F thường chỉ 0,1 - 1 mm, nhưng cũng có khi đạt tới hàng centimét, nhất là ở nhóm Nummulites. Số lượng loài của F rất lớn (1.000 loài hiện sống và 30 nghìn loài hoá thạch). Vỏ của F tạo nên phần quan trọng của bùn vôi đại dương, về sau biến đổi thành đá phấn. Nhiều nhóm F trở thành hoá thạch định tầng rất tốt, như Fusulinida ở Paleôzôi thượng; Nummulitida ở Paleogen, vv. Ở Việt Nam, hoá thạch Trùng lỗ rất phong phú trong đá vôi Cacbon - Pecmi và chủ yếu thuộc nhóm Trùng thoi (Fusulin). FRUCTOZƠ:(A. fructose; cg. levulozơ), C6H12O6. Là một monosacarit thường gặp trong thiên nhiên ở dạng D. Có trong các quả ngọt, mật ong (ngọt hơn đường sacarozơ 1,5 lần). Tồn tại ở một vài dạng phổ biến: dạng mở (1) và dạng vòng (2):Dạng (2) có tnc = 102 - 104oC; tan trong nước, etanol và ete. Là thức ăn cho người bị bệnh *** tháo đường. FUSULINIDA:(L. Fusulinida; L. fusus - hình thoi; cg. Trùng thoi), một nhóm của Foraminifera (Trùng lỗ) có vỏ hình thoi bằng canxi cacbonat. Là nhóm sinh vật hoá thạch định tầng quan trọng của các hệ Cacbon và Pecmi. Ở Việt Nam, dựa vào hoá thạch F, đá vôi Cacbon - Pecmi đã được chia nhỏ thành nhiều tầng chứa F giúp cho việc đối sánh địa tầng được chính xác và chi tiết. Florigen:Là hoocmon kích thích ra hoa. Đó là 1 hợp chất gồm gibêrelin (kích thích sinh trưởng của đế hoa) và antezin (kích thích sự ra mầm hoa-chất giả thiết). girlbuon10594 05-12-2010, 20:22 GEN:(A. gene),một đoạn phân tử ADN mang thông tin mã hoá 1 sản phẩm nhất định ( sản phẩm đó có thể là ARN hoặc chuỗi polipeptit). GHÉP ĐÔI BAZƠ:hiện tượng liên kết của hai mạch xoắn của ADN bằng những mối liên kết giữa các bazơ bổ trợ. Ađenin ghép đôi với timin và guanin ghép đôi với xitozin. Bản chất đặc hiệu của GĐB cho phép sao chép chính xác các nhiễm sắc thể và bảo tồn được cấu trúc bền vững của vật liệu di truyền. Trong trường hợp ghép đôi giữa ADN và ARN thì uraxin của ARN bắt cặp với ađenin. GIBERELIN: (A. gibberellin), nhóm hocmon thực vật kích thích sinh trưởng, phát triển ở thực vật, thúc đẩy quá trình nảy mầm của hạt. G phổ biến ở thực vật bậc cao có tới 20 loài nhưng chỉ có một lượng nhỏ. Một số nấm như Gibberella fujikuroi, có thể tạo lượng lớn G, được dùng làm nguyên liệu tách G. Đã biết 60 G. Axit giberelic (GA3) là một trong những G được phát hiện sớm nhất, phổ biến nhất và hoạt động mạnh. GA3 được tách từ Gibberella fujikuroi là loại nấm nhiễm vào mầm lúa làm lúa mọc cao khác thường (lúa von). GEN MIỄN DỊCH HỌC:khoa học kết hợp giữa gen học và miễn dịch học, trong đó phương pháp miễn dịch được dùng để soi sáng hiện tượng gen học và ngược lại phương pháp gen học được dùng để soi sáng hiện tượng miễn dịch. Vd. dùng kĩ thuật ngưng tụ miễn dịch để xác định tính di truyền của nhóm máu; dùng kĩ thuật gen học để giải thích tính đa dạng của kháng thể,... GEN TĂNG ĐỘT BIẾN:gen trong vi khuẩn Escherichia coli khi ở trạng thái đột biến gây ra những đột biến xuất hiện các gen khác trong cả hệ gen. GEN LIÊN KẾT:các gen định vị trên cùng một nhiễm sắc thể do vậy chúng cùng đi với nhau trong quá trình phân bố. GÂY UNG THƯ:khả năng sinh ra khối u của một virut hay đoạn ADN bằng cách kích thích sự sao chép bất thường của phân tử ADN tế bào vật chủ. GAN:cơ quan có màu nâu đỏ thẫm, gồm một số thuỳ nằm sát dạ dày ở động vật có xương sống. Chiếm tới 1/5 thể tích các nội quan trong xoang bụng và cứ 2 phút thì toàn bộ máu trong cơ thể lại di chuyển qua G một lần. GIAO TỬ:tế bào có khả năng phối hợp với tế bào khác, tạo nên hợp tử, từ đó hình thành cá thể mới. Có thể có cấu trúc giống nhau (đẳng giao tử), tập tính giống nhau như một số sinh vật đơn giản hay có hình dạng và tập tính khác nhau (GT lệch không đều). GT đực đặc trưng thường nhỏ, di động, sản ra số lượng nhiều. GT cái lớn, có chứa chất dinh dưỡng dự trữ, không di động, có số lượng ít. Sự phối hợp giữa hai GT làm cho nhân hợp tử có số lượng thể nhiễm sắc gấp hai lần trong mỗi nhân GT. Xt. Trứng; Tinh trùng. GIBERELIN (A. gibberellin), nhóm hocmon thực vật kích thích sinh trưởng, phát triển ở thực vật, thúc đẩy quá trình nảy mầm của hạt. GIỚI TÍNH:chỉ đặc điểm đực (♂) và cái (♀) trong giới sinh vật. GIỚI TÍNH ĐỒNG GIAO TỬ:những cá thể có các nhiễm sắc thể giới tính tương đồng, kí hiệu là XX, chỉ sinh ra một loại giao tử. GLICOGEN: (A. Glycogen), (C6H10O5)n. Tinh bột động vật. Một polisacarit, phân tử khối 105 - 107. Là dạng cacbonhiđrat dự trữ trong cơ thể động vật, có nhiều trong gan và các cơ bắp lúc nghỉ ngơi. Sau khi ăn, phần lớn glucozơ chứa trong thức ăn được hấp thụ vào máu và biến thành G trong gan. Nồng độ glucozơ trong máu thông thường được điều chỉnh bởi sự biến đổi G thành glucozơ (phân huỷ G). G là chất bột màu trắng, dễ thuỷ phân sinh ra glucozơ, tạo thành dung dịch keo quay phải. Được tách từ gan bằng dung dịch NaOH 30% và được kết tủa bằng dung dịch etanol. Sử dụng trong nghiên cứu sinh hoá. GLICOZIT: (A. glycoside), nhóm chất hữu cơ có trong các vị thuốc được gọi là hoạt chất của thuốc. Thành phần hoá học chính gồm: đường (glucozơ, ramnozơ, đigitoxozơ, ximarozơ) và thành phần không phải đường (steroit, sterol, axit mật, hocmon... gọi là aglicon hay genin). GLUCOZƠ: (A. Glucose), C6H12O6. Là cacbonhiđrat thuộc nhóm monosacarit. Tan trong nước, vị ngọt; có trong quả nho, mật ong với lượng lớn. GUANIN:1. (A. guanine) C5H5N5O, bazơ nitric, một trong hai dẫn xuất của purin, thành phần cấu tạo các nucleotit của ADN. G cùng với ribozơ hoặc đeoxiribozơ tạo thành mối liên kết.2. Giải phẫu học là: khoa học có đối tượng nghiên cứu là cấu trúc và hình thể của các sinh vật có tổ chức cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan trong của các sinh vật ấy. Phân biệt: GPH thực vật, GPH động vật, GPH người và GPH động vật so sánh. GPH người là một ngành độc lập của GPH và được chia thành hai chuyên ngành: GPH sinh lí người - chuyên nghiên cứu cấu trúc và hình thể của người bình thường; giải phẫu bệnh học (x. Giải phẫu bệnh). Người đặt nền móng cho GPH động vật so sánh là Arixtôt (Aristote). Vêdaliut (A. Vesalius) được coi là người đặt nền móng cho ngành GPH người. Giác mạc là lớp mô liên kết sợi trắng mỏng được bọc một lớp biểu mô phân tầng với các đầu dây thần kinh, trong suốt, phủ ngoài màng cứng của mắt động vật có xương sống, để che lòng đen và con ngươi. Giống thuần là một chủng hoặc nòi vi sinh vật, một chủng động, thực vật, giống cây trồng có tính đồng nhất về mặt di truyền và không bị phân li hoặc pha tạp khi nuôi, cấy hoặc gieo trồng. Giới tính dị giao tử là những cá thể có các nhiễm sắc thể giới tính không giống nhau, một chiếc (nhiễm sắc thể Y) ngắn hơn chiếc kia (nhiễm sắc thể X). Giới tính đồng giao tử là những cá thể có các nhiễm sắc thể giới tính tương đồng, kí hiệu là XX, chỉ sinh ra một loại giao tử. Giao hợp: (tk: giao cấu, giao phối), hành động sinh lí được thực hiện giữa con đực và con cái ở trạng thái kích thích cao độ về tình dục, thể hiện qua các tuyến nội tiết sinh dục. GH thường dùng cho người và động vật có vú. Giao cấu dùng cho động vật không có vú và côn trùng. Còn giao phối là biện pháp ghép đôi phối giống vật nuôi, có thể dùng phương pháp giao cấu trực tiếp hay truyền tinh nhân tạo. Giác quan:là những năng lực sinh lý của các sinh vật nhằm cung cấp thông tin nhận thức về thế giới. Hệ thần kinh có hệ giác quan hoặc các cơ quan chuyên biệt để cảm nhận từng giác quan như: nhìn, nghe, nếm, ngửi, tiếp xúc, sự thăng bằng, sự chuyển động, nhiệt độ, đau, phương hướng... GIẢM PHÂN:cơ chế phân bào đặc trưng cho mọi thực vật, động vật có sinh sản hữu tính: hình thành tế bào sinh dục trong đó nhiễm sắc thể giảm đi một nửa (từ 2n thành n), nhờ đó duy trì được số lượng 2n nhiễm sắc thể ở từng loài lưỡng bội. GIAO PHỐI CHỌN LỌC:hiện tượng ghép đôi của động vật, trong đó con đực và con cái không bắt cặp ngẫu nhiên mà có xu hướng chọn bạn có phenotip giống nhau GIẢM SẢN: (tk. thiểu sản), sự kém phát triển (về số lượng, về khối lượng hay thể tích, đôi khi cả chất lượng) các tế bào của một mô, làm giảm thể tích tuyệt đối của cơ quan. GS có thể xảy ra ở một bộ phận hoặc toàn bộ một cơ quan, do nguyên nhân nội sinh hay ngoại sinh nhưng không tới mức làm cho cơ quan bị teo tịt. Gen cấu trúc là một gen được phiên mã liên tục khi so sánh với gen tùy ý chỉ được dịch mã khi cần thiết. Gen tuỳ ý là gen chỉ được phiên mã khi cần so sánh với gen cấu thành. Gen cảm ứng là gen mà sự biểu hiện của nó nhằm đáp ứng với những thay đổi của môi trường hay phụ thuộc vào từng trạng thái trong chu kỳ tế bào. Gen chồng gối là hiện tượng "các gen trùm lên nhau" (overlapping genes). GIỐNG:1. (nông), nhóm cây trồng hoặc vật nuôi cùng loài dùng làm vật liệu ban đầu cho trồng trọt hoặc chăn nuôi. G có chung nguồn gốc, loại hình và tính năng sản xuất; được hình thành, củng cố và phát triển do tác động của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên nhất định. GIAO NHÂN:phối hợp hai nhân tồn tại trong cùng một bào tương như trong quá trình hình thành hợp tử từ hai giao tử. Thường gặp trong khối sinh chất nhiều nhân của nấm nhầy GIÁP XÁC MƯỜI CHÂN: (Decapoda), bộ động vật chuyên hoá nhất của lớp Giáp xác (Crustaceae). Cơ thể gồm: đầu, ngực và bụng, có 5 đôi chân bò, trong đó đôi thứ nhất và thứ hai thường có dạng kìm (càng cặp) dùng tự vệ và bắt mồi. Phần bụng có thể kéo dài, cuối có đuôi bơi và bánh lái như ở tôm hoặc tiêu giảm như ở cua. GIÁP XƯƠNG: (Osteostraci), động vật dạng cá không hàm (Agnatha), lỗ mũi đơn, thân dẹt theo bề ngang, có giáp rộng bằng xương phủ kín phần đầu và thân mình, phần sau của thân có vảy xương. Vị trí của miệng ở mặt dưới của phần đầu, vành miệng được hoá xương. Không có vây bụng, đuôi dị thuỳ. Bộ xương của GX chủ yếu bằng chất sụn nhưng cũng đã xuất hiện yếu tố của chất xương. GIÀU DINH DƯỠNG: (tk. phú dưỡng, phì dưỡng), hiện tượng xuất hiện khi ao, hồ có dư nguồn dinh dưỡng hữu cơ, làm cho quần thể sinh vật nổi và thực vật phát triển đạt mật độ cực đại. Gen nhảy là các đoạn ADN có thể nhảy quanh bộ gen và tự ghép vào những vị trí khác nhau; đôi khi chúng làm tắc nghẽn bộ máy phiên mã và gây ra bệnh tật. Dường như là, mặc dù đây chỉ là giả định, các ARN nhỏ này tiến hoá rất sớm trong lịch sử cuộc sống của sinh vật để giúp bảo vệ bộ gen chống lại sự mất ổn định. Giới (kingdom hay regnum) là một đơn vị phân loại hoặc là ở cấp cao nhất (theo lịch sử), hoặc là cấp ngay dưới vực (trong hệ thống ba vực mới). Mỗi giới được chia thành các nhóm nhỏ hơn, gọi là ngành (nói chung là "phylum" nhưng đối với thực vật thì hay dùng "division"). GIÁN KÌ:giai đoạn nhân không ở trạng thái phân chia trong chu kì tế bào. Có thể chia thành các giai đoạn khác nhau bởi các đặc trưng hoạt động sinh lí riêng. lananh_vy_vp 06-12-2010, 14:13 HẠT ALƠRON:không bào biến dạng, thấy ở phôi và nội nhũ của hạt, chủ yếu chứa protein dự trữ, hạt axit phitic và nhiều loại enzim liên quan với phân huỷ nguồn dự trữ đó. Protein và axit phitic tồn tại ở dạng tinh thể trong hạt ngủ. HẠT BỘT: lạp thể dự trữ các hạt tinh bột, thường có trong các cơ quan dự trữ như củ. Có chức năng sinh lí ở vùng chóp rễ, đôi khi các HB có tác dụng như hạt thăng bằng. HẠT PHẤN: tiểu bào tử của thực vật có hạt, sinh ra với số lượng lớn trong túi phấn. HẠT VỎ:những bóng nhỏ có màng bao bọc nằm ở lớp vỏ của nhiều loại trứng động vật. HẤP THU:quá trình xuyên thấm các chất qua màng vào trong tế bào. HẦU:phần ống tiêu hoá nằm giữa khoang miệng và thực quản, nơi gặp nhau của đường hô hấp và đường tiêu hoá. HẬU ĐƠN THẬN:cơ quan bài tiết của nhiều loài giun đốt, gồm một ống mở vào trong cơ thể xoang bằng phễu tiêm mao để đưa các chất bài tiết lỏng ra ngoài. HẬU MÔN:lỗ sau của ống tiêu hoá, có ở hầu hết động vật để đưa phân, đôi khi các chất thải nửa đặc ra ngoài cơ thể, thường do cơ điều khiển. HEMIMERIĐA:bộ côn trùng đôi khi được xem như phân bộ Cánh da (Dermaptera). HEMIXENLULOZƠ:xenlulozơ có độ polime hoá thấp, cỡ dưới 150; có tên chung là b - hoặc g - xenlulozơ. HEMOCYANIN:loại huyết sắc tố chứa đồng có màu xanh, gặp ở một số động vật thân mềm và chân đốt. HEMOERYTHRIN:sắc tố vận chuyển oxi trong máu, có màu đỏ, chứa sắt (giống hemoglobin). Chỉ có ở một vài nhóm nhỏ động vật có quan hệ họ hàng gần nhau ở động vật không xương sống như ngành Tay cuộn. HEMOGLOBIN NIỆU:tình trạng có hemoglobin tự do trong nước tiểu (nước tiểu đỏ sẫm hoặc đỏ đen). HEPARIN:chất chống đông máu có trong gan, tim, cơ động vật và một số động vật hút máu tiết ra để ngăn cản quá trình biến prothrombin thành thrombin. HỆ ĐỘNG VẬT:tổ hợp của tất cả động vật (hiện sống hoặc hoá thạch) sinh sống trong một lãnh thổ và trong một thời kì địa chất xác định. HỆ GEN:bộ nhiễm sắc thể có trong từng tế bào hoặc sinh vật đơn bội, còn được hiểu là toàn bộ các yếu tố di truyền khu trú trong nhân. HỆ HÔ HẤP:hệ thống các cơ quan thực hiện việc hấp thu oxi của không khí và thải khí cacbonic từ cơ thể động vật ra ngoài. HỆ SINH DỤC CÁI:cơ quan sinh sản ở động vật cái bậc cao, gồm: hai buồng trứng phát sinh từ trung bì trung gian, đảm nhiệm việc tạo những giao tử cái và tiết những hocmon; hai vòi trứng [vòi Falôp (Fallope)]; tử cung và âm đạo; bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ). HỆ SINH DỤC ĐỰC:cơ quan sinh sản ở động vật đực bậc cao, gồm có: hai tinh hoàn đảm nhiệm việc sản ra những giao tử đực (Tinh trùng) và tiết vào máu những hocmon sinh dục; những đường dẫn tinh và các tuyến phụ, cơ quan giao cấu - dương vật. HỆ SINH THÁI:đơn vị cơ sở của thiên nhiên được mô tả như một thực thể xác định chính xác trong không gian và thời gian. HISTAMIN:một bazơ - amin tồn tại tự nhiên trong cơ thể người (khoảng 20 mg/kg thể trọng), có tác dụng làm tiết dịch vị, co thắt cơ trơn và mạch máu nhỏ, giãn mao mạch, tăng tính thấm của thành mạch máu. HỌ:đơn vị phân loại gồm các chi (giống) hoặc nhóm đơn vị phát sinh và tách biệt bởi sự ngắt quãng rõ ràng, độ lớn ngắt quãng tỉ lệ nghịch với độ lớn của họ. HOÁ THẠCH:khuôn in tự nhiên bị hoá đá của di tích sinh vật hoặc vết tích sinh hoạt của chúng được bảo tồn trong đá trầm tích. HOÁN VỊ GEN: là hiện tượng 2 gen-alen nằm trên cặp NST tương đồng có thể đổi chỗ cho nhau và làm xuất hiện các tổ hợp gen mới. Do sự trao đổi chéo giữa các crômatit trong quá trình phát sinh giao tử. HỌC THUYẾT MENĐEN:học thuyết di truyền kinh điển, đặt nền móng cho di truyền học hiện đại. HỌ GEN:nhóm các gen ở sinh vật nhân nguyên. Có thể xếp chung chức năng. HOLOENZIM:enzim phức tạp có hoạt tính xúc tác, được cấu thành từ apoenzim và coenzim. HÔ HẤP:quá trình sinh vật lấy oxi từ ngoài cơ thể và nhả khí cacbonic ra ngoài không khí. C6H12O6 + 6O2 6CO2 + 2H2O+ năng lượng hoá học. HỖ SINH:kiểu quan hệ tương hỗ giữa hai hay nhiều loài sinh vật (động, thực vật) trong đó tất cả các thành viên đều có lợi.Có 2 loại hỗ sinh:cộng sinh và hợp tác. HỐC KHỚP VAI - CÁNH TAY:hốc hình chén trên xương bả vai của động vật bốn chi, đầu trên của xương cánh tay sẽ nằm trong hốc, tạo nên khớp chỏm. HỐC MẮT:hốc xương nằm giữa các xương sọ, xương mặt và có chức năng bảo vệ nhãn cầu, chống các chấn thương từ bên ngoài. HỒI TÍNH:hiện tượng trở lại dạng bình thường ban đầu của một protein hay một axit nucleic đã biến tính. HỒI TRÀNG:phần dài nhất của ruột non ở động vật có vú (dài nhất ở người - 6 m), nằm giữa hỗng tràng và kết tràng. HỒNG CẦU: loại tế bào máu, chứa hemoglobin (huyết cầu tố), có chức năng vận chuyển oxi trong máu. HỒNG CẦU LƯỚI:hồng cầu non được tạo nên từ nguyên bào hồng cầu trong tuỷ xương đỏ. HÔ HẤP SÁNG:quá trình trao đổi chất trong đó có sử dụng oxi và thải CO2 ngoài ánh sáng. Quá trình này xảy ra song song với quá trình quang hợp và chỉ có ở thực vật C3. HOOCMON:các chất được tạo lập ngay trong cơ thể sinh vật (chất nội tiết), điều hoà và điều chỉnh các quá trình sinh lí. Được đưa vào máu hay tương bào chuyển đến chỗ gây tác dụng xác định. HÔ HẤP KỊ KHÍ:quá trình hô hấp không có oxi tham gia, gặp ở nấm men, vi khuẩn và đôi khi ở các mô cơ. HÔ HẤP HIẾU KHÍ:(hô hấp ưa khí ): sự hô hấp mà trong đó oxi tự do được dùng để oxi hoá chất hữu cơ thành cacbon đioxit, nước và sản ra năng lượng cao. Phản ứng tổng quát: C6H12O6 + 6O2 --> 6CO2 + 6H2O + năng lượng. HỢP BÀO:khối bào tương chứa đựng nhiều nhân và được bao trong một màng tế bào, tạo nên trạng thái tương tự như đa bào. HỢP TỬ: là kết qủa của sự kết hợp 2 giao tử đơn bội thành lưỡng bội và phân chia ngay sau khi hình thành. HỢP GIAO: (thụ tinh) quá trình rất cần thiết của sinh sản hữu tính, là kết hợp giao tử đực với giao tử cái để tạo thành hợp tử. HƯỚNG QUANG:hiện tượng vận động sinh trưởng có định hướng của một bộ phận ở thực vật do phản ứng với ánh sáng. HƯỚNG NGỌN:hiện tượng phát triển từ gốc hướng lên để cho phần non nhất ở đỉnh ngọn cây. HƯỚNG NGOÀI:hiện tượng bao phấn có đường mở quay ra phía ngoài của hoa để thuận tiện cho việc thụ phấn chéo. HƯỚNG GỐC:hiện tượng mô và hocmon thực vật phát triển từ đỉnh ngọn xuống phần cấu tạo non nhất ở xa đỉnh ngọn. HƯỚNG ĐỘNG:khả năng sinh vật có thể tiến về một hướng nhất định. HƯNG PHẤN:phản ứng của tế bào, tổ chức sống đối với kích thích. HUYẾT THANH CHỐNG LYMPHO BÀO:huyết thanh dùng để ức chế phản ứng miễn dịch ở người nhận mô hoặc cơ quan cấy truyền. HUỶ NHÂN:hoại tử nhân tế bào, thường biểu hiện qua ba trạng thái (giai đoạn): nhân đông (teo đặc) - nhân co lại, tạo thành một khối rất đặc do tích tụ chất nhiễm sắc; nhân tan (nổ nhân) - chất nhiễm sắc vỡ ra và phân tán; nhân tiêu - nhân biến đi hoàn toàn. HẠCH: chỗ phình trên đường đi của các mạch bạch huyết hoặc các dây thần kinh. HÀNH ĐỘNG TRÍ ÓC:hành động được thực hiện trong não bộ, không dựa vào một phương tiện bên ngoài nào. HÀNH KINH:ra huyết có chu kì từ tử cung qua âm đạo ra ngoài, do bong niêm mạc tử cung gây ra bởi sự giảm đột ngột các hocmon sinh dục nữ trong cơ thể. HẸP MÔN VỊ:tình trạng môn vị (lỗ dưới của dạ dày thông vào hành tá tràng) bị hẹp lại, làm tắc một phần hay hoàn toàn sự lưu thông giữa dạ dày và ruột non. HUYẾT:máu tuần hoàn trong hệ tim mạch. HUYẾT ÁP:áp lực co giãn do thành mạch tác động lên khối lượng máu trong lòng mạch. HUYẾT CẦU:các tiểu thể hay các thể hữu hình của máu như hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. girlbuon10594 08-12-2010, 21:10 IAA: (A. indole acetic acid), dẫn xuất tự nhiên của auxin. X. Auxin. INT: (A. integrase), gen mã hoá protein nhận biết các vị trí ATT trên hệ gen của phagơ và vi khuẩn, xúc tác phản ứng cắt và nối đưa đến sự nhập ADN phagơ vào ADN nhiễm sắc thể của vi khuẩn. INTERFERON: (A. interferon), protein được sản xuất ra ở tế bào động vật có vú, chim, để chống lại virut, ức chế quá trình sao chép của virut (ức chế tái sao ARN thông tin) và ức chế sinh sản của virut. I lan toả ra các mô xung quanh và thông tin cho các tế bào chưa bị nhiễm, các tế bào này sẽ sản xuất ra một protein khác để phong bế sự sản xuất ra axit nucleic và ức chế sinh sản của virut. Nhờ kĩ thuật ADN tái tổ hợp, mà I được sản xuất từ tế bào vi sinh vật và có thể sản xuất bằng quy mô công nghiệp. Đã được dùng để điều trị nhiễm virut và một số ung thư. I được Ixac (A. Isaacs) và Linđenmen (J. Lindenmann) người Anh tìm ra (1957). ISOENZIM:(A. isoenzyme, isozyme, isoferment), các dạng khác nhau của một enzim ở trong một tế bào, một cơ thể, các cơ thể của cùng một loài, xúc tác cho cùng một phản ứng nhưng khác nhau về một số tính chất lí hoá, miễn dịch. I còn gọi là dạng đồng phân của enzim. Vd. lactatđehiđrogenaza có 5 đồng phân. I có trong mô động vật, thực vật và vi sinh vật, đóng vai trò quan trọng trong điều hoà hoạt độ enzim. Phân tích I (phổ I) có thể giúp chẩn đoán bệnh, quan hệ di truyền. IVANÔP I. (Il'ja Ivanovich Ivanov;1870 - 1932), nhà sinh học hiện đại Nga. Có công phổ biến rộng rãi kĩ thuật thụ tinh nhân tạo, đề ra cơ sở lí luận và mô hình dụng cụ chuyên dùng cho thụ tinh nhân tạo, tạo ra một số giống gia súc (ngựa, bò...). girlbuon10594 11-12-2010, 20:45 Juvenin: là một loại hooc môn có tác dụng là điều hòa sự biến thái của sâu bọ VD: Ức chế biến sâu non thành nhộng và bướm girlbuon10594 22-12-2010, 20:11 KẾT CẶP:kết hợp của hai nhiễm sắc thể tương đồng trong pha đầu của giảm phân hình thành số lượng đơn bội của các thể lưỡng trị. Các nhiễm sắc thể tương đồng KC theo kiểu điểm với điểm nên các vùng tương ứng được tiếp xúc với nhau KẾT HỢP BÀO TƯƠNG:hiện tượng kết hợp của các bào tương, còn nhân vẫn giữ nguyên, tạo nên thể dị nhân; thường gặp giữa các sợi nấm của các dòng khác nhau. KHE LỚN:rãnh sâu xoắn ở bên ngoài của chuỗi xoắn kép ADN, nông hơn khe nhỏ, cho phép protein đi vào tiếp xúc với bazơ của chuỗi xoắn kép ADN. KHE NHỎ:rãnh nông xoắn bên ngoài của chuỗi xoắn kép ADN, sâu hơn khe lớn, cho phép protein đi vào tiếp xúc với các bazơ của chuỗi xoắn kép ADN. KHÍ QUẢN:1. Ở động vật, ống rỗng nối từ họng tới phế quản ở động vật có xương sống trên cạn. Thành KQ có các vành sụn không hoàn toàn để chống xẹp mà vẫn giữ độ mềm dẻo. Ở côn trùng và nhiều loài chân đốt, KQ là ống dẫn khí từ các lỗ thở, ống này phân nhánh thành các vi KQ đến từng bộ phận của cơ thể. Cơ chế bơm làm thông khí ở các KQ lớn: oxi hoà tan trong một chất dịch (chứa đầy trong các vi KQ nhỏ nhất) để khuếch tán qua các vi KQ vào các mô xung quanh.2. Ở thực vật. X. Mạch. KHUẾCH TÁN THỤ ĐỘNG:vận chuyển thụ động các phân tử qua màng tế bào theo građien nồng độ với sự trung gian của các phân tử hay các phức hệ màng. Quá trình này không tốn năng lượng KÌ TÂM THU: pha co cơ tim trong chu kì tim đập. Hai tâm nhĩ co lại (kì tâm nhĩ thu) đẩy máu xuống tâm thất vào cuối kì tâm trương, đầu KTT và tâm thất thu: tâm thất phải co, tống máu đen lên động mạch phổi; tâm thất trái co đẩy máu đỏ vào động mạch chủ đi nuôi cơ thể. KHỨU GIÁC:giác quan để ngửi các mùi, rất quan trọng đối với động vật bậc thấp, vai trò có phần giảm sút đối với người. Là một giác quan bản năng. Vùng KG choán phần trên cùng của hốc mũi, vừa là tế bào giác quan vừa là tế bào thần kinh. X. Thính mũi. KÌ TÂM TRƯƠNG:sự giảm nghỉ của cơ tim: hai tâm thất giãn ra, hai lỗ van nhĩ thất trái và phải đều mở, máu từ hai tâm nhĩ dồn xuống hai tâm thất, tim nghỉ ngơi và tích máu. KTT càng dài, tim bóp càng mạnh, thì lượng máu ra khỏi tâm thất (trong thời kì tâm thu) càng lớn. KĨ THUẬT DI TRUYỀN:kĩ thuật tạo ra các ADN in vitro, gồm ba khâu chủ yếu: tách chiết ADN từ những sinh vật khác nhau; cắt và nối ADN ở những điểm đặc hiệu tạo nên ADN tái tổ hợp (ADN có những đoạn bắt nguồn từ những sinh vật khác nhau như ADN của người, ADN của vi khuẩn); đưa ADN tái tổ hợp vào các hệ thống như tế bào vi khuẩn Escherichia coli hoặc tế bào nấm men (Saccharomyces cevisiae) để các gen lạ biểu hiện. KTDT đã tạo ra các sinh vật mới rất hữu ích, vd. vi khuẩn E. coli lại có mạng gen sản sinh insulin của người. Do đó, ngày nay, insulin sản xuất theo phương pháp công nghiệp có giá thành rất rẻ. KTDT là hạt nhân của công nghệ sinh học hiện đại. Tuy vậy KTDT cũng có thể tạo ra những sinh vật có hại nên cần được tiến hành với sự kiểm soát chặt chẽ. KTDT còn có những tên gọi khác: kĩ thuật ADN tái tổ hợp; công nghệ ADN tái tổ hợp; công nghệ gen. KĨ THUẬT SINH HỌC:1) Thiết kế, chế tạo và sử dụng các bộ phận thay thế hoặc thiết bị cho những phần hoặc cơ quan của cơ thể bị tách bỏ hoặc khuyết tật như chân giả, thiết bị trợ thính, vv. 2) Thiết kế, chế tạo và sử dụng thiết bị cho các quá trình sinh học trong công nghiệp như thiết bị lên men. KÍ SINH:mối quan hệ giữa hai sinh vật mà một bên sống nhờ (vật KS) vào bên kia (kí chủ hay vật chủ). Vật KS bắt buộc chỉ sống được cùng một kí chủ; vật KS không bắt buộc có thể tồn tại theo cách sống khác như hoại sinh. Có hai loại KS: vật KS ngoài [ngoại KS (ectoparasite)], sinh vật sống ở mặt ngoài kí chủ và ăn bám vào kí chủ (bọ chét); vật KS trong [nội KS (endoparasite)], sinh vật sống bên trong cơ thể kí chủ, lấy chất sinh dưỡng và làm hại kí chủ (kí sinh trùng sốt rét ). KÍ SINH TRÙNG: (tk. kí sinh vật), động vật hay thực vật, vi sinh vật sống suốt đời hay một phần đời ăn bám, phụ thuộc vào một cơ thể cuả loài khác và làm tổn hại cho cơ thể này về mặt sinh học. Chia ra: đa kí sinh, sự phát triển chỉ có thể tiến hành được nhờ qua nhiều kí chủ (vật chủ) liên tiếp; đơn kí sinh thực hiện toàn bộ quá trình phát triển trên một kí chủ. Còn chia ra: KST sống trên mặt da, trong nội bì, trong các hốc tự nhiên, trong máu, các nội tạng. Các KST hút máu đồng thời tiết ra độc tố ức chế hệ thống sinh huyết, gây quá mẫn. KST là những tác nhân gây nhiều bệnh, là một đối tượng rất quan trọng của y học và thú y học nhiệt đới. Phòng KST bằng vệ sinh cá nhân, xử lí tốt phân người và phân gia súc, giữ sạch sẽ môi trường gia đình, cộng đồng, tiêu diệt các vật trung gian truyền bệnh (ruồi, muỗi, rệp, ốc...). KITIN: (A. chitin), hợp chất hữu cơ (heterosacarit) chứa nitơ, có ở một số động vật và thành tế bào của phần lớn các loài nấm. Vỏ ngoài của bộ xương ngoài ở động vật chân khớp là lớp cuticun được thấm K ở những lớp ngoài cùng làm cho bộ xương rắn chắc hơn. Cùng với protein, K tạo nên bộ xương vừa dai, vừa dẻo và không thấm nước. K còn thấy ở những phần cứng của một số nhóm động vật khác. K là polime của N - axetylglucozamin, gồm nhiều đơn vị glucozơ mà mỗi đơn vị có một trong số các nhóm hiđroxyl được thay bằng nhóm axetylamin (CH3CONH). KIMOTRIPSIN: (A. chymotrypsin), loại proteinaza xúc tác phản ứng thuỷ phân liên kết peptit, trong đó có nhóm - CO - của các axit amin thơm và axit amin kị nước. K là enzim tiêu hoá của dịch tuỵ, góp phần phân giải protein trong ruột non. Ở tuyến tuỵ, K được tổng hợp ở dạng không hoạt động là kimotripsinogen, sau đó chuyển thành dạng hoạt động dưới tác dụng của K hoặc tripxin. K cũng tìm thấy ở cơ thể động vật có xương sống bậc thấp và côn trùng. Khí khổng (hay lỗ khí) là những cấu trúc biểu mô ở lá hay thân cây có chức năng điều khiển quá trình trao đổi khí giữa cơ thể thực vật và môi trường. Các lỗ khí cũng được coi như các "van" điều khí. Sự đóng, mở của các van này phụ thuộc vào diễn biến của các quá trình sinh hóa diễn ra trong cây. Không bào là (vacuole), hốc nhỏ trong bào tương có hình cầu, chứa đầy chất lỏng có kích thước khác nhau, có ở tế bào động vật và thực vật, bị bao bọc bằng lớp màng đơn và có chức năng như một khoang tách các vật liệu khác nhau. KB có nhiều chức năng khác nhau: chứa thức ăn, co bóp, tự dưỡng. Nhiều thực vật hoàn thiện chỉ có một KB trung tâm lớn, ngăn cách với bào tương một lớp bên ngoài mỏng. KB này được giới hạn bởi một màng là màng KB và chứa dịch tế bào. Dịch tế bào chứa các chất ở dạng dung dịch như đường, muối, các axit hữu cơ thường ở nồng độ cao, tạo ra một áp suất thẩm thấu lớn. Cho nên, nước xâm nhập vào KB nhờ thẩm thấu, làm tế bào căng lên. KB cũng có thể chứa các tinh thể và các chất thải. Không bào co bóp: một hay một số khoang trống có màng bọc, gặp nhiều ở động vật nguyên sinh. Có vai trò như một bộ phận điều hoà áp suất thẩm thấu. Theo chu kì, chúng phình lên, chứa đầy nước do thẩm thấu và co bóp thải toàn bộ những chất chứa bên trong ra ngoài. Keratin:một loại protein xơ tạo thành mô sừng. Kitodan:là chế phẩm của kitn có hoạt tính sinh học cao. Kiểu gen:tập hợp tất cả các gen trong cá thể. Kiểu hình:tập hợp toàn bộ các tính trạng của cá thể. girlbuon10594 22-12-2010, 20:21 Liệu pháp gen: là việc chữa trị các bệnh di truyền bằng cách phục hồi chức năng của các gen bị đột biến.Liệu pháp gen gồm 2 biện pháp :một là đưa bổ sung gen lành vào cơ thể người bệnh, hai là thay thế gen bệnh bằng gen lành. LÁ MẦM: là lá đầu tiên của phôi thực vật có hạt, có cấu tạo đơn giản hơn những lá hình thành về sau. Có vai trò quan trọng trong các giai đoạn phát triển ban đầu của cây non. LÁ NOÃN: là cơ quan sinh sản cái của thực vật có hoa thông thường gồm một bầu có chứa một hay một số noãn, vòi và tận cùng là núm nhuỵ. LAI HAI TÍNH: là phép lai giữa hai dạng cha mẹ khác nhau về hai tính trạng do hai gen quy định. LAI: là quá trình tạo các dạng mới mà bản chất là hợp nhất vật liệu di truyền của hai tế bào (hoặc cơ thể) khác nhau vào trong một tế bào. Có thể thực hiện trong phạm vi một loài hoặc giữa các nhóm phân loài với nhau. LAI BA TÍNH:là phép lai giữa hai dạng cha mẹ khác nhau về ba tính trạng. do 3 gen quy định LAI THUẬN NGHỊCH: là phép lai thử sự di truyền của một tính trạng cụ thể có bị ảnh hưởng bởi giới tính của bố mẹ không. LẠP THỂ:là bào quan được bọc bằng hai lớp màng (vỏ) xếp song song sát chặt vào nhau trong nguyên sinh chất, có trong tế bào thực vật. Hầu hết các lạp thể chứa ADN và các ribôsom điển hình của sinh vật nhân sơ. LẶN: là đặc điểm của alen chỉ biểu hiện ra tính trạng khi ở trạng thái đồng hợp tử LẶP ĐOẠN: là 1 loại ĐB cấu trúc NST. hiện tượng có nhìu đoạn gen giống nhau trong 1NST LỆCH BỘI : hiện tượng một hoặc nhiều NST bị mất đi hoặc thêm vào so với số nhiễm sắc thể lưỡng bội bình thường. LÊN MEN: quá trình biến đổi hoá học của chất hữu cơ dưới tác dụng của các enzim do các vi sinh vật tiết ra. Là hiện tượng sinh học có tầm quan trọng bậc nhất, diễn ra ở mọi nơi có sự sống, trong đất (chuyển biến của các chất hữu cơ thành mùn), trong đường tiêu hoá của động vật, trong chế biến thực phẩm. LIÊN KẾT GIỚI TÍNH: là sự di truyền của các gen cùng với giới tính của sinh vật vì chúng nằm trên NST giới tính LIÊN KẾT PEPTIT:à liên kết hoá trị (―CO― NH―) giữa nhóm α - caboxyl của một axit amin này với nhóm α - amin của một axit amin khác, tách ra một phân tử nước. Lục lạp: là bào quan thực hiện chức năng quang hợp. chỉ có ở thực vật girlbuon10594 22-12-2010, 20:37 MÃ DI TRUYỀN: trình tự sắp xếp các bazơ dọc theo phân tử ADN. Mỗi nhóm bazơ mã hoá cho một axit amin, Mã được gọi là thoái hoá khi chỉ gồm hai bazơ đầu và trong một số trường hợp chỉ cần một bazơ để đảm bảo một axit amin đặc hiệu. MẠCH: 1. Dạng tiến hoá của mô dẫn xylem, gồm các yếu tố mạch xếp thẳng đứng. M chỉ có ở thực vật hạt kín và bộ Dây gắm (Gnetales) của thực vật hạt trần. 2. Ống mềm mà trong đó chuyển vận máu (động mạch, tĩnh mạch) hoặc bạch huyết (mạch bạch huyết). MẠCH PHÂN TÁN: loại gỗ có mạch với đường kính đồng đều và phân bố rải rác không theo vùng sinh trưởng . MÀNG: tổ chức liên kết phát sinh từ trung - biểu mô cuả phôi, dưới hình thái một tấm mô mỏng, gồm 2 lá ép sát vào nhau, làm thành một ổ ảo; hoặc bao phủ lên một tạng hay một bộ phận trong cơ thể MÀNG BAO RỄ: lớp bao quanh các rễ khí sinh của những cây biểu sinh (phong lan), gồm các tế bào chết, rỗng, xốp nằm phía ngoài ngoại bì và có khả năng hấp thụ nước trên bề mặt. MÀNG HOẠT DỊCH: màng phủ mặt trong các khớp vận động và làm thành túi chứa dịch khớp, cấu tạo từ mô liên kết có lượng keo (colagen) trắng và tiết ra dịch làm trơn khớp. Trên bề mặt MHD có nhiều mao mạch nổi lộ, tiếp xúc với dịch khớp và đóng vai trò của màng lọc các chất thấm từ huyết tương vào khớp. Làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, trao đổi chất và tiết dịch khớp tại ổ khớp. MÀNG LỌC: loại giấy rất mỏng làm bằng nitroxenlulozơ, được dùng trong các thí nghiệm lai ADN, ARN. Các ML này cho ADN đơn sợi bám chặt, còn ADN và ARN hai sợi không bám được. MÀNG MẠCH: màng mắt ở động vật có xương sống, nằm giữa màng cứng và màng võng. Có rất nhiều mạch máu và các sắc tố để hấp thụ và chắn các tia sáng phản lại sau khi đã đi qua màng cứng. MÀNG NÃO TUỶ: màng bao bọc toàn bộ não (màng óc, màng não) và tuỷ. MÀNG NHÀY: niêm mạc bên trong của một số đường ống thông với bên ngoài như ống tiêu hoá, đường hô hấp ở động vật có xương sống. Gồm lớp biểu mô ở ngoài tiết các chất nhày và lớp mô liên kết ở trong. MÀNG NHĨ: màng mỏng, tròn, trắng, ngăn tai ngoài và tai giữa; làm nhiệm vụ truyền rung động tới tai giữa và tai trong. MÀNG ỐI: màng phôi ở một số động vật có xương sống (bò sát, động vật có vú) và động vật không có xương sống. Gồm hai lớp: màng trong MÔ, màng ngoài (màng thanh dịch). MÀNG PELLICULA: màng ngoài dai, trong suốt bằng protein để bảo vệ và tạo dáng cho nhiều cơ thể đơn bào, đặc biệt là trùng roi, trùng tiêm mao, trùng mắt, trùng đế giầy. MÀNG PHÔI: cấu trúc và màng do phôi tạo nên để nuôi hoặc bảo vệ phôi. Không tham gia trực tiếp vào sự phát triển của các cấu trúc phôi. Các màng này hình thành trong giai đoạn muộn của phôi động vật có vú, đặc biệt ở phôi người là các màng thai. MÀNG PHỔI: màng mỏng gồm hai lá: lá trong bao bọc tất cả phổi, trừ rốn phổi; lá ngoài phủ lên mặt trong của thành ngực và cơ hoành. MẠNG LƯỚI CƠ CHẤT: dạng biến đổi của mạng lưới nội bào tương, có trong cơ vân và cơ tim. MẠNG LƯỚI THỨC ĂN: các chuỗi thức ăn trong các hệ sinh thái, thường có quan hệ rất phức tạp vì một động vật ăn cỏ lớn ăn rất nhiều thực vật, động vật ăn thịt cũng ăn nhiều loài động vật ăn cỏ và nhiều động vật ăn thịt khác. Các mắt xích này hợp thành MLTĂ MANH TRÀNG: (ruột tịt), khúc đầu của đại tràng lên, hình túi phình với đáy ở phía dưới; dài 6 cm, rộng 6 - 8 cm; nằm trong hố chậu phải. MANTI: lớp vỏ da ngoài của một số động vật như Thân mềm, Brachiopoda,.. MAO MẠCH: một trong số rất nhiều các mạch máu nhỏ, đường kính 5 - 20 μm, phân nhánh từ các động mạch và hình thành nên một mạng lưới dày đặc trong các mô rồi kết hợp lại thành các tĩnh mạch nhỏ. MÀO THẦN KINH: các tế bào chuyên hoá ở bờ của tấm thần kinh trong phôi động vật có xương sống. MÀO TINH: (epididymis), tập hợp các ống dẹt nối với bề mặt của tuyến tinh ở bò sát, chim và động vật có vú, dài 6 - 7 mm. MÁU: mô lỏng vận chuyển trong cơ thể động vật, do co bóp của cơ tim (ở động vật có xương sống) hoặc các mạch khác, các xoang máu (ở động vật không xương sống). MÁY LI TÂM: máy dùng để tách các chất bằng lực li tâm, MẮT: cơ quan để nhìn hay tiếp nhận ánh sáng. MẮT CON: đơn vị thị giác tạo nên mắt kép ở động vật chân đốt, gồm: thể thuỷ tinh, giác mạc hình sáu cạnh có tác dụng tập trung ánh sáng vào que thị giác cảm quan (thể que). MẮT ĐƠN: loại mắt đơn giản của một số động vật không xương sống như ở côn trùng, nhện... gồm một nhóm các tế bào cảm quang. MẮT KÉP: loại mắt do hàng nghìn mắt con hợp lại. MẦM: 1. Cơ quan sinh sản vô tính ở rêu, địa tiền, một số dương xỉ. Chúng thường tạo thành nhóm trên đĩa ngọn gọi là chén mầm, cuối cùng tách khỏi cơ thể mẹ tạo nên các cá thể mới. 2. Nhóm tế bào phân hoá thành cơ quan hoặc mô MÊ NHĨ: (tai trong), phần của tai, gồm: ốc tai, tiền đình với các ống bán khuyên xương. MỀ: phần ống tiêu hoá tiếp sau diều, có thành cơ rất dày, lớp màng lót cứng, phủ sừng, có chức năng nghiền thức ăn. MI MẮT: bộ phận bên ngoài của mắt với chức năng bảo vệ nhãn cầu. Cấu tạo bằng da, cơ, sụn mi với tuyến tiết ra chất như bã đậu và kết mạc bọc phía sau. MIỄN DỊCH: khả năng của cơ thể chống lại nhiễm khuẩn. MIỄN DỊCH HỌC: khoa học nghiên cứu kháng thể và tương tác của kháng thể với kháng nguyên. MIỄN NHIỄM: 1. Hiện tượng khi vi khuẩn tiềm tan không thể bị nhiễm bởi thể phage cùng kiểu với prophage đang tồn tại trong vi khuẩn. 2. Tính miễn dịch, trạng thái của cơ thể có khả năng bảo vệ không cho các vi sinh vật xâm nhập vào hoặc không bị các kháng nguyên gây độc MÔ: nhóm các tế bào chuyên hoá, cấu trúc theo hệ thống riêng, cùng có một hướng biệt lập về mặt hình thái cũng như chức năng. MÔ CƠ: một loại mô động vật, được tạo thành chủ yếu bởi những tế bào có đặc tính co rút (tế bào cơ). Đặc điểm hình thái của MC là trong bào tương có những sợi rất nhỏ là xơ cơ. Nhiều xơ cơ hợp lại với nhau thành tơ cơ. MÔ HÌNH OPERON: mô hình do Mônô J. (J. Monod) và Jacôp F. (F. Jacob) đưa ra để giải thích cơ chế điều hoà hoạt tính gen hay sinh tổng hợp protein. Một MHO gồm operator, promoter (qua khởi đầu chỉ huy) và các gen cấu trúc. MÔ LIÊN KẾT: loại mô phát triển từ lớp phôi giữa, trong đó các tế bào được cách nhau bởi cơ chất, có chức năng nâng đỡ, bao bọc, giữ cho các cơ quan của cơ thể ở vị trí cố định. MÔ PHÂN SINH: mô được hình thành từ những tế bào có khả năng phân chia tích cực, lâu dài không xác định. MÔ PHÂN SINH NGỌN: những tế bào có hoạt tính phân chia mạnh, tạo nên đỉnh sinh trưởng ở đầu tận cùng của thân, rễ thực vật có mạch. MÔ SƠ CẤP: mô thực vật có nguồn gốc từ các mô phân sinh ở trong phôi và từ các mô dẫn của nó. X. Sinh trưởng sơ cấp. MÔ THẦN KINH: loại mô cảm ứng của động vật, gồm tế bào thần kinh hay nơron, tế bào thần kinh đệm. Nguồn gốc lá phôi ngoài MÔ XƯƠNG: một loại mô liên kết thích nghi cao nhất với chức năng chống đỡ, bảo vệ các cơ quan nội tạng của cơ thể động vật MÔI TRƯỜNG: bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên. MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY: hỗn hợp chất dinh dưỡng dạng lỏng hoặc dạng đặc (cùng với thạch, gelatin, silicagel) dùng nuôi cấy các vi sinh vật hoặc dùng nuôi cấy mô thực vật, động vật. MÔN VỊ: lỗ dưới của dạ dày thông với tá tràng, là vòng cơ trơn có chức năng điều chỉnh lượng thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng (ruột non). MYCOPLASMA: (Mycoplasma), nhóm vi khuẩn cực nhỏ, không có thành tế bào vững chắc. MYOGLOBIN: (myoglobin), protein liên kết gặp ở trong cơ (đôi khi gọi là hemoglobin cơ). Giống với hemoglobin về khả năng kết hợp với oxi. Manh tràng (ruột tịt): Ranh giới giữa ruột non và ruột già là manh tràng. Manh tràng rất phát triển ở những loài Thú ăn cỏ không nhai lại, tiêu giảm ở Thú ăn quả và tiêu biến ở loài Thú ăn thịt. Mã bộ ba (mã di truyền): là phần mật mã quy định thông tin về trình tự các amino acid đã được mã hóa dưới dạng trình tự các nucleotide trên gene. Hình thức mã hóa này thống nhất hầu hết các loài sinh vật, trong đó ba nucleotide liên tiếp trên mạch mã gốc của gene, sẽ quy định một loại amino acid nhất định. Do đó, mã di truyền còn được gọi là mã bộ ba, và tổ hợp ba nucleotide được gọi là một bộ ba mã hoá, hay một codon. Màng tế bào: vỏ bọc bên ngoài của tế bào prokaryote Màng xenlulozo (Màng cellulose): là màng bảo vệ, còn gọi là vách tế bào, chỉ có ở thực vât MA TUÝ:các chế phẩm có tác dụng mạnh lên hệ thần kinh: nhiều chế phẩm có tác dụng giảm đau mạnh, đặc biệt các chế phẩm này gây cho người dùng cảm giác sảng khoái, bay bổng, quên lãng, làm cho họ dần dần quen thuốc, trở nên nghiện. Khi đã nghiện, nếu thiếu các chế phẩm MT, người nghiện bị bồn chồn, lo âu, khó chịu, đờ đẫn và nhiều triệu chứng bệnh lí khác; nếu tiếp tục sử dụng, càng bị nghiện nặng hơn, làm cho sức khoẻ yếu kém, suy nhược cơ thể, mất dần khả năng tư duy, lao động và có thể chết. Người nghiện bị giảm sút cả về thể xác lẫn tinh thần và khi lên cơn nghiện không làm chủ được bản thân, dễ có hành động phạm tội MẠCH HỌC:chuyên ngành của y học nghiên cứu các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch, mao quản, mạch bạch huyết) về hình thái, mô học, huyết động học và các bệnh của mạch máu (xơ cứng động mạch, xơ vữa động mạch, viêm tắc động mạch, hẹp mạch, phình mạch, vv.). Men răng:là phần cứng nhất, cấu tạo từ những tinh thể photphat canxi dài mảnh,nằm sát cạnh nhau theo 1 ttrình tự chính xác để bảo vệ răng.Có những tế bào đặc biệtgọi là nguyên bào men Miệng : Miệng là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có chức năng nhận thức ăn và bắt đầu tiêu hóa bằng cách nghiền nát cơ học thực ăn thành kích thước nhỏ hơn và trộn với nước miếng Má : một bộ phận của mặt người và động vật, nằm ở hai bên của miệng Mất đoạn: là một dạng đột biến về cấu trúc nhiễm sắc thể Mật độ quần thể: là số lượng, khối lượng hay năng lượng cá thể của quần thể trên một đơn vị diện tích hay thể tích mà quần thể sinh sống. Mêlanin: là một loại sắc tố phổ biến trong tự nhiên, được tìm thấy ở hầu hết các sinh vật. mêlanin có 2 kiểu: pheomelanin (màu đỏ) và eumelanin (nâu đậm gần như màu đen). Miễn dịch: là khả năng của cơ thể chống lại các tác nhân từ bên ngoài. Có 2 loại miễn dịch: miẽn dịch tự nhiên, miễn dịch nhân tạo Methionin (mêtiônin): Methionin là một acid amin thiết yếu có trong thành phần của chế độ ăn và trong công thức của các chế phẩm đa acid amin để nuôi dưỡng. Methionin tăng cường tổng hợp gluthation và được sử dụng thay thế cho acetylcystein để điều trị ngộ độc paracetamol đề phòng tổn thương gan. Methionin còn được dùng theo đường uống để làm giảm pH nước tiểu. Methionin được chuyển hóa ở gan. Moocgan……………………… (là người có đóng góp to lớn cho cho sự nghiệp nghiêng cứu Sinh học của thế giới ^^) Mô: là tập hợp các tế bào chuyên hóa, có cấu trúc giống nhau, cùng thực hiện một chức năng nhất định Một lá mầm: là một nhóm các thực vật có hoa có tầm quan trọng bậc nhất, chiếm phần lớn trên Trái Đất. Mức phản ứng: là tập hợp các kiểu hình của một kiểu gen tương ứng với các môi trường khác nhau. Men tim là các chất men đặc biệt trong cơ tim. Mù mắt là triệu chứng mất khả năng cảm nhận thị giác. Mắt người bị mù không thấy được những gì xung quanh. Chứng mù mắt có thể do rối loạn bẩm sinh, sinh lý hay thần kinh. Mũi là một phần lồi , nơi chứa lỗ mũi, nơi cho không khí đi vào và ra qua hệ vỏ bọc, thông với miệng. Mỏi cơ là hiện tượng biên độ co cơ giảm dần khi làm việc quá sức girlbuon10594 22-12-2010, 20:41 NANÔMÉT: đơn vị đo chiều dài, kí hiệu nm; 1 nm = 10-9m. Dùng đo kích thước của những cấu trúc dưới mức tế bào. NÃO: phần phình rộng nhất của hệ thần kinh, nằm ở đầu trước cơ thể cùng các giác quan chính và là trung tâm điều hoà thần kinh động vật.Lớp ngoài là vỏ Não, trung tâm tổng hợp của toàn bộ hệ thần kinh và liên quan đến trí nhớ, học tập. NÃO GIỮA: một trong ba phần chính của não, nối não trước với não sau. Có một khoang hẹp ở giữa gọi là ống não. não giữa là trung tâm chi phối của não cá, lưỡng cư và có thể có một thuỳ thị giác NÃO SAU: vùng nằm sau cùng của não, gồm hành tuỷ, cầu não và tiểu não NÃO TRƯỚC: phần nằm ở phía trước trong ba phần cơ bản về giải phẫu học của não, gồm hai bán cầu não, đồi thị và vùng dưới đồi NẢY CHỒI: (ở thực vật) Sự hình thành chồi trên cây. NẢY CHỒI: (ở dộng vật) Một kiểu sinh sản vô tính, trong đó cá thể mới được sinh ra do mấu lồi (chồi) của cơ thể bố mẹ. Thường gặp ở một số nhóm động vật ruột khoang, bọt biển, nấm men đơn bào, nhất là nấm men bia. Nhị là cơ quan sinh sản đực gồm bao phấn chia thành 2 túi phấn,trong đó chứa các hạt phấn,được tạo thành từ các tế bào nhu mô (tế bào mẹ) có 2n NST. Mỗi tế bào mẹ qua phân bào GP tạo thành 4 tế bào đơn bội (n NST) từ đó phát triển thành các hạt phấn. Mỗi hạt phấn chứa 2 nhân ( 1 nhân sinh dưỡng và 1 nhân sinh dục ) bao quanh bở tế bào chất,có vỏ bao ngoài Nhụy là cơ quan sinh sản cái gồm có đầu nhụy,vòi nhụy và bầu nhụy,trong bầu nhụy chứa noãn Noãn gồm 2 lớp vỏ có lỗ thông (lỗ noãn) trong đó chứa 1 bộ phận quan trọng có liên quan đến chức năng sinh sản của túi phôi Năng suất sinh học là tổng lượng chất khô tích lũy được mỗi ngày trên 1Ha/1ngày trong suốt thời gian sinh trưởng Năng suất kinh tế là 1 phần của năng suất sinh học được tích lũy trong các cơ quan chứa các sản phẩm có giá trị kinh tế đối với con người Nguyên phân: là quá trình phân chia của tế bào nhân thực trong đó nhiễm sắc thể nằm trong nhân tế bào được chia ra làm hai phần giống nhau và giống về số lượng và thành phần của nhiễm sắc thể trong tế bào mẹ. Nguyên tố đa lượng là các nguyên tố mà lượng chứa trong khối lượng chất sống của cơ thể lớn hơn 0,01%. Nguyên tố vi lượng. là các nguyên tố mà lượng chứa trong khối lượng chất sống của cơ thể nhỏ hơn 0,01% Nhân giống tạp giao hay còn gọi là lai tạo là cho giao phối giữa những cá thể thuộc các giống khác nhau. Nhân giống thuần chủng là cho giao phối giữa các cá thể đực và cái của cùng một giống để thu được đời con mang 100% máu của giống đó. Nhân tế bào là bào quan tối quan trọng trong tế bào sinh vật nhân chuẩn. Nó chứa các nhiễm sắc thể của tế bào, là nơi diễn ra quá trình nhân đôi DNA và tổng hợp RNA. Nhiễm sắc thể có cấu trúc gồm bốn bậc cấu trúc không gian. Cấu trúc bậc một là chuỗi xoắn kép ADN. Các cấu trúc bậc cao hơn là sự cuộn xoắn của ADN đó, kết hợp với các protein. NST là vật liệu di truyền ở cấp độ tế bào, có vai trò rất quan trọng trong di truyền. Đường kính của nhiễm sắc thể có chiều dài từ 0,5-50 micrômét, đường kính từ 0.2-2 micromét, đồng thời có bốn hình dạng đặc trưng là hình móc, hình que, hình hạt và chữ V. Nhược trương (tiếng Anh: hypotonic) là tính chất của một môi trường mà nồng độ chất tan nhỏ hơn so với môi trường nội bào. Nội nhũ: là phần dự trữ chất dinh dưỡng của hạt, nó chứa đầy tinh bột và protein, ngoài ra trong nội nhũ còn có một lượng nhỏ chất béo, muối khoáng và vitamin Nhân chuẩn là một sinh vật gồm các tế bào phức tạp, trong đó vật liệu di truyền được sắp đặt trong nhân có màng bao bọc. Sinh vật nhân chuẩn gồm có động vật, thực vật và nấm Nơ ron là một tập hợp các dây thần kinh kết nối với nhau. Nhân sơ là nhóm sinh vật mà tế bào không có màng nhân. girlbuon10594 22-12-2010, 20:45 Oatxơn: Mô hình phân tử ADN được công bố năm 1953 bởi J.Oatxơn (người Mĩ) và F.Click (người Anh). Lúc mô hình ADN được công bố, J.Oatxơn mới 25 tuổi, F.Click 37 tuổi. Mô hình ADN được xem là một trong những phát minh quan trọng nhất ở thế kỉ XX. Với phát minh này, hai nhà khoa học (cùng với Uynkin) đã được trao giải thưởng Nôben năm 1962. Operon là các cụm gen ở vi khuẩn. Chúng chứa các gen được điều hoà hoạt động đồng thời và mã hoá cho các protein thường có chức năng liên quan với nhau Ostrogen là hoocmon sinh dục ( Quá trình sản xuất hoocmon FSH, LH, ơstrôgen và prôgestêron bị rối loạn có ảnh hưởng đến quá trình sản sinh trứng vì FSH, LH kích thích phát triển nang trứng,làm cho trứng chín và rụng. Nồng độ ơstrôgen và prôgestêron trong máu có tác dụng lên qt sản xuất FSH, LH của tuyến yên, ảnh hưởng đến qt sản sinh trứng.) OPSONIN HOÁ: quá trình gắn các opsonin với các vi sinh vật (hoặc các chất liệu khác), để thúc đẩy hiện tượng thực bào. Ổ SINH THÁI : nơi cư trú của một sinh vật trong một quần xã hay hệ sinh thái. ỐC TAI: ống màng hình xoắn ốc nằm ở tai trong động vật có vú để tiếp nhận âm thanh. ỐNG BẠCH HUYẾT NGỰC: ống bạch huyết kéo dài ở phía lưng, là ống chính của hệ bạch huyết. ỐNG DẪN TRỨNG: ống ở động vật cái chủ yếu được dùng để dẫn trứng đã chín từ buồng trứng. ỐNG MANPIGHI: cơ quan bài tiết ở côn trùng, gồm các ống mảnh, kín một đầu, đầu kia đổ vào phần đầu ruột sau. ỐNG MẬT: ống dẫn dịch mật từ gan đổ vào tá tràng ở động vật có xương sống. ỐNG PHẤN: ống được hình thành khi hạt phấn nảy mầm để đưa giao tử tới noãn. ỐNG RÂY: dãy dọc các tế bào của các yếu tố rây để vận chuyển các chất dinh dưỡng trong thân cây. ỐNG SINH TINH: búi các ống nhỏ cuộn khúc nằm trong tinh hoàn của động vật có xương sống, có chức năng sinh ra tinh trùng. ỐNG THẦN KINH: yếu tố hình thành đầu tiên của tuỷ sống và não ở động vật có xương sống. ỐNG THẬN: ống dài hẹp tạo thành một phần đơn vị bài tiết của thận động vật có xương sống, để tái thu chọn lọc các chất có lợi. girlbuon10594 22-12-2010, 20:49 Peptit là liên kết hóa học,là liên kết được hình thành giữa nhóm amin của axit amin này với nhóm cacboxyl của axit amin kế tiếp,có giải phóng một phân tử nước Pha sáng của quang hợp là pha chuyển hoá năng lượng của ánh sáng đã được diệp lục hấp thu thành năng lượng của các liên kết hoá học trong ATP và NADPH Pha tối của quang hợp là pha cố định CO2 diễn ra trong chất nền strôma của lục lạp Pectin là chất nhầy bao quanh vỏ hạt bưởi và trong cùi quả bưởi chín. Bản chất của nó là một loại chất xơ, tan trong nước, làm tăng độ nhớt. Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phân bào là hiện tượng tế bào (động vật, thực vật, vi khuẩn,...) phân chia, tạo ra nhiền tế bào mới và theo một "chương trình" đã lập sẵn của cơ thể. Nếu như sự phân bào không theo qui trình mà tế bào phân chia loạn xạ thì cơ thể đã hoặc sẽ mắc bệnh Phân bào nguyên nhiễm (nguyên phân), khi phân chia tạo ra hai tế bào mới giống tế bào ban đầu, tạo điều kiện cho cơ thể lớn lên và phát triển, thay thế tế bào bị chết hoặc lão hóa. Phân bào giảm nhiễm (giảm phân), khi phân chia tao ra bốn tế bào giống tế bào mẹ nhưng số lượng nhiễm sắc thể giảm đi một nửa so với tế bào ban đầu. Giảm phân chỉ xảy ra ở cơ quan sinh dục, làm cho hệ gen từ lưỡng bội (2n) thành đơn bội (n). Sau khi thụ tinh, hệ gen lưỡng bội sẽ được phục hồi, các tính trạng của bố mẹ sẽ được truyền sang đời con. Phân đôi là một hình thức sinh sản vô tính ( VD: trùng roi........) Phiên mã (hay sao mã) là quá trình sao chép thông tin di truyền được mã hoá dưới dạng trình tự các nucleotide trên gene thành dạng trình tự các ribonucleotide trên ARN thông tin (mRNA) nhờ đó mà tổng hợp những protein đặc thù cho gene. Protein (Protit hay Đạm) là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà các đơn phân là axít amin. Chúng kết hợp với nhau thành một mạch dài nhờ các liên kết peptide (gọi là chuỗi polypeptide). Các chuỗi này có thể xoắn cuộn hoặc gấp theo nhiều cách để tạo thành các bậc cấu trúc không gian khác nhau của protein. Phổi là một bộ phận trong cơ thể với vai trò chính yếu là trao đổi các khí - đem ôxy từ không khí vào tĩnh mạch phổi, và điôxít cacbon từ động mạch phổi ra ngoài. Ngoài ra phổi cũng có một số khả năng thứ yếu khác, giúp chuyển hóa một vài chất sinh hóa, lọc một số độc tố trong máu. Phổi cũng là một nơi lưu trữ máu Polipeptit: Nhiều liên kết peptit nối với nhau tạo thành một chuỗi polipeptit Phương pháp chọn lọc có hai loại: chọn lọc cá thể và chọn lọc hàng loạt Phản xạ là hiện tượng sóng khi lan truyền tới bề mặt tiếp xúc của hai môi trường bị đổi hướng lan truyền và quay trở lại môi trường mà nó đã tới. Các ví dụ về phản xạ đã được quan sát với các sóng như ánh sáng, âm thanh hay sóng nước. Phả hệ là gia phả của một dòng họ .Mục đích để con cháu sau này biết nguồn gốc của mình từ đâu sinh ra,mình đang ở thế hệ thứ mấy trong dòng họ và bà con mình gồm những ai .Nơi quê cha đất tổ của mình là ở đâu. Pha "hiếu khí": trong thời gian này năng lượng được cung cấp khi gắng sức từ chuyển hoá hiếu khí. Lưu lượng thông khí (VE), được kiểm soát bởi sản phẩm CO2, tăng tuyến tính với công thực hiện, song song với sự gia tăng của VO2 và của VCO2 cho đến khi đạt được ngưỡng thông khí kỵ khí (SA) Pha "kỵ khí": khi tăng công thêm nữa cho bệnh nhân, khi mà mức công trước đó đã vượt qua ngưỡng thông khí kỵ khí (SA), năng lượng cần thiết phụ thêm để thực hiện gắng sức được cung cấp một phần từ chuyển hoá phân huỷ đường kỵ khí tạo ra ion H+ và một sự tích tụ lactate, ban đầu được đệm bởi các bicarbonate với sản phẩm CO2 và H2O. Phôtpholipit: cấu tạo từ một phân tử glixêrol liên kết với 2 phân tử axit béo và một nhóm phôtphat Poolisaccarit: Đường đa (hay pôlisaccarit) gồm rất nhiều phân tử đường đơn bằng các phản ứng trùng ngưng và loại nước tạo thành các pôlisaccarit là các phân tử mạch thẳng (như xenlulôzơ) hay mạch phân nhánh (như tinh bột thực vật hay glicôgen động vật). Progesterone là một trong những loại hormon kích thích và điều hòa nhiều chức năng của cơ thể. Progesterone có vai trò trong việc duy trì thai kỳ. Polixom là hiện tượng nhiều RBX cùng trượt trên một mARN Phát tán là hiện tượng quả và hạt được chuyển đi xa cây mẹ nhờ gió,nhờ động vật hoặc từ phát tán girlbuon10594 22-12-2010, 20:52 Quai bị: là một bệnh toàn thân biểu hiện bằng sưng một hay nhiều tuyến nước bọt, thường gặp nhất là các tuyến mang tai. Quang hợp là quá trình thu nhận năng lượng ánh sáng Mặt trời của thực vật, tảo và một số vi khuẩn để tạo ra hợp chất hữu cơ phục vụ bản thân cũng như làm nguồn thức ăn cho hầu hết các sinh vật trên Trái đất. Quản bào:các tế bào chết, dài nhọn hai đầu, vách ngăn giữa các tế bào chưa có lỗ thông với nhau, chỉ có những cặp lỗ trên vách chung. Quần thể: là một tập hợp các cá thể thuộc cùng một loài hay dưới loài sinh sống trong một sinh cảnh nhất định. Chúng cách ly tương đối với các cá thể thuộc quần thể khác cùng loài. Quần thể giao phối: trong quần thể, các cá thể có thể giao phối với nhau tạo ra con cái hữu thụ, thực hiện chức năng sinh sản, duy trì nòi giống. Quần thể giao phối gần:đối với các loài động vật, hiện tượng các cá thể có quan hệ huyết thống giao phối với nhau thì được gọi là giao phối gần. Quần thể ngẫu phối:quần thể được gọi là ngẫu phối khi các cá thể trong quần thể lựa chọn bạn tình để giao phối một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Quần xã là một tập hợp các quần thể sinh vật cùng sống trong một vùng địa lý hay sinh cảnh nhất định, là phần sống hay hữu sinh của hệ sinh thái. Quan hệ hỗ trợ (Công sinh và hội sinh): Là mối quan hệ có lợi hoặc ít nhất không có hại cho tất cả các sinh vật. Quan hệ đối địch (Cạnh tranh, kí sinh, nửa kí sinh và sinh vật ăn sinh vật khác): Là mối quan hệ một bên sinh vật có lợi còn bên kia có hại hoặc hai bên cùng bị hại. Quan hệ cộng sinh là mối quan hệ cùng có lợi giữa các loài sinh vật Quan hệ hội sinh là sự hợp tác giữa 2 loài sinh vật ,trong đó một bên có lợi còn bên kia không có lợi cũng không có hại Quan hệ cạnh tranh là các sinh vật khác nhau tranh giành thức ăn, nơi ở và các điều kiện sống khác của môi trường. Các loài kìm hãm sự phát triển của nhau Quan hệ kí sinh nửa kí sinh là sinh vật sống nhờ trên sinh vật khác , lấy các chất dinh dưỡng, máu...từ sinh vật đó Quan hệ sinh vật ăn sinh vật gồm các trường hợp động vật ăn thịt con mồi, động vật ăn thực vật, thực vật ăn sâu bọ Quan hệ cùng loài là các sinh vật cùng loài sống gần nhau và liên hệ với nhau tạo thành nhóm cá thể. Quan hệ khác loài có thể là hỗ trợ hoặc đối địch nhau Quang chu kì: phản ứng của sinh vật với nhịp điệu ngày đêm của ánh sáng Mặt Trời. Quang dưỡng:kiểu dinh dưỡng trong đó nguồn năng lượng tổng hợp các chất hữu cơ là ánh sáng. Quang phân li nước: sự phân li phân tử nước dưới tác dụng của ánh sáng vùng nhìn thấy và tử ngoại. girlbuon10594 22-12-2010, 20:53 Răng: phần phụ cứng rắn ở trong xoang miệng, dùng để nghiền, xé thức ăn. Relaxin:enzim do thể vàng sản sinh ra có tác dụng ức chế co bóp tử cung. Rễ:cơ quan bám vào đất của thực vật để hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng khoáng. Riboxom:bào quan có số lượng lớn ở mọi tế bào, hoạt động như những điểm tổng hợp protein. Ricketxi:nhóm vi sinh vật kí sinh nội bào bắt buộc, có thể gặp ở một số động vật chân đốt. Ruột:ống vận chuyển thức ăn từ dạ dày xuống hậu môn. Ruột khoang:ngành lớn của động vật không xương sống ở nước, chủ yếu ở biển. Ruột non: phần ống hẹp giữa dạ dày và ruột già. girlbuon10594 22-12-2010, 20:56 Saccarozơ là một loại đisaccarit, được tạo ra do hai monosaccarit là a-glucoz và b-fructozơ liên kết với nhau bằng liên kết α-glicozit ở C1 của glucoz, hay liên kết β-glicozit ở C2 của fructozơ. (Nhóm –OH ở C số 1 của a-glucoz với nhóm –OH ở C số 2 của b-fructozơ kết hợp với nhau và loại ra một phân tử H2O, tạo nhóm chức ete −O− mà thành). Saccarozơ là loại đường thường gặp nhất, nó có nhiều trong các cây mía, thốt nốt, củ cải đường… Sao mã (hay phiên mã) là quá trình sao chép thông tin di truyền được mã hoá dưới dạng trình tự các nucleotide trên gene thành dạng trình tự các ribonucleotide trên ARN thông tin (mRNA) nhờ đó mà tổng hợp những protein đặc thù cho gene. Sinh quyển là một phần của Trái Đất, bao gồm tầng trên của thạch quyển (có thể sâu tới 11km), toàn bộ thủy quyển, tầng đối lưu, tầng bình lưu của khí quyển, nơi các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sống phát triển. Sinh quyển thường được hiểu gắn liền với Trái Đất. Sinh quyển của Trái Đất bao gồm các loài động vật, thực vật, vi khuẩn, nấm,... từ sinh vật đơn bào nguyên thủy đến đa bào tiến hóa cao. Sinh sản là một quá trình sinh học tạo ra các sinh vật riêng biệt mới. Sinh sản là một đặc điểm cơ bản của tất cả sự sống. Sinh sản vô tính là hiện tượng từ một cá thể duy nhất cho ra thế hệ con giống hệt mẹ về mặt di truyền. Sinh sản vô tính thích hợp với mỗi trường sống ít thay đổi, chỉ trong thời gian ngắn quần thể có thể tăng lên rất nhanh. Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản mà trong đó có sự tham gia của hai loại giới tính là đực và cái. Sản phẩm tham gia của hai loại giới tính này là các giao tử (giao tử đực là tinh trùng, giao tử cái là trứng đã chín và rụng). Mỗi giao tử mang bộ nhiễm sắc thể đơn bội. Trong thụ tinh, sự kết hợp giữa chúng tạo ra hợp tử mang bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội. Hợp tử sẽ phát triển thành cơ thể mới. Sinh sản sinh dưỡng tự nhiên là hiện tượng hình thành cá thể mới từ một phần của cơ quan sinh dưỡng( rễ , thân ,lá ) Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trường sống của chúng. Sinh trưởng sơ cấp là quá trình sinh trưởng ở thực vật do sự phân chia của các mô phân sinh ngọn (apical meristems) làm thực vật gia tăng chiều cao (chiều dài) tại đỉnh chồi, đỉnh rễ, đầu lá, mầm Sinh trưởng thứ cấp là quá trình sinh trưởng ở thực vật do sự phân chia của các mô phân sinh bên (lateral meristems) làm thực vật phát triển thân, rễ theo chiều ngang (làm nó to ra). Sinh vật nhân chuẩn, còn gọi là sinh vật nhân thực, sinh vật nhân điển hình hoặc sinh vật có nhân chính thức (danh pháp: Eukaryota hay Eukarya) là một sinh vật gồm các tế bào phức tạp, trong đó vật liệu di truyền được sắp đặt trong nhân có màng bao bọc. Sinh vật nhân chuẩn gồm có động vật, thực vật và nấm Sinh vật nhân sơ hay sinh vật tiền nhân hoặc sinh vật nhân nguyên thủy (Prokaryote) là nhóm sinh vật mà tế bào không có màng nhân. Tuy nhiên, trong tế bào của một số loài Planctomycetales, ADN được bao bọc bởi một màng đơn. Đặc điểm chính để phân biệt với các sinh vật nhân chuẩn được các nhà sinh học phân tử thường sử dụng là trình tự gene mã hóa cho rRNA. Sinh vật là một cơ thể sống (trong sinh học và sinh thái học) Sốt rét còn gọi là ngã nước là một chứng bệnh gây ra bởi ký sinh trùng loại protozoa tên Plasmodium, lây truyền từ người này sang người khác khi những người này bị muỗi đốt. Sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuất hiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao. Stroma: Mỗi lục lạp được bao bọc bởi màng kép(hai màng), bên trong là khối cơ chất không màu - gọi là chất nền (stroma) chứa prôtein ưa nước và các hạt nhỏ (grana) SA TẠNG: tình trạng một tạng hoặc một phần tạng dịch chuyển đến vị trí thấp hơn bình thường, do các dây chằng và dây treo bị chùng. Thường gặp sa dạ dày, sa tử cung, sa hậu môn SA THẬN : (cg. thận di động), thận di chuyển khỏi vị trí: sa xuống thấp, di chuyển vào ổ bụng. Bình thường thận được giữ tại chỗ (hai bên vùng thắt lưng) nhờ các tổ chức cố định (bao thận, các cơ thành bụng...) SA TRỰC TRÀNG : tình trạng bệnh lí: niêm mạc (ở trẻ em hoặc người già) hoặc toàn bộ trực tràng (3 lớp áo) thoát ra ngoài hậu môn (cơ thắt hậu môn). Nguyên nhân: tăng quá mức áp lực trong ổ bụng (táo bón, rặn quá mạnh lúc đi ngoài, thường xuyên phải nâng vác vật quá nặng...); SACOM : (Ph. sarcome; tk. ung thư liên kết), u ác tính hình thành từ mô liên kết (vd. S xơ) hoặc các mô có nguồn gốc từ lá thai giữa (vd. S cơ, S xương, S sụn, vv.). S ít gặp hơn ung thư biểu mô thường chiếm không quá 10% trong tổng số mọi loại ung thư. SAI KHỚP : tình trạng một đầu xương trật ra khỏi ổ khớp, làm cho hai mặt khớp chuyển dịch bất thường khỏi vị trí tự nhiên và mất liên quan một phần SUY TIM: tình trạng bệnh lí tim không đủ khả năng bảo đảm lưu lượng máu để đáp ứng nhu cầu trong mọi tình huống sinh hoạt của cơ thể người bệnh. SUY THẬN : giảm sút chức năng thận (cấp, mạn) dưới mức bình thường, từ mức nhẹ đến mức ngừng bài tiết nước tiểu (vô niệu), gây nên tử vong do thận không đào thải được các chất độc ở trong cơ thể SUY NHƯỢC THẦN KINH : sự suy yếu có hệ thống, sự căng thẳng hệ thần kinh dẫn đến suy nhược quá trình hưng phấn (thể nhược) hoặc quá trình ức chế (thể cường). lananh_vy_vp 01-01-2011, 16:07 TAI: cơ quan cảm giác chuyên hoá của động vật (thính giác) nằm ở hai bên đầu của động vật có xương sống, dùng để nghe và định hướng thăng bằng. TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO: (Đột quỵ não) là một bệnh xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ gây ra các triệu chứng thần kinh tồn tại quá 24 giờ. TÁ TRÀNG:đoạn đầu của ruột non nhận thức ăn từ dạ dày đi xuống. TÁI SINH: là được sinh lại. TẢI NẠP: việc chuyển một phần ADN của vi khuẩn này sang vi khuẩn khác nhờ virut. TÁI SINH: khôi phục lại một bộ phận bị hư hại hay mất đi của cơ thể. TÁI TỔ HỢP: việc phân chia lại các nhân tố di truyền hoặc các gen xảy ra thường xuyên trong quá trình giảm phân hoặc nguyên phân. TẠO MÁU: quá trình hình thành các huyết cầu trong cơ thể động vật và người. TÂM ĐỘNG: tâm cơ học của nhiễm sắc thể, nơi các sợi thoi dính vào ở trung kì và hậu kì của nguyên phân và giảm phân. TÂM NHĨ: một trong những xoang của tim động vật có xương sống. Ở động vật có vú, có hai TN, tạo nên hai ngăn phía trên tim. TÂM THẤT:một trong hai ngăn dưới có thành cơ dày của tim ở động vật có vú. tam bội: có bộ nhiễm sắc thể 3n,là dạng đột biến đa bội lẻ. thể này thường không có khả năng sinh sản hữu tính. thể lưỡng bội 2n là bộ nhiễm sắc thể bình thường của cá thể. TÁC ĐỘNG CỘNG GỘP: là hiện tượng di truyền đặc trưng của một số tính trạng số lượng. trong đó các gene không allele tác động cùng hướng lên sự biểu hiện của một tính trạng. Mỗi allele (thường là trội) của các gene đa phân như thế đóng góp một phần ngang nhau trong sự biểu hiện ra kiểu hình ở một mức độ nhất định TÁC NHÂN ĐỘT BIẾN: Những biến đổi bất thường trong sinh lý, sinh hóa trong tế bào (xuất hiện một cách tự nhiên) hay tác nhân vật lý: tia phóng xạ, tia cực tím, nhiệt độ... và tác nhân hóa học: ảnh hưởng của các chất hóa học như nicotine, cosinsin, dioxine (chất da cam)... TẦN SỐ ALEN: Là tỉ lệ giữa số lượng alen của một gen nào đó trên tổng số các alen của gen đó trong quần thể. TẦN SỐ GEN: Là tập hợp tất cả các alen có trong quần thể ở một thời điểm xác định. TẦN SỐ TÁI TỔ HỢP: Khi các gen liên kết khônǵ hoàn toàn, xuất hiện các dạng giao tử mới không giống cha mẹ do có sự sắp xếp lai các gen. Hiện tượng này gọi là tái tổ hợp (recombination) và các dạng mới xuất hiện gọi là dạng tái tổ hợp. TẦNG CUTIN: chất cutin tạo thành một lớp liên tục phủ bên trên lớp biểu bì và chỉ bị ngắt bởi các lỗ vỏ lá, lớp này được gọi là ‘tầng cutin’ hoặc ‘lớp cutin’. TẬP TÍNH: là các hành vi của động vật. TESTOSTERON: hormone sinh dục nam. TẾ BÀO: đơn vị cấu tạo và chức năng của cơ thể. TÂM VỊ: lỗ mở từ thực quản vào dạ dày ở động vật có xương sống TẦN SỐ TRAO ĐỔI CHÉO: tỉ lệ của những cá thể trao đổi chéo trong tổng số cá thể ở FB của phép lai phân tích. TẬP ĐOÀN: nhóm các sinh vật cùng loài, liên kết với nhau và phụ thuộc vào nhau ở một mức độ nào đó. TẾ BÀO CHẤT: phần dịch không màu (dịch bào trong suốt) nằm trong tế bào, gồm nhân và các cơ quan tử, các thể vùi, được bọc trong màng sinh chất, là nơi xảy ra nhiều hoạt động trao đổi chất. TẾ BÀO TRẦN:tế bào vi khuẩn và thực vật bị tách ra khỏi thành tế bào nhờ phương pháp vật lí hoặc bằng enzim. THAI: phôi đã phân hoá rõ rệt của động vật có vú (trừ các loài thú đẻ trứng). THẨM THẤU: hiện tượng dịch chuyển của dung môi từ dung dịch loãng đến dung dịch có nồng độ cao hơn qua màng bán thấm. THẬN: đôi cơ quan bài tiết chính của động vật có xương sống; còn là cơ quan điều hoà áp suất thẩm thấu. THỂ ALLATA: tuyến thần kinh nội tiết phổ biến ở côn trùng, có tổ chức hạt phát triển từ tế bào biểu bì của đốt hàm trên, hàm dưới và tiết ra hocmon trẻ. THỂ BÀO TỬ: thế hệ lưỡng bội, bằng con đường vô tính cho ra những bào tử đơn bội. THỂ CỰC:tế bào nhỏ được tạo ra trong quá trình hình thành tế bào trứng, khi noãn bào đã qua hai lần phân chia giảm nhiễm. THỂ BARR: là một khối NST X dị kết đặc, quan sát đc ở gian kỳ, không hoạt động di truyền. THỂ ĐA BỘI: tế bào hay sinh vật mang bộ nhiễm sắc thể đa bội . THỂ GIAO TỬ: một thế hệ đơn bội trong vòng đời của thực vật, sinh ra các cơ quan sinh dục. THỂ LƯỠNG BỘI: tế bào hoặc cơ thể chứa hai lần số lượng nhiễm sắc thể đơn bội (2n). THỂ VÀNG: một tổ chức có màu vàng, hình thành trên buồng trứng sau khi nang Grap vỡ và thải trứng. THỂ TỨ BỘI: tế bào hoặc sinh vật chứa bốn lần số lượng nhiễm sắc thể đơn bội. THOÁT HƠI NƯỚC: sự thoát khí hoặc chất lỏng (dưới dạng hơi) qua da, màng, hoặc các mô khác. THUYẾT ĐACUYN: thuật ngữ để chỉ phần học thuyết ban đầu của Đacuyn (C. Darwin) về cơ chế những biến đổi tiến hoá của sinh vật hình thành nên những loài mới thông qua chọn lọc tự nhiên. THUYẾT LAMAC:học thuyết do Lamac (J. B. Lamarck) đưa ra năm 1809, cho rằng: những tính trạng tập nhiễm có thể di truyền được, do vậy tạo nên sự thay đổi thường xuyên trong quần thể. THUYẾT TẾ BÀO: thuyết cho rằng tất cả mọi sinh vật đều cấu thành từ các tế bào và sản phẩm của nó, chúng sinh trưởng, phát triển do sự phân chia và biệt hoá các tế bào. THUYẾT TRUNG TÂM: luận thuyết chủ yếu của di truyền, thiết lập mối liên hệ cơ bản giữa ADN, ARN và protein: ADN đóng vai trò khuôn mẫu cho việc tổng hợp ARN, và sau đó ARN lại làm khuôn mẫu để tổng hợp protein. THỰC BÀO: hiện tượng một số tế bào có khả năng bắt giữ và tiêu huỷ các phần tử đặc hay tế bào lạ (vật lạ). THỰC QUẢN: ống nối xoang miệng hoặc hầu với dạ dày. THYLACOIT: túi thon dẹt chứa đầy dịch lỏng, đơn vị cơ sở của hệ thống màng quang hợp trong lục lạp, vi khuẩn quang hợp và tảo lam. TIM: là bộ phận quan trọng trong hệ tuần hoàn của động vật, với chức vụ bơm đều đặn để đẩy máu theo các động mạch và đem dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đến toàn bộ cơ thể; hút máu từ tĩnh mạch về tim sau đó đẩy máu đến phổi để trao đổi khí CO2 lấy khí O2. TI THỂ: bào quan của mọi tế bào động, thực vật, liên quan chủ yếu với sự hô hấp ưa khí. TIẾP HỢP: Một kiểu sinh sản hữu tính gặp ở một số vi khuẩn, phần lớn động vật nguyên sinh có tiêm mao và một số tảo. TIÊU HOÁ: quá trình phân giải các phần tử thức ăn hữu cơ phức tạp nhờ các enzim thành các chất đơn giản, dễ hoà tan và được sử dụng vào quá trình trao đổi chất của cơ thể. TIỂU CẦU: một trong số những thành phần hữu hình (hồng cầu, bạch cầu, TC) của máu động vật có xương sống; tham gia vào quá trình đông máu. TINH HOÀN: tuyến sinh dục đực, sản sinh ra tinh trùng và các hocmon sinh dục ở động vật. TINH TRÙNG: tế bào sinh dục đực đã trưởng thành của người và động vật, được sản sinh từ những ống sinh tinh của tinh hoàn, chứa đựng những yếu tố di truyền của con đực. TINH BÀO: tế bào sinh sản nằm trong các ống sinh tinh của tinh hoàn, phát triển trong quá trình hình thành tinh trùng. TINH BỘT: (C6H10O5)n, nhóm cacbohiđrat có trong hầu hết các tế bào thực vật (mì, gạo, ngô, khoai...) bị phân giải thành đextrin và glucozơ. TÍNH HƯỚNG ĐẤT: hiện tượng sinh trưởng có định hướng của một bộ phận cây do phản ứng với trọng lực. TÍNH HƯỚNG NƯỚC: (vận động hướng nước), tính hướng được kích thích bởi nước. TOÀN NĂNG: khả năng của tế bào phôi phát triển thành phôi hoàn chỉnh. TÓC: là cấu trúc sừng hình sợi dài, dẫn xuất của biểu bì da, bao phủ da đầu của người. Tóc có thành phần chủ yếu là chất sừng, giàu lưu huỳnh và nitơ. Màu và dạng của tóc chính là một dấu hiệu nhân chủng học quan trọng. Tóc có thể mang màu đen, nâu, vàng, hung, bạch kim, đỏ... có thể thẳng, xoăn, uốn sóng... TRINH SẢN: ( trinh sinh), hiện tượng trứng phát triển không qua thụ tinh, không có sự tham gia của tinh trùng, để hình thành những cá thể mới. TRUNG THỂ: vùng trong suốt hình cầu của tế bào chất bao quanh trung tử ở nhiều tế bào; đóng vai trò động lực trong gián phân như là tiêu điểm của cực thoi. TRỰC PHÂN: hiện tượng phân chia nhân không thấy xuất hiện thoi phân chia và dẫn đến tạo thành các nhân con với bộ nhiễm sắc thể không đều nhau. TUỴ: tuyến vừa nội tiết (tiết ra insulin, glucagon, somatostatin, vv.) vừa ngoại tiết (tiết dịch tuỵ) ở động vật có xương sống, tham gia vào quá trình tiêu hoá và điều hoà trao đổi các chất gluxit, lipit và protein. TỦY:là vùng trung tâm của một cơ quan ở động vật, có sự khác biệt với vùng xung quanh về cấu tạo, chức năng. TUYẾN YÊN: tuyến nội tiết trong não của động vật có xương sống, nằm gần đồi thị, dưới bắt chéo thị giác. TUYẾN THƯỢNG THẬN: đôi tuyến nằm ở phía trên thận, tiết hocmon ađrenalin dưới sự kiểm soát của hệ thần kinh. TUYẾN TIỀN LIỆT: tuyến ở động vật có vú đực, bao quanh niệu đạo, sát bàng quang. TỬ CUNG: phần phình ra ở cuối ống dẫn trứng, giống hình quả lê của cơ quan sinh sản cái ở người và động vật; là nơi cư trú của trứng ở các loài đẻ trứng hoặc phôi thai ở các loài động vật có vú. TỰ BẤT THỤ: hiện tượng giao tử đực không thể thụ tinh với giao tử cái từ cùng một cá thể, gặp ở nhiều động vật và thực vật lưỡng tính. TỰ DƯỠNG: kiểu dinh dưỡng mà nguồn gluxit chính là từ các chất vô cơ (cacbon đioxit hoặc cacbonat). TỰ ĐA BỘI: kiểu đa bội do nhân lên nhiều lần bộ nhiễm sắc thể chỉ bắt nguồn từ một loài. TỰ TIÊU: hiện tượng tự phá huỷ tế bào nhờ hoạt động của các enzim tiêu hoá. trihoa2112_yds 19-01-2011, 11:55 + U : cấu trúc hình thành do tăng thể tích , có tính chât bệnh lí của 1 phần mô hoặc cơ quan , do sự phân bào hỗn loạn dẫn tới sự hình thành và phát triển khong kiểm soát đc của một khối mô mới và bất thường. + U nang buồng trứng: Do nang trứng không rách và noãn bào không được thải ra, nên nang trứng ngày càng tăng trưởng và trở thành u nang nang trứng (có thể rất to). U nang nang trứng gồm một hoặc nhiều u nang có vách nang trứng bao bọc. Nang trứng lớn hơn 2 cm, tồn tại lâu ngày mà không rụng trứng sẽ trở thành u nang. + U lành tính: u mà trong quá trình phát triển thường không gây hậu quả nghiêm trọng, chết người (trừ trường hợp u quá lớn hoặc ở vị trí hiểm như tim, não... hoặc gây rối loạn chuyển hoá do chế tiết nhiều hocmon). Đặc điểm của u lành tính: có ranh giới rõ, phân biệt với mô lành xung quanh, thường có vỏ bọc (cấu tạo bởi mô liên kết); phát triển tại chỗ chèn ép mô xung quanh nhưng không xâm lấn; mô u giống hay gần giống mô sinh ra nó (cả về tế bào lẫn mô); phát triển thường chậm tuy kích thước có thể lớn; dễ cắt bỏ và khi lấy hết u, thường không tái phát, không gây di căn. + U tuyến: thuộc dạng u lành tính do quá sản đơn thuần, có giới hạn của biểu mô tuyến, thường gặp ở đường tiêu hoá, tuyến nội tiết (tuyến giáp...), tuyến ngoại tiết (tuyến nước bọt, tuyến mồ hôi...) và ở đường thở. U tuyến tiến triển chậm; ít tái phát sau khi cắt bỏ. + Ung thư ( U ác tính ):là tên gọi chung của tất cả các mô tăng sinh mất kiểm soát. Đặc điểm:thường không có vỏ bọc, phát triển tương đối nhanh, có xu hướng xâm lấn, huỷ hoại mô xung quanh, dẫn tới kém hay không di động: tế bào ung thư ít nhiều kém biệt hoá (không giống tế bào sinh ra nó), có nhân quái, nhân chia; ở giai đoạn muộn thường gây di căn, cắt bỏ u dễ tái phát, thường gây chết người. + Ung thư máu: một dạng bệnh bạch cầu cấp tính, hay gặp ở trẻ em. Bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, ban xuất huyết, người xanh xao, mệt mỏi; xét nghiệm máu, tìm thấy các bạch cầu non; chọc tuỷ xương, làm tuỷ đồ sẽ chẩn đoán được bệnh. Điều trị tích cực, kể cả ghép tuỷ xương nếu cần thiết, kết quả lâu dài có thể khả quan trong nhiều trường hợp. Xt. Bệnh bạch cầu. + Ung thư vú: một khối u di động nhỏ, không đau, khối u to dần lên, dính vào da hay dính vào cơ ngực ở dưới, xuất hiện hạch ở nách. Rất thường gặp ở phụ nữ, gây tử vong cao. +Uraxin: (A. uraxil; 2,4 - đioxopirimiđin), C4H4N2O2, bazơ nitơ, dẫn xuất của pirimiđin ( bazo nhẹ ), có trong thành phần các nucleotit của ARN, bazơ tương hợp với U là Ađenin. Trong các nucleotit của ADN, U bị thay thế bởi Thimin + Ưu thế lai: hiện tượng hay trạng thái trong đó sự biểu hiện của tính trạng ở đời con lai dị hợp tử mạnh hơn cả bố mẹ hoặc mẹ đồng hợp tử. Con lai thế hệ thứ nhất (F1) của cặp bố mẹ thuần chủng cùng loài, được chọn lọc chu đáo có sức sống cao hơn bố, mẹ và có năng suất, phẩm chất cao hơn hẳn bố hay mẹ. + Ứ mật: tình trạng mật ngưng lưu thông một phần hoặc hoàn toàn, bị tích giữ trong các đường dẫn mật, túi mật, gan và sau đó đi vào máu. Nguyên nhân: sỏi, giun, khối u hoặc dị dạng bẩm sinh làm tắc đường dẫn mật. Ứ mật gây nên vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng, phân trắng, đầy bụng, chán ăn, ngứa. + Ưu trương: trạng thái một dung dịch có áp suất thẩm thấu cao hơn một dung dịch khác cùng tồn tại cạnh nó; khi ngăn hai dung dịch này bằng một màng bán thấm (màng tế bào), có sự trao đổi ion từ dung dịch ưu trương sang dung dịch có áp suất thẩm thấu thấp hơn. + Ưa lạnh: đặc tính của sinh vật thích sống ở nhiệt độ dưới 20oC; gồm những sinh vật sống ở vùng ôn đới, hàn đới. + Ưa nhiệt: hiện tượng các sinh vật đòi hỏi nhiệt độ cao (khoảng 60 oC) cho quá trình sinh trưởng. Gồm các vi sinh vật trong các suối nước nóng, trong phân ủ, phân xanh. + Ức chế liên gen: hiện tượng chức năng hoặc tính trạng lặn được phục hồi nhờ đột biến thứ cấp ở một gen khác với gen gốc hoặc đột biến sơ cấp. + Ức chế ngược: cơ chế kiểm soát tế bào mà theo đó sản phẩm cuối cùng của chuỗi phản ứng chuyển hoá ức chế hoạt tính của enzim đầu tiên trong chuỗi tiếp theo. + Ức chế nôi gen: hiện tượng chức năng hoặc tính trạng lặn phục hồi như là hệ quả của đột biến thứ cấp ở ngay chính gen gốc hay đột biến sơ cấp. + Ứng động: (vận động cảm ứng), hiện tượng vận động của các bộ phận thực vật phụ thuộc vào hướng kích thích. lananh_vy_vp 19-01-2011, 17:22 Đa loài cây được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới.Cây đa là loài cây lớn nhất thế giới tính theo bề rộng thân và cành cây với một số cây đa cổ thụ có thể che phủ một diện tích tới vài nghìn mét vuông. Loài cây này có quả màu huyết dụ và các rễ khí mọc từ các cành cây đâm xuống đất. [Only registered and activated users can see links] Đào (danh pháp khoa học: Prunus persica) là một loài cây có lẽ có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng để lấy quả hay hoa. Nó là một loài cây sớm rụng lá, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5–10 m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7–15 cm và rộng 2–3 cm. Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá; hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5–3 cm, màu hồng với 5 cánh. [Only registered and activated users can see links] Đào lộn hột (cây điều) Cây cao từ khoảng 3m đến 9m. Lá mọc so le, cuống ngắn. Hoa nhỏ, màu trắng có mùi thơm dịu. Quả khô, không tự mở, hình thận, dài 2-3cm, vỏ ngoài cứng, mặt hõm vào, cuống quả phình to thành hình trái lê hay đào, màu đỏ, vàng hay trắng. Do vậy người ta thường có cảm tưởng phần cuống quả phình ra là quả, còn quả thật đính vào là hạt, do dó mà có tên đào lộn hột (tức đào có hột nằm ngoài quả). Hạt hình thận, có chứa dầu béo. [Only registered and activated users can see links] Đào nhân Cây nhỏ, cao 3-4m, thân nhẵn, thường có chất nhầy đùn ra gọi là nhựa đào. Lá đơn, thuôn dài có cuống ngắn, mọc so le, phiến lá dài 5 - 8cm, rộng 1 - 1,5cnl, mép lá có răng cưa nhọn, khi vò có mùi Hạnh nhân. Hoa đơn độc, màu hồng nhạt, 5 cánh, nhiều nhụy, quả hạch hình cầu, đầu nhọn có một ngấn lõm vào chạy dọc theo quả, vỏ ngoài có lông rất mịn. Đại Chi Đại (danh pháp khoa học: Plumeria) là một chi nhỏ chứa 7-8 loài cây có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ. Các tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là cây đại, bông sứ, chăm pa. [Only registered and activated users can see links] Đại hoàng( Rheum palmatum Baill ) là 1 loại cây thuộc họ rau răm, thân thảo sống lâu năm, thân hình trụ trong rỗng, cao độ 1m, ngoài nhẵn. [Only registered and activated users can see links] Đại kế (CICUS JAPONICUS MAX) Là 1 loại cây thân thảo sống lâu năm, rễ hình thoi dài, có nhiều rễ phụ. Thân cao 0,5 - 1m, màu xanh có nhiều rãnh dọc, nhiều lông, rộng 5-10cm. [Only registered and activated users can see links] Đại kích Cây thảo đa niên, có độc, thân cao 0,3-0,7m, có lông nhỏ lá mọc cách, hình mũi mác, bầu dục, hai bên mép lá có răng cưa không rõ ràng, thân lá cắt ra có dịch trắng chảy ra, đầu mùa hè thân phân nhánh và ra hoa màu vàng xanh. Quả hơi dẹp hình tròn, có vết nứt lồi ra. [Only registered and activated users can see links] Đại táo là 1 loại cây thuộc họ táo, cây vừa hoặc cao, có thể cao đến 10m. Lá mọc so le, lá kèm thường biến thành gai, cuống ngắn 0,5-1cm [Only registered and activated users can see links] Đẳng sâm (Codonopsis pilosula) là 1 loại cây thuộc họ hoa chuông. Cây cỏ, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Rễ hình tru dàiï, đường kính có thể đạt 1,5-2cm, phân nhánh, đầu rễ phình to có nhiều vết sẹo lồi của thân củ. [Only registered and activated users can see links] Đàn hương Santalaceae Cây gỗ nhỏ, cây bụi hay bụi nhỏ, thường sống phụ sinh (thậm chí có khi sống ký sinh trên rễ hay trên cành các cây khác). Lá đơn, mọc cách hay mọc đối.Đài hoa là phần ôm lấy cánh hoa và nhụy hoa. [Only registered and activated users can see links] Đay Tiliaceae Cây gỗ, bụi hoặc cỏ. Lá đơn, thường mọc cách. Rất gần với EIaeocalpaceae, nhưng ở đây đôi khi có đài phụ; nhị nhiều, rời hoặc hơi hợp ở, gốc hoặc có khi hợp thành bó; bao phấn thường mở dọc. [Only registered and activated users can see links] Đăng Cây gỗ với lá đơn (Tetramcles), hoặc cỏ với lá kép lông chim (Datisca). không có lá kèm. Hoa đều, thường khác gốc, không có cánh hoa. [Only registered and activated users can see links] Đậu bắp là một loài thực vật có hoa có giá trị vì quả non ăn được. Danh pháp khoa học của nó là Abelmoschus esculentus. Loài này là cây một năm hoặc nhiều năm, cao tới 2,5 m. [Only registered and activated users can see links] Đậu cô ve danh pháp khoa học Phaseolus vulgaris, là loài cây thường niên được thuần hóa ban đầu tại khu vực Mesoamerica và Andes cổ đại của Trung Mỹ. [Only registered and activated users can see links]énomènes02.jpg/240px-Haricots_grimpants_phénomènes02.jpg Đậu đen thuộc phân họ Đậu (Faboideae), có tên thuốc theo Đông y là ô đậu, hắc đại đậu, hương xị. [Only registered and activated users can see links] Đậu đũa là loại rau ăn quả giàu protein. [Only registered and activated users can see links] Đậu Fabaceae Gồm những loài cây thân gỗ, bụi, cỏ, đứng thẳng hay leo trườn. Lá đơn hoặc kép lông chim. [Only registered and activated users can see links] Đậu Hà Lan (danh pháp khoa học: Pisum) là một chi trong họ Đậu (Fabaceae), có nguồn gốc ở vùng tây nam châu Á và đông bắc châu Phi. Chi này chứa từ một tới năm loài, phụ thuộc vào các diễn giải trong phân loại học. [Only registered and activated users can see links] Đầu nhụy là phần đầu của nhụy hoa Đề (Ficus religiosa) là một loài cây thuộc chi đa đề (Ficus) có nguồn gốc ở Ấn Độ, tây nam Trung Quốc và Đông Dương về phía đông tới Việt Nam. Nó là một loài cây rụng lá về mùa khô hoặc thường xanh bán mùa, cao tới 30 m và đường kính thân tới 3 m. Đế (danh pháp khoa học: Saccharum spontaneum) là loài cây thuộc họ Poaceae. Cây này là loài bản địa khu vực Nam Á. Cây có thân cứng nhỏ, lá dày cứng cắt rất đau, giống như cây mía nhưng nhỏ hơn nhiều [Only registered and activated users can see links] Độc hoạt Cây thảo sống lâu năm, sống hoang tự nhiên ở sơn dã, cao 3m - 5m; thân, lá phủ kín lông nhung, lá mọc cách, phân khía nhiều lần, làm thành lá kép dạng lông chim lớn, cuống lá dài, vùng gốc thoáng thành dạng bẹ ôm trên thân cây, hoa nhỏ 4 cánh màu trắng lục nhạt, sắp xếp thành hình tán kép, sau khi hoa tàn kết thành quả dẹt ngang hình chùy tròn màu hơi tím đỏ. [Only registered and activated users can see links] Đỗ trọng (danh pháp khoa học: Eucommia ulmoides) là một loài cây gỗ nhỏ, có nguồn gốc ở Trung Quốc. Nó đã tuyệt chủng trong tự nhiên, nhưng được trồng khá rộng rãi với tên gọi dân gian là cây ngô đồng tại Trung Quốc để lấy vỏ có giá trị cao trong y học cổ truyền Đậu tương( đỗ tương, đậu nành) tên khoa học Glycine max, là loại cây họ Đậu (Fabaceae) giàu hàm lượng chất đạm protein, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc. Đậu xanh là cây đậu có danh pháp khoa học Vigna radiata có kích thước hạt nhỏ (đường kính khoảng 2–2,5 mm). Điệp vàng cây cao ,nhiều tán lá,lá và hoa giống cây phượng nhưng hoa màu vàng,có nhị dài và đầu nhị có nhiều phấn. Điều nhuộm Bixacae Cây gỗ nhỏ. Lá đơn nguyên, mọc cách, có lá kèm. Rất đặc trưng bởi cây có dịch mầu đỏ Đinh Bignoniaceae Rất gần với Scrophulaliaceae (đặc biệt trong cấu tạo hoa), nhưng ở đây chủ yếu là cây thân gỗ, (đứng hay leo) Đinh lăng hay cây gỏi cá, nam dương sâm danh pháp khoa học: Polyscias fruticosa, đồng nghĩa: Panax fruticosum, Panax fruticosus, là một loài cây nhỏ thuộc chi Đinh lăng (Polyscias) của họ Cam tùng (Araliaceae). Cây được trồng làm cảnh hay làm thuốc trong y học cổ truyền. [Only registered and activated users can see links] Đinh hương (danh pháp khoa học: Syzygium aromaticum, từ đồng nghĩa: Eugenia aromaticum, Eugenia caryophyllata) là một loài thực vật trong họ Đào kim nương (Myrtaceae) có các chồi hoa khi phơi khô có mùi thơm. Nó có tên gọi là đinh hương có lẽ là do hình dáng của chồi hoa trông khá giống với những cái đinh nhỏ. [Only registered and activated users can see links] Địa cốt bì (Cortex lycci Sinensis.) là vỏ rễ của cây Câu kỷ (Lycium sinense Mill) thuộc họ Solanaceae. [Only registered and activated users can see links] Địa du ( Carnea Rege ) là 1 loài cây thuộc họ Rosaceae. Sinh ở trong bụi cây nơi sườn núi chỗ ẩm thấp. Cây thảo, đa niên mọc hoang ở rừng núi, cao chừng 0,5-1m. Lá có cuống dài, búp lông chim, có từ 3-14 đôi lá chét hình trứng tròn, hoặc hình bầu dục dài, đầu tù. Địa Y (Lichenes), quần hợp thực vật cộng sinh giữa tảo lục (hoặc tảo lam) và nấm. Đặc điểm sinh trưởng chậm nhưng có khả năng thích ứng với những môi trường không thuận lợi. Đông hầu TurneraceaeGồm những loài rất gần với Passifloraceae, nhưng ở đây là cỏ đứng thẳng, có ống hoa hình chén (hypanthium, giống một số loài của họ Rosaceae) Đỗ quyên Ericaceae Cây gỗ hoặc bụi (có khi sống phụ sinh hoặc hoại sinh). Lá đơn, mọc cách. Gần với Clethraceae (nhị thường gấp đôi số cánh và xếp thành 2 vòng, bao phấn 2 ô mở bằng lỗ ở đỉnh Đỗ trọng Eucommiaceae Gồm những loài cây gỗ. Lá đơn, mọc cách, không có lá kèm. Rất đặc trưng bởi vỏ có chứa chất cao su. Đơn bì (Cortex Moutan) là 1 loại cây thuộc họ mao lương. Cây thân gỗ sống lâu năm. Có thể cao 1-2m, rễ phát triển thành củ. Lá mọc cách, thường chia thành 3 lá chét [Only registered and activated users can see links] Đơn kim còn có tên là đơn buốt, cúc áo, quỷ châm thảo, thích châm thảo, tiểu quỷ châm, cương hoa thảo... Đây là cây thảo mọc hoang, có nhiều hoa nhỏ màu trắng, quả có gai nhỏ. [Only registered and activated users can see links] Đơn nem Myrsinaceae Gỗ nhỏ hoặc bụi. Lá mọc cách, thường có điểm sáng mờ, không có lá kèm. Hoa thường lưỡng tính (đôi khi hoa đơn tính khác gốc). Đước tên khoa học là : Rhizophora apiculata Blume, vùng trồng: Tây Nam Bộ Dùng lấy gỗ làm nhà; đóng đồ mộc...v.v... ; trồng rừng phòng hộ chống bão lũ, ngoài ra , nhựa của cây này còn dùng trong chế biến sơn, vecni và mực in Đương quy Theo Đông y, đương quy có vị ngọt cay, tính ôn, vào 3 kinh: tâm, can, tỳ có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Nó là thuốc đầu vị trong các chữa bệnh của phụ nữ, đồng thời dùng nhiều trong các đơn thuốc bổ và thuốc chữa các bệnh khác. Đu đủ (danh pháp khoa học: Carica papaya) là một cây thuộc Họ Đu đủ. Đây là cây thân thảo to, không hoặc ít khi có nhánh, cao từ 3-10 m. Lá to hình chân vịt, cuống dài, đường kính 50-70 cm, có khoảng 7 khía. Hoa trắng hay xanh, đài nhỏ, vành to năm cánh. Quả đu đủ to tròn, dài, khi chín mềm, hạt vàng cam, có nhiều hạt. [Only registered and activated users can see links]ây%20đu%20đủ.jpg Đuôi ngựa Là một loại cây thân gỗ cao tới 20 m, nhìn bề ngoài rất giống với cây cơi (Pterocarya tonkinensis), với các lá phức hình lông chim, mọc so le, dài 15-40 cm với 9-11 lá chét, mỗi lá chét dài 6-9 cm, mép lá có răng cưa. Hoa là loại hoa đuôi sóc phức, dài 15-30 cm. Đuôi chồn Các loài trong họ này là thực vật sống lâu năm, đôi khi là thực vật một năm, và chủ yếu là rậm lá, mặc dù có một vài loài là cây thân gỗ. Một số loài là thực vật sống trên đất liền còn chủ yếu là thực vật thủy sinh nước ngọt. [Only registered and activated users can see links] trihoa2112_yds 21-01-2011, 21:06 VALIN : axit amin có công thức cấu tạo C5H11NO2 cần thiết cho quá trình phát triển bình thường của động vật, được tổng hợp sinh học từ axit piruvic VAN BA LÁ: van gồm ba nắp bán nguyệt nằm giữa tâm thất và tâm nhĩ phải của tim ở động vật có vú, không cho máu trở về tâm nhĩ khi tâm thất co. VAN HAI LÁ: van dây chằng gồm hai lá nhỏ ngăn cách giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái của tim ở động vật có vú và chim. Khi tâm thất bóp, van đóng lại và nhờ đó máu không trở lại được tâm nhĩ. VARION: ( hay còn gọi là virion ) pha trơ, tồn tại ngoài tế bào của virut, gồm vỏ protein bao quanh một hay nhiều sợi ADN hoặc ARN. Có thể đa diện hoặc xoắn và có kích thước thay đổi. VASOPRESIN: (A. vasopressin), hocmon peptit do vùng dưới đồi thị và thuỳ sau tuyến yên tiết ra. Kích thích co các cơ bao quanh mao mạch và động mạch tạo nên áp suất máu, tăng nhu động tử cung, kích thích hấp thụ lại nước trong các ống thận, dẫn đến làm tăng nồng độ ure trong nước tiểu. VẢY BẮC: cấu trúc thường có nhiều trong nón cái của thực vật hạt trần mà mỗi cái có mang một vảy noãn ở nách. VẬT CHỦ: 1. Cá thể sinh vật tiếp nhận mô ghép. 2. Những sinh vật mà trên đó một sinh vật khác (giun, sán...) sống kí sinh và phát triển, sử dụng làm nguồn dinh dưỡng. VẬT LIỆU DI TRUYỀN: chất mang thông tin quyết định các tính chất của cơ thể sinh vật. Ở hầu hết các sinh vật, vật liệu di truyền là ADN, số còn lại là ARN. VẬT TRUYỀN: 1. Phân tử ADN (plasmit, phagơ, virut), dùng để chuyển một gen hay một đoạn ADN vào một tế bào. 2. Sinh vật trung gian truyền bệnh VẾT TAN: 1. Một đốm hoặc một vùng phẳng bất bình thường trên bề mặt của mô bên trong hay bên ngoài cơ thể. 2. Vùng tạo mỡ trên thành mạch máu. 3. Vùng sáng trên tập đoàn virut được nuôi cấy trên bản kính, hình thành do tế bào chủ bị phân giải. VI KHUẨN: là những cơ thể đơn bào nhỏ nhất, trung bình từ 1 đến 5 micrômet (mm) (1mm=10-3mm). Vi khuẩn rất đa dạng: hình que (trực khuẩn), hình cầu (cầu khuẩn), hình xoắn (xoắn khuẩn). VI KHUẨN LAM: Thuộc nhóm có nhân nguyên thuỷ, có khả năng quang hợp nhờ có các sắc tố, là nhóm nguyên thuỷ nhất của thực vật có diệp lục. VIRUT: Virut có kích thước rất nhỏ, vài chục đến vài trăm nanômet. Phải quan sát dưới kính hiển vi điện tử với độ phóng đại từ 10 vạn đến 1 triệu lần mới thấy được. Virut có dạng hình que hay hình cầu. Virut chưa có cấu tạo tế bào, sống kí sinh trong tế bào vật chủ, phá vỡ tế bào để xâm nhập vào tế bào mới, gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho thực vật, động vật và con người. Virut rất đơn giản, gồm một lõi là axit nuclêic (ADN hoặc ARN) và một vỏ bọc là prôtêin gọi là capsit gồm nhiều capsome. VI SINH VẬT: là những sinh vật đơn bào có kích thước nhỏ, không quan sát được bằng mắt thường mà phải sử dụng kính hiển vi. Thuật ngữ vi sinh vật không tương đương với bất kỳ đơn vị phân loại nào trong phân loại khoa học. Nó bao gồm cả virus, vi khuẩn, archaea, vi nấm, vi tảo, động vật nguyên sinh... VÉCTƠ TÁCH DÒNG: (vector cloning) là một phân tử DNA có kích thước nhỏ cho phép cài gắn một đoạn DNA ngoại lai vào nhằm mục đích nhân đoạn DNA ngoại lai lên với số lượng lớn. VI NHUNG: những chồi rất mảnh của màng sinh chất, đặc biệt thấy ở các tế bào tiết hoặc các tế bào hấp thụ. Vô số các VN xếp sít nhau trên bề mặt tự do của tế bào biểu mô, tạo nên riềm hút hoặc riềm nhung. Các VN làm tăng bề mặt trao đổi các phân tử giữa môi trường bên ngoài và tế bào. Thường có VN ở biểu mô ruột và các ống thận, có thể thấy ở các tế bào khác là những cấu trúc không cố định. VI ỐNG: ống mảnh hình trụ, không phân nhánh, có độ dài thay đổi, gặp riêng lẻ hoặc thành nhóm ở các tế bào nhân chuẩn. Là bộ khung giúp tế bào giữ được hình dạng, tạo nên một phần cấu trúc của trung tử, thể gốc, lông rung, roi và tạo nên thoi vô sắc trong quá trình phân chia tế bào, giúp cho sự chuyển động của các nhiễm sắc thể VI PHẪU THUẬT: phương pháp phẫu thuật qua kính hiển vi phẫu thuật (hệ thống kính quang học khuếch đại trường mổ từ 5 đến 40 lần) với những dụng cụ tinh vi (máy đốt cầm máu dạng hai cực và kim, chỉ khâu không chấn thương cực mảnh). VI SỢI: sợi nhỏ, rộng khoảng 6 m, có trong tế bào nhân chuẩn, có vai trò trong chuyển động và tạo hình tế bào. VIÊM: phản ứng bảo vệ của cơ thể động vật, chủ yếu cục bộ đối với một tác nhân gây bệnh (tác nhân có tính hoá học, vật lí, vi khuẩn, virut, kí sinh trùng, kháng nguyên...). VIÊM HẠCH LYMPHO TRUYỀN NHIỄM: bệnh do nấm Histoplasma farciminoscum gây ra ở các loài ngựa, lừa, la. Đặc điểm: xuất phát từ một vết thương, với những apxe có mủ như kem, những mụn loét sâu có bờ sùi ra ngoài và viêm hạch lympho tương ứng. Chữa rất lâu khỏi, có khi lan toàn thân, phải giết và loại ngựa ốm. VIROIT: (A. viroid), đoạn ARN trần nằm bên trong tế bào có thể gây nhiễm cho tế bào như một virut nguyên vẹn. Một số bệnh do Viroit gây ra có triệu chứng tương tự như: bệnh lùn cây cúc, bệnh Exocortis cam, chanh và bệnh xơ quắt củ khoai tây. Phát hiện sự có mặt axit nucleic của V trong tế bào rất khó vì chúng quá nhỏ. VIRUT ĐỐM THUỐC LÁ: virut gây bệnh đốm thuốc lá, được nghiên cứu rất kĩ về mặt di truyền, đang được dùng làm vật truyền để chuyển gen vào tế bào thực vật. VĐTL chỉ chứa ARN, có cấu trúc dạng xoắn tạo thành khối hình que, kích thước 18 x 300 nm. VIRUT: vi sinh vật cực nhỏ, chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi điện tử, có cấu trúc mang một trong hai axit nucleic (ADN hoặc ARN), có vỏ protein bao bọc hoặc mang một nang lipit bên ngoài; do đó không có khả năng tự tổng hợp các chất cần thiết cho quá trình nhân lên, Virut lan truyền gây bệnh cho cây bằng các con đường: a) Tiếp xúc trực tiếp giữa cây bệnh và cây khoẻ, thông qua các vết thương trên cây và theo dịch cây lan từ cây bệnh sang cây khoẻ; b) Nhờ côn trùng; c) Qua hạt giống; d) Qua mắt ghép, hom giống; đ) qua đất và các vi sinh vật sống trong đất; e) Nhờ các kí chủ khác (cỏ dại, cây tơ hồng, vv.). Ở người, V gây nhiều bệnh (cúm, sởi, viêm gan virut, AIDS hay hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, bại liệt...). Hiện nay, biện pháp để dự phòng các bệnh do V là phát triển các loại vacxin hữu hiệu. VỎ NÃO: lớp vỏ của hai bán cầu não chứa hàng tỉ thân tế bào thần kinh và gọi là chất xám. Điều khiển các cảm giác (nhìn, nghe, nghĩ, xúc giác), kích thích co bóp các cơ vân, điều khiển các hoạt động thần kinh cao cấp như tiếng nói và trí nhớ. VỎ HẠT: lớp bảo vệ khô cứng, hình thành từ lớp màng của noãn. VỎ SƠ CẤP: lớp tế bào nằm sát biểu bì. Vỏ sơ cấp gồm mô mềm và mô dày. Mô mềm nằm phía trong mô dày là tế bào hình tròn cách nhau bởi gian bào. Tế bào mô mềm thường chứa diệp lục, do đó thân non có màu xanh lục, ngoài ra còn có tanin. VỎ THỨ CẤP: gồm phức hợp các mô xếp ở thân và rễ thực vật (đặc biệt là các loại cây gỗ) thay thế cho lớp biểu bì trong quá trình phát triển. VỎ TRỤ: lớp tế bào mô mềm xếp sát với nội bì tạo nên phần ngoài cùng của trụ. VÒI FALÔP: hay còn gọi là ống dẫn trứng, là ống nối từ buồng trướng đến tử cung và là nơi thụ tinh của trứng với tinh trùng. VÒI NHUỴ: phần hình cuống của lá noãn nối bầu và núm nhuỵ lại với nhau. VÒNG BAO BÓ MẠCH: vòng mô mềm hoặc cứng, thường là một lớp tế bào bao quanh bó mạch trong lá thực vật hạt kín. Chúng xếp sát nhau và dường như không có gian màng.. VÒNG HẰNG NĂM: hay còn gọi là vòng sinh trưởng. Chúng phân biệt với nhau thành từng khoang, tương ứng cho từng thời kì phát triển và ngừng phát triển của từng năm. Tạo ra ranh giới giữa các năm với nhau. VÒNG PHẢN XẠ: gồm 4 khâu: khởi đầu, khâu trung ương, khâu trả lời (vận động) và khâu thông tin phản hồi. Như thế, phản xạ là một vòng tròn khép kín hay một vòng xoáy trôn ốc được mở rộng do thông tin phản hồi. Thông tin này có thể đòi hỏi phải có sự chính xác hoá của các cử động trả lời. Thiếu các tín hiệu của các thông tin phản hồi thì cơ thể sẽ không thể có phản ứng chính xác với bất cứ một kích thích bên ngoài hoặc bên trong tích cực nào. VÒNG TINH BỘT: lớp tế bào nằm trong cùng của vỏ thay cho nội bì ở một số thân cây, đặc biệt là thân cây non của thực vật hai lá mầm dạng cỏ. VÔ BÀO TỬ: hiện tượng phát triển thể giao tử trực tiếp từ tế bào của thể bào tử, bỏ qua giảm phân và quá trình tạo bào tử. VÔ GIAO: hiện tượng phát triển của thể bào tử trực tiếp từ tế bào của thể giao tử ở dương xỉ, mà sự kết hợp của các giao tử bị bỏ qua. VÔ SẮC LẠP: một thể không màu, không chứa chất diệp lục hoặc các sắc tố khác VỐN GEN: tổng số các trạng thái khác nhau của các gen tồn tại trong một quần thể giống hoặc trong loài ở một thời điểm, địa điểm xác định và được thể hiện bằng sự đa dạng sinh học. VÙNG DƯỚI ĐỒI: phần não trung gian ở động vật có xương sống. Có chức năng điều chỉnh trạng thái sinh lí, nhiệt độ cơ thể,thành phần hoá học của máu, ăn uống, bài tiết nước, các chức năng trao đổi chất khác, ảnh hưởng đến việc tiết hocmon của tuyến yên. Qua phần não, vùng dưới đồi liên hệ với các trung tâm trong vỏ não và hành tuỷ, điều khiển nhịp tim, nhịp thở, huyết áp, sự ngủ. anhvodoi94 23-01-2011, 15:16 VẠC (Nycticorax nycticorax), loài chim kích thước cơ thể trung bình, dài 61 cm, chân tương đối ngắn. Chim trưởng thành có lông màu đen, trắng và xám dễ nhận. Trong mùa sinh sản có hai hoặc ba chùm lông dài màu trắng kéo dài từ gáy. Chim non và chim một năm tuổi lông có nhiều vết đốm nâu sẫm rõ, phần trên cơ thể màu nâu xám sẫm và phần dưới cơ thể có viền sọc, những vết đốm mất dần đi và trở nên xám hơn vào năm thứ ba. Sống định cư ở vùng đầm lầy, rừng tràm và rừng ngập mặn. [Only registered and activated users can see links] VẠC HOA (Gorsachius magnificus), loài chim cỡ trung bình, dài 53 cm. Chim trưởng thành có dải trắng sau mắt đi qua tai, cằm, họng; đầu có màu hơi đen, hai bên cổ màu nâu hung đỏ, họng hơi trắng; phần trên cơ thể màu nâu tối; phần dưới cơ thể có vạch màu nâu và màu trắng; mào lông dài, rậm màu đen. Chim non có đầu màu nâu tối; đầu, cổ và lưng trên điểm trắng; mào lông ở gáy rất ngắn. Sống định cư ở vùng rừng rậm có đầm lầy, thảm thực vật ở đây có thể là cây lá rộng thường xanh hoặc tre và lau sậy. [Only registered and activated users can see links] [Only registered and activated users can see links] VẠC RẠ (Botaurus stellaris), loài vạc to, dài 76 cm, màu nâu vàng, lưng có vằn đen, lông khi đang bay có màu tối và đầu đen. Hoạt động kín đáo. Thông thường bay thấp, tư thế bay bằng và thẳng. Sống di cư, cư trú tại các bãi sậy, đầm lầy. [Only registered and activated users can see links] [Only registered and activated users can see links] VẠC RỪNG (Gorsachius melanolophus), loài chim cỡ nhỏ, dài 48 cm. Chim trưởng thành khi bay bộ lông có màu đen, mút lông cánh sơ cấp màu trắng hoặc nâu sẫm; lông bao cánh sơ cấp màu nâu hạt dẻ, phần còn lại màu đen; đỉnh đầu và gáy đen; họng màu trắng đốm đen. Phần dưới cơ thể và hai bên sườn màu hung nâu có nhiều vệt đen. Mỏ xanh vàng lục. Chân xanh lục. Sống định cư ở khắp các vùng rừng rậm, đầm lầy, đất ngập nước có nhiều sậy, rừng tre nứa. [Only registered and activated users can see links] qz5RkqS5cElJ7imbNbT [Only registered and activated users can see links] 8WyBfb_xev0OOXdWmQb1g VÀNG ANH (Oriolidae): họ chim có kích thước trung bình, màu sắc sặc sỡ, sống trên cây; có giọng hót hay; ăn quả cây và côn trùng. Đại diện: Vàng Anh Trung Quốc (Oriolus chinensis) - loài chim thuộc họ VA, thân chủ yếu màu vàng, dài 27 cm; một dải lông màu đen kéo dài từ mắt vòng quanh gáy; mỏ hồng, chân xám xanh, cánh và trên đuôi đen; bộ lông chim mái màu vàng lục, có nhiều vằn đen mảnh . [Only registered and activated users can see links] [Only registered and activated users can see links] VÀNH KHUYÊN (Zosteropidae), họ gồm các loài chim nhỏ, màu xanh lục tươi, luôn hoạt động, phần lớn sống trên cây và kiếm ăn theo đàn. - Ví dụ : Vành Khuyên Nhật Bản (Zosterops japonicus) có chiều dài 11 cm; vành mắt trắng và mặt lưng có màu xanh lục sáng, họng và dưới đuôi vàng đậm . [Only registered and activated users can see links] - Vành khuyên sườn hung (Zosterops erythropleurus) có chiều dài 12 cm; so với Vành Khuyên Nhật Bản thì mặt lưng có màu xám sẫm hơn và sườn màu hung đậm . [Only registered and activated users can see links] VZup4NQAfO2jPIy_rHyNw lananh_vy_vp 24-01-2011, 22:29 Gạo phần ruột quả của hạt thóc, gồm một khối nội nhũ chứa các hạt tinh bột với cây mầm ở một góc (khi giã, cây mầm rụng ra, nên hạt G bị lẹm đi); ngoài có lớp vỏ quả mỏng màu vàng hay đỏ (khi giã bị vụn thành cám), được hai mảnh vỏ trấu và hai mày (râu) bao bên ngoài hạt thóc. [Only registered and activated users can see links] Gạo(cây) tương tự như các loài cây khác trong chi Bombax, còn có tên gọi khác là mộc miên hay hồng miên. Trong một số hệ thống phân loại cũ, người ta đưa nó vào họ Gạo (Bombacaceae). Là loài cây ở vùng nhiệt đới với thân cây cao và thẳng với lá rụng vào mùa đông. Các hoa đỏ với 5 cánh hoa mọc vào mùa xuân trước khi cây ra lá non. Quả nhỏ chứa các sợi tương tự như sợi bông. Thân cây có các gai để ngăn cản sự tấn công của động vật. [Only registered and activated users can see links] Gấc là loài cây dây leo,có quả nhiều gai nhọn,hình bầu dục,khi chín màu đỏ cam ,ruột chỉ có hạt. [Only registered and activated users can see links] Giáng hương cây hoa này hoa mọc thành chùm, lá dày ( gần giống là lược vàng) , có rễ phụ dài. [Only registered and activated users can see links] Giới bạch ( Allum macrostemon Bge. ) thân to, hoa nhỏ vàng. [Only registered and activated users can see links] Giáp trúc đào( Nerium indicummill) Cây nhỡ, mọc đứng, nhẵn, cao 4-5m. Cành mềm dẻo. Lá mọc vòng 3, hình mác, dai, cứng, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới nhạt hơn, gân đều song song ở hai mặt gân chính. Hoa mọc thành xim ở ngọn, màu hồng hay trắng. Đài 5, ống hình chuông. Tràng nhiều cánh (con số thay đổi), ổ gốc có vảy hình chỉ. Nhị 5, không có đĩa mật. Bầu gồm 2 noãn riêng biệt có lông ở đỉnh, noãn đính theo 8 hàng, mỗi hàng 10 noãn. Quả đại 2, dài 15-20cm. [Only registered and activated users can see links] Giấp cá còn có tên là cây diếp cá, dấp cá. Tên khoa học là Houttuynia cordata. Họ lá giấp Saururaceae. Tên tiếng Anh của nó là heartleaf (lá hình tim) hay lizardtail (đuôi thằn lằn). Giấp cá có nguồn gốc ở Nhật Bản, miền nam Trung Quốc và Đông Nam Á, là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc. Toàn cây vò có mùi tanh như mùi cá. [Only registered and activated users can see links]**********/uploads/thumbnails/blog/7386/entrythumb/1899288.jpg Gòn(bông) là một loài cây nhiệt đới thuộc bộ Cẩm quỳ (Malvales) và họ Cẩm quỳ (Malvaceae) nghĩa rộng, trước đây được tách ra trong họ riêng gọi là họ Gạo (Bombacaceae), có nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Caribe, miền bắc Nam Mỹ và khu vực nhiệt đới miền tây châu Phi (phân loài Ceiba pentandra guineensis). [Only registered and activated users can see links] Gỗ là một dạng tồn tại vật chất có cấu tạo chủ yếu từ các thành phần cơ bản như: xenluloza (40-50%), hemixenluloza (15-25%), lignin (15-30%) và một số chất khác. Nó được khai thác chủ yếu từ các loài cây thân gỗ. [Only registered and activated users can see links] Gừng (Zingiberaceae), họ cây thảo, sống lâu năm, có thân rễ lớn chứa nhiều chất dự trữ. Lá có bẹ dài, ôm lấy nhau thành thân giả. Hoa có màu; phần dưới của tràng dính lại thành ống, phần trên chia thành ba thùy. Bộ nhị chỉ còn lại một nhị sinh sản. Bầu dưới, 3 ô, chứa nhiều noãn đảo. Quả mang, ít khi quả mọng. Có khoảng 45 chi, hơn 1 300 loài. Phân bố ở nhiệt đới và cận nhiệt đới. [Only registered and activated users can see links] lananh_vy_vp 25-01-2011, 17:20 Hạt noãn phát triển sau khi thụ tinh. Gồm: vỏ, phôi và những mô dự trữ chuyên hoá (nội nhũ hay ngoại nhũ). Vỏ phát triển từ vỏ noãn; phôi phát triển từ hợp tử (bộ phận quan trọng nhất của H); nội nhũ từ nhân thứ cấp được thụ tinh của túi phôi; ngoại nhũ từ phôi tâm. H được chia thành bốn kiểu: H chỉ có vỏ và phôi (như H của họ Đậu, Bầu bí, Cúc, Cải, vv.), đặc trưng là phôi to, phân hoá tốt, lá đầu tiên của phôi là lá mầm, phát triển thành cơ quan dự trữ; H có vỏ, phôi, nội nhũ (như H cây một lá mầm, họ Hoa hồng, họ Cà), nội nhũ phát triển, phôi tâm phân hoá hoàn toàn; H có vỏ, phôi, ngoại nhũ (như họ Rau muối, Cẩm chướng, vv.), phôi phát triển khác nhau và chiếm vị trí khác nhau đối với nội nhũ; H có cả nội nhũ và ngoại nhũ là các mô dự trữ (như H họ Súng, Chuối, Hồ tiêu), nội nhũ phát triển yếu chỉ có vai trò hút. [Only registered and activated users can see links]á+trị+dinh+dưỡng+của+một+số+loại+ ậu+hạt.jpg Hà thủ ô đỏ (danh pháp khoa học: Fallopia multiflora, đồng nghĩa: Polygonum multiflorum) là một loài hà thủ ô cây thân mềm, thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), bộ Cẩm chướng (Caryophyllales). Loài cây được sử dụng làm thuốc. Hà thủ ô đỏ chủ yếu được biết đến như là một vị thuốc bổ, trị suy nhược thần kinh, ích huyết, khỏe gân cốt, đen râu tóc. [Only registered and activated users can see links] Hẹ có tên gọi khác là cửu thái, cửu thái tử, khởi dương thảo và nhiều tên khác. Danh pháp khoa học là Allium ramosum (dạng hoang dã) hay Allium tuberosum (dạng gieo trồng) (đồng nghĩa: Allium odorum, Allium chinense?), thuộc họ Hành (Alliaceae). Các văn bản gần đây chỉ liệt kê nó dưới tên gọi Allium ramosum. Một số nhà thực vật học còn đặt cả các giống hoang dã và giống gieo trồng vào A. ramosum do có nhiều dạng trung gian tồn tại. Mùi vị của nó là trung gian giữa tỏi và hành tăm. [Only registered and activated users can see links] Hẹ tây là từ chung được sử dụng để chỉ tới hai loài khác nhau trong chi Allium. Hẹ xám Pháp (griselle), được nhiều người coi là "hẹ tây thật", có danh pháp khoa học Allium oschaninii, là loài mọc hoang dã từ Trung Á tới Tây Nam Á. Một biến thái khác của hẹ tây là phân loài Allium cepa aggregatum. [Only registered and activated users can see links] Hoa là bộ phận chứa cơ quan sinh sản, đặc trưng của thực vật có hoa. Về mặt cấu trúc thực vật học, hoa là một dạng cành đặc biệt. Cấu tạo đầy đủ lý tưởng của hoa bao gồm: cuống hoa, lá bắc, bao hoa, tràng hoa (cánh hoa), bầu hoa, nhị hoa, nhụy hoa. [Only registered and activated users can see links]**********/uploads/resources/blog/3317/hoa_phuong.jpg Hoàng liên (danh pháp khoa học Coptis) là một chi của khoảng 10–15 loài thực vật có hoa trong họ Mao lương (Ranunculaceae), có nguồn gốc ở châu Á và Bắc Mỹ. [Only registered and activated users can see links] Hòe (Sophora japonica), cây gỗ lớn, họ Đậu (Fabaceae). Cao 5 - 10 m, đường kính thân 15 - 30 cm, thân hơi vặn khúc, gốc xù xì, có tính chất trang trí. Lá kép lông chim lẻ. Hoa cánh bướm màu vàng hoặc trắng sữa. Quả giáp dài 25 - 50 mm, rộng 20 - 30 mm, dày 5 - 10 mm, có 1 - 6 hạt, dài 7 - 9 mm, giữa các hạt quả hơi thắt lại. H ưa đất phù sa ven sông, đất cát, đất đồi thấp. Cây H mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam. Có thể gây trồng bằng hạt, chiết, giâm cành. Cây sống được khoảng 40 năm. [Only registered and activated users can see links] Hoa hồng Rosidae), phân lớp thực vật hạt kín, gồm cây thân gỗ, thân thảo, dây leo và nhiều dạng lá rất khác nhau. Hoa mẫu 5, đính noãn trung trụ, tiến hoá theo hướng thích nghi thụ phấn nhờ côn trùng. Gồm rất nhiều bộ và đại diện có tầm quan trọng thực tế lớn như Hoa hồng (Rosales), Đậu (Fabales), Cam (Rutales), Nhân sâm (Araliales). [Only registered and activated users can see links] Hồ tiêu còn gọi là cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt (danh pháp hoa học: Piper nigrum) là một loài cây leo có hoa thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), trồng chủ yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia vị dưới dạng khô hoặc tươi. Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá trầu không, nhưng dài và thuôn hơn. Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá. Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu mầu xanh lục, sau có mầu vàng, khi chín có mầu đỏ. Từ quả này có thể thu hoạch được hồ tiêu trắng, hồ tiêu đỏ, hồ tiêu xanh và hồ tiêu đen. Đốt cây rất dòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết. Quả có một hạt duy nhất. [Only registered and activated users can see links] Huyết dụ (danh pháp khoa học: Cordyline) là một chi của khoảng 15 loài thực vật một lá mầm thân gỗ, được phân loại trong họ Asparagaceae (họ Măng tây) hoặc trong họ được tách ra theo tùy chọn là họ Laxmanniaceae theo như phân loại của hệ thống APG, nhưng được các tác giả khác đặt trong họ Agavaceae hay họ Lomandraceae. Chi này có nguồn gốc ở khu vực miền tây Thái Bình Dương, từ New Zealand, miền đông Australia, đông nam châu Á, Polynesia và Hawaii. [Only registered and activated users can see links] Hướng dương (danh pháp khoa học: Helianthus annuus) là một loài thực vật chỉ sống một năm thuộc họ Asteraceae với bông hoa lớn (inflorescence). Thân cây hướng dương có thể cao tới 3 mét, với đường kính bông hoa là 100cm. Hoa hướng dương là loài hoa biểu tượng của Kansas và là một trong các loài hoa biểu tượng của thành phố Kitakyushu, Nhật. [Only registered and activated users can see links] Hương nhu tía hay còn có tên é tía, é rừng, é đỏ, tên khoa học Ocimum tenuiflorum (đồng nghĩa Ocimum sanctum) là một loài thực vật thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) Cây nhỏ, sống hằng năm hoặc nhiều năm. Thân màu đỏ tía, có lông quặp. Lá có cuống dài, thuôn hình mác hoặc hình trứng, mép có răng cưa, hai mặt đều có lông. Hoa màu tím, mọc thành chùm, xếp thành vòng 6-8 chiếc một chùm, ít phân nhánh. Quả bế. Toàn cây có mùi thơm. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 25-01-2011, 19:25 Kim ngân (danh pháp khoa học: Lonicera, đồng nghĩa: Caprifolium Mill.) là chi thực vật gồm một số loài cây bụi hoặc dây leo trong họ Kim ngân (Caprifoliaceae) thực vật bản địa của Bắc bán cầu. Có khoảng 180 loài kim ngân, ở Trung Quốc có độ da dạng cao nhất với hơn 100 loài, châu Âu và Bắc Mỹ mỗi nơi có khoảng 20 loài. Các loài phổ biến gồm có Lonicera periclymenum[1] (kim ngân châu Âu), Lonicera japonica (kim ngân trắng phổ biến ở Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam) và Lonicera sempervirens. Kim ngân rất thu hút chim ruồi. [Only registered and activated users can see links] Kim tiền thảo (Danh pháp khoa học là Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.), thuộc họ Ðậu - Fabaceae, ở Việt Nam còn được gọi là cây Vẩy rồng, cây mắt trâu. Cây nhỏ cao 40-80cm, mọc bò. Thân rạp xuống, đâm rễ ở gốc rồi mọc đứng. Cành non hình trụ, khía vằn và có lông nhung màu gỉ sắt. Lá mọc so le gồm một hoặc ba lá chét, dài 2,5-4,5cm, rộng 2-4cm, lá chét giữa hình mắt chim, các lá chét bên hình bầu dục, mắt chim; mặt trên lá màu lục lờ và nhẵn, mặt dưới có lông trắng bạc và mềm. Cụm hoa chùm hay chùy ở nách hay ở ngọn, có lông mềm màu hung hung, thường có lá ở gốc các hoa. Hoa màu hồng, xếp 2-3 cái một. Quả thõng, hơi cong hình cung, có ba đốt. Ra hoa tháng 6-9, kết quả tháng 9-10 Khế là một loài cây thuộc họ Oxalidaceae, có nguồn gốc từ Sri Lanka và được biết đến rộng rãi tại Đông Nam Á. Cây khế cũng được trồng tại Ghana, Brasil và Guyana. Tại Hoa Kỳ nó được trồng với quy mô thương mại tại miền nam Florida và Hawaii. Cây khế có lá kép dài đến 50 cm. Hoa khế màu hồng, xuất hiện hoặc tại nách lá, hoặc tại đầu cành. Cây khế có nhiều cành, cao đến khoảng 5 m. Khác với nhiều cây nhiệt đới khác, cây khế không cần nhiều nắng. Quả khế thuộc dạng quả táo (dạng quả nạc, có nhiều hạt), màu vàng hoặc xanh, có 5 múi (cho nên lát cắt ngang của quả có hình ngôi sao). Quả khế giòn, có vị chua ngọt, hao hao giống vị của quả dứa. Các hạt nhỏ, màu nâu. Có hai giống là khế chua và khế ngọt. Khế chua thường có múi nhỏ, còn khế ngọt thường có múi to và mọng hơn. Quả khi còn non có màu xanh, khi chín ngả sang màu vàng. [Only registered and activated users can see links] Keo dậu hay keo giậu (danh pháp khoa học: Leucaena leucocephala), còn có tên khác là táo nhơn, bọ chét, bình linh, keo giun, là một loài cây gỗ nhỏ, loài cây này tại Việt Nam thường được trồng làm hàng rào nên người ta thường gọi là keo dậu. Nó thuộc về chi Keo dậu trong họ Đậu và sinh trưởng ở vùng nhiệt đới. Tán rộng, vỏ cây màu xám. Lá thuộc dạng lá kép lông chim 2 lần chẵn, trên cuống lá cấp 1 có các tuyến hình chậu (một đặc điểm điển hình thuộc phân họ trinh nữ). Hoa tự đầu trạng, tràng hoa màu trắng. Quả tạo thành chùm. Hạt khi xanh có thể ăn được và thường dùng làm thuốc trục giun, khi quả chín, hạt chuyển màu nâu đen. [Only registered and activated users can see links] Keo lá tràm có danh pháp khoa học là Acacia auriculiformis là một loài cây thuộc chi Acacia. Loài này trong tiếng Việt còn có tên gọi khác là keo lưỡi liềm, tên này được sử dụng nhiều khi loài này mới nhập nội vào Việt Nam (thập kỷ 1960-1970), sau này người ta sử dụng rộng rãi tên gọi keo lá tràm. Keo lá tràm được phân bố tự nhiên ở vùng Indonesia và Papua New Guinea. Hiện tại được trồng rộng rãi tại nhiều quốc gia ở vùng nhiệt đới. [Only registered and activated users can see links] Cây kim vàng (Barlerialupulina lindl) hay còn gọi là gai kim vàng, gai kim bóng, thuộc họ Ô rô [Only registered and activated users can see links] Keo tai tượng (danh pháp khoa học: Acacia mangium), còn có tên khác là keo lá to, keo đại, keo mỡ là một cây thuộc phân họ Trinh nữ (Mimosoideae). Địa bàn sinh sống của chúng ở Úc và châu Á. Người ta sử dụng keo tai tượng để quản lý môi trường và lấy gỗ.[1] Cây keo tai tượng có thể cao 30 m với thân thẳng[2]. [Only registered and activated users can see links] KÉ ĐẦU NGỰA: (Xanthium sirumarium; tk. thương nhĩ), cây thảo, họ Cúc (Asteraceae). Thân nhỏ. Lá mọc so le. Hoa tự hình đầu. Quả giả hình thoi, có móc. Mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam. Trong quả có glucozit làm hạ glucozơ huyết, xanthatin và xanthium kháng khuẩn. Dùng cành lá hoặc quả phơi khô chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, tràng nhạc, chảy nước mũi hôi. Dùng dưới dạng thuốc sắc. [Only registered and activated users can see links] KHOAI LANG: (Convolvulaceae; cg. Bìm bìm), họ cây thảo sống một hoặc nhiều năm, đôi khi cây bụi, một số thân leo, các bộ phận của cây có nhựa mủ trắng, rất hiếm gặp cây gỗ nhỏ. Lá mọc cách, nguyên, chia thuỳ hay xẻ lông chim. Hoa lớn mọc ở tận cùng hay nách lá. Hoa lưỡng tính, đều, mẫu 5, có lá bắc. Đài rời, xếp thành van. Tràng dính, hình phễu. Nhị 5 dính vào gốc tràng, xếp xen kẽ với cánh hoa. Đĩa mật phát triển. Quả nang chia thuỳ, ít khi quả nạc. Hạt có phôi lớn. Gồm 50 chi, 1.500 loài. Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Việt Nam có chi KL (Ipomoea) có tới 35 loài, đáng chú ý là rau muống, rau muống biển, bìm bìm biếc, cây KL (Ipomoea batatas; tk. lang, dây lang), cây hoa màu lương thực. Thân và cành mọc bò, lá hình tim, có mũi nhọn. Rễ củ màu đỏ, trắng, ruột củ màu trắng, tím, vàng, màu nghệ (khoai nghệ). Hoa hình ống rỗng, màu hồng tím. Được trồng nhiều nơi để lấy củ ăn; ngọn non có thể làm rau xanh, có tính nhuận tràng, thân và lá làm thức ăn nuôi lợn. KL là cây lục bội thể. Nguồn gốc ở Châu Mĩ nhiệt đới, hiện nay được trồng khắp các vùng nhiệt đới và một số vùng cận nhiệt đới, ôn đới. Ở các nước nhiệt đới, KL dễ ra hoa, hạt, nhưng thường trồng bằng đoạn dây, hoặc bằng mầm củ. Có 3 nhóm giống: 1) Nhóm củ thịt mềm, ăn ngon, như khoai lim Bắc Ninh, khoai điệp Quảng Nam, khoai mật Đà Lạt, khoai trắng giấy Nam Bộ, KL bí (ruột vàng). 2) Nhóm củ thịt khô, dễ thái lát, làm bột như KL phụng Nam Bộ, chủng Tainung 55 - 57 Đài Loan. 3) Nhóm củ thịt xơ, năng suất cao nhưng chất lượng kém, thường dùng cho chăn nuôi như KL Hồng Quảng, Bất Luận Xuân. Sản lượng KL hằng năm trên thế giới khoảng 133 triệu tấn, năng suất cao nhất ở Nhật Bản 22 tấn/ha. Thường năng suất canh tác thấp hơn tiềm năng sản lượng đạt được ở các thử nghiệm rất xa. [Only registered and activated users can see links] KHUÊ TẢO: (Diatomeae, tk. tảo silic), họ tảo đơn bào, kích thước nhỏ (4 - 2.000 μm), vỏ silic, sống trong môi trường nước ngọt và nước biển. Hoá thạch KT có thể tập trung và hình thành đá điatomit, một loại đá có những lỗ hổng li ti, dùng làm đá mài hoặc làm chất hấp thụ. [Only registered and activated users can see links] Kèo nèo:(Limmocharis flava)Cây thân cỏ, nổi trên mặt nước, cao đến 80cm, lá dày dạng trái xoan tròn, màu xanh bóng, cuống dài có rãnh. Cụm hoa dạng hoa tán, hoa có cuống dài, màu vàng tươi, quả nang có hạt. [Only registered and activated users can see links] Ké trơn(Pavonia rigida) -Loài này mọc ở rừng thưa ở vùng thấp đến độ cao 1500m, từ ninh thuận trở vào đến Tây Ninh -Cây nhỏ mọc thành bụi, cao 1 - 1.5m. Lá có phiến hình tim tròn, có lông hình sao cứng, nhám, mép lá có thuỳ cạn. Hoa đơm thành cụm hoa dày ở ngọn các nhánh; cánh hoa màu hồng đỏ, ống nhị dài, đứng, lá noãn 5. Quả nang trong dài, có lông, không có gai móc; hạt có nhiều lông vàng. [Only registered and activated users can see links] Kơ nia(Irvingia malayana) -Mọc trong rừng mưa nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm hay rừng cây nửa rụng lá, ít gặp trong rừng thưa. Khi nhỏ cây ưa bóng và chỉ tái sinh dưới tán rừng. Có khả năng chiu hạn. Không bị chết do chất độc hóa học -Cây gỗ lớn, thường xanh, cao 15 - 30m hay hơn đường kính 40 - 60cm hay hơn, gốc thường có khía. Vỏ thân màu nâu hồng hay xám hồng, bong thành mảng rất nhỏ, thịt vỏ dày 6cm, có sạn màu vàng. Cành con màu nâu, nhiều bì khổng. Tán cây hình trứng, rậm rạp, màu xanh thẫm [Only registered and activated users can see links] Ké hoa đào còn có tên là ké hoa đỏ, thổ đỗ trọng, hồng hài nhi, dã mai hoa, dã miên hoa, dã đào hoa... Đây là loại cây nhỏ, có thể cao đến 1 m, cành phân nhiều nhánh, toàn thân có lông mềm. Lá mọc so le, phía dưới gần như hình tròn hoặc hình tim, phía trên hình bầu dục, chia thùy nông, có răng cưa. Hoa mọc ở kẽ lá, có màu hồng. Quả hình cầu dẹt, có gai. Cây thuốc này thường mọc hoang dã ở nhiều nơi, được dùng rễ và toàn cây làm thuốc. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 25-01-2011, 19:40 Lạc, còn được gọi là đậu phộng hay đậu phụng , là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ. Nó là loài cây thân thảo Lá mọc đối, kép hình lông chim với bốn lá chét, kích thước lá chét dài 1-7 cm và rộng 1-3 cm. Hoa dạng hoa đậu điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2-4 cm. Sau khi thụ phấn, quả phát triển thành một dạng quả đậu dài 3-7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh), và quả (củ) thường dấu xuống đất để phát triển. [Only registered and activated users can see links] Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô (Zea Mays L.), lúa mì (Triticum sp. tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot esculenta Crantz, tên khác khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L.). [Only registered and activated users can see links] Cây Lá ngón còn có tên là Co ngón, Thuốc rút ruột, Hồ mạn trường, Hồ mạn đằng, Đại trà đằng, Hoàng đằng, Câu vẫn, Đoạn trường thảo... Tên khoa học là Gelsemium elegans Benth (Medica elegans Gardn) thuộc họ Mã tiền [Only registered and activated users can see links] Lá hay lá cây là một bộ phận của thực vật bậc cao có chức năng quang hợp. Lá cây chứa nhiều tế bào mô dậu và nhiều lục lạp. Lá cây có chức năng quang hợp, dự trữ chất dinh dưỡng, nước, thoát hơi nước, tham gia vào quá trình hút nước và khoáng của rễ cây. [Only registered and activated users can see links] Lá đơn là một dạng lá cây mà phiến lá gắn liền trực tiếp với thân cành cây. Chỉ có 1 cấp cuống lá, khi thay lá theo sinh lý, toàn bộ phần phiến lá và cuống sẽ rơi rụng cùng một thời điểm. Lá đơn chủ yếu xuất hiện ở lá dạng phiến và lá dạng dải. [Only registered and activated users can see links] Lá lốt là cây thân thảo đa niên, có tên khoa học Piper lolot thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), gồm các loài như trầu không, hồ tiêu v.v. Một số địa phương còn gọi là "nốt", (ở Nam bộ có nơi gọi là "Lá lốp"). Cây lá lốt cao khoảng 30-40 cm, mọc thẳng khi còn non, khi lớn có thân dài không thể mọc thẳng mà trườn trên mặt đất. Lá đơn, có mùi thơm đặc sắc, nguyên, mọc so le, hình tim, mặt lá láng bóng, có năm gân chính phân ra từ cuống lá; cuống lá có bẹ. Hoa hợp thành cụm ở nách lá. Quả mọng, chứa một hạt. Lốt thường được trồng bằng cách giâm cành nơi ẩm ướt, dọc bờ nước, để lấy lá làm gia vị và làm thuốc. Bò nướng lá lốt là một món ăn đặc sắc của Việt Nam. Lá và thân chứa các ancaloit và tinh dầu, có thành phần chủ yếu là beta-caryophylen; rễ chứa tinh dầu có thành phần chính là benzylaxetat. [Only registered and activated users can see links] Cây Lược vàng có tên khoa học là Callisia fragrans thuộc họ Thài lài (Commelinaceae), cây lược vàng còn có tên là (địa) lan vòi, lan rũ, cây bạch tuộc, trái lá phất dũ, giả khóm. [Only registered and activated users can see links] Lựu hay còn gọi là thạch lựu (danh pháp khoa học Punica granatum) là một loài thực vật ăn quả thân gỗ nhỏ có chiều cao từ 5-8 mét. Lựu có nguồn gốc bản địa Tây Nam Á và được đem trồng tại vùng Kavkaz từ thời cổ đại. Nó được trồng rộng rãi tại Gruzia, Afghanistan, Algérie, Armenia, Azerbaijan, Iran, Iraq, Ấn Độ, Israel, Maroc, Pakistan, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, lục địa Đông Nam Á, Malaysia bán đảo, Đông Ấn, và châu Phi nhiệt đới.[1] Được di thực vào châu Mỹ Latinh và California bởi những người định cư Tây Ban Nha vào năm 1769, ngày nay lựu được trồng tại một số vùng của bang California và Arizona để sản xuất đồ uống. Lựu là loài cây lâu năm. Lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống ngắn. Hoa mọc đơn độc hoặc tụ họp thành cụm 3-4 cái ở ngọn cành, hoa màu đỏ tươi, nở vào mùa hè. Hoa có 5-6 lá đài hợp ở gốc, 5-6 cánh hoa màu đỏ, rất nhiều nhị bầu nhiều ô chứa nhiều noãn xếp chồng lên nhau. Quả mọng hình cầu có vỏ dày, đầu quả còn 4 - 5 lá đài tồn tại; vỏ quả dày, khi chín màu vàng, đỏ. Trong quả có vách ngang chia thành 2 ngăn chứa nhiều hạt 5 cạnh, có vỏ hạt mọng, sắc hồng trắng. Mùa quả từ tháng 9 đến tháng 2 tại Bắc bán cầu, từ tháng 3 đến tháng 5 tại Nam bán cầu. [Only registered and activated users can see links] Lục bình là một loài thực vật thuỷ sinh, thân thảo, sống nổi theo dòng nước, thuộc về chi Eichhornia của họ Họ Bèo tây (Pontederiaceae). Cây lục bình mọc cao khoảng 30cm với dạng lá hình tròn, màu xanh lục, láng và nhẵn mặt. Lá cuốn vào nhau như những cánh hoa. Cuống lá nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp cây bèo nổi trên mặt nước. Ba lá đài giống như ba cánh. Rễ bèo trông như lông vũ sắc đen buông rủ xuống nước, dài đến 1m. [Only registered and activated users can see links] Lạc tiên, còn gọi là cây lạc[1], người dân Nam Bộ gọi là cây/dây nhãn lồng[2], dây chùm bao, (danh pháp khoa học: Passiflora foetida), thuộc Họ Lạc tiên (Passifloraceae), là một cây có lá và quả ăn được. Cây có nguồn gốc từ tây nam Hoa Kì, Mexico, vùng Caribe, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Đây là một loài dây leo có quả ăn được[5] [Only registered and activated users can see links] Lông cu li (danh pháp khoa học: Cibotium barometz) là một loài dương xỉ mộc trong họ Dương xỉ vỏ trai (Dicksoniaceae)[1] mà chúng ta vẫn quen gọi là họ Cẩu tích. Tên gọi cẩu tích là từ Hán-Việt, có nghĩa là xương sống con chó do hình thù giống như xương sống chó. Cẩu tích là loài bản địa từ Trung Quốc cho tới phía tây bán đảo Mã Lai. Khi mọc thẳng cây chỉ cao tới 1 m, nhưng nó thường mọc bò, tạo thành các cụm cây trên các sườn đồi tại các khu rừng thưa và tại các khu vực có dấu chân người. Các lá lược dài tới 3 m. Các ổ túi bào tử mọc ở rìa các lá chét con. Cẩu tích được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Hoa và Đông Nam Á. Mặc dù từng có sự phân bố khá rộng, nhưng cẩu tích đã bị thu hái tích cực tại Đông Nam Á dẫn tới sự suy giảm về lượng quần thể và số lượng cây trong mỗi quần thể. Người ta cho rằng nó là cây cừu Tartar truyền thuyết trong thời kỳ Trung cổ[1]. Cẩu tích là một trong số ít các loài dương xỉ mộc mà Carl Linnaeus ban đầu đã đặt trong họ Polypodiaceae trong cuốn Species Plantarum của ông[1]. LIỄU SAM: (Cryptomeria fortunei), cây gỗ lớn, họ Bụt mọc (Taxodiaceae). Thân thẳng tròn, cao tới 25 - 40 m, đường kính 90 - 100 cm. Vỏ màu nâu đỏ. Cành xoè rộng. Lá hình dùi, dài 0,5 - 1,5 cm, mọc vòng, sống dai trên cành. Nón đơn tính cùng gốc. Nón đực có nhiều nhị xếp xoắn ốc. Nón cái mọc lẻ đầu cành, có nhiều vảy không hoá gỗ hoàn toàn, xếp xoắn ốc, mỗi vảy mang 2 - 9 noãn thẳng. Quả non chín trong 1 năm. Hạt thường có cánh. Cây nguyên sản ở Nhật Bản và Trung Quốc, mọc ở 30 - 40o vĩ Bắc, độ cao 600 - 2000 m; được nhập trồng từ 200 năm nay ở Anh, Ấn Độ, Liên Xô. Ở Việt Nam, đã nhập trồng loài LS Nhật Bản (Cryptomeria japonica) ở Quảng Ninh (Yên Tử), Quảng Bình, Hà Nội. Cây ưa đất sâu, chua. Khí hậu mát ẩm. Ra nón tháng 3 - 4; nón chín tháng 10 - 11. Gỗ tốt, dùng trong xây dựng, làm cầu, làm cột điện, đóng đồ mộc. Cây có dáng đẹp, mọc nhanh, gỗ mềm, thơm, nên thường được trồng làm cảnh. Trồng bằng cành hoặc cây con. [Only registered and activated users can see links] LÚA MẠCH: tên gọi chung một số cây hạt cốc ôn đới, gồm các loài: tiểu mạch (x. Lúa mì); đại mạch (cg. mạch bia; x. Đại mạch); hắc mạch (cg. mạch đen); tiểu hắc mạch; yến mạch; kiều mạch. [Only registered and activated users can see links] lê: Cây gỗ nhỏ. Lá có phiến nhỏ, hình tam giác tròn, mép có răng nhọn, nhỏ, tận cùng thành tơ dài, gân phụ 5-7 cặp; cuống dài hơn phiến. Cụm hoa ngù; cuống hoa dài 4-6cm, không lông, đài có 5 răng; cánh hoa cao 1cm, nhị nhiều, chỉ nhị dài 6-8mm, vòi nhuỵ 4-5, quả hình xá lị 4 x 3cm, có lỗ bì tròn. [Only registered and activated users can see links] Linh đăng Cỏ sống nhiều năm, có thân mọc đứng cao 30-80cm, có gốc to, hoá gỗ, rễ ăn sâu. Lá kép, 3 lá chét dài 1,5-2,5cm, mép có răng mịn ở nửa trên, gân phụ khít nhau, 7-8 cặp, lá kèm hẹp cao 1-1,3cm, đính vào cuống. Hoa tim tím hay xanh lơ, ít khi trắng, cao 1cm, xếp thành chùm ở nách lá. Quả xoắn cao 5mm, nhẵn hoặc hơi có lông, chứa nhiều hạt. girlbuon10594 28-01-2011, 09:24 Mía là tên gọi chung của một số loài trong chi Mía (Saccharum), bên cạnh các loài lau, lách. Chúng là các loại cỏ sống lâu năm, thuộc tông Andropogoneae của họ Hòa thảo (Poaceae), bản địa khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm của Cựu thế giới. Chúng có thân to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2-6 m. Tất cả các dạng mía đường được trồng ngày nay đều là các dạng lai ghép nội chi phức tạp. Chúng được trồng để thu hoạch nhằm sản xuất đường.[Only registered and activated users can see links] Mây là tên gọi chung cho khoảng 600 loài cây, chủ yếu thuộc các chi Calamus (khoảng 400 loài) và Daemonorops (khoảng 115 loài), phân bố tự nhiên thuộc các khu vực nhiệt đới của châu Á, châu Úc, châu Phi. [Only registered and activated users can see links] Mào gà là tên gọi chung của một số loài thực vật thuộc chi Celosia - chúng là những cây làm cảnh hay có thể ăn được, có hình dạng và sử dụng tương tự như cây rau dền. Chúng được gọi là cây mào gà do màu sắc và hình dạng hoa giống như mào của gà. Celosia argentea là loài cây làm rau và lấy hạt làm ngũ cốc, đặc biệt ở Tây Phi, Trung Phi và Đông Nam Á. Nó là loại rau quan trọng nhất ở miền nam Nigeria, ở đó nó có tên gọi là soko. [Only registered and activated users can see links] Họ Mai hay (các tên gọi khác: họ Mai vàng, họ Lão mai), danh pháp khoa học Ochnaceae, bao gồm chủ yếu là các cây gỗ hay cây bụi, ít thấy cây thân thảo. Các loài trong họ này được tìm thấy trong các khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới. Chúng có đại diện nhiều nhất tại khu vực Nam Mỹ. Họ này có khoảng 26-35 chi và khoảng 495-600 loài, tùy theo hệ thống phân loại. [Only registered and activated users can see links] MUN: (Diospyros mun), cây gỗ trung bình, họ Thị (Ebenaceae). Cao 15 - 18 m, cành nhánh nhẵn, tán rậm, lá mềm, mọc cách, hình trứng nhọn, gân giữa và gân bên nổi rõ. Hoa vàng đơn tính, hoa đực mọc thành xim 3 - 5 hoa (mẫu 4) ở nách lá, hoa cái mọc đơn độc. Quả nhỏ, đường kính 1,5 - 2 cm nhẵn, đen, vỏ dày, mang đài tồn tại xẻ 4 thuỳ. Lõi gỗ màu đen, cứng và bền, thường dùng làm đồ gỗ quý, mĩ nghệ. Quả và lá dùng nhuộm đen. Cây ưa sáng, mọc chậm, sống lâu, ở độ cao dưới 600 - 700 m. Cây phân bố ở Việt Nam từ Quảng Bình vào Nam Bộ. [Only registered and activated users can see links] x-jrJSqlK_JXk_yMPI&t=1&usg=__xXrdeRAmNRhIbPgZaunf1dr_3FE= Mộc lan (danh pháp khoa học: Magnolia) là một chi lớn gồm khoảng 210 loài[1] thực vật có hoa thuộc phân lớp Magnoliidae, họ Magnoliaceae. Các loài mộc lan có phân bố rời rạc, với trung tâm chính là Đông Á và Đông Nam Á và các vùng tập trung nhỏ hơn là đông Bắc Mỹ, Trung Mỹ, vùng Caribe, và một số loài ở Nam Mỹ. Tên khoa học của chi Mộc lan được đặt theo tên của nhà thực vật học người Pháp Pierre Magnol. Mộc lan là một chi thực vật cổ đã tiến hóa trước khi ong xuất hiện, hoa mộc lan đã phát triển để khuyến khích sự thụ phấn bởi côn trùng cánhh cứng. Do đó, hoa mộc lan có lá noãn cứng để tránh bị hỏng do bọ cánh cứng ăn và bò quanh. Các mẫu hóa thạch của M. acuminata được xác định có niên đại khoảng 20 triệu năm, và một số hóa thạch của các loài thực vật thuộc họ Mộc lan được xác định niên đại 95 triệu năm. Một đặc điểm nguyên thủy khác của các loài mộc lan là chúng không có đài hoa và cánh hoa tách biệt. [Only registered and activated users can see links] Mướp đắng, miền Nam Việt Nam gọi là Khổ qua (danh pháp khoa học: Momordica charantia) là một cây leo mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc họ Bầu bí, có quả ăn được, thuộc loại đắng nhất trong các loại rau quả. Tên gọi trong tiếng Anh của mướp đắng là bitter melon hay bitter gourd được dịch từ tiếng Trung: 苦瓜 (kǔguā) khổ qua; (苦 khổ: đắng; 瓜 qua: mướp; 苦瓜 khổ qua: mướp đắng[1]) [Only registered and activated users can see links] MĂNG: mầm hoặc thân non cuả cây họ Tre nứa. M được phân biệt M theo gốc mẹ: măng trúc, mai, vầu, giang, nứa, lồ ô... M còn được phân biệt theo phần sử dụng: măng củ (hay sừng bò, khi thái lát gọi là măng lưỡi lợn), măng vòi (hay búp), măng lá (bẹ). M có loại ngọt, loại đắng. [Only registered and activated users can see links] yNc8SiegRwb54mraE&t=1&usg=__TLgJXT-Pgz4oYbzkVj7Uv1A2VlQ= Mướp hương hay mướp ta, mướp gối, có tên khoa học là Luffa aegyptiaca hay Luffa cylindrica (tên cũ), là một loài thuộc chi Mướp (Luffa), tên tiếng Anh là Smooth Luffa hay Egyptian Luffa. Đây là loài cây bản địa của Bắc Phi [Only registered and activated users can see links] MĂNG CỤT: (Clusiaceae; cg. bứa), họ cây gỗ hay cây bụi thường xanh, cành mọc ngang. Trong nhiều bộ phận cuả cây có túi tiết hay ống tiết nhựa màu vàng. Lá đơn, nguyên, mọc đối, không có lá kèm. Hoa nhỏ thường đơn tính hoặc lưỡng tính cùng gốc, mọc đơn hay họp thành cụm. Đài 2 - 6 lá màu lục. Tràng 2 - 6 cánh rất dễ rụng. Nhị nhiều, rời. Nhụy 3 - 5, có khi tới 15. Bầu trên. Noãn cong hay đảo. Quả khô hay thịt. Hạt nhiều, không nội nhũ. Có 40 chi, hơn 350 loài. Phân bố ở vùng nhiệt đới ẩm. Việt Nam có 5 chi, hơn 40 loài. Đại diện: cây MC (Garcinia mangostana; tk. giáng châu) là loại cây ăn quả nhiệt đới lâu năm. Cao 20 - 25 m. Cành mọc thấp. Vỏ có chứa nhựa vàng. Lá dày, hình thuôn, đầu nhọn, cuống dày. Có hoa đực và hoa lưỡng tính, cánh trắng, mẫu 4, nhiều nhị. Quả tròn, mang đài tồn tại. Vỏ quả rất dai, xốp, màu đỏ rượu vang; quanh hạt có áo hạt trắng, ngọt, thơm ngon. Cây nguồn gốc ở Malaixia và Inđônêxia, được trồng nhiều ở Nam Bộ Việt Nam. Trồng 5 - 7 năm mới có quả; hơn 10 năm mới có nhiều quả nhất. Vỏ quả chát được dùng để chữa bệnh lị. [Only registered and activated users can see links] Cây mưa tại các nước khác được biết đến với các tên gọi: Saman tree, Rain tree, Monkey pod, Filinganga, Gouannegoul, Marmar, T amalini, Palo de China... Còng có danh pháp khoa học là Samanea saman và rất nhiều danh pháp đồng nghĩa khác như: Albizia saman, Enterolobium saman, Inga saman, Pithecellobium saman... cây thuộc phân họ Mimosoideae, họ Fabaceae, bộ Đậu (Fabales). [Only registered and activated users can see links] MĂNG TÂY: (Asparagus officinalis), cây rau ôn đới, họ Loa kèn trắng (Liliaceae), được trồng lấy chồi non làm rau ăn. Cây có thân rễ sống dai, sinh ra những chồi hình trụ, màu trắng, trên ngọn màu lục, mang nhiều vảy hình tam giác. Cây được đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỉ 19, trồng ở ngoại thành Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt... Cây được dùng để chữa một số bệnh (tim, huyết áp cao, lợi tiểu) nên cũng được coi là cây thuốc bổ. [Only registered and activated users can see links] MẬN: (Prunus triflora = P. salicina), cây ăn quả lâu năm họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây nhỡ, lá dài nhọn ở hai đầu, mép lá có răng cưa nhỏ, khi non cuộn hình tổ sâu ở trong chồi. Hoa họp từng nhóm 3 hoa, màu trắng, có 25 - 30 nhị đực. Quả hạch màu đỏ, tím vàng hoặc trắng. Năng suất 15 - 30 kg quả trên một cây. Là cây nguồn mật. Ở Việt Nam, các tỉnh phía bắc (Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La) có nhiều chủng ngon, như M hậu, M Tam Hoa, M Lạng Sơn, M Vân Nam. Ở Miền Nam, vùng trồng nổi tiếng ở trại Hầm có các chủng M Đà Lạt, M đỏ, M đỏ bạch lạp, M vàng, M Vân Nam. Mùa quả tháng 1 - 6. Một số cây M Đà Lạt là cây ghép. [Only registered and activated users can see links] MÂY SONG: nhóm cây leo đặc biệt trong rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới, họ Cau (Arecaceae), có 14 chi, khoảng 600 loài. Ở Việt Nam, biết khoảng 32 loài thuộc 5 chi: chi Korthalisa có 2 loài, Myrialepis có 1 loài, Plectocomia có 5 loài, Daemonorops có 3 loài và Calamus có 21 loài. MS được khai thác để làm các vật dụng hàng ngày, hàng mĩ nghệ, đặc biệt là mặt hàng xuất khẩu được ưa chuộng. Ngày nay, nhiều nước đã trồng MS thay cho khai thác tự nhiên. Inđônêxia trồng được 5 loài thuộc chi Calamus và là nước xuất khẩu nhiều MS nhất; Thái Lan trồng được 6 loài. Đẩy mạnh việc trồng MS là cơ hội tận dụng đất, góp phần bảo vệ đất, bảo vệ môi trường và cung cấp nguyên liệu. Một số loài được trồng làm cây cảnh. [Only registered and activated users can see links] _-Ah8vTtuj8nxGFl7c&t=1&usg=__avylf8xE296LQkh2yPXKHQdhyuQ= MỘC HƯƠNG: (Saussurea lappae; tk. vân mộc hương, quảng mộc hương), cây thảo, sống lâu năm, họ Cúc (Asteraceae). Lá ở gốc to, có lông. Cụm hoa hình đầu, màu lam tím. Quả bế hơi dẹt và cong queo. Rễ hình trụ hoặc hình chuỳ, vị đắng, có mùi thơm hắc đặc biệt, có tinh dầu, ancaloit, inulin. Trồng ở vùng núi mát. Dùng rễ phơi sấy khô, chữa cảm lạnh, ỉa chảy, lị, nôn mửa, bí tiểu tiện; dưới dạng thuốc sắc, bột, viên. Có thể mài với nước uống để uống. Các cây thổ mộc hương (Inula helenium) và xuyên mộc hương (Jurinea soulide) cũng dùng như trên. Vị thuốc nhập từ Trung Quốc. [Only registered and activated users can see links] QsjXdNQdOJG2Fk4AxU&t=1&usg=__WsTrfWyRVbWAuN788kya4Ii9JU0= Mộc nhĩ là tên chung để chỉ một trong ba loài sau, do chúng đều có hình dạng giống như tai và mọc trên thân cây. Mộc nhĩ đen: Hai loài có họ hàng gần nhưng khác nhau của các loại nấm ăn được thuộc bộ Auriculariales, được sử dụng chủ yếu trong ẩm thực châu Á, đặc biệt là các nước phương Đông [Only registered and activated users can see links] CGH1zVUeyLy-4nFXtg&t=1&usg=__67XPMBnYAe6h0NOl-oazJTUNtTc= Rau mùi hay còn gọi là ngò, ngò rí, ngổ[1], ngổ thơm[1], hồ tuy, nguyên tuy, hương tuy, là loài cây thân thảo sống hằng năm thuộc họ Hoa tán (Apiaceae), có nguồn gốc bản địa từ Tây Nam Á về phía tây đến tận châu Phi. Cao 35-50 cm, thân nhẵn, phía trên phân nhánh. Lá ở gốc có cuống dài, có 1 đến 3 lá chét, lá chét hình hơi tròn, xẻ thành 3 thuỳ có khía răng to và tròn; những lá phía trên có lá chét chia thành những thùy hình sợi nhỏ và nhọn. Hoa trắng hay hơi hồng, hợp thành tán gồm 3-5 gọng, không có tổng bao; tiểu bao gồm 2-3 lá chét đính ở một phía. Quả bế đôi hình cầu, nhẵn, dài 2-4 mm, gồm hai nửa (phân liệt quả), mỗi nửa có bốn sống thẳng và hai sống chung cho cả hai nửa. [Only registered and activated users can see links] Mâm xôi còn có tên gọi khác là cây chè ngấn.Thân cành mâm xôi tua tủa gai.Hoa mâm xôi xoè nở từng chùm từ lưng buổi sáng.quả nhỏ giống quả nhỏ,có màu đen hoặc đỏ. [Only registered and activated users can see links] TV_9Yupl8KC9Rr3ocY&t=1&usg=__qdRkWbjFxV-kDFH_SofOa6caTxs= Mít là loài thực vật ăn quả, mọc phổ biến ở Đông Nam Á và Brasil. Nó là cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), và được cho là có nguồn gốc ở Ấn Độ và Bangladesh. Quả mít là loại quả quốc gia của Bangladesh. Tên gọi khoa học của nó là Artocarpus integrifolia. [Only registered and activated users can see links] NrNw-G7u6TuZJDBsGI&t=1&usg=__4ozwwu0E4RMNY4i80OSRNdtZ7F4= Cây mai dương còn gọi là trinh nữ nâu, trinh nữ đầm lầy, tên khoa học là Mimosa pigra, thuộc chi Mimosa và họ Mimosaceae, có nguồn gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ, có họ hàng với cây trinh nữ vốn mọc rất nhiều ở Việt Nam. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:00 Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp khoa học: Zea mays L. ssp. mays) là một loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ. Ngô lan tỏa ra phần còn lại của thế giới sau khi có tiếp xúc của người châu Âu với châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16.[Only registered and activated users can see links] Nhãn (danh pháp khoa học: Dimocarpus longan) [Only registered and activated users can see links] NẤM HƯƠNG: (Lentinus edodes), loài nấm họ Nấm hương (Pleurotaceae). Chân dính vào thân cây chủ, trên có màng mũ hình ô dày và dai. Mặt trên mũ màu nâu, mặt dưới có nhiều phiến mỏng toả từ chân ra tới mép mũ. Mũ có mang các bào tầng chứa các bào tử. [Only registered and activated users can see links] NẤM ĐẢM : (Basidiomycetes), lớp nấm thật mà các bào tử hữu tính là các bào tử đảm hình thành ở bên ngoài, trên đầu tận cùng các tế bào chuyên hoá, gọi là đảm. Đảm hình thành trên một lớp sinh sản rắn chắc là tầng sinh bào tử, mỗi đảm thường mang 4 bào tử đảm. Gồm 2 phân lớp Homobasidiomycetes có bộ nấm mũ và Heterobasidiomycetes có nấm gỉ sắt và nấm than. Có khoảng 30 nghìn loài. [Only registered and activated users can see links] NẤM BẤT TOÀN: (Deuteromycetes = Fungi imperfecti), lớp gồm phần lớn các loài nấm hiển vi, giai đoạn hữu tính chưa được phát hiện hay đã bị thoái hoá trên con đường tiến hoá của chúng. Sinh sản bằng các bào tử đính. Có khoảng 3 nghìn loài NẤM MEN: (Saccharomycetaceae), họ nấm túi trần, đơn bào, có thể sống cả trong điều kiện ưa khí và kị khí. Tế bào hình cầu hay bầu dục. Sinh sản chủ yếu vô tính nảy chồi tạo thành mạng phân nhánh, trong điều kiện bất lợi có thể hình thành bào tử hữu tính (thường 4 hoặc ít khi 8 bào tử). Có vai trò quan trọng trong công nghiệp rượu bia và bánh mì do chúng tạo ra rượu và cacbon đioxit (CO2) trong quá trình hô hấp kị khí. Thường dùng Saccharomyces cerevisiae sản xuất cồn, làm nở bột mì, S. uvarum, S. carlsbergensis, S. vini... làm rượu vang, bia. Gần đây, còn sử dụng S. cerevisiae làm đối tượng gây tái tổ hợp gen trong công nghệ di truyền. [Only registered and activated users can see links] NẤM TẢO: (Phycomycetes), lớp nấm thật, kí sinh. Nhiều loài sống nơi ẩm hoặc ở nước, số ít sống hoàn toàn trong nước. Gồm hai lớp: Nấm trứng và Nấm tiếp hợp. Sinh sản hữu tính bằng noãn giao hay tiếp hợp. Đại diện: Pythium và mốc (Mucor). Được chia thành các phân lớp dựa theo số roi có trên các bào tử vô tính. NẤM NHẦY:1) Myxomycophyta, ngành sinh vật đơn giản mang tính chất của cả động vật và thực vật. Cơ thể có nhiều nhân, không có vách tế bào, chuyển vận theo kiểu amip tiêu hoá thức ăn, do đó có một số được ghép vào động vật nguyên sinh như Mycetozoa. Một số chi có vách tế bào bằng xenlulozơ được hình thành bên trong các túi bào tử là đặc tính của thực vật. Có khoảng 500 loài. Gồm có 4 lớp: Acrasiales, Labyrinthulales, Mycomycetes, Plasmodiophorales. 2) Myxomycetes, lớp lớn nhất trong ngành NN. Thể sinh dưỡng của nấm lưỡng bội và có dạng một khối sinh chất nhiều nhân (thể hợp bào) tiêu hoá thức ăn. Sinh sản bằng các bào tử có roi, được hình thành bên trong các túi bào tử. NN phát triển trên gỗ mục, lá mục trong rừng ẩm ướt. Phần lớn NN hoại sinh, một số gây hại cây trồng. [Only registered and activated users can see links] NỨA : (Neohouzeaua dulloa), loài cây nhỡ, họ phụ Tre nứa (Bambusoideae), họ Lúa (Poaceae). Mọc thành bụi, có bụi trên 200 cây. Thân thẳng cao 15 m, đường kính 4 - 6 cm. Có lóng và đốt, lóng dài 15 - 20 cm, đặc biệt dài 50 cm. Thân lá, bẹ mo có nhiều lông silic màu vàng. Hoa thành chùm nhỏ. Bao hoa không phát triển [Only registered and activated users can see links] NÓN : (sinh), cơ quan sinh sản của thực vật hạt trần và một số dương xỉ. NHUỴ :bộ phận sinh sản cái của hoa, nằm chính giữa hoa, do lá noãn biến thành. [Only registered and activated users can see links] NHÀI : (Oleaceae), họ cây bụi, có khi thân leo hay cây gỗ. Lá mọc đối. Trong thân và lá thường gặp tinh thể canxi oxalat. Cụm hoa chùm hay xim ở kẽ lá, ít khi mọc đơn. Hoa đều, lưỡng tính, có khi đơn tính. [Only registered and activated users can see links] WIxI-W7B6DQkyLyczg&t=1&usg=__K6o8UOS0jEJ539m7Qf5POx6CB6c= NGỌC LAN: (Magnoliaceae), họ gồm những cây gỗ lớn, đôi khi cây bụi. Lá nguyên, mọc cách, thường xanh đôi khi sớm rụng, luôn luôn có lá kèm bao quanh chồi, sớm rụng để lại sẹo ở gốc lá. Các bộ phận của cây có tế bào tiết tinh dầu. Hoa to, lưỡng tính, đế lồi. Bao hoa phân rõ ràng thành đài và tràng. Nhị nhiều, rời, xếp xoắn ốc. Lá noãn nhiều, xếp xoắn ốc. Quả kép, hạt có nội nhũ phẳng. Có 12 chi, 210 loài [Only registered and activated users can see links] NHÂN SÂM : (Araliaceae; tk. ngũ gia bì), họ cây gỗ nhỡ hoặc cây bụi, ít khi là cây thảo nhiều năm, có thân rễ. Lá mọc cách, nguyên hoặc xẻ chân vịt hoặc kép lông chim. Lá có lá kèm nhỏ, sớm rụng hoặc dính vào cuống lá. Hoa nhỏ mọc thành cụm hình tán hoặc hình đầu ở ngọn hay ở nách lá. Hoa lưỡng tính mẫu 5, thường đều. Bầu hạ, quả hạch hoặc mọng. [Only registered and activated users can see links] pSDsvWi96tLj-b6BZk&t=1&usg=__JPTUIsWAa5wvmrawK2GokIG_ynE= NHO: (Vitaceae), họ cây bụi, cây leo, thân gỗ, có tua cuốn (chỉ có một số loài cây bụi đứng thẳng hay gỗ nhỏ) [Only registered and activated users can see links] OY_AILKig08YzY2FME&t=1&usg=__vEGtd58WTN1k9jB0XJY8DbZ3u3w= NHÓT: (Elaeagnaceae), họ cây ăn quả nhỏ, cành dài, mềm, đôi khi có gai. Lá màu lục, mặt trên lá có những vảy nhỏ lấm tấm hình sao, mặt dưới có lông màu trắng bạc. Hoa chỉ có 4 lá đài, 4 nhị, không tràng [Only registered and activated users can see links] 9als9ilvSFLoFrrUPw&t=1&usg=__xcBQTyVGU7R00L0DoiM2UC0Dd1s= NA: (Annonaceae; cg. mãng cầu), họ cây thân mộc có nhiều cành nhánh dài và mềm. [Only registered and activated users can see links] DWJttnimHos8wwK0sE&t=1&usg=__-mBNMJZ2G4Uue2fw5f0u-v6X_sU= Cây núc nắc: Cây nhỡ, cao 8 - 10m. Thân ít phân cành. Vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng. Lá xẻ 2 - 3 lần lông chim, dài tới 1,5m. Hoa to màu nâu đỏ sẫm mọc thành chùm ở ngọn thân. Quả dẹt, cong chứa nhiều hạt dẹt, có cánh mỏng. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:05 Ô môi là loài thực vật có danh pháp khoa học: Cassia grandis L.f., thuộc phân họ Vang. Cây gỗ trung bình, cao 10 - 20 m, phân cành lớn, mọc ngang thẳng, vỏ thân nhẵn, những cành non có lông màu rỉ sắt, cành già màu nâu đen [Only registered and activated users can see links] Oải hương (danh pháp khoa học: Lavandula angustifolia) là một loại cây thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Cây oải hương là loại cây bụi thường niên có mùi thơm nồng, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải. [Only registered and activated users can see links] Ớt, là một loại quả thuộc các cây thuộc chi Capsicum của họ Cà (Solanaceae). Ớt là một loại quả gia vị cũng như lọai quả làm rau (ớt Đà Lạt) phổ biển trên thế giớiỚt có nguồn gốc từ châu Mỹ; ngày nay nó được trồng khắp nơi trên thế giới và được sử dụng làm gia vị, rau, và thuốc. [Only registered and activated users can see links] Osaka là một loài cây cảnh cho bóng râm và đẹp mới được du nhập vào trồng ở Việt Nam. [Only registered and activated users can see links] Ô liu (danh pháp khoa học Olea europaea) là một loại cây nhỏ thuộc Họ Ô liu (Oleaceae). Bản địa của ô liu là miền duyên hải Địa Trung Hải, đến Iran ven bờ nam biển Caspi. Trái Ô liu là một nông phẩm giá trị ở vùng Địa Trung Hải dùng để làm dầu ô liu. [Only registered and activated users can see links] Ổi ta (danh pháp khoa học: Psidium guajava) là loài cây ăn quả thường xanh lâu năm, thuộc họ Đào kim nương, có nguồn gốc từ Brasil. [Only registered and activated users can see links] Ô rô (Acanthus ilicifolius L.) thuộc họ ô rô (Acanthaceae). Tên khác là ô rô gai, ô rô nước, ắc ó, lão thử lặc, là một cây nhỏ, cao 0,5-1,5m. Thân tròn nhẵn, màu lục nhạt, có lấm tấm đen. Lá mọc đối, không cuống, phiến cứng, hình mác, dài 15-20cm, rộng 4-8cm, gốc tròn, đầu nhọn sắc. Cây mọc hoang chủ yếu thành từng đám lớn bên bờ các kênh rạch và trên đất lầy thụt ở cửa sông thông ra biển; rải rác ở các ao hồ và vùng đồng chiêm trũng. [Only registered and activated users can see links] NokQ-DQ-0WkqUeaJzQ&t=1&usg=__XjuiJPARRnr9k6s46g-s6hBQ3y0= Cây óc chó: Tùy từng địa phương mà cây óc chó cũng có những tên gọi khác nhau như cây sung dại (miền Bắc) hay ổi dại (miền Nam), vì quả của nó nhỏ bằng trái trứng cá, hình giống quả ổi nhỏ mới mọc, nhưng bên trong ruột mềm, chứa những hạt như ruột quả sung. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:09 Chi Phong hay Chi Thích (danh pháp khoa học: Acer) là khoảng 125 loài cây gỗ hay cây bụi, chủ yếu có nguồn gốc ở châu Á, nhưng có một số loài có mặt tại châu Âu, Bắc Phi và Bắc Mỹ. Tên gọi phổ biến của các loài trong tiếng Việt là "phong" hay "thích". [Only registered and activated users can see links] Họ Lan, hay họ Phong lan, (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây (Asparagales), lớp thực vật một lá mầm. [Only registered and activated users can see links] Phượng hay phượng vĩ, phượng vỹ, xoan tây, điệp tây hoặc hoa nắng[cần dẫn nguồn] (danh pháp khoa học: Delonix regia) (họ Fabaceae), là một loài thực vật có hoa sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:13 Chi Quỳnh (danh pháp khoa học: Epiphyllum), là một chi thực vật gồm khoảng 19 loài thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Tên gọi chung của chúng trong tiếng Việt là quỳnh, hoa được gọi là hoa quỳnh. Các loài quỳnh thường được trồng để làm cảnh và hoa nở về đêm nên được mệnh danh là nữ hoàng của bóng đêm. Thân và lá một số loài quỳnh cũng được thêm vào trong một số dạng của loại đồ uống gây ảo giác ở khu vực rừng mưa Amazon là ayahuasca. [Only registered and activated users can see links] Quýt Hương Cần là một loại quả ngọt trồng nhiều ở Thừa Thiên - Huế, Việt Nam. Tỉnh Thừa Thiên - Huế có nhiều loại đặc sản về hoa quả nổi tiếng như long nhãn (nhãn xưa chỉ dành cho nhà vua dùng), măng cụt, bưởi Thanh Trà... ngoài ra, bên dòng sông Bồ, còn có quýt Hương Cần. [Only registered and activated users can see links] Quyết là nhóm thực vật bậc cao, sống ở cạn.Có rễ,thân,lá thật; có mạch dẫn.Thân thấp,hình trụ. lá non thì cuộn tròn girlbuon10594 23-02-2011, 10:18 Sếu (Cơm nguội vàng ) hay còn gọi là cây phác, cơm nguội Trung Quốc (tên khoa học: Celtis sinensis Pers., tiếng Trung: 朴树) là một loài thực vật thuộc chi Cơm nguội, họ Gai dầu (Cannabaceae).[Only registered and activated users can see links] Cây sấu hay sấu tía, sấu trắng hoặc long cóc (danh pháp khoa học: Dracontomelon duperreanum) là một loài cây sống lâu năm, lá thường xanh/bán rụng lá thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) [Only registered and activated users can see links] Cây sung hay ưu đàm thụ hoặc tụ quả dong (danh pháp khoa học: Ficus racemosa, đồng nghĩa Ficus glomerata Roxb., 1802) là loại thân cây gỗ lớn, mọc nhanh, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Cây mọc hoang dại ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tại những nơi đất ẩm bìa rừng, nhiều nhất là ven các bờ nước ao, hồ, sông, suối. [Only registered and activated users can see links] Chi Sao (danh pháp khoa học: Hopea) là một chi thực vật thân gỗ lớn của họ Dầu (Dipterocarpaceae). Chi này được mang tên của Jhon Hope (1725-1786) nhà thực vật học đầu tiên quản lý vườn thực vật Hoàng gia Anh. Chi thực vật này gồm khoảng 104 loài, phân bố tự nhiện từ Sirilanka và miền nam Ấn Độ tới Nam Trung Hoa, kéo xuống tới New Guinea. Chủ yếu là các loài thuộc tầng cây ưu thế sinh thái rừng nhiệt đới đất thấp, tuy nhiên cũng có những loài vươn cao hơn (chẳng hạn như loài Hopea nutans) [Only registered and activated users can see links] Cây sứ là một chi nhỏ chứa 7-8 loài cây có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ. Các tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là cây đại, bông sứ, chăm pa. Chi này chủ yếu là cây bụi hay cây gỗ với lá sớm rụng. P. rubra (cây đại thông thường hay đại hoa đỏ), có nguồn gốc Mexico, Trung Mỹ và Venezuela, sinh ra hoa có màu từ vàng tới hồng, phụ thuộc vào giống cây trồng. Chi này cũng có quan hệ họ hàng với trúc đào (Nerium oleander). Cả hai đều chứa nhựa màu trắng sữa rất độc, tương tự như của chi Đại kích (Euphorbia). [Only registered and activated users can see links] Chi Súng (danh pháp khoa học: Nymphaea) là một chi chứa các loài thực vật thủy sinh thuộc họ Súng (Nymphaeaceae). Tên gọi thông thường của các loài trong chi này, được chia sẻ cùng với một số chi khác trong họ này, là súng. Các lá của chi Nymphaea có vết khía chữ V nối từ mép lá tới cuống lá oiử khu vực trung tâm. Chi này có khoảng 50 loài, với sự phân bổ rộng khắp thế giới. [Only registered and activated users can see links] Họ Sen là một họ thực vật có hoa chỉ có một chi duy nhất là Nelumbo.Họ này chỉ được một số ít các nhà phân loại học công nhận. Các loài trong họ này thường được gộp chung vào họ Súng [Only registered and activated users can see links] Su su hay su le trong phương ngữ miền Trung Việt Nam (danh pháp khoa học: Sechium edule), (tiếng Trung gọi là dưa phật thủ (Phật thủ qua), tiếng Pháp dùng tại các lãnh thổ hải ngoại của Pháp ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương gọi là "chouchou" (Réunion, Île Maurice), "chouchoute" (Nouvelle-Calédonie, Polynésie thuộc Pháp) - phát âm như su-su trong tiếng Việt, có lẽ đây là nguồn gốc tên tiếng Việt của loại quả này) là một loại cây lấy quả ăn, thuộc họ Bầu bí, cùng với dưa hấu, dưa chuột và bí. Cây này có lá rộng, thân cây dây leo trên mặt đất hoặc trên giàn. [Only registered and activated users can see links] sa kê là một loài cây gỗ có hoa trong họ Dâu tằm (Moraceae), bản địa của bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Thái Bình Dương, nhưng hiện nay đã được trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới. [Only registered and activated users can see links] Su hào là một giống cây trồng thân thấp và mập của cải bắp dại, được chọn lựa vì thân mập, gần như có dạng hình cầu, chứa nhiều nước của nó. Su hào được tạo ra từ quá trình chọn lọc nhân tạo để lấy phần tăng trưởng của mô phân sinh ở thân, mà trong đời thường được gọi là củ. Nguồn gốc tự nhiên của nó là cải bắp dại. [Only registered and activated users can see links] So đũa hay điền thanh hoa lớn (danh pháp khoa học: Sesbania grandiflora, đồng nghĩa Aeschynomene grandiflora) là một cây nhỏ thuộc chi Sesbania trong họ Đậu (Fabaceae). Người ta tin nó có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Đông Nam Á và mọc ở những nơi nóng ẩm. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:22 Tre là một nhóm thực vật thường xanh đa niên thân gỗ, thuộc Bộ Hòa thảo, Phân họ Tre, Tông Tre (Bambuseae), một số loài của nhóm này rất lớn, và được coi là lớn nhất trong Bộ Hòa thảo. Tre cũng là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Thường thì tre có thời gian nở hoa trong khoảng 5 - 60 năm một lần. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. [Only registered and activated users can see links] Trúc hay Cương Trúc (danh pháp khoa học: Phyllostachys) là một chi thuộc tông Tre. Các loài này là thực vật bản địa châu Á, tập trung nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản nhưng hiện tại đã được trồng làm cảnh rộng rãi ở cả vùng ôn đới hoặc cận nhiệt đới... [Only registered and activated users can see links] Cây trứng cá hay còn gọi là mật sâm (danh pháp khoa học: Muntingia calabura), loài duy nhất trong chi Muntingia, là một loài thực vật có hoa có nguồn gốc ở miền nam Mexico, Caribe, Trung Mỹ và miền tây Nam Mỹ về phía nam của Peru và Bolivia. Chi này đã từng được các hệ thống phân loại khác nhau xếp trong các họ khác nhau, như họ Đoạn (Tiliaceae) hay họ Côm (Elaeocarpaceae), nhưng trong phân loại của APG và sau này là APG II thì người ta đã tách nó ra thành một họ riêng trong bộ Cẩm quỳ (Malvales) với danh pháp Muntingiaceae cùng các chi Dicraspidia, Neotessmannia với mỗi chi này chỉ có 1 loài.[1] [Only registered and activated users can see links] Chi Thốt nốt hay chi Thốt lốt[1] (danh pháp khoa học: Borassus) là một chi của 5-10 loài thốt nốt thuộc họ Cau (Arecaceae), có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới châu Phi như Ethiopia, Niger, Nigeria, miền bắc Togo, Senegal v.v, miền nam châu Á và New Guinea. Chúng là các loại cây thân cau/dừa cao thẳng đứng, có thể cao tới 30 m. Lá dài, hình chân vịt, dài 2 - 3 m. Các lá chét dài 0,6-1,2 m. Cuống lá (mo) mở rộng. Hoa nhỏ, mọc thành cụm dày dặc, thuộc loại đơn tính khác gốc. Hoa đực nhỏ, có 3 lá đài, 3 cánh rời xếp lợp, 6 nhị ngắn, bao phấn 2 ô. Hoa cái to, gốc có lá bắc, đài và tràng rời, bầu hình cầu, có 3 - 4 ô, 3 đầu nhị cong. Quả lớn màu nâu hoặc nâu hạt dẻ hình dạng hơi tròn với 3 hạch, hạt thuôn chia 3 chùy ở đỉnh. Tại Việt Nam mọc và được trồng ở các tỉnh khu vực Nam Bộ giáp với Campuchia. Tên gọi thốt nốt trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Khmer th'not. Đây là loài cây biểu tượng không chính thức của Campuchia. [Only registered and activated users can see links] Ngành Thông (Pinophyta) nhiều tài liệu tiếng Việt cũ còn gọi là ngành Hạt trần (Gymnospermae), [1] gồm các loài cây thân gỗ lớn hoặc nhỡ, ít khi là cây bụi hoặc dây leo thân gỗ. Lá hình vảy, hình kim, hình dải, ít khi hình quạt, hình trái xoan hoặc hình lông chim. Cơ quan sinh sản thường đơn tính, có cấu tạo nón khác với cấu tạo hoa, gồm các lá bào tử xếp xoắn ốc hoặc xếp vòng trên một trục ngắn có dạng nón. Thụ phấn nhờ gió, ít khi nhờ côn trùng. Lá noãn mở không bao hạt, mang một đến nhiều lá noãn ở nách hoặc mép. Hạt có phôi thẳng, mang một đến nhiều lá mầm. Gỗ tương đối mềm, chỉ có quản bào chưa có mạch gỗ và sợi gỗ. [Only registered and activated users can see links] Thanh long một loài cây được trồng hay lấy quả, là tên của một vài chi của họ xương rồng. Người ta cho rằng nó có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ. Nó cũng được trồng ở các nước như Trung Quốc, Đài Loan và trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines. Việc trồng loại ruột trắng vỏ đỏ hay hồng ở Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines v.v. là lấy giống từ Bình Thuận, Việt Nam và hiện nay (năm 2005) mới chỉ trong giai đoạn bắt đầu. [Only registered and activated users can see links] Thạch đen, hay còn gọi là sương sáo (phương ngữ miền Nam), hoặc thủy cẩm Trung Quốc (danh pháp khoa học Mesona chinensis Benth.) là một loài thực vật thuộc chi Thủy cẩm (Mesona), họ Hoa môi. Loài này mọc mạnh tại các khu vực Đông Á như đông nam Trung Quốc, Đài Loan, trên những vùng đất cỏ, đất cát và đất khô.[1] Thông thiên (danh pháp khoa học: Thevetia peruviana, tên khác là Cascabela thevetia), là loài cây thuộc họ Trúc đào có lá hình mác, mọc so le, thân cây cao khoảng 3 đến 4 mét. Thông thiên có xuất xứ từ châu Mỹ, thường gặp ở một số nơi như Kula, Maui, Waihee, Kihei, Kahana Beach, Hawaii...Cây thân gỗ. Toàn cây có tiết mũ màu trắng. Ở Việt Nam, hoa thông thiên có màu vàng rực, ở một số nơi khác hoa có màu vàng cam, hoa thường có 5 cánh. Trái có hình thoi màu xanh. [Only registered and activated users can see links] 6_flowers_in_Kolkata_W_IMG_8007.jpg/210px-Yellow_Oleander_%28Thevetia_peruviana%29_leaves_%2 6_flowers_in_Kolkata_W_IMG_8007.jpg girlbuon10594 23-02-2011, 10:24 Cây vải, còn gọi là lệ chi (danh pháp khoa học: Litchi chinensis) là loài duy nhất trong chi Litchi thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae). Nó là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới [Only registered and activated users can see links] Vú sữa: Lá của vú sữa là thường xanh, mọc so le, hình ôvan đơn, mép liền, dài 5-15 cm; mặt dưới bóng như màu vàng khi nhìn từ xa. Các hoa nhỏ màu trắng ánh tía và có mùi thơm ngát. Đây là loại cây lưỡng tính (tự thụ phấn). Quả của nó tròn, có lớp vỏ màu tía hoặc nâu ánh lục khi chín, thường có màu xanh lục xung quanh đài hoa, với kiểu hình sao trong cùi thịt. Có một vài giống cho quả màu trắng ánh xanh lục. Vỏ nhiều latex (nhựa mủ) và không ăn được. Các hạt dẹt có màu nâu nhạt và cứng. Nó ra quả quanh năm sau khi đạt đến 7 năm tuổi trở lên. Lớp cùi thịt của quả là ăn được và ngon, dùng làm các món tráng miệng; nó có vị ngọt và nói chung hay được phục vụ dưới dạng tươi hoặc làm lạnh (khoảng 10-15°C). Lá của nó được dùng ở một số khu vực làm dạng như chè và người ta coi nó có tác dụng chống các bệnh *** đường và thấp khớp. Vỏ cây được coi là có chứa chất bổ và có tác dụng kích thích, nước sắc vỏ cây được dùng để chống ho. Loại quả vỏ màu tía có lớp vỏ dày hơn và cùi thịt đặc hơn còn loại quả vỏ màu nâu-lục có vỏ mỏng và nhiều cùi thịt nhão. [Only registered and activated users can see links] Vối có thể cao tới 12 - 15 m, vỏ màu nâu đen, nứt dọc, cành nhánh nhiều vảy. Lá hình trái xoan, phiến dày, cuống ngắn, lá già có chấm đen ở mặt dưới. Hoa nhỏ, màu trắng lục, họp thành cụm 3 - 5 hoa ở nách lá. Nụ hoa dài, 4 cánh, nhiều nhị. Ra hoa tháng 5 - 7. Quả hình cầu hay bầu dục, nhăn nheo, khi chín màu tím. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:33 Chi Xoài (danh pháp khoa học: Mangifera) thuộc họ Đào lộn hột (Anacadiaceae), là những loài cây ăn quả vùng nhiệt đới [Only registered and activated users can see links] Xoài hôi hay muỗm (danh pháp khoa học: Mangifera foetida Lour.) là một loài thực vật thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae). Loài này có tại Indonesia, Malaysia, Myanma, Singapore, Thái Lan, và Việt Nam. [Only registered and activated users can see links] Xoài thơm, hay xoài Kuwini, xoài Saipan (danh pháp khoa học: Mangifera odorata; tiếng Anh thường gọi là Kuwini Mango, Saipan Mango, hoặc Fragrant Mango) là một loài thực vật thuộc họ Anacardiaceae. Loài này có ở Guam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, và Việt Nam. Xoài thơm là một cây xoài có thể là loài bản địa của châu Á nhiệt đới, đặc trưng của Tây Malaysia. Quả có màu cam nhạt và vị ngọt khi chín. Nhựa cây toả ra một mùi thơm rất đặc trưng và có thể nhận biết từ xa. Hoa ra quanh năm và cũng có mùi thơm. Nhựa từ quả xoài thơm chưa chín rất độc. Quả có dạng cầu hoặc gần cầu, có màu xanh đậm và xanh khi chín. [Only registered and activated users can see links] Cây xạ đen thuộc cây dây leo thân gỗ, mọc thành búi, dễ trồng, nhánh non tròn, không có lông, lá không rụng theo mùa, phiến bầu dục xoan ngược,gân phụ 7 cặp, bìa có răng thấp. Cuống 5 - 7mm. Chùm hoa ở ngọn hay ở nách lá, dài 5 - 10cm. Cuống hoa 2 - 4mm. Hoa mẫu 5. Cánh hoa trắng, Hoa cái có bầu 3 ô. Quả nang hình trứng, dài cỡ 1cm, nổ thành 3 mảnh. Hạt có áo hạt màu hồng. Ra hoa tháng 3 - 5; Ra quả tháng 8 - 12. [Only registered and activated users can see links] Xương rồng (danh pháp khoa học: Cactaceae) thường là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa. Họ Cactaceae có từ 24 đến 220 chi, tùy theo nguồn (90 chi phổ biến nhất), trong đó có từ 1.500 đến 1.800 loài. Những cây xương rồng được biết đến như là có nguồn gốc từ châu Mỹ, nhất là ở những vùng sa mạc. Cũng có một số loại biểu sinh trong rừng nhiệt đới, những loại đó mọc trên những cành cây, vì ở đó mưa rơi xuống đất nhanh, cho nên ở đó thường xuyên bị khô.Cây xương rồng có gai và thân để chứa nước dự trữ. Xương rồng gần như là loại thực vật của Tân thế giới, ngoại trừ duy nhất là Rhipsalis baccifera, sinh trưởng chủ yếu ở vùng nhiệt đới của Cựu thế giới, chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Phi, Madagascar và Sri Lanka cũng như ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Loài này được cho là mới định cư gần đây ở Cựu thế giới (trong vài nghìn năm gần đây), có thể là do các loài chim di cư mang theo dưới dạng hạt không tiêu hóa được. Nhiều loài xương rồng khác đã thích hợp với môi trường sống mới trên các phần khác nhau của thế giới do sự đem theo của con người. [Only registered and activated users can see links] Xương cá là một loại cây thuộc họ xương rồng, không lá, không gai. Có nơi lại gọi là cây nọc rắn, cây càng tôm, cây xương khô, cây giao hay cây san hô xanh. Cây mọc hoang nhiều nơi. [Only registered and activated users can see links] Xà cừ hay sọ khỉ là một loại cây thuộc Họ Xoan . Xà cừ mọc ở Benin, Burkina Faso, Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Bờ Biển Ngà, Gabon, Gambia, Ghana, Guinea, Guinea-Bissau, Mali, Niger, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Sudan, Togo, và Uganda.Cây ưa sáng mọc nhanh, dễ trồng hạt nẳy mầm rất khoẻ, tái sinh hạt và chồi đều mạnh. Cây tăng trưởng rất nhanh, có thể phát triển tốt trên mọi địa hình, mọi loại đất, rất phù hợp với nền đất cát của vùng ven biển miền trung Việt Nam, cây chịu hạn và gió bão rất tốt. Đặc biệt cây có khả năng đề kháng với sâu bệnh rất cao (chưa thấy tài liệu nào đề cập đến vấn đề sâu bệnh của loài cây này) [Only registered and activated users can see links] Xuyến chi là một loài thuộc họ cúc. Cây xuyến chi thuộc dạng hoang dại mọc ở những nơi không gian thoáng. Cây cao chừng 0,3m đến 0,4m. Cành rậm thường mọc theo từng nhóm. Vào mùa xuân có hoa, sau đó các nhụy hoa có hạt trong mỗi nhụy, đầu nhụy có các múi gai. Các nhụy này di chuyển theo gió hoặc có một con vật, cả con người các nhụy này có các múi gai bám chặt vào. Di chuyển đến những nơi gặp điều kiện thuận lợi thì sinh trưởng tiếp theo. [Only registered and activated users can see links] Cây xoan hay xoan ta, xoan nhà, xoan trắng, sầu đông, thầu đâu, (danh pháp khoa học: Melia azedarach; đồng nghĩa M. australis, M. japonica, M. sempervivens), là một loài cây thân gỗ lá sớm rụng thuộc họ Xoan (Meliaceae), có nguồn gốc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Australia. Trong tiếng Anh nó được gọi là Chinaberry, Bead tree, Persian lilac (đinh hương Ba Tư), White cedar (tuyết tùng trắng) và một vài tên gọi khác. Tại Nam Phi nói chung người ta gọi nó một cách nhầm lẫn là Syringa, trên thực tế đó là tên gọi của các loài đinh hương. Chi Melia bao gồm 4 loài khác nữa, có mặt trong khu vực đông nam châu Á tới miền bắc Australia. Tất cả chúng đều là cây thân gỗ nhỏ với lá sớm rụng hoặc bán thường xanh [Only registered and activated users can see links] Cây xương rắn, tên khác: xương rồng tàu, xương rồng bát tiên, danh pháp khoa học: Euphorbia milii, thuộc Họ Đại kích(Euphorbiaceae) có nguồn gốc từ Madagascar.Cây bụi, phân cành nhánh nhiều, có nhựa trắng. Thân bò ngang xà hay hơi đứng, màu xám, gai rất nhọn, dài thẳng và có gốc lớn. Phiến lá hình bầu dục, đầu tròn và thuôn dần ở gốc thành cuống không rõ. Cụm hoa mọc trên cuống dài, 2 lá bắc to, tròn, màu sắc khác nhau bọc lấy bao hoa. Tổng bao có hình chuông; có 4 tuyến hình bầu dục. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 23-02-2011, 10:35 Yến mạch (Avena sativa) là một loại ngũ cốc lấy hạt. Trong khi những sản phẩm như cháo yên mạch và bột yến mạch phù hợp cho việc tiêu thụ của con người thì cách sử dụng thông thường của yến mạch là cho gia súc ăn[Only registered and activated users can see links] Ý Dĩ là cây bản địa ở Việt Nam được trồng ngay từ thời cổ xưa như 1 cây thuốc quí và cây tinh bột nhiều chất bổ dưỡng,là cây ưa sáng và ưa ẩm [Only registered and activated users can see links] Ggmu4jH4EIf7UGvT8A&t=1&usg=__kAOYHVrS4RF_C_J11fGNXa4GT5k= Yến phi: Cỏ sống lâu năm, thân hành hình cầu, đường kính 0,7 - 1,5cm, thân khí sinh cao 15 - 25cm. Lá hình dải, dài 6 - 10cm, rộng 0,3 - 1cm. Cụm hoa ngù ở đỉnh thân. Bao hoa 6 mảnh, màu mận chín. Nhị 6, chỉ nhị dài bằng 1/3 bao hoa. vòi ngắn, núm 3, cong ra ngoài. Quả dài 1 - 2cm, khi khô tự mở bằng dọc lưng. [Only registered and activated users can see links] trihoa2112_yds 26-02-2011, 20:24 XẠ KHUẨN: nhóm vi khuẩn đặc trưng có dạng giống sợi nấm ( cơ quan sinh trưởng dạng sợi, bào tử đính ) đường kính khoảng 0,5 - 2 μm. Thường hoại sinh nhưng có thể kí sinh trên thân cây, gây bệnh ở củ và rễ cây, nhất là ở đất kiềm, đất cát, khi thời tiết khô hạn làm cho củ lở loét sần sùi ngay từ ngoài đồng ruộng. XANTHOPHYLA: loại sắc tố vàng da cam, chuyển hoá từ carotene. XEN ĐOẠN: đột biến trong đó một hoặc nhiều bazơ mới được thêm vào giữa các bazơ có trên phân tử axit nucleic. XENLULOZƠ: [C6H7O2(OH)3]n. Polisacarit tạo khung của màng tế bào ở tất cả thực vật trừ một số nấm. Các phân tử X là những chuỗi không phân nhánh, hợp với nhau tạo nên cấu trúc vững chắc, có cường độ co dãn cao. Các phân tử Xenlulozo được cấu tạo từ vài nghìn đơn vị - D - glucozơ nối với nhau bởi liên kết - 1,4 – glucozit XISTIN: axit amin chứa lưu huỳnh - đime của X. Trong phân tử protein được tạo thành do hai gốc X kết hợp với nhau qua cầu đisunfua (S - S), duy trì cấu trúc không gian của phân tử protein. XITOCROM: các protein chứa nhân hem, hoạt động như các chất trung gian trong chuỗi vận chuyển điện tử. XOANG BAO MANG: 1. Phần xoang tim nhận máu từ tĩnh mạch đưa đến. 2. Phần chính của xoang tai giữa nằm phía dưới xương búa. 3. Ở động vật lưỡng tiêm và động vật có bao, là xoang bên ngoài chuyên nhận nước từ mang chảy vào. XOANG BAO TIM: xoang giữa lớp trong của màng bao tim và màng sát mặt tim. XOANG TĨNH MẠCH: xoang có thành mỏng nằm phía sau và dưới tim ở cá và lưỡng cư, nhận máu tĩnh mạch (máu bị mất oxi) từ các mô của cơ thể dồn về, trước khi về tim. Ở các động vật có xương sống khác, xoang tĩnh mạch nhập vào tâm nhĩ phải. XOANG TUỶ: xoang giữa của răng động vật có vú, chứa mô liên kết (tương tự keo), mạch máu, bạch huyết và các sợi thần kinh, được bọc trong lớp đentin. XOẮN KHUẨN: nhóm vi khuẩn có hình dạng uốn lượn như làn sóng hoặc lò xo. Tế bào thường xếp riêng lẻ, có lông roi ở một hay hai cực. Hầu hết thuộc loại hoá dưỡng. Hô hấp ưa khí hoặc vi ưa khí hoặc kị khí. XƠ HOÁ: hiện tượng tăng sinh các tế bào liên kết kèm theo sự sinh sản quá mức các chất gian bào trong một cơ thể như mô tuyến, mô thần kinh, mô cơ… (tăng sinh nguyên bào sợi, tế bào sợi, sợi tạo keo...), làm cho mô xơ cứng lại, một phần hay toàn bộ chức năng của mô bị ngừng trệ. XUNG ĐỘNG THẦN KINH: ( Xung thần kinh vận động ) là các tín hiệu truyền dọc theo các nơron. Tất cả các XĐTK đều như nhau về dạng, cường độ và do thay đổi về tính thấm của màng sợi trục bởi các dòng ion đi ra hoặc đi vào tế bào nên đã gây những thay đổi về điện thế tác động dọc theo sợi trục. Ở trạng thái thụ động sợi trục có điện thế tĩnh khoảng (-) 70 mV bên trong màng do ion natri được bơm ra ngoài tế bào. Khi xung động đi qua, màng trở nên dễ thấm (trong thời gian rất ngắn) đối với ion natri và dòng ion này đi vào tế bào. Do đó làm điện thế biến đổi vào khoảng +30 mV là điện thế tác động. Các nơron có bọc myelin, cơ chế kể trên chỉ xảy ra ở eo Ranviê (Ranvier). Vỏ myelin tạo một bọc sợi trục, do đó điện thế tác động dẫn truyền nhanh hơn từ nơi này đến nơi khác (sự dẫn truyền nhảy). Ngay sau khi xung động đi qua có thời kì trơ, lúc này xung động không thể dẫn truyền được và natri được bơm ra ngoài nơron. Ở cơ thể sống, xung động sinh ra do sự khử phân cực cục bộ ở synap hoặc tế bào thụ cảm, với sợi trục bị tách riêng thì mọi biến đổi ở màng đều có thể sinh xung động. Vì xung động sinh ra theo kiểu tất cả hay là không, nên cường độ kích thích được thể hiện qua tần số và số lượng xung động giống nhau. XƯƠNG: loại mô liên kết do chất căn bản của mô nhiễm nhiều muối khoáng (canxi, magie...) làm cho xương là mô rắn nhất trong cơ thể và thực hiện chức năng chống đỡ cho cơ thể. XYLEM: mô dẫn nước ở thực vật có mạch. Gồm: yếu tố dẫn - những tế bào rỗng, đã chết (quản bào và mạch); mô nâng đỡ dạng sợi và các thể cứng với một ít mô mềm. . Thành tế bào thứ cấp của mạch và quản bào của X bị dày lên vì chứa chất licnin có sức chống đỡ vững chắc hơn. Xylem thứ cấp được tích tụ trong suốt đời sống của thực vật và tạo thành các vòng sinh trưởng hằng năm. girlbuon10594 02-03-2011, 09:31 Đà điểu (danh pháp khoa học: Struthioniformes) là một nhóm các loài chim lớn, không bay có nguồn gốc Gondwana, phần lớn trong chúng hiện nay đã tuyệt chủng. Không giống như các loài chim không bay khác, các loài đà điểu không có xương chạc trên xương ức của chúng và như thế thiếu nơi neo đủ mạnh cho các cơ cánh của chúng, vì thế chúng không thể bay được mặc dù chúng có các cánh phù hợp cho việc bay lượn.[Only registered and activated users can see links] Đại bàng hay Chim ưng là một loài chim săn mồi cỡ lớn thuộc bộ Ưng, lớp Chim, họ Accipitridae. Chúng sinh sống trên mọi nơi có núi cao và rừng nguyên sinh còn chưa bị con người chặt phá như bờ biển Úc, Indonesia, Phi châu... nhưng chủ yếu là Lục địa Á-Âu và Lục địa Bắc Mỹ [Only registered and activated users can see links] Đồi mồi: có tên khoa học là Eretmochelys imbricata, một loài thuộc bộ rùa, chúng sinh sống ở vùng nhiệt đới: có 2 loại là đồi mồi nước mặn và đồi mồi nước ngọt. Loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao. Có tên trong sách đỏ, cần được bảo tồn. [Only registered and activated users can see links] Đom đóm có màu nâu và thân mềm, thường có cánh cứng dai hơn các loài bọ cánh cứng khác [Only registered and activated users can see links] ĐA ĐA: tên gọi khác: chim bắt tép kho cà, gà gô), thuộc bộ Gà (Galliformes), họ Trĩ (Phasianidae) chi: Francolinus tên khoa học: Francolinus pintadeanus [Only registered and activated users can see links] ĐƯỜI ƯƠI : (Động vật học) Loài khỉ lớn, có thể đi hai chân như người. [Only registered and activated users can see links] Đỉa biển( hải sâm ): là 1 loại đỉa sống ở biển [Only registered and activated users can see links] h9GdTf39WZas7LSpcM&t=1&usg=__onMaWLHrI5x8_oZ5lqFanwtmPVk= đẻ nhờ: do không thể tự mình ấp trứng nên phải đem trứng sang chỗ con khác để đẻ,khi con non ra đời, con mẹ tưởng đó là con mình nên thương yêu hết mực vì k bít đó k pải là con mình. Lúc lớn , con ở nhờ lại bay đi nơi khác và... lại đẻ nhờ... Đỉa – loài sinh vật vốn khiến rất nhiều người phải khiếp sợ thường xuất hiện ở những đầm lầy, hồ ao tù đọng, chuyên rình rập để hút máu người và gia súc mỗi khi có cơ hội [Only registered and activated users can see links] Đớp ruồi cằm xanh : là 1 loài chim bộ lông trên lưng màu xanh [Only registered and activated users can see links] Đại bàng đầu trắng là loại chim thường sống ở trên những đỉnh núi rất cao. Ở độ cao đó, chúng có thể bay vút lên, và với đôi mắt tinh nhanh, có thể nhìn rất rõ thế giới phía dưới, đặc biệt là con mồi mà chúng muốn bắt, ví như cá - món ăn ưa thích nhất của đại bàng. [Only registered and activated users can see links] psc8cahbdc6vca.jpg chim đớp ruồi họng đen : là loại chim nhỏ, chỉ bằng chim khuyên , lông nâu đen, sấu sí, nhưng dọng hót thì từ trời suống, chưa từng nghe dọng đặc trưng chỉ nghe dọng bắt chước khi đi đánh loại chim khác [Only registered and activated users can see links] ĐỘNG VẬT ĂN CỎ : động vật có khả năng phân giải xenlulozơ của thành phần tế bào thực vật trước khi tiêu thụ các chất trong tế bào. [Only registered and activated users can see links] kc8XSG-RuPDOKovFI0&t=1&usg=__buhcXS-dU67tv5md_ytReKGhEMY= ĐỘNG VẬT ĂN TẠP: động vật ăn thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. girlbuon10594 02-03-2011, 09:33 Ếch là loài động vật thuộc lớp lưỡng cư, chúng có khoảng 3900 loài, sống chủ yếu ở rừng mưa nhiệt đới với có kích thước, màu sắc và hình dáng đa dạng. [Only registered and activated users can see links] nghVaPjcPD63r8EBq8&t=1&usg=__Dfw5XWsNdBQ44ksSYq2fQ2OkJ6I= girlbuon10594 02-03-2011, 09:48 Gà (danh pháp khoa học: Gallus gallus, Gallus gallus domesticus) là một loài chim đã được con người thuần hoá cách đây hàng ngàn năm. Một số ý kiến cho rằng loài này có thuỷ tổ từ loài chim hoang dã ở Ấn Độ và loài gà rừng lông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á. Trong thế giới loài chim, chúng là loài vật có số lượng áp đảo nhất với 23 triệu con (thống kê 2003). [Only registered and activated users can see links] Gà gô tuyết (danh pháp khoa học: Lerwa lerwa) là một loài chim trong họ Trĩ (Phasianidae) của bộ Gà (Galliformes). Loài này cũng là loài độc nhất của chi Lewa. Nó là loài gà lôi lớn có cựa, sinh sống trong khu vực Himalaya của Ấn Độ, Nepal và Trung Quốc. Chiều dài loài gà này đạt tới 38-40 cm. Gà mái cân nặng 450–580 g còn gà trống nặng khoảng 550–700 g. [Only registered and activated users can see links] Gà rừng là một chi gồm 4 loài chim thuộc họ Trĩ (Phasianidae) tồn tại ở Ấn Độ, Sri Lanka và khu vực Đông Nam Á. Chúng là các loài chim lớn, với con trống có bộ lông sáng và tươi màu, nhưng nói chung khó phát hiện trong các khu vực rừng rậm rạp, nơi chúng sinh sống. [Only registered and activated users can see links] Gấu nâu có lông màu từ vàng hoe, nâu, đen hay tổ hợp của chúng; những chiếc lông dài bên ngoài thông thường pha trộn với màu trắng hay bạc, tạo ra ánh màu "nâu xám". Gấu nâu có u bướu to là cơ trên vai chúng, nó tạo ra sức mạnh cho các chân trước để dào bới. Đầu của chúng lớn và tròn với thiết diện mặt là lõm. Mặc dù có kích thước nặng nề, chúng có thể chạy tới 64 km/h (40 mph) [Only registered and activated users can see links] Giun đất thường sống ở những khu vực đất ẩm ướt có nhiều mùn hữu cơ. Chúng có vai trò to lớn đối với ngành nông nghiệp do chúng làm đất tơi xốp và tăng độ phì nhiêu của đất. Giun đất còn là thức ăn cho gia súc và gia cầm. [Only registered and activated users can see links] Gặm nhấm (danh pháp khoa học: Rodentia) là một bộ trong lớp Thú, còn gọi chung là động vật gặm nhấm, với đặc trưng là hai răng cửa liên tục phát triển ở hàm trên và hàm dưới và cần được giữ ngắn bằng cách gặm nhấm.[1][2] [Only registered and activated users can see links] Gõ kiến là loài chim chủ yếu ăn sâu và kiến [Only registered and activated users can see links] 00BQAGCNQaFsysBwbc&t=1&usg=__0L4lWsIzL_-4rRgXDI4fEDZU7i8= Gián là một bộ bao gồm các loài côn trùng có thể mang mầm bệnh cho con người [Only registered and activated users can see links] Thd5kV--yDVk9qNdb8&t=1&usg=__rmeiO16Tb4ayPuvFtLsiJ1s6Dpc= giun móc là một ký sinh trùng giun tròn (giun đũa) sống trong ruột non của vật chủ, mà có thể là một động vật có vú như chó , mèo , hoặc con người [Only registered and activated users can see links] gà tre: là loại gà nhỏ lông trắng , chân ngắn, mào nhỏ. [Only registered and activated users can see links] GÀ ĐÔNG TẢO: gà gốc từ vùng Đông Tảo (Hưng Yên, Việt Nam). Lông con trống màu đỏ nhạt và vàng đất; con mái màu vàng đất. Mào nụ kém phát triển. Tích và dái tai màu đỏ, kém phát triển. Thể chất khoẻ, xương to, điển hình chân to cao, cơ ngực và cơ đùi phát triển. [Only registered and activated users can see links] GỌNG VÓ: (Gerridae), họ côn trùng thuộc bộ Cánh nửa (Hemiptera). Cơ thể dài, cân đối. Chân dài, đặc biệt đôi chân thứ ba có đùi rất dài. Các bàn chân có nhiều búi lông không thấm nước giúp cho GV chạy được trên mặt nước với tốc độ lớn và dễ dàng. Sống ở mặt nước lặng (ao, hồ, ven bờ ao hồ) hoặc nơi nước chảy chậm. Có nhiều loài sống ở biển, có 2 loài sống trên đại dương thuộc chi Halobates. Ăn mồi sống và xác chết. Ở Việt Nam, mới phát hiện một số loài thuộc Gerris và Limnogonus là thiên địch của nhiều loài sâu hại lúa. [Only registered and activated users can see links] Gấu trúc đỏ: là loài động vật có vú ăn cỏ, đặc biệt là ăn lá tre [Only registered and activated users can see links] Gấu trắng Bắc Cực (danh pháp khoa học: Ursus maritimus) là một loài động vật có vú lớn của bộ Ăn thịt (Carnivora), họ Gấu (Ursidae). Chúng là loài động vật sống gần địa cực tìm thấy xung quanh Bắc Băng Dương và chúng là loài động vật ăn thịt lớn nhất trên đất liền. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 02-03-2011, 09:53 Hà mã là một loài động vật có vú sống ở châu Phi là một loài ăn cỏ, thuộc 1 trong ba hoặc bốn loài thuộc họ Hippopotamidae còn sống sót.[Only registered and activated users can see links] Hổ, còn gọi là cọp, hùm, ông ba mươi (danh pháp khoa học: Panthera tigris) là một loài động vật có vú thuộc họ Mèo (Felidae), một trong bốn loại "mèo lớn" thuộc chi Panthera[4]. Hổ là một loại thú dữ ăn thịt sống.[Only registered and activated users can see links] Hạc hay bộ Cò (danh pháp khoa học: Ciconiiformes) bao gồm nhiều loại chim lội, cao cẳng, kích thước lớn cùng với những cái mỏ lớn: cò, vạc, diệc, diệc bạch, cò quăm, cò mỏ thìa v.v. Các hóa thạch của bộ Ciconiiformes được biết đến từ cuối thế Eocen. [Only registered and activated users can see links] Hến là Động vật cùng họ với trai, cỡ nhỏ, vỏ cứng hình tròn, sống ở nước ngọt, thịt ăn được. [Only registered and activated users can see links] sò nhỏ ở bờ biển, bám vào đá thành tảng. [Only registered and activated users can see links] Hải ly: Động vật dạng hải ly là các động vật có vú với kích thước trung bình, mặc dù là lớn khi so sánh với phần lớn các động vật gặm nhấm khác. Chúng là động vật bán thủy sinh, với thân hình bóng mượt và các chân sau có màng như chân vịt, và trong môi trường nước thì chúng nhanh nhẹn hơn so với khi ở trên cạn. Đuôi của chúng dẹt và có vảy, một cơ chế thích nghi giúp chúng vận động uyển chuyển trong nước. [Only registered and activated users can see links] Hươu cao cổ là một động vật có vú thuộc bộ Guốc chẵn chuyên sinh sống tại Phi châu, đây là loài động vật cao nhất trong số các loài động vật trên cạn, và thuộc giống nhai lại. [Only registered and activated users can see links] Con hàu (Oyster), là loài động vật nhuyễn thể thuần đực. Từ thời xa xưa nó đã được ca tụng là "cá thánh" girlbuon10594 02-03-2011, 10:02 Khỉ là một loài động vật thuộc lớp thú, bộ linh trưởng, ăn thực vật. [Only registered and activated users can see links] Kiến là một động vật thuộc bộ Cánh màng, lớp Sâu bọ. Đây là loài sâu bọ có tính xã hội có khả năng sống thành tập đoàn lớn có tới hàng triệu con. Nhiều tập đoàn kiến còn có thể lan tràn trên một khu vực đất rất rộng, hình thành nên các siêu tập đoàn. Các tập đoàn kiến đôi khi được coi là các siêu cơ quan vì chúng hoạt động như một thực thể duy nhất. [Only registered and activated users can see links] Kangaroo, hay Chuột túi, là một nhóm các loài thú có túi thuộc họ Macropodidae (họ "chân to"). Từ kangaroo thường dùng để chỉ một số loài lớn nhất trong họ này như Kangaroo đỏ, Kangaroo Antilopin và Kangaroo xám. Kangaroo còn có nhiều loài nhỏ hơn. Kangaroo là biểu tượng của Úc. [Only registered and activated users can see links] Két là những loài chim thuộc bộ Psittaciformes,[2] với gần 372 loài trong 86 chi, chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới ấm áp. [Only registered and activated users can see links] Cá kiếm, đôi khi còn gọi là cá đao (danh pháp khoa học: Xiphias gladius) là một loài cá ăn thịt loại lớn, có tập tính di cư với mỏ dài và phẳng, ngược lại với mỏ tròn và trơn nhẵn của các loài các maclin. Nó là một loại cá thể thao phổ biến, cho dù hơi khó bắt. Cá kiếm có thân hình tròn và thuôn dài, khi trưởng thành mất hết toàn bộ răng và vảy [Only registered and activated users can see links] Chim Kiwi là các loài chim nhỏ nhất thuộc bộ Đà điểu nghĩa rộng (sensu lato), to bằng con gà, nặng 2-3 kg, cổ ngắn, mỏ rất dài và mảnh. [Only registered and activated users can see links] Kén: Cấu tạo bệnh lí gồm một hay nhiều ngăn trống, có màng bọc liên tục bao kín, thường chứa một chất lỏng hay chất nhầy; nguồn gốc do kí sinh trùng hoặc do sự tích lại của một chất bài tiết hay xuất tiết, với sự phát triển của mô bình thường hay mô phôi thai. [Only registered and activated users can see links] Kì đà: Gồm những loài cỡ lớn; đuôi dài, nhọn; đầu lưỡi xẻ đôi [Only registered and activated users can see links] KHỦNG LONG: (L. Dinosauria; dinos - kinh khủng, sauria - thằn lằn), động vật thống trị trên đất liền ở đại Trung sinh, xuất hiện cách ngày nay 200 triệu năm và bị tuyệt diệt vào cuối Krêta cách nay 65 triệu năm. Có nhiều loài kích thước khác nhau, nhỏ chỉ bằng con mèo, lớn khổng lồ dài tới 30 m, nặng tới 30 tấn nhưng bộ óc lại rất nhỏ. Có loài ăn cây cỏ, có loài ăn thịt, có loài đi bốn chân, có loài đi trên hai chân: loài chân chim hoặc chân thằn lằn. Có nhiều giả thuyết để giải thích sự tuyệt diệt của KL vào cuối Krêta (kỉ Phấn), trong đó hai giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất. Một là vào cuối Krêta, những núi lửa khổng lồ như trên cao nguyên Đêcan (Deccan) phun ra những tro bụi khổng lồ trong hàng triệu năm khiến cho ánh sáng Mặt Trời không xuyên được xuống, bao nhiêu cây cỏ bị tiêu diệt, hậu quả là KL bị tuyệt diệt vì thiếu thức ăn. Hai là ánh sáng Mặt Trời bị che lại do một thiên thạch khổng lồ rơi xuống vùng vịnh Mêhicô [phía nam bán đảo Floriđa (Florida)], tung lên khí quyển một khối bụi khổng lồ, che khuất ánh nắng Mặt Trời trong nhiều năm. [Only registered and activated users can see links] Kền kền:đầu và cổ hoàn toàn lông, thỉnh thoảng chỉ có vài lông bông trắng ở cổ. Vành lông ở phần dưới cổ dài màu trắng bao quanh vệt nâu ở ngực. Phần trên lưng nâu, phần dưới lưng, hông và trên đuôi trắng nhạt, gốc lông nâu nhạt. Lông bao cánh và vai nâu nhưng hơi nhạt hơn lưng, giữa lông hơi thẫm [Only registered and activated users can see links] Kỳ nhông hay cự đà (danh pháp khoa học Iguana) là một chi gồm các loài thằn lằn [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 02-03-2011, 10:07 Lừa, Equus asinus, là một loài động vật có vú thuộc Họ Equidae hay Họ ngựa, một họ thuộc Bộ Guốc lẻ. [Only registered and activated users can see links] Lợn (chi Heo theo tiếng Việt tại miền nam Việt Nam) là một chi động vật móng guốc có nguồn gốc ở đại lục Á-Âu được gộp nhóm tổng thể với danh pháp khoa học là Sus, thuộc họ Lợn (Suidae). Lợn rừng đã được thuần hóa và được nuôi như là một dạng gia súc để lấy thịt cũng như da. Các sợi lông cứng của chúng còn được sử dụng để làm một số loại bàn chải, da có thể dùng để sản xuất bóng bầu dục. Ngoài ra, phân của lợn nhà cũng được dùng làm phân chuồng để cải tạo đất. [Only registered and activated users can see links] Le nâu hay Le le (danh pháp khoa học: Dendrocygna javanica) là một loài vịt nhỏ sinh sản ở Nam Á và Đông Nam Á. [Only registered and activated users can see links] LƯƠN: (Fluta alba), loài cá xương, họ Mang liền (Symbranchidae = Flutidae). Thân trần, hình ống, dài, không có vây ngực và vây bụng, vây lưng và vây hậu môn tiêu giảm, chỉ còn lại dạng nếp da mỏng nối liền vây đuôi. Mõm ngắn, miệng bé, mắt rất nhỏ, khe mang bé. Thân có màu vàng nhạt tới sẫm, lưng đậm hơn, bụng trắng nhợt. Cỡ L trung bình nặng 40 - 80 g, dài 30 - 40 cm, con lớn nặng đến gần 0,5 kg. [Only registered and activated users can see links] Lạc đà là tên gọi để chỉ một trong hai loài động vật guốc chẵn lớn trong chi Camelus, là Lạc đà một bướu và Lạc đà hai bướu. Cả hai loài này có nguồn gốc từ các vùng sa mạc của châu Á và Bắc Phi. Đây là loài động vật lớn nhất sống được trên sa mạc và các vùng khô cằn thiếu nước uống. [Only registered and activated users can see links] Lửng lợn : To béo, bộ lông màu vàng, xám và đen, thay đổi theo màu. Lông vùng cằm chân, đầu vai và lưng màu đen. Má và trán có đám lông màu trắng. Móng chân trước dài hơn móng chân sau. Mũi dài chài ra phía trước giống mũi lợn. [Only registered and activated users can see links] Lửng chó (Nyctereutes procyonoides) -Lửng chó sống trên các savan cây bụi, ven các nương rẫy, dọc theo khe suối. -Lửng chó nặng 3 - 5kg, dài thân 540 - 610mm, đuôi 162 - 180mm, Đầu nhỏ, mõm ngắn và hơi nhọn. Chân ngắn. Bộ lông dài và thô, màu vàng hung, mút lông xám, [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 02-03-2011, 10:16 Mèo, chính xác hơn là mèo nhà, là một phân loài trong họ Mèo. Chúng là động vật có vú nhỏ và ăn thịt với danh pháp khoa học Felis silvestris catus. Người ta tin rằng tổ tiên trung gian gần nhất trước khi được thuần hóa của chúng là mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica). Mèo nhà đã sống gần gũi với loài người ít nhất 9.500 năm,[4] và hiện nay chúng là con vật cưng phổ biến nhất trên thế giới.[5] [Only registered and activated users can see links] Muỗi là một nhóm sinh vật thuộc lớp côn trùng hợp thành họ Culicidae, bộ Hai cánh (Diptera). [Only registered and activated users can see links] Mối[/B] là một nhóm côn trùng, có họ hàng gần với gián. Mối là nhóm côn trùng có "tính xã hội" cao. Chúng lập thành vương quốc sớm nhất. [Only registered and activated users can see links] Bộ Mực ống (danh pháp khoa học: Teuthida) là một nhóm động vật biển thuộc siêu bộ Mười chân (Decapodiformes) của lớp Chân đầu (Cephalopoda). Mực ống có phần thân và phần đầu rõ ràng. Thân cân xứng hai phía, có da và có 8 tay (hay thường được gọi là tua, râu) và một cặp xúc tu. [Only registered and activated users can see links] Mực: bộ động vật thân mềm, phân lớp Hai mang (Dibranchia), lớp Chân đầu (Cephalopoda). Đặc điểm đặc trưng: có 10 tay, cơ thể dạng thuỷ lôi, sống bơi trong các tầng nước, có túi mực dùng tự vệ khi gặp nguy hiểm. Các chi thường gặp: Mực nang (Sepia), Mực ống (Loligo) với nhiều loài là đối tượng khai thác quan trọng trong kinh tế thuỷ sản. [Only registered and activated users can see links] MẠT: tên gọi chung một số loài chân đốt sống tự do, kí sinh ở động, thực vật, thuộc bộ Ve bét (Acarina). Ở những loài M kí sinh, M cái sau khi hút no máu, rời vật chủ, đẻ trứng ngoài môi trường, nở thành ấu trùng rồi thiếu trùng và trưởng thành. Sau khi thụ tinh, lại bám vào vật chủ tiếp tục hút máu (dịch) và quay lại vòng đời. [Only registered and activated users can see links] MỌT:tên gọi các loài côn trùng Cánh cứng (Coleoptera) phá hại nông sản, lâm sản và các đồ dùng bằng gỗ, tre, nứa, vv. Những họ có nhiều loài gây hại thường gặp: M gỗ (Scolitidae), Vòi voi (Curculionidae). [Only registered and activated users can see links] NAI CÀ TÔNG: (Cervus eldi), loài thú lớn, họ Hươu (Cervidae). Thân dài 150 - 170 cm, nặng 95 - 100 kg. Toàn thân phủ lông mềm, màu hung đỏ hoặc vàng hung, hai bên có các vệt màu vàng nhạt. [Only registered and activated users can see links] Ngỗng trời: Đầu, cổ và mặt lưng nâu xám. Vai cũng giống lưng nhưng hơi phớt xám nhạt. Lưng dưới và hông chuyển dần thành xám hơi xanh. Trên đuôi trắng. Phía trước cổ, ngưc và bụng nâu xám nhạt, thỉnh thoảng có điểm đen. Cuối bụng và dưới đuôi trắng. Hai đôi lông đuôi ngoài trắng, đôi giữa nâu có mút trắng, các lông đuôi khác chuyển dần từ trắng sang nâu. Sườn trắng có vằn ngang xám nhạt. Lông bao cánh nhỏ, các lông cánh nhỏ, phần gốc các lông cánh và lông bao cánh sơ cấp xám xanh nhạt. [Only registered and activated users can see links] NHÍM : (Hystricidae), họ thú gặm nhấm cỡ lớn, phân bộ Hình nhím (Hystricomorpha), bộ Gặm nhấm (Rodentia). Bộ lông dài có gai cứng và trâm nhọn dùng tự vệ; gai có khoanh đen xen trắng [Only registered and activated users can see links] TZ2TlXrt7TfiieFoFA&t=1&h=161&w=231&usg=__IIAO8YpkpQRZ90HwYqjUUqsGuK0= Nhái bén: Cơ thể nhỏ bé như các loài nhái nhưng bụng khá to và chân mảnh. Con đực nhỏ hơn con cái. Thân dài 28mm, con cái thân dài khoảng 35 - 40cm. Thân mặt lưng màu lục, mặt bên và bụng màu trắng. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 02-03-2011, 10:18 Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối. Ong sống theo đàn, mỗi đàn đều có ong chúa, ong thợ, ong non,... và có sự phân công công việc rõ rõ ràng. [Only registered and activated users can see links] Ốc là tên chung để chỉ hầu hết các loài động vật thân mềm trong lớp Chân bụng với đặc điểm có vỏ xoắn khi trưởng thành. (Có các loài ốc không có vỏ hoặc vỏ rất nhỏ, ví dụ ốc sên trần). Đặc điểm chung là có vỏ cứng bằng đá vôi, tạo thành ống rỗng, cuộn vòng quanh trục chính thành các vòng xoắn, thường theo chiều thuận với chiều kim đồng hồ. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 02-03-2011, 10:20 Họ Quạ là một họ phân bố khắp thế giới chứa các loài chim biết kêu/hót thuộc bộ Sẻ bao gồm quạ, choàng choạc, giẻ cùi, ác là, chim khách, quạ thông, quạ chân đỏ và chim bổ hạt. Một cách tổng thể thì các loài chim trong họ này được gọi chung là chim dạng quạ và có trên 120 loài. Chúng là các loài chim có kích thước từ trung bình tới lớn với các chân và đuôi khỏe, mỏ cứng và thay lông mỗi năm một lần (phần lớn các nhóm chim dạng sẻ khác thay lông 2 lần mỗi năm). Họ Quạ phân bố rộng khắp thế giới, ngoại trừ phần cực nam của Nam Mỹ cùng các chỏm băng vùng cực. Phần lớn các loài tìm thấy ở vùng nhiệt đới Trung và Nam Mỹ, miền nam châu Á và đại lục Á-Âu, với ít hơn 10 loài đối với mỗi nơi tại 3 khu vực là châu Phi, Australasia và Bắc Mỹ. [Only registered and activated users can see links] QUẠ ĐEN: (Corvus macrorhynchos), loài chim thuộc họ Quạ (Corvidae), bộ Sẻ (Passeriformes). Có hai phân loài: C. m. colonorum và C. m. levaillantii. Chim trưởng thành có bộ lông màu đen, ánh xanh tím, gốc các lông xám hay đen nhạt. Mặt nâu. Mỏ và chân đen. Làm tổ đơn độc hay thành tập đoàn trên các cây cao 10 - 25 m. Sinh sản nhiều từ tháng 3 đến tháng 7. Ăn động vật và thực vật. Sống ở đồng bằng, ven biển, trung du và vùng núi gần các vùng dân cư cho đến độ cao 2.000 m. Phân bố: Nam Trung Quốc, Myanma. Ở Việt Nam, gặp phân loài C. m. colonorum ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh); C. m. levaillantii ở Trung Bộ và Nam Bộ (ranh giới từ Quảng Bình). QĐ là loài chim có ích: ăn các loài sâu hại, làm sạch môi trường, ăn xác chết, vv. Đang bị đe doạ diệt chủng do dùng nhiều thuốc trừ sâu và phân hoá học, làm ô nhiễm nơi ở và nguồn thức ăn của chúng. Cần có biện pháp ngăn chặn sự biến mất của QĐ ở Việt Nam. [Only registered and activated users can see links] g2AW1SjL83sALe3ztQ&t=1&usg=__ecufU_T_ktoOFZSeTcgbYMtC4DY= girlbuon10594 02-03-2011, 10:25 Rắn là động vật máu lạnh, bò sát - cùng lớp với các loài có vảy như thằn lằn, tắc kè - nhưng không có chân. [Only registered and activated users can see links] Rái cá là một nhóm động vật có vú ăn thịt sống dưới nước hay đại dương, thuộc một phần của họ Chồn , họ bao gồm chồn, chồn nâu, lửng, cũng như một vài loài khác. Với 13 loài trong 7 chi, rái cá phân bố khắp nơi trên thế giới. Trong tiếng Anh, danh từ tập hợp romp trong tiếng Anh được dùng để chỉ một nhóm các rái cá.[1] [Only registered and activated users can see links] Rệp là loài bọ nhỏ, thuộc động vật hút máu , cánh nửa cứng, mình dẹp, tiết chất hôi, hút máu người, chuyên sống ở khe giường, chiếu chăn, ghế phản. [Only registered and activated users can see links] RẮN HỔ MANG: (Naja naja), loài rắn độc lớn, họ Rắn hổ (Elapidae). Thân dài khoảng 200 cm. Đầu không phân biệt với cổ, không có vảy má. Có khả năng bạnh cổ khi bị kích thích. Lưng màu nâu thẫm, vàng lục hay đen hoặc đồng màu hoặc có những dải hoa văn. Thức ăn của rắn trưởng thành là chuột, cóc, rắn; rắn con ăn ếch nhái. Giao phối vào tháng 5, đẻ vào tháng 6. Mỗi lứa đẻ từ 5 đến 22 trứng, con cái canh giữ trứng. Sống trong các hang chuột ở ruộng, làng mạc, trong các vườn, bờ đê, gò, dưới gốc cây lớn. Kiếm ăn về đêm. [Only registered and activated users can see links] MrubUFaKk-0iFUN-a0&t=1&usg=__H_-_w1KaR-ud6hmX348QXR7Hq0Q= Con rươi trông gần giống một con đỉa lai con rết bởi vì cái thân hình nhũn nhũn nhưng rất nhiều chân của nó. Khi sống rươi mềm mềm đủ mầu xanh, đỏ, vàng, xám vằn vện trong lớp nhớt quánh như hồ và sặc mùi tanh tanh đến khó chịu [Only registered and activated users can see links] RẬN NƯỚC: (Daphnia), chi giáp xác có kích thước nhỏ, gặp nhiều trong ao, hồ, mương máng. Cơ thể dẹt hai bên, thường có màu hồng. Đầu có mắt kép và đôi râu hai nhánh phát triển là cơ quan vận động. Ngực được bọc trong lớp vỏ giáp. Trứng thụ tinh chứa trong phòng trứng được tung ra khi lột xác. Khi điều kiện thuận lợi, RN sinh sản theo kiểu trinh sinh. Ăn tạp, dùng chân ngực có viền tơ rậm lọc thức ăn. RN là thức ăn cho cá con (xt. Chân mang). [Only registered and activated users can see links] rầy nâu: thuộc lớp rầy chuyên hại cho lúa,nhỏ,tập chung thành đàn bám vào lúa làm lúa bị bệnh [Only registered and activated users can see links] RẾT: (Scolopendridae), họ động vật thuộc lớp Nhiều chân (Myriapoda). Kích thước lớn, có khi dài đến 25 cm. Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi ẩm trong các hang đá, kẽ nứt, lá mục. Kiếm ăn vào ban đêm, ăn thịt. Có nọc độc nguy hiểm. R lớn (Scolopendra giganca) có nọc rất độc, nọc con cái độc hơn. Ở Việt Nam, đã phát hiện hơn 10 loài. [Only registered and activated users can see links] RÙA : (Testudinata), phân lớp bò sát, có thân bọc trong vỏ giáp, gồm tấm giáp lưng (mu hay mai) lồi và tấm giáp bụng (yếm) phẳng, hai tấm được liên kết cứng với nhau bằng tấm hông hoặc liên kết mềm bằng màng da. Ở đa số loài R, tấm giáp gồm các phiến sừng ghép lại trừ R da, mai được phủ bằng da. Ở các loài R sống trên cạn, mai lưng lồi nhiều, tiết diện ngang tròn hoặc hình parabôn, chịu được tải trọng lớn. [Only registered and activated users can see links] NvWNBnjN970z02em_8&t=1&usg=__GO0vVi220LYE0gmvWO7lSelv4UI= girlbuon10594 04-03-2011, 07:59 SAN HÔ: (Anthozoa), lớp động vật không xương sống thuộc ngành Ruột khoang, phụ ngành Thích ti (Cnidaria), chỉ có dạng thuỷ tức, không có dạng thuỷ mẫu. Các cá thể dạng thuỷ tức nằm trong khối cơ chất trung gian (SH mềm) hoặc một bộ xương bằng sừng (SH sừng) hoặc xương đá vôi (SH đá). Đa số sống thành tập đoàn lớn ở vùng biển nông, hình thành nên các rạn SH, đảo SH là chướng ngại cho giao thông đường biển; số ít sống đơn độc như hải quỳ (Actinia) [Only registered and activated users can see links] 3IOYBLk_-2Sse992wo&t=1&usg=__KIWpQVE4pkj0ALtgArKBlpXzO3o= SAM : (nông, sinh; Xiphosuridae), họ động vật cổ, bộ Đuôi kiếm (Siphosura), lớp Giáp cổ (Palaeostraca hay Merostomata), phân ngành Có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda). Được coi là “hoá thạch sống”. Thân S có phần giáp đầu - ngực, bụng là gai đuôi dài, nối với nhau bằng các khớp động. Giáp ngực cứng như nửa chiếc mũ sắt, có bờ mép sắc. Một đôi mắt đơn và một đôi mắt kép phía lưng. Giáp bụng cứng. Gai đuôi dài khoẻ như một chiếc kiếm dùng để tự vệ và di chuyển trên cát. Lỗ miệng nằm ở mặt bụng của giáp đầu - ngực có đôi kìm phía trước và 5 đôi chân bao quanh; kìm ngắn, chân dài, trừ đôi chân thứ năm còn các đôi chân khác đều có kìm nhỏ. Chân S vừa là cơ quan di chuyển, vừa dùng để bắt và nghiền mồi. Đôi chân thứ năm dùng làm điểm tựa khi S đào cát hay chuẩn bị hốc đẻ. Bụng còn có 5 đôi chân mang, vừa dùng để hô hấp vừa để bơi lội. Ăn trai, ốc, giun đốt, động vật đáy và tảo. Sống ở vùng biển nông 4 - 10 m, có thể vào sâu trong sông. Sinh sản hữu tính [Only registered and activated users can see links] pGBPKHsDJ92CZqYl0U&t=1&usg=___-ruTGVF7XnRp_MjFXpXk3J50ug= SÁN DÂY: (Cestoda), lớp thuộc ngành Giun dẹp (Plastodes). Cơ thể sán trưởng thành hình dải, dài 1m đến 10 m tuỳ loài. Phần đầu sán (scolex) rất nhỏ, mang cơ quan bám để bám vào nơi kí sinh. Phần cổ nhỏ và ngắn là vùng sinh trưởng (sinh ra các đốt mới). Phần thân dài, gồm nhiều đốt (có khi tới hàng nghìn). Sống kí sinh trong ruột động vật có xương sống, hấp thụ chất dinh dưỡng qua thành cơ thể, có lớp cuticun bọc ngoài để chống lại dịch tiêu hoá của vật chủ. Vòng đời SD thường phát triển qua vài ba kí chủ khác nhau. Dạng trưởng thành là các vật nội kí sinh (thường ở trong ống tiêu hoá của động vật có xương sống). Dạng ấu trùng và nang sán lại phát triển qua một vài vật chủ trung gian khác (động vật bậc thấp hay bậc cao thích hợp Sao la: Ngoại hình giống sơn dương. Bộ lông ngắn màu nâu sẫm. Điểm nổi bật là có vằn trắng trên mặt; sừng dài, gần thẳng, nhọn, sừng cá thể trưởng thành dài hơn 500 cm [Only registered and activated users can see links] Sâm cầm: Đầu và cổ đen, chuyển thành xám chỉ thẫm ở mặt lưng và xám chì ở mãi bụng, ở ngực và giữa bụng màu nhạt và dưới đuôi thẫm hơn. Lông cánh sơ cấp và thứ cấp xám, lông cánh sơ cấp thứ nhất có phiến ngoài trắng, mép cánh cũng trắng; lông cánh tam cấp xám nhạt hơn và có điểm trắng ở mút, thường ở các chim già không có các điểm trắng này. Mắt nâu đỏ. Mỏ và tấm sừng sau mỏ trắng, gốc mỏ hơi phớt hồng. Chân lục nhạt. ống chân phớt vàng cam. [Only registered and activated users can see links] Sóc đỏ: Màu sắc bộ lông sóc đỏ rất thay đổi. Các chủng quần khác nhau có thể có màu trắng, màu đen hoặc màu đỏ hoàn toàn hoặc pha trộn nâu xám, nâu đỏ, đỏ xám... [Only registered and activated users can see links] sõ đen côn đảo: Cỡ nhỏ. Bộ lông màu nâu đen (hoặc đen), mút lông không vàng nhạt nên bộ lông không hoa râm. Bụng sẫm vàng lan tới cánh tay và có vệt đỏ hoe sau gáy. [Only registered and activated users can see links] Sóc Đất : Xerinae là một phân họ trong họ Sóc, phần nhiều trong chúng là các dạng sóc đất. [Only registered and activated users can see links] Sóc bay đen trắng: Cỡ nhỏ. Lông ở lưng có gốc màu xám, đầu mút lông màu trắng nhạt. Má và bụng màu trắng nhạt hay trắng kem. Lông trên màng cánh màu nâu sẫm. Đuôi sù màu lông sẫm. Mặt dưới đuôi có một đường trắng nhạt ở giữa. [Only registered and activated users can see links] SẾU : (Gruidae), họ gồm các loài chim cỡ lớn có cổ dài, chân cao, bề ngoài trông giống như họ Hạc (Ciconiidae). Bộ lông dày và chắc, phần dưới ống chân trụi, ở nhiều loài đầu cũng trụi và có mảnh da có màu sặc sỡ. Một số loài có túm lông dài ở đỉnh đầu hay hai bên má. Cánh không dài nhưng rộng, đuôi ngắn. Số lông cánh sơ cấp là 11, đôi khi 10, số lông đuôi là 10 - 12. Các lông cánh thứ cấp trong cùng và lông cánh tam cấp rất dài, cong và xù lên phủ kín cả đuôi thành lông trang điểm. Mỏ thường dài và khoẻ. Chân cao, có 4 ngón không dài lắm, giữa ngón ngoài và ngón giữa có màng hẹp. Ngón chân sau kém phát triển và nằm hơi cao hơn các ngón khác. S đực và S cái giống nhau về hình thể. Kiếm ăn và sinh sống trong các vùng đồng cỏ rộng lớn gần các vùng đất ngập nước ở phương Bắc hoặc trong lưu vực các con sông lớn ở phương Nam. Thức ăn chủ yếu là các thứ củ, hạt, mầm các loài cỏ, đôi khi ăn cả các loài động vật nhỏ. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 04-03-2011, 08:03 Trai sông hay trai nước ngọt là các động vật thuộc ngành Thân mềm (Mollusca), họ Hai mảnh vỏ (Bivalvia). Sống trên mặt bùn ở đáy hồ ao, sông ngòi. -Vỏ trai có: 2 mảnh, dây chằng, 2 cơ khép vỏ. -Vỏ trai gồm 3 lớp: lớp sừng, lớp đá vôi, lớp xà cừ. -Dưới vỏ là áo trai: + Mặt ngoài của áo trai tiết ra tạo thánh lớp đá vôi. + Mặt trong tạo thành khoang áo( 2 đôi tấm mang, 2 đôi tấm miệng, chân, thân. + Đầu tiêu giảm - Dinh dưỡng nhờ 2 đôi tấm miệng luôn luôn động. Nước theo ống hút vào cơ thể trai mang theo thức ăn và khí ôxi, nước theo ống thoát ra ngoài(chất thải, các-bô-níc) - Cơ thể phân tính. Vòng đời: Trứng được thụ tinh- ấu trùng bám vào mang trai mẹ- bám vào da và mang cá- trai trưởng thành. Trai sông có nhiều chất chì, vậy nên ăn nhiều dễ bị ngộ độc. [Only registered and activated users can see links] Tu hú châu Á là một loài chim tu hú thường gặp ở châu Á, trong Chi Tu hú, họ Cu cu. Khi trưởng thành, chim đục có bộ lông màu đen tuyền ánh xanh thẫm, chim mái lông lốm đốm đen nhạt lẫn trắng bẩn. Chim non lông lúc đầu hoàn toàn đen. Tu hú trưởng thành có sải cánh 19-22 cm, đuôi khoảng 18-20 cm, chân cao 3,5 cm, mỏ 3 cm [Only registered and activated users can see links] Trùng roi sống trong nước: ao, hồ, đầm, ruộng, vũng nước mưa. Lớp Trùng roi bao gồm trùng roi xanh, tập đoàn trùng roi cùng khoảng hơn 8 nghìn loài động vật nguyên sinh nguyên thủy khác sống trong nước ngọt, nước biển, đất ẩm, ..., một số sống kí sinh, có các đặc điểm chung sau: di chuyển nhờ roi (một hay nhiều roi), vừa tự dưỡng vừa dị dưỡng (ở các trùng roi thực vật) hoặc chỉ dị dưỡng (ở các trùng roi động vật), hô hấp qua màng cơ thể, đường lấy thức ăn ổn định nhưng đường tiêu hóa thức ăn không ổn định, bài tiết và điều chỉnh áp suất thẩm thấu nhờ không bào co bóp, sinh sản vô tính theo cách phân đôi. Lớp Trùng roi có vai trò rất quan trọng trong thiên nhiên và đối với con người. Về mặt có lợi, chúng chỉ thị về độ sạch của môi trường nước, là thức ăn của một số động vật thủy sinh, ... Một số trùng roi kí sinh gây hại không nhỏ cho con người (truyền các bệnh nguy hiểm như trùng roi âm đạo, bệnh ngủ châu Phi ở người, ... ). [Only registered and activated users can see links] Trâu là một loài động vật thuộc họ Trâu bò. [Only registered and activated users can see links] Tôm trong tiếng Việt là phần lớn các loài động vật giáp xác trong bộ Decapoda, ngoại trừ cận bộ Brachyura bao gồm các loài cua, cáy và có thể là một phần của cận bộ Anomura bao gồm các loài tôm ở nhờ (ốc mượn hồn). [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 04-03-2011, 08:05 Uyên ương là một loài vịt đậu cây kích thước trung bình, có quan hệ họ hàng gần gũi với vịt Carolina ở Bắc Mỹ. [Only registered and activated users can see links] girlbuon10594 04-03-2011, 08:08 Yểng là một loài chim thuộc Họ Sáo sống ở các khu vực đồi núi Nam Á. Chim yểng lớn có chiều dài 29 cm, lông màu đen xanh biếc, mỏ màu vàng đỏ, đầu có lông sọc vàng. Chúng ăn các loại côn trùng và trái cây. [Only registered and activated users can see links] Họ Yến là một họ chim có bề ngoài rất giống với các loài nhạn nhưng thực ra chúng không có quan hệ họ hàng gần với những loài chim dạng sẻ này. Các loài yến tạo thành một phần của bộ Yến , cùng với các họ như họ Chim ruồi và họ Yến mào. Các loài yến mào có quan hệ họ hàng gần với các loài yến thật sự này nhưng tạo thành một họ tách biệt có tên khoa học là Hemiprocnidae. [Only registered and activated users can see links] toi0bix 04-03-2011, 18:28 Phượng hoàng : là các con chim trong thần thoại của người dân khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa, ngự trị trên tất cả các loài chim khác.Phượng hoàng còn được gọi là "côn kê", do đôi khi nó được dùng thay cho con gà trong Can Chi. Tại thế giới phương Tây, chẳng hạn như người nói tiếng Anh, gọi nó là Chinese phoenix (phoenix cũng được dịch sang tiếng Việt là "phượng hoàng", mặc dù nó là con vật thần thoại không có khái niệm tương đương trong văn hóa của người Việt) hay ho-oh bird (từ tiếng Nhật hō-ō). [Only registered and activated users can see links] toi0bix 04-03-2011, 18:39 Ngựa : là các loài thú kích thước từ trung bình tới lớn, với đầu dài và cổ có bờm. Các chân mảnh dẻ, chỉ có một móng guốc, được bảo vệ bởi một guốc bằng chất sừng. Chúng có đuôi dài và mảnh dẻ, hoặc là kết thúc bằng một chùm lông hoặc là hoàn toàn được che phủ trong chùm lông rủ xuống. [Only registered and activated users can see links] Nưa : là một loài gần giống trăn nhưng đầu thường sà xuống đất không ngóc lên như con trăn .Nưa có 8 vết đen có hình dáng giống như cái đầu của nó nên người ta mới nói nó có 9 cái đầu .ngoài 2 lỗ mũi như những con trăn bình thường, nưa còn có 7 lỗ hô hấp khắp trên cơ thể nên nói nó có 9 lỗ mũi ,nưa có trọng lượng tầm 20 kg, chúng chỉ chuyên sống ở những vùng đầm lầy trong rừng. Con nưa sống ở trên cây, bằng cách tạo ra hốc hay ở những vùng ẩm ướt. Con nưa có 2 cọng râu dài, và phun chất độc (màu trắng sệt sệt giống như mủ cóc)rất độc để tiêu diệt con mồi hay phòng thủ. Là loài cực độc không nên ăn thịt chúng. [Only registered and activated users can see links] Ngan là một loài trong họ Vịt có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ.Ngan con chủ yếu có bộ lông tơ màu vàng với các đốm nâu trên đuôi và cánh. Ngan con của một vài giống ngan thuần hóa có lông đầu sẫm màu và mắt xanh, những con khác có lông ở phần đầu màu nâu nhạt và các đốm sẫm màu trên gáy. Chúng khá nhanh nhẹn và có thể sống độc lập sau khi sinh. [Only registered and activated users can see links] toi0bix 04-03-2011, 18:43 Xén tóc : Họ xén tóc gồm những côn trùng cánh cứng ( Coleoptera ) có họ hàng với Crysomelidae và có số loài tương đối lớn khoảng >20.000 loài Kích thước của xén tóc biến đổi rất lớn , dài từ 2-110mm , rộng 1-35mm .Họ Xén tóc gồm những côn trùng đa thực (Polyphaga) thức ăn sâu non hầu hết là gỗ. Với kích thước cơ thể lớn, chuyên đục thân rễ, cành trong suốt cả pha sâu non và nhộng làm suy yếu và gây chết cây trong và cây rừng, làm giảm phẩm cấp, huỷ hoại gỗ tự nhiên và gỗ nhân tạo. [Only registered and activated users can see links] lananh_vy_vp 27-01-2012, 12:12 Rau rươi: Cây thảo phân nhánh, nằm rạp ít hay nhiều, bén rễ ở các mấu, Lá hình ngọn giáo dài 10-30cm mọng nước. Cụm hoa có mo bao bọc ở ngoài, mang 1-7 hoa màu xanh lam. Hoa có 3 lá dài 3-7 cánh hoa, 2-3 nhị sinh sản và bầu 3 ô, mỗi ô 3 noãn. Quả nang, dài 2,5-5mm, hạt nhỏ hình thang có vỏ ngoài dạng mạng lưới. Ra hoa vào mùa hạ, thu. [Only registered and activated users can see links] |